1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng của c mác và ăngghen về nhà nước tiểu luận cao học

32 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 57,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khi nói về chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta thường đề cập đến nhiều luận điểm, quan điểm, tư tưởng…nhưng vấn đề quan trọng được coi là then chốt và có ý nghĩa lớn lao làm nền tảng tư tưởng, là cơ sở lý luận của học thuyết khoa học và cách mạng đó là nhà nước, đây được xem là một trong những vấn đề lớn trong triết học nói chung và trong chủ nghĩa Mác nói riêng. Để hiểu rõ hơn và có những quan điểm đúng đắn về nhà nước thì cần phải tìm hiểu quan niệm về nhà nước trong di sản tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen. Các nhà kinh điển đã nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc, đã vạch ra được nguồn gốc xuất phát, hình thành và phân chia giai cấp dẫn đến sự hình thành nhà nước, bản chất giai cấp nhà nước, tính chất bốc lột của nhà nước…Đây là những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa Mác, một trong những công trình đầu tiên viết về nguồn gốc nhân loại, sự hình thành và phân chia giai cấp dẫn đến sự hình thành nhà nước. Trong những tác phẩm này C.Mác và Ăngghen đã trả lời một cách khoa học nhà nước là gì?, nó xuất hiện trên cơ sở nào, và tại sao các thời kỳ lịch sử khác nhau nhà nước lại có những hình thức khác nhau và vai trò khác nhau?. Đặc biệt những quan điểm về nhà nước của C.Mác và Ph.Ăngghen đã có ý nghĩa ngày càng quan trọng trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước và trong việc xóa bỏ chế độ tư hữu. Đặc biệt, dưới nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, vai trò của Nhà nước lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhiều khuyết điểm. Vì thế Nhà nước có nhiệm vụ lớn lao trong việc định hướng phát triển nền kinh tế đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã rút ra những bài học chủ yếu đó là “Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”. Đó là một trong những vấn đề quan trọng và hết sức cấp thiết, nó thể hiện vai trò rất lớn của nhà nước trong việc điều hòa mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội, chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Tư tưởng của C.Mác và Ăngghen về nhà nước” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nói về chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta thường đề cập đến nhiềuluận điểm, quan điểm, tư tưởng…nhưng vấn đề quan trọng được coi là thenchốt và có ý nghĩa lớn lao làm nền tảng tư tưởng, là cơ sở lý luận của họcthuyết khoa học và cách mạng đó là nhà nước, đây được xem là một trongnhững vấn đề lớn trong triết học nói chung và trong chủ nghĩa Mác nói riêng

Để hiểu rõ hơn và có những quan điểm đúng đắn về nhà nước thì cầnphải tìm hiểu quan niệm về nhà nước trong di sản tác phẩm kinh điển củaC.Mác và Ph.Ăngghen Các nhà kinh điển đã nghiên cứu một cách toàn diện

và sâu sắc, đã vạch ra được nguồn gốc xuất phát, hình thành và phân chia giaicấp dẫn đến sự hình thành nhà nước, bản chất giai cấp nhà nước, tính chất bốclột của nhà nước…Đây là những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa Mác,một trong những công trình đầu tiên viết về nguồn gốc nhân loại, sự hìnhthành và phân chia giai cấp dẫn đến sự hình thành nhà nước

Trong những tác phẩm này C.Mác và Ăngghen đã trả lời một cáchkhoa học nhà nước là gì?, nó xuất hiện trên cơ sở nào, và tại sao các thời kỳlịch sử khác nhau nhà nước lại có những hình thức khác nhau và vai trò khácnhau? Đặc biệt những quan điểm về nhà nước của C.Mác và Ph.Ăngghen đã

có ý nghĩa ngày càng quan trọng trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước vàtrong việc xóa bỏ chế độ tư hữu Đặc biệt, dưới nền kinh tế thị trường ở nước

ta hiện nay, vai trò của Nhà nước lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Nềnkinh tế thị trường có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhiều khuyết điểm Vì thếNhà nước có nhiệm vụ lớn lao trong việc định hướng phát triển nền kinh tế đitheo con đường xã hội chủ nghĩa

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã rút ra những bài

học chủ yếu đó là “Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lí của Nhà

