ĐỀ TÀI: TRIẾT HỌC LỊCH SỬ VÀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HÊGHEN A MỞ ĐẦU Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 1881) là đại biểu vĩ đại nhất của triết học cổ điển Đức, đỉnh cao của triết học tư sản và của chủ nghĩa duy tâm thế kỷ XIX. Triết học Hegel là một thứ chủ nghĩa duy tâm thông minh, có những hạt nhân hợp lý và rất có giá trị, trở thành một trong những tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa Marx, được các học giả và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx Lenin đánh giá rất cao. Hegel đã để lại cho nhân loại một di sản triết học khổng lồ với những tư tưởng cực kỳ phong phú và sâu sắc. Ông từng nói: Cái triết học mới nhất của một thời đại là kết quả của hết thẩy các triết học đã có từ trước và phải bao gồm những nguyên lý của tất cả những triết học đó. Chính ông đã thực hiện xuất sắc yêu cầu đó với việc phân tích, phê phán các trào lưu triết học, các triết gia trước ông và cùng thời với ông. Hệ thống triết học của Hegel đã bao quát nhiều lĩnh vực và phát triển nhiều tư tưởng phong phú và đặc sắc, có ý nghĩa vạch thời đại. Vì vậy, F. Engels đã khẳng định: Nếu không có triết học Đức mở đường, đặc biệt là nếu không có triết học Hegel, thì chủ nghĩa xã hội khoa học Đức chủ nghĩa xã hội khoa học duy nhất chưa hề có từ trước đến nay, sẽ không bao giờ được xây dựng nên. Có thể nói, toàn bộ triết học của Hegel xoay quanh phạm trù “ý niệm tuyệt đối” và sự vận động của ý niệm tuyệt đối trong hệ thống triết học đồ sộ của ông được trình bày theo kiểu suy lý ba bước (tam đoạn luận). Hegel đã xây dựng hệ thống triết học đồ sộ của mình dựa trên quan điểm duy tâm khách quan về ý niệm. Ý niệm của Hegel luôn nằm trong trạng thái vận động, biến đổi. Nó phát triển trải qua các giai đoạn khác nhau. Thông qua sự vận động, biến đổi (phát triển) của ý niệm, thế giới vật chất và và đời sống tinh thần của con người được biểu hiện ra. Hegel chia quá trình vận động của ý niệm ra thành 3 giai đoạn lớn. Mỗi giai đoạn lớn này được nghiên cứu bởi một phần trong hệ thống triết học đồ sộ của ông. Do ý niệm bắt nguồn từ Logic trải qua giới tự nhiên rồi kết thúc trong tinh thần con người nên hệ thống triết học của Hegel có 3 bộ phận cấu thành là: Logic học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần. Logic học gồm 3 học thuyết: học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm. Triết học tự nhiên gồm 3 học thuyết: Cơ học, vật lý và sự sống. Triết học tinh thần của Hegel gồm 3 học thuyết: Học thuyết về tinh thần chủ quan, học thuyết về tinh thần khách quan và học thuyết về tinh thần tuyệt đối. Triết học lịch sử và Triết học pháp quyền là đối tượng nghiên cứu của Triết học tinh thần mà nó là sự phát triển cao nhất của tinh thần khách quan.
Trang 1ĐỀ TÀI: TRIẾT HỌC LỊCH SỬ VÀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HÊ-GHEN
Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1881) là đại biểu vĩ đại nhất của triết học cổ điển Đức, đỉnh cao của triết học tư sản và của chủ nghĩa duy tâm thế kỷ XIX Triết học Hegel là một thứ "chủ nghĩa duy tâm thông minh",
có những "hạt nhân hợp lý" và rất có giá trị, trở thành một trong những tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa Marx, được các học giả và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx - Lenin đánh giá rất cao Hegel đã để lại cho nhân loại một di sản triết học khổng lồ với những tư tưởng cực kỳ phong phú và sâu sắc Ông từng
nói: "Cái triết học mới nhất của một thời đại là kết quả của hết thẩy các triết học đã có từ trước và phải bao gồm những nguyên lý của tất cả những triết học đó" Chính ông đã thực hiện xuất sắc yêu cầu đó với việc phân tích, phê
phán các trào lưu triết học, các triết gia trước ông và cùng thời với ông
Hệ thống triết học của Hegel đã bao quát nhiều lĩnh vực và phát triển nhiều tư tưởng phong phú và đặc sắc, có ý nghĩa vạch thời đại Vì vậy, F
Engels đã khẳng định: "Nếu không có triết học Đức mở đường, đặc biệt là nếu không có triết học Hegel, thì chủ nghĩa xã hội khoa học Đức - chủ nghĩa xã hội khoa học duy nhất chưa hề có từ trước đến nay, sẽ không bao giờ được xây dựng nên".
Có thể nói, toàn bộ triết học của Hegel xoay quanh phạm trù “ý niệm tuyệt đối” và sự vận động của ý niệm tuyệt đối trong hệ thống triết học đồ sộ của ông được trình bày theo kiểu "suy lý ba bước" (tam đoạn luận)
Hegel đã xây dựng hệ thống triết học đồ sộ của mình dựa trên quan điểm duy tâm khách quan về ý niệm Ý niệm của Hegel luôn nằm trong trạng thái vận động, biến đổi Nó phát triển trải qua các giai đoạn khác nhau Thông qua sự vận động, biến đổi (phát triển) của ý niệm, thế giới vật chất và và đời sống tinh thần của con người được biểu hiện ra Hegel chia quá trình vận
Trang 2động của ý niệm ra thành 3 giai đoạn lớn Mỗi giai đoạn lớn này được nghiên cứu bởi một phần trong hệ thống triết học đồ sộ của ông Do ý niệm bắt nguồn từ Logic trải qua giới tự nhiên rồi kết thúc trong tinh thần con người nên hệ thống triết học của Hegel có 3 bộ phận cấu thành là: Logic học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần Logic học gồm 3 học thuyết: học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm Triết học tự nhiên gồm 3 học thuyết: Cơ học, vật lý và sự sống Triết học tinh thần của Hegel gồm 3 học thuyết: Học thuyết về tinh thần chủ quan, học thuyết về tinh thần khách quan và học thuyết về tinh thần tuyệt đối
Triết học lịch sử và Triết học pháp quyền là đối tượng nghiên cứu của Triết học tinh thần mà nó là sự phát triển cao nhất của tinh thần khách quan
Trang 3B- NỘI DUNG
I CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ CÁC TÁC PHẨM CHÍNH 1.1- Cuộc đời và sự nghiệp
Georg Wilhem Friedrich Hegel sinh ngày 27/8/1770 trong một gia đình viên chức Nhà nước tại Stuttgart, thuộc lãnh địa Württemberg, miền tây nam nước Đức Ông là anh cả trong gia đình có ba anh em
Hegel được nuôi dưỡng trong một môi trường Tin Lành ngoan đạo Mẹ ông đã dạy tiếng Latin cho ông từ rất sớm
Năm 1776, ông theo học trung học tại trường Stuttgart
Năm 1788, Hegel theo học tại trường dòng Tin Lành thuộc Đại học Tübinger Tại đây, ông kết bạn với nhà thơ Friedrich Hölderlin và triết gia trẻ sau này Friedrich Wilhelm Joseph Schelling Cả ba đã có nhiều chia sẻ lẫn nhau và chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhau
Từ 1793 – 1797, sau khi tốt nghiệp trường Tübinger, Hegel đi dạy tư tại Bern (Thụy Điển) và Frankurt
Năm 1799, cha ông qua đời Được thừa kế di sản từ người cha, ông từ
bỏ việc dạy tư
Năm 1801, Hegel đến Jena và làm việc với tư cách một giảng viên, sau
đó trở thành Giáo sư Tại đây, ông đã hoàn thành một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông – Hiện tượng học về tinh thần (“Phenomenology of Spirit” – 1807)
Năm 1806, Pháp chiếm đóng thành phố Jena Tháng 03/1807, Hegel đến Bamberg và làm Biên tập cho tờ báo Bamberger Zeitung
Tháng 11/1808, Hegel làm Hiệu trưởng một trường dòng ở Nuremberg trong tám năm (đến 1816) Tại đây, ông đã đưa tác phẩm Hiện tượng học về tinh thần vào giảng dạy Trong thời gian này, ông xuất bản tác phẩm chính yếu thứ hai của ông: Khoa học về Logic (3 tập vào các năm 1812, 1813, 1816)
Trang 4Năm 1811, ông kết hôn với Marie Helena Susanna von Tucher (1791– 1855) năm 1811 và có hai người con