Trang 2

nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến

bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái” Đó là một trong những vấn đề quan trọng và hết sức cấp

thiết, nó thể hiện vai trò rất lớn của nhà nước trong việc điều hòa mối quan hệgiữa các giai cấp trong xã hội, chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Tư tưởng củaC.Mác và Ăngghen về nhà nước” làm đề tài tiểu luận của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm làm rõ những quan điểm cơ bản của C.Mác vàPh.Ăngghen về nhà nước trong một số tác phẩm kinh điển tiêu biểu

Chỉ ra nguồn gốc xuất hiện nhà nước, bản chất nhà nước và các chứcnăng nhà nước

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước trongmột số tác phẩm kinh điển tiêu biểu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp lịch sử,logic phối hợp với các phương pháp khác như: thu thập tài liệu, thống kê,tổng hợp, phân tích, so sánh…

Trang 3

Bản chất giai cấp của Nhà nước phụ thuộc vào giai cấp đang thống trị.

1.2 Bản chất xã hội của Nhà nước

Nhà nước phải làm nhiệm vụ tổ chức, quản lí, duy trì và phát triển sựtồn tại của xã hội, làm cho xã hội nằm trong một vòng trật tự nhất định Nhànước duy trì trật tự công cộng, xét xử những vụ tranh chấp thông thườngtrong xã hội; quản lí về kinh tế; duy trì và phát triển về văn hoá, giáo dục,phải thực hiện nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm…

2 Đặc trưng cơ bản của Nhà nước

2.1 Nhà nước quản lí dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định

Mỗi một Nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhấtđịnh, quyền lực của Nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổkhông phân biệt huyết thống

2.2 Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội

Công cụ bạo lực của Nhà nước gồm: quân đội, nhà tù, cảnh sát, việnkiểm sát…Bộ máy quản lí hành chính Nhà nước trong đó gồm có những viênchức, công chức thực hiện sự cai trị của mình thông qua sức mạnh cưỡng chếcủa pháp luật Nhà nước hình thành một bộ máy thuế khoá để nuôi Nhà nước.Nhà nước tồn tại được là do sự chu cấp của nhân dân

3 Chức năng cơ bản của Nhà nước

3.1 Chức năng đối nội

Trang 4

Chức năng đối nội của Nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội,chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội theo lợi ích của giai cấpthống trị Thông thường điều đó được pháp luật hoá và được thực hiện nhờ sựcưỡng bức cảu bộ máy Nhà nước Ngoài ra Nhà nước còn thực hiện tuyêntruyền hệ tư tưởng cảu giai cấp thống trị.

3.2 Chức năng đối ngoại

Chức năng đối ngoại của Nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổquốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các Nhànước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích của quốc gia, khilợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị ngày naytrong xu thế hội nhấp khu vực và quốc tế, việc mở rộng chức năng đối ngoạicủa Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt

II Xã hội nguyên thủy và tổ chức nhà nước tự quản của nó và một

số quan điểm về nhà nước trong lịch sử trước C.Mác và Ăngghen

2.1 Xã hội nguyên thủy và tổ chức nhà nước tự quản của nó

Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa có chọn lọcnhững hạt nhân hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã giảithích đúng đắn nguồn gốc xuất hiện nhà nước Dựa trên quan điểm duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử đã chứng minh nhà nước không phải là hiệntượng vĩnh cửu, bất biến Nhà nước là phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh,phát triển, tiêu vong Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triểnđến một giai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quancho sự tồn tại của nó mất đi

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc - bộ lạc và quyền lực xãhội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ cộng sản nguyên thuỷ làhình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người Trong xã hội chưaphân chia giai cấp, chưa có nhà nước Nhưng trong xã hội này lại chứa đựngnhững nguyên nhân làm xuất hiện nhà nước Bởi vậy, việc nghiên cứu những

Trang 5

đặc điểm của xã hội cộng sản nguyên thuỷ làm tiền đề cần thiết cho việc lýgiải nguyên nhân xuất hiện của nhà nước và hiểu rõ bản chất của nó là hết sứccần thiết.