Năm 1816, Hegel đến Đại học Heidelberg Ngay sau đó, năm 1817, ông cho xuất bản Đại cương Bách khoa thư về khoa học triết học (The Encyclopedia of the Philosophical Sciences in Outline) dưới hình thức tóm lược triết học của ông để giảng dạy tại Heidelberg
Năm 1818, Hegel đến dạy tại Đại học Berlin và đến đây làm Chủ tịch Triết học (bỏ trống từ sau khi Fichte qua đời năm 1814) Năm 1821, ông cho xuất bản tác phẩm Triết học pháp quyền (1821) Ông gắn bó ở đây và qua đời vào ngày 14/11/1831 vì bệnh dịch tả
Nhưng năm tháng cuối đời, Hegel tập trung giảng dạy về mỹ học, lịch
sử triết học, triết học tôn giáo, triết học lịch sử Các ghi chú giảng bài của ông
và các ghi chú bổ sung của sinh viên được xuất bản sau khi ông qua đời: Mỹ học (1835 – 1838), Những bài giảng về lịch sử triết học (1833 – 1836), Những bài giảng về triết học tôn giáo (1832), Nhữn bài giảng về triết học lịch
sử (1837)
Ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng Hy Lạp (Parmenides), Hegel còn đọc các tác phẩm của triết gia Hà Lan Baruch Spinoza, văn hào Pháp Jean Jacques Reussau và các triết gia Đức Immanuel Kant, Johan Gottlieb Fichte, Schelling Dù ông thường xuyên bất đồng với những triết gia này nhưng ảnh hưởng của họ trong các tác phẩm của ông là rất rõ ràng
1.2 – Điều kiện kinh tế–xã hội hình thành tư tưởng triết học của Hegel
Điều kiện kinh tế – xã hội hình thành nên tư tưởng triết học Hegel là cũng là điều kiện kinh tế – xã hội của triết học cổ điển Đức
Nước Đức từ cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia phong kiến cát cứ điển hình, lạc hậu về kinh tế và chính trị Tình trạng cát
cứ ấy đã gây trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế Về xã hội, giai cấp tư sản mới ra đời còn non yếu về mọi mặt; quần chúng lao động bất bình với chế độ đương thời
Trang 5Trong khi đó, ở Tây Âu, chủ nghĩa tư bản đã hình thành ở nhiều nước,
đã đem lại một nền sản xuất phát triển mở đầu cho nền văn minh công nghiệp, khẳng định tính chất ưu việt của chủ nghĩa tư bản so với chế độ phong kiến
Khác với tình hình chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học nước Đức thời
kỳ này khá phát triển do kế thừa tinh hoa văn hóa phương Tây trước đó, di sản văn hóa Đức, văn hóa Pháp vá các thành tựu khoa học tự nhiên đương thời
Sự lạc hậu của nước Đức, sự phát triển của các nước Tây Âu về kinh tế – xã hội, sự phát triển của khoa học đã thức tỉnh tính phản kháng của giai cấp
tư sản Đức và đòi hỏi giai cấp tư sản Đức phải có cách nhìn mới về tự nhiên,
xã hội và con người Giai cấp tư sản Đức muốn làm cách mạng tư sản như các nước Tây Âu, muốn xây dựng nền triết học theo yêu cầu mới, song do mởi ra đời nên còn yếu kém về số lượng, kinh tế và chính trị nên họ giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề của đất nước Chính điều đó quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức nói chung và triết học của Hegel nói riêng: nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm bảo thủ; đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng, là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học
1.3 - Các tác phẩm chính
Tác phẩm đầu tiên là sự khác biệt giữa hệ thống triết học của Fichte và Selling viết năm 1801
Năm 1807 ông viết tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” Đây là tác phẩm đánh dấu sự đoạn tuyệt quan điểm triết học của ông với quan điểm triết học của Selling
Năm 1812 – 1816 ông viết tác phẩm “Khoa học logic”
Năm 1817 ông viết “Bách khoa các khoa học triết học”
Năm 1821 ông viết “Nguyên lý Triết học pháp quyền”
Năm 1818 – 1827 xuất bản “Những bài giảng về Mỹ học”
Năm 1821 – 1831 ông viết “Triết học tôn giáo”
Trang 6Một số tác phẩm được xuất bản sau khi ông qua đời: “Những bài giảng
về lịch sử Triết học” (1833-1836), “Triết học về lịch sử” (1837)
Ngày 14/11/1831, một dịch tả từ Châu Á tràn sang Châu Âu và Hegel không may là một trong những người bị nhiễm bệnh và qua đời
II NỘI DUNG TRIẾT HỌC LỊCH SỬ VÀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HEGEL
Triết học lịch sử và Triết học pháp quyền là đối tượng nghiên cứu của Triết học tinh thần mà nó là sự phát triển cao nhất của tinh thần khách quan
2.1- Nội dung của Triết học lịch sử
Mục đích của Triết học lịch sử là giải thích hiện tại xuất phát từ quá khứ Triết học lịch sử nghiên cứu tinh thần trong hình thức của những tinh thần quần chúng cụ thể Những tinh thần đó đi vào lịch sử như là những giai đoạn phát triển của ý thức
Lịch sử không phải là sự tập hợp những sự kiện sai lầm, hỗn loạn, ngẫu nhiên, phi lý – đó chỉ là sự biểu hiện bề ngoài Lịch sử là phương thức tồn tại
và là kết quả hoạt động của con người Trong khi theo đuổi mục đích và lợi ích của mình, con người tạo nên tiến trình lịch sử Bản thân lịch sử vận động theo quy luật tất yếu khách quan trên tinh thần
Vai trò của vĩ nhân: vĩ nhân là những người hiểu biết những gì hợp thời Nó thể hiện sự thống nhất giữa tính chủ quan và khách quan Làm cho hành động tự do của con người gần hơn với quy luật tất yếu
“Lịch sử thế giới không là gì hết ngoài sự tiến bộ về ý thức tự do”.
Lịch sử nhân loại qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc thù riêng
về chất, nó thể hiện tinh thần của dân tộc này hoặc dân tộc khác Sự phát triển
về tự do là tiêu chuẩn cơ bản đánh giá sự ưu việt của dân tộc này so với dân tộc khác và thời đại này so với thời đại khác Trên cơ sở đó ông chia lịch sử nhân loại thành 4 giai đoạn:
+ Thế giới cổ đại phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư, Ả-rập) + Thế giới Hy-lạp
Trang 7+ Thế giới La Mã
+ Thế giới Đức
Ở giai đoạn thứ nhất không có tự do vì họ không hiểu về bản tính con người là tự do Ở đó chỉ có duy nhất một người được tự do đó là ông vua chuyên chế
Thế giới Hy-lạp, La Mã, mọi người có ý thức về tự do Xong họ cho rằng tự do chỉ dành cho thiểu số (quý tộc, chủ nô), đa số là nô lệ Đó là nguyên tắc tồn tại của xã hội
Thế giới Đức, nhờ có tinh thần của Thiên chúa mà mọi người đã ý thức được rằng bản tính của con người là tự do và ở đây mọi người đều được tự do
Vì vậy Hegel tuyên bố nước Đức là điểm kết thúc của lịch sử
Hegel coi lịch sử như là quá trình thực hiện cái hợp lý trong xã hội loài
người “Sự phát triển là sự vận động về phía trước từ cái không hoàn hảo đến cái hoàn hảo hơn, hơn nữa cái không hoàn hảo không nên chỉ được xem như
là cái không hoàn hảo mà như một cái lúc đương thời cũng bao hàm trong mình mặt đối lập của bản thân mình, còn cái gọi là cái hoàn hảo, với tư cách
là mầm mống – thì như là khát vọng”.