Nghiên cứu đặc điểm của xã hội cộng sản nguyên thuỷ phải xuất phát

từ cơ sở kinh tế của nó Xã hội cộng sản nguyên thuỷ được xây dựng trên nềntảng của phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ mà đặc trưng là chế độcông hữu về tư liệu sản xuất và phân phối bình đẳng của cải Trong chế độcộng sản nguyên thuỷ, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấpkém, công cụ lao động còn thô sơ, sự hiểu biết về thế giới tự nhiên của ngườilao động còn lạc hậu, vì thế con người để kiếm sống và bảo vệ mình phải dựavào nhau cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thành quả của laođộng chung Trong điều kiện đó nên không ai có tài sản riêng, không có ngườigiàu, người nghèo, xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấutranh giai cấp

Từ chế độ kinh tế như vậy đã quyết định tổ chức xã hội của xã hội cộngsản nguyên thuỷ Hình thức tổ chức xã hội và cách thức quản lý của xã hộicộng sản nguyên thuỷ rất đơn giản Tế bào của xã hội cộng sản nguyên thuỷ làthị tộc Thị tộc là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của xã hội loài người,được xuất hiện khi xã hội đã phát triển tới một trình độ nhất định Với tư cách

là hình thức tổ chức và quản lý xã hội, thị tộc là một tổ chức lao động và sảnxuất, một bộ máy kinh tế xã hội Thị tộc được tổ chức trên cơ sở huyết thống,

ở giai đoạn đầu do những điều kiện về kinh tế, hôn nhân chi phối, vì thế thịtộc được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Dần dần cùng với sự phát triển của kinh

tế, sự thay đổi của xã hội và hôn nhân, chế độ mẫu hệ được thay thế bởi chế

độ phụ hệ

Trong thị tộc mọi thành viên đều tự do, bình đẳng, không một ai có đặcquyền, đặc lợi gì Mặc dù trong xã hội cũng đã có sự phân chia lao độngnhưng đó là sự phân chia trên cơ sở tự nhiên, theo giới tính hoặc lứa tuổi chứchưa mang tính xã hội

Trang 6

Thị tộc là hình thức tự quản đầu tiên trong xã hội Để tổ chức và điềuhành hoạt động chung của xã hội, thị tộc cũng đã có quyền lực và một hệthống quản lý công việc của thị tộc Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyênthuỷ mới chỉ là quyền lực xã hội do toà xã hội tổ chức ra và phục vụ cho lợiích của cả cộng đồng.

Hệ thống quản lý các công việc của thị tộc bao gồm:

Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực tổ chức quyền lực cao nhất củathị tộc gồm những thành viên lớn tuổi của thị tộc Hội đồng thị tộc quyết địnhtất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất, giảiquyết các tranh chấp nội bộ, tiến hành chiến tranh Những quyết định củaHội đồng thị tộc là bắt buộc đối với tất cả mọi người

Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnhquân sự để thực hiện quyền lực, quản lý các công việc chung Những ngườiđứng đầu thị tộc có quyền lực rất lớn, quyền lực này được tạo trên cơ sở uytín cá nhân, họ có thể bị bãi miễn bất kỳ lúc nào nếu không còn uy tín vàkhông được tập thể cộng đồng ủng hộ nữa Những tù trưởng và thủ lĩnh quân

sự không có bất kỳ một đặc quyền và đặc lợi nào so với các thành viên kháctrong thị tộc

Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã tồn tại quyền lực,nhưng quyền lực này không phải là quyền lực đặc biệt do một giai cấp haymột cá nhân tổ chức ra, mà đó là quyền lực xã hội được tổ chức và thực hiệntrên cơ sở dân chủ thực sự, quyền lực này xuất phát từ xã hội và phục vụ lợiích của cả cộng đồng

Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, do sự thay đổi của các hìnhthức hôn nhân với sự cấm đoán hôn nhân trong nội bộ thị tộc đã hình thànhnên chế độ hôn nhân ngoại tộc Các thị tộc mà giữa chúng có quan hệ hônnhân với nhau đã hợp thành bào tộc Cùng với hôn nhân, nhiều yếu tố kháctác động đã làm cho một số bào tộc liên kết với nhau thành bộ lạc và đến giaiđoạn cuối của chế độ cộng sản nguyên thuỷ thì các liên minh bộ lạc đã hình

Trang 7

thành Về cơ bản, tính chất của quyền lực, cách thức tổ chức quyền lực trongbào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc vẫn dựa trên cơ sở những nguyên tắc tổ chứcquyền lực trong xã hội thị tộc, tuy nhiên, đến thời điểm này, ở mức độ nhấtđịnh, sự tập trung quyền lực đã cao hơn.

Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện nhà nước Xã hội cộng sảnnguyên thuỷ chưa biết đến nhà nước, nhưng chính trong lòng xã hội đó đã nảysinh những tiền đề vật chất cho sự ra đời của nhà nước Những nguyên nhânlàm chế độ xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã đồng thời cũng là nhữngnguyên nhân xuất hiện nhà nước Đóng vai trò quan trọng trong việc làm tan

rã chế độ cộng sản nguyên thuỷ chuyển chế độ cộng sản nguyên thuỷ lên mộthình thái kinh tế xã hội mới cao hơn đó là sự phân công lao động xã hội Lịch

sử xã hội cổ đại đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội, đó là: 1, chănnuôi tách khỏi trồng trọt; 2, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3, thươngnghiệp xuất hiện

Việc con người thuần dưỡng được động vật đã làm hình thành mộtngành nghề mới, ở những nơi có điều kiện tốt cho chăn nuôi những đàn giasúc được phát triển đông đảo Với sự phát triển mạnh nghề chăn nuôi đã táchkhỏi trồng trọt Sau lần phân công lao động đầu tiên, cả chăn nuôi và trồngtrọt đều phát triển với sự ứng dụng của chăn nuôi vào trồng trọt Sản xuất pháttriển kéo theo nhu cầu về sức lao động, để đáp ứng nhu cầu này, thay vì việcgiết tù binh trong chiến tranh như trước kia, bây giờ tù binh đã được giữ lại đểbiến thành nô lệ

Như vậy, sau lần phân công lao động đầu tiên, xã hội đã có những xáotrộn đáng kể, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành giai cấp chủ nô

và nô lệ Sự xuất hiện chế độ tư hữu còn làm thay đổi đáng kể quan hệ hônnhân: hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế hôn nhân đối ngẫu Chế độ phụ

hệ thay cho chế độ mẫu hệ

Việc tìm ra kim loại và chế tạo công cụ bằng kim loại tạo khả năng tăngnăng suất lao động Nghề chế tạo kim loại, nghề dệt, nghề làm đồ gốm, chế

Trang 8

biến sản phẩm nông nghiệp.v.v này càng phát triển Điều này đã dẫn đếnviệc thủ công nghiệp tách khỏi trồng trọt thành một nghề độc lập Hậu quảcủa lần phân công lao động thứ hai này đã làm xã hội hoá lực lượng nô lệ.Quá trình phân hoá xã hội đẩy nhanh, sự phân biệt giàu nghèo, mâu thuẫn giaicấp ngày càng trở nên sâu sắc.

Với việc xuất hiện nhiều ngành nghề chuyên môn trong sản xuất đã làmphát sinh nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội Sự phát triển nền sản xuấthàng hoá dẫn đến sự phát triển của thương nghiệp và thương nghiệp đã tách rathành một ngành hoạt động độc lập Lần phân công lao động này đã làm thayđổi sâu sắc xã hội, với sự ra đời của tầng lớp thương nhân mặc dù họ là nhữngngười không trực tiếp tiến hành lao động sản xuất nhưng lại chi phối toàn bộđời sống sản xuất của xã hội, bắt những người lao động, sản xuất lệ thuộc vàomình

Qua ba lần phân công lao động xã hội đã làm cho nền kinh tế xã hội có

sự biến chuyển sâu sắc, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sản phẩm

dư thừa, vì thế kéo theo hiện tượng chiếm của cải dư thừa làm của riêng Quátrình phân hoá tài sản làm xuất hiện chế độ tư hữu và kéo theo là sự phân chiagiai cấp trong xã hội

Tất cả những yếu tố trên đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vỡ tínhkhép kín của thị tộc Tổ chức thị tộc với hệ thống quản lý trước đây trở nênbất lực trước tình hình mới Để điều hành xã hội mới cần phải có một tổ chứcmới khác về chất Tổ chức đó phải do những điều kiện nội tại của nó quyđịnh, nó phải là công cụ quyền lực của giai cấp nắm ưu thế về kinh tế vànhằm thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt các xung đột giai cấp, giữ chocác xung đột đó nằm trong vòng trật tự, đó chính là nhà nước

Như vậy, nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sảnnguyên thuỷ Tiền đề kinh tế cho sự xuất hiện nhà nước là sự xuất hiện chế độ

tư hữu về tài sản trong xã hội Tiền đề kinh tế là cơ sở vật chất tạo ra tiền đề

xã hội cho sự ra đời của nhà nước - đó là sự phân chia xã hội thành các giai

Trang 9

cấp mà lợi ích cơ bản giữa các giai cấp và các tầng lớp này là đối kháng vớinhau đến mức không thể điều hoà được.

Ngoài các yếu tố chung nói trên, sự xuất hiện nhà nước ở các vùng vàcủa các dân tộc khác nhau cũng có những đặc điểm khác nhau do có các điềukiện kinh tế, xã hội và ngoại cảnh khác nhau Theo Ph Ăngghen có ba hìnhthức xuất hiện nhà nước điển hình

1 Nhà nước Aten: Đây là hình thức nhà nước thuần tuý cổ điển nhất.Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Aten chủ yếu trên cơ sở phânhoá nội bộ xã hội thị tộc do sự phát triển của kinh tế và sự xuất hiện mâuthuẫn giai cấp đối kháng

2 Nhà nước La Mã: Nhà nước này ra đời trên cơ sở kết quả đấu tranhgiữa giới bình dân chống lại giới quý tộc với chiến thắng của giới bình dân

3 Nhà nước Giéc Manh: Đây là hình thức nhà nước được thiết lập sauchiến thắng của người Giéc Manh đối với đế quốc La Mã cổ đại Nó ra đời donhu cầu phải thực hiện sự quản lý trên lãnh thổ La Mã mà người Giéc Manh

đã xâm chiếm được chứ không phải do đòi hỏi bức thiết của cuộc đấu tranhgiai cấp trong nội bộ xã hội của người Giéc Manh

Ở các nước phương Đông, nhà nước xuất hiện khá sớm, khi chế độ tưhữu và sự phân chia giai cấp trong xã hội chưa ở mức cao Nguyên nhân thúcđẩy sự ra đời của các nhà nước phương Đông là do nhu cầu trị thuỷ và chốnggiặc ngoại xâm Ở Việt Nam, nhà nước xuất hiện và khoảng thiên niên kỷ 2trước công nguyên Cũng như các nhà nước phương Đông khác, sự phân chiagiai cấp trong xã hội cổ Việt Nam chưa đến mức gay gắt Trong bối cảnh xãhội lúc bấy giờ, nhu cầu xây dựng, quản lý những công trình trị thuỷ đảm bảonền sản xuất nông nghiệp và tổ chức lực lượng chống giặc ngoại xâm đã thúcđẩy quá trình liên kết các tộc người và hoàn thiện bộ máy quản lý Kết quảnày đã cho ra đời nhà nước Việt Nam đầu tiên - Nhà nước Văn lang của cácVua Hùng

Trang 10

2.2 Một số quan niệm về nhà nước trong lịch sử trước C.Mác và Ph.Ăngghen

Trong quá trình nghiên cứu về nhà nước, nhiều học giả đã quan tâm tớiviệc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi: Nhà nước xuất hiện ở đâu? Từ khinào? Nhà nước là do ai lập ra? Vì sao nhà nước xuất hiện? Song việc lý giảinhững vấn đề trên rất khác nhau giữa các nhà nghiên cứu nên có khá nhiềuquan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước

Thứ nhất, quan điểm thần quyền cho rằng nhà nước có nguồn gốc thần

thánh Các nhà tư tưởng theo quan điểm này lý giải rằng nhà vua - ngườiđứng đầu nhà nước là do thần thánh sinh ra, là sự hoá thân của thần thánh trêntrần thế và quyền cai trị dân chúng của họ cũng là do thần thánh ban cho, họđược coi là “Thiên tử”, “Thiên hoàng”, người thay Trời trị dân Trong Bộ luậtManou của ấn Độ cổ đại đã viết về nhà vua như sau: “Vua được tạo ra từnhững phần của các vị thánh siêu đẳng này… Người là vị thánh tối cao manghình người” Hoặc Đức Vua Hammurabi của Babylone cổ đại, trong phần mởđầu của bộ luật mang tên ông đã viết: “Ta Hammurabi, một mục sư được thầnEnlin lựa chọn… kẻ nối dõi của các Đế vương do thần Xin tạo ra Mácđúc gọi

ta lên cai trị nhân dân và mang đến cho đất nước cuộc đời hạnh phúc… KhiMácđúc cử ta thống trị muôn dân một cách công bằng và chính nghĩa truyềnkhắp đất nước và tạo ra hạnh phúc cho nhân dân” Rõ ràng, đây là một quanđiểm hoàn toàn duy tâm về nguồn gốc của nhà nước

Thứ hai, quan điểm cho rằng nhà nước hình thành trên cơ sở sự phát

triển tự nhiên của các gia đình, là sản phẩm của tự nhiên Chẳng hạn, Aristote

- đại diện điển hình của quan điểm này - luận giải rằng con người sẽ khôngthể tồn tại được nếu không kết hợp lại với nhau giống như sự kết hợp giữagiống đực và giống cái để duy trì nòi giống trong các sinh vật khác, điều đókhông thông qua một sự lựa chọn mà chỉ do sự thôi thúc có tính chất bảnnăng Do đó xã hội đầu tiên là xã hội giữa đàn ông với đàn bà trong một giađình và sau đó là xã hội của nhiều gia đình được tạo nên do sự thuận lợi lẫn

Trang 11

nhau và sự bền vững của chúng, được gọi là cái làng và cái làng một cách tựnhiên nhất là gồm có tổ tiên và các con cháu của một gia đình Sau đó, mỗigia đình lại trở thành một cái nhánh của gia đình lớn, được chỉ huy bởi mộtngười già nhất, vì thế mà các thành bang đầu tiên đã được cai trị bởi các nhàvua.

“Và khi nhiều làng như vậy hoàn toàn hợp nhất với nhau ở mọi khíacạnh thì tạo thành một xã hội, xã hội ấy chính là một thành bang bao gồmtrong bản thân nó, nếu tôi có thể nói như vậy, mục đích và sự hoàn hảo củachính quyền: trước tiên có thể đặt nền móng cho cuộc sống của chúng ta, tiếp

đó chúng ta có thể có cuộc sống hạnh phúc Vì lý do đó, mỗi thành bang vềnguồn gốc phải là sản phẩm của tự nhiên… và con người về bản chất là mộtđộng vật chính trị…” “… mỗi thành bang được tạo nên bởi các gia đình vàmỗi gia đình lại là một bộ phận hợp thành nên nó” Aristotle còn luận giảithêm rằng do sự thúc đẩy tự nhiên mà con người liên kết với nhau một cách tựnguyện tạo thành thành bang vì theo cách đó mỗi người có thể tìm thấy nhữnglợi ích lớn nhất

Ông viết: “Như chúng ta đã biết, mỗi thành bang là một xã hội và mỗi

xã hội đều được tạo thành bởi một số lợi ích nhất định, vì điều không thể chối cãi được là động cơ của tất cả các hoạt động của con người là vì lợi ích”.

Nhờ có khả năng nói mà con người là động vật có tính xã hội, có khả nănggiao tiếp cao hơn các động vật khác

Ngoài ra, con người còn khác với tất cả các động vật khác là họ có khảnăng nhận thức điều tốt và điều xấu, công bằng và bất công và những quanđiểm chung về vấn đề đó đã tham gia vào việc làm hình thành nên gia đình vàthành bang, cho nên điều tồi tệ nhất đối với tất cả mọi người là không có luậtpháp và công lý Do phải tìm sinh kế mà hình thành nên việc quản lý gia đình

vì nếu không có sự quản lý đó thì không thể sống và sống tốt được, thànhbang cũng tương tự như vậy nên sẽ có người quản lý và người bị quản lý,người cai trị và người bị cai trị

Trang 12

Điều đó là tự nhiên, bởi vì: “Cũng là từ tự nhiên đã tạo ra một số ngườiđược ra lệnh và một số khác phải phục tùng, để mỗi người đạt tới sự an toànlẫn nhau giữa họ; một người được phú cho khả năng trí tuệ để suy nghĩ và đắn

đo suy tính trước thì phù hợp với tự nhiên phải là người cao hơn và là ngườicai trị, trong khi anh ta là người ưu tú thì làm cho những người khác chỉ đơnthuần là người nô lệ, tiếp sau đó trạng thái khác nhau giữa ông chủ và nô lệ làthuận lợi như nhau cho cả hai bên” Song gia đình khác với nhà nước ở chỗ

“Chính quyền trong gia đình là quân chủ, vì đó là cái chiếm ưu thế trong mỗigia đình; nhưng trạng thái chính trị là chính quyền của những người tự do vàbình đẳng”

Như vậy, theo Aristote, nhà nước ra đời trên cơ sở sự liên kết tự nhiên

và tự nguyện giữa mọi người vì lợi ích của mỗi người và vì lợi ích chung, Sở

dĩ con ngời có thể liên kết với nhau thành các cộng đồng, các xã hội như giađình, làng xóm và thành bang là vì họ có khả năng nói nên họ có khả nănggiao tiếp cao hơn các động vật khác và là động vật có tính xã hội

Ngoài ra còn vì con người có khả năng nhận thức điều tốt và điều xấu,công bằng và bất công và có quan điểm chung về những điều đó Sự xuất hiệncủa nhà nước là trực tiếp từ nhu cầu quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, vì nếukhông có sự quản lý thì con người không thể sống và sống tốt được, không có

sự an toàn cho mọi người, do đó, sự xuất hiện của nhu cầu quản lý cũng là tựnhiên, là lẽ đương nhiên Trong quan hệ quản lý thì bao giờ cũng phải cóngười quản lý và người bị quản lý, người ra lệnh và người phục tùng mệnhlệnh Trong gia đình thì chủ gia đình là người quản lý, còn trong thành bangthì những người được phú cho khả năng trí tuệ ưu tú hơn người phải được đặtcao hơn, là người cai trị và những người khác sẽ là người bị cai trị, là nô lệ vàchính quyền chỉ là của những người tự do và bình đẳng

Thứ ba, quan điểm hợp đồng xã hội cho rằng nhà nước ra đời trên cơ sở

một hợp đồng hay thoả thuận xã hội tự nguyện giữa mọi người trong trạngthái tự nhiên nhằm bảo tồn cuộc sống, tự do và tài sản của họ, do vậy quyền

Trang 13

lực nhà nước là xuất phát từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho nhà nước.Quan điểm này được đề cập đến bởi rất nhiều học giả như Thomas Hobbe,John Locke, Jean Jacque Rouseau… Song mỗi người lại lý giải về nguồn gốcnhà nước theo một cách riêng.

Chẳng hạn, Thomas Hobbe (1588 - 1679) cho rằng cái gốc của bản chấtcon người là tính ích kỷ, con người sống trong cộng đồng chỉ nhằm lợi íchcủa riêng mình Vì những ham muốn của mình cho nên họ luôn cạnh tranh vớinhau Do có quyền ngang nhau về tất cả trước mọi vật nên họ thèm muốn tất

cả những vật đó; họ có cùng một khuynh hướng làm hại lẫn nhau nên giữa họluôn tiềm ẩn mối nguy hiểm và sợ hãi đối với nhau

Ông viết: "Sự cạnh tranh trong việc tìm kiếm của cải, danh vọng, quyềnbính hay quyền lực nào đó đã dẫn tới sự tranh giành, thù địch và chiến tranhbởi vì một kẻ kình địch sẽ đạt được ý muốn của mình bằng con đường sátnhân, quy phục, xua đuổi hoặc loại trừ kẻ khác." Những ham muốn này đãbiến con người thành kẻ thù của nhau nên trong trạng thái tự nhiên "người vớingười là chó sói" "Tạm thời con người sống không có chính quyền chung đểchống lại sự sợ hãi của mọi người, họ ở trong trạng thái được gọi là chiếntranh hay chính là trạng thái chiến tranh của tất cả mọi người chống lại tất cảmọi người"

Trong thèm muốn và sợ hãi, con người bị tác động bởi sức ép của tựnhiên lúc ấy là tính ích kỷ theo nguyên tắc nhằm duy trì bản thân và tìm kiếmlại sự an toàn Nhưng trong trạng thái tự nhiên, những mệnh lệnh của quy luật

tự nhiên là không bắt buộc Cho nên, để thoát khỏi "trạng thái tự nhiên" ấy,con người liên kết lại với nhau bằng một sự thoả hiệp tương hỗ hình thànhmột liên minh bảo đảm chống sự hỗn loạn Sự liên kết đó là nhà nước Do đó,chỉ khi con người đã bỏ trạng thái tự nhiên thì pháp quyền xuất hiện Chínhnhà nước làm nảy sinh cái của tôi và cái của anh, nó bắt buộc phải tôn trọng

sở hữu của người khác Nhà nước được lập ra nhằm duy trì hoà bình; con

Trang 14

người từ bỏ các quyền mà họ giữ ở trạng thái tự nhiên để hưởng các quyềnkhác.

Khi tham gia ký kết hợp đồng thành lập nhà nước, con người phải từ bỏtất cả mọi quyền tự nhiên của mình và chuyển giao chúng cho nhà nước.Nhưng để nhà nước tồn tại, một thoả ước giản đơn giữa những con người làkhông đủ mà phải cần một sự liên hợp Những con người không còn sống nhưnhững cá nhân độc lập và phân cách, mà phải hình thành một ý chí Do đó, họcũng không giữ lại các quyền làm tổn hại đến sự liên kết Tất cả các quyền lựcđược chuyển cho nhà nước bằng cách từ bỏ, một mặt là sự kháng cự và mặtkhác là sự thủ tiêu việc ủy nhiệm đã trao đi Bởi vậy, quyền lực của nhà nước,của vua chúa là tuyệt đối và các thần dân không có bất cứ quyền hành gì đốivới nhà nước

Theo ông, nền quân chủ thích hợp với quyền tối thượng tuyệt đối đó.Việc duy trì hoà bình đòi hỏi vua phải có một quyền uy đầy đủ như: có quyềnlực vô hạn trong việc ban hành các đạo luật, thu thuế, bổ nhiệm quan chức,tiến hành chiến tranh hay hoà bình, xử án v.v Vua không phải phụ thuộc vàomột luật pháp nào ngoài bản thân mình

Song sự được hưởng những quyền trên và sự sở hữu tài sản của conngười rất không an toàn và không chắc chắn vì chúng luôn luôn bị vi phạmbởi những người khác và lại thiếu nhiều thứ để bảo đảm cho chúng:

Thứ nhất , là ở đó không có một thứ pháp luật được thiết lập ổn định,

được biết rõ, được công nhận và cho phép bởi sự ưng thuận chung, trở thànhchuẩn mực của sự đúng, sai và là tiêu chuẩn chung để giải quyết tất cả cáctranh chấp giữa mọi người

Thứ hai, trong trạng thái tự nhiên không có những quan toà hiểu biết và

công tâm với thẩm quyền giải quyết tất cả các vụ việc khác nhau theo luậtpháp đã được thiết lập Vì mỗi người vừa là quan toà, vừa là người thực hiệnLuật tự nhiên nên họ không thể công tâm khi giải quyết các vụ việc của mình

Trang 15

Thứ ba, ở đó không có một quyền lực thường xuyên để ủng hộ và giúp

đỡ một sự kết án đúng và sau đó đưa bản án vào thực hiện Những người bịlàm tổn hại bởi một việc bất công nào đó sẽ hiếm khi quên và khi có khảnăng, họ sẽ dùng vũ lực để thực hiện một sự trừng phạt lại nguy hiểm gấpnhiều lần sự gây thiệt hại đó, và thường là tiêu diệt những người đã gây ra sựbất công ấy

Như vậy, loài người mặc dù được ban cho tất cả những đặc quyền trongtrạng thái tự nhiên, nhưng vì sống trong những điều kiện xấu như trên nên đãtập hợp lại thành xã hội Để bổ khuyết những sự thiếu hụt và những sự khônghoàn hảo của con người khi sống đơn độc nên tự nhiên đã xui khiến họ tìmkiếm sự cộng đồng và tình bằng hữu với những người khác

Để thoát khỏi trạng thái tự nhiên, "Cái hoàn cảnh mà tuy được tự do nhưng lại đầy sự sợ hãi và sự nguy hiểm liên miên", con người đã liên kết với

nhau tạo thành xã hội, thành nhà nước, chuyển giao một phần quyền lực củamình cho nhà nước và đặt mình dưới quyền thống trị của nó nhằm bảo tồncuộc sống, tự do và tài sản của mỗi người

Qua quan điểm của thuyết hợp đồng hay khế ước xã hội về nguồn gốcnhà nước, có thể thấy, điểm hợp lý của quan điểm này là ở chỗ nó thừa nhậnrằng nhà nước không xuất hiện ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện mà nóchỉ ra đời khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nhà nước rađời do nhu cầu quản lý xã hội, bảo đảm sự an toàn cho mọi người và sự anninh cho xã hội; nhà nước có chức năng quản lý xã hội, giữ gìn trật tự, sự ổnđịnh của xã hội và bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng Song điểm bất hợp

lý của quan điểm này là ở chỗ nó không chỉ ra được rằng nhà nước ra đờikhông chỉ do nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội mà còn do nhu cầu thống trịgiai cấp nên ngoài tính xã hội nó còn có tính giai cấp

Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp, liên quan chặt chẽ tới lợiích của giai cấp, tầng lợp và dân tộc Để nhận thức đúng đắn hiện tượng nhà

Trang 16

nước cần phải làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề liên quan như: nguồn gốc xuấthiện nhà nước, bản chất của nhà nước v.v

Trong lịch sử chính trị - pháp lý, ngay từ thời kỳ cổ đại, trung đại vàcận đại đã có nhiều nhà tư tưởng đề