2.2- Triết học pháp quyền
Hegel đặt toàn bộ triết học thực hành của mình dưới khái niệm “pháp quyền” theo nghĩa rất rộng Theo một trình tự từ thấp lên cao, ta có một “pháp quyền” (hay “quyền hạn ”, “quyền lực ”, “ lẽ phải ”) của pháp quyền trừu tượng, của luân lý, của đời sống đạo đức (gia đình, xã hội dân sự, Nhà nước),
và, sau cùng, của lịch sử thế giới (được ông gọi là pháp quyền “ tối cao”)
Pháp quyền được Hegel định nghĩa như sau: “ Khi một sự tồn tại - hiện có nói chung là tồn tại - hiện có của ý chí tự do, thì đó là pháp quyền Nó là sự
Tự do, với tư cách là Ý niệm ”
Triết học pháp quyền của Hegel gồm có pháp quyền trìu tượng, luân lý, đạo đức Trong giai đoạn đạo đức gồm có 3 giai đoạn nhỏ: Gia đình, xã hội công dân, nhà nước
Trang 82.2.1- Pháp quyền trìu tượng
Pháp quyền trìu tượng: là giai đoạn đầu của tinh thần khách quan, nó tự thể hiện mình như là ý chí cá nhân của những người có tài sản, chỉ những người có tài sản mới có năng lực pháp lý Còn những người không có tài sản luôn chịu thân phận nô lệ vì họ không ý thức được sự tự do của mình
Pháp quyền trừu tượng trình bày các cơ sở khái niệm và quy phạm của luật dân sự và hình sự Chúng là trừu tượng, vì ở đây không xét đến các đặc điểm lịch sử và thường nghiệm của những bộ luật nhất định mà chỉ xét đơn thuần về mặt khái niệm “ Pháp quyền trừu tượng ” chính là chủ đề của Pháp quyền tự nhiên “ thuần tuý ” như là pháp quyền lý tính trước đây, nhưng chính phương pháp tư biện của Khoa học Lôgíc được triển khai ở đây làm cho việc theo dõi tiến trình “ tự phát triển ” của quy định khái niệm của pháp quyền trừu tượng không dễ dàng:
- Trong lĩnh vực này, phương diện chủ thể của ý chí tự do là nhân thân (Person), tức là con người theo nghĩa hoàn toàn trừu tượng với thuộc tính duy nhất là chủ nhân của những quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý trừu tượng Ở phương diện này, Hegel tiếp thu gần như trọn vẹn truyền thống Luật La Mã
và pháp quyền tự nhiên thời cận đại, về năng lực pháp lý của tính nhân thân
- Ở phương diện khách thể của ý chí tự do, không phải lúc nào cũng dễ hiểu và dễ đồng tình với Hegel khi ông áp dụng “ phương pháp tuyệt đối ” của Khoa học Lôgíc (sự phủ định nhất định và sự phủ định của phủ định…) vào lĩnh vực pháp quyền trừu tượng: luận điểm về sdự tự triển khai tất yếu của các hình thức và định chế pháp lý “ thuần tuý ” như sở hữu và hợp đồng;
sự quá độ tất yếu về mặt khái niệm từ các mối quan hệ hợp đồng sang sự phi pháp hay sai trái (sự phi pháp ngay tình, sự lừa đảo, sự cưỡng bách và tội ác), cũng như quan niệm và học thuyết về hình phạt như là sự phủ định của phủ định (phủ định bằng pháp luật đối với sự vi phạm pháp quyền hay là việc khôi phục pháp quyền, công lý
Trang 92.2.2 – Luân lý
Luân lý là sự khẳng định bên trong của con người, không cần đến bạo lực Nếu pháp luật nói đến những điều cấm đoán thì đạo đức nói đến điều có lợi cho mọi người Nhiệm vụ của đạo đức là tìm ra những biện pháp để làm hòa hợp các hành vi của nhiều chủ thể khác nhau Những ai có quyền trong pháp luật (chủ thể pháp luật, pháp nhân) thì những người đó trở thành chủ thể đạo đức
Luân lý dễ gây ngộ nhận và thất vọng nếu ta chờ đợi ở đây một “ đạo đức học ” của Hegel theo nghĩa thông thường và quen thuộc của những quy phạm luân lý Hegel hiểu chữ “ luân lý ” theo nghĩa khác Theo Hegel, ở cấp
độ của luân lý, ý chí phản tư vào trong mình, là ý chí biết chính mình như là ý chí tự do, qua đó nhân thân trừu tượng (của cấp độ pháp quyền trừu tượng) phát triển thành chủ thể Như thế, luân lý nơi Hegel chính là yếu tố chủ quan của việc quy định ý chí và là “ pháp quyền ” của ý chí chủ quan Trong chừng mực đó, luân lý là một hình thái của pháp quyền nói chung, là một “ hiện tượng ” của Tinh thần khách quan, giống như các hiện tượng khác, nghĩa là,
có thể mô tả được bằng lý thuyết, và, do đó, về cơ bản, chứa đựng một lý thuyết về hành động dưới các tiểu mục “ Chủ ý và trách nhiệm ”, “ Ý định và
sự an lạc ” và “ Cái Thiện và Lương tâm ” Trong khi Kant xem luân lý thuộc
về lĩnh vực triết học thực hành, tuân theo quy luật riêng, khác hẳn với lĩnh vực triết học và khoa học lý thuyết, thì việc Hegel xoá nhoà sự phân biệt ấy sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng
Điểm xuất phát và cũng là luận điểm xuyên suốt của Hegel là phê phán đạo đức học của Kant: theo Hegel, từ một nguyên tắc luân lý trừu tượng như
“ mệnh lệnh nhất quyết ” (Kant), ta không thể rút ra được điều gì nhất định cả, ngoài việc phải luôn mong muốn điều Thiện, nhưng lại không thể xác định được điều Thiện cụ thể là gì Việc phê phán “ chủ nghĩa hình thức ” ấy càng được nâng lên đến cao độ khi Hegel khẳng định rằng: dựa vào mệnh lệnh nhất quyết, ta có thể đề ra bất kỳ nghĩa vụ luân lý nào cũng được Hegel khẳng
Trang 10định: “ Vả chăng, chân lý liên quan đến pháp quyền, đời sống đạo đức và Nhà nước cũng cũ xưa không khác gì việc trình bày và ban bố nó một cách công khai trong luật pháp, luân lý công cộng và tôn giáo ” (Lời Tựa, 6) Việc Hegel cho in nghiêng dòng chữ ấy cho thấy lập trường kiên quyết của ông như thế nào Điều này có nghĩa: những quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý, luân lý và đạo đức của ta không chỉ đến được với ta bằng kiến thức pháp lý hay sự giáo dục luân lý và tín ngưỡng mà trực tiếp từ các quan hệ đạo đức sống thật ở trong xã hội Vì thế, ông trả lời câu hỏi “ Tôi phải làm gì ? ” của Kant như sau: “ Con người phải làm gì, đâu là những nghĩa vụ mà con người phải thực hiện để trở nên có đức hạnh là điều dễ dàng trả lời ở trong một cộng đồng đạo đức: con người không phải làm điều gì khác hơn ngoài những gì đã được quy định, đã được ban bố” Vậy, không phải Hegel không có một “ đạo đức học ” theo nghĩa những quy phạm và nghĩa vụ, chỉ có điều, ông đặt nó vào trong một nền đạo đức học định chế Là đại biểu của một “ đạo đức học định chế ” – theo đó
sự đúng đắn và bổn phận ràng buộc do chính bản thân cấu trúc của các định chế mang lại mà kỳ cùng là định chế nhà nước – Hegel phải tiền giả định rằng các định chế là những “ quyền lực đạo đức ”, trong đó có sự hài hoà giữa đời sống cộng đồng (Aristoteles) và tính chủ thể tự do (Kant)
Sự phê phán của Hegel đối với “ chủ nghĩa hình thức ” của đạo đức học Kant cũng không thực sự thuyết phục, vì bản thân Kant, trong Siêu hình học
về đức lý, đã xuất phát từ mệnh lệnh nhất quyết để xây dựng một học thuyết
về pháp quyền và một học thuyết về đức hạnh không kém phong phú về nội dung Học thuyết đạo đức học của Kant có thể còn thiếu sót, nhưng rõ ràng Hegel không thể cho rằng mình đã trả lời trọn vẹn câu hỏi của Kant, bởi hai người tiếp cận vấn đề từ hai cách khác nhau: những gì với Kant còn là “ vấn
đề ” (phải đi tìm một tiêu chuẩn cho khả thể của một đời sống đạo đức trong thế giới hiện tại) thì Hegel xem như đã được giải quyết Không thể bảo tất cả những ai luôn băn khoăn trước câu hỏi “ Tôi phải làm gì ? ” đều là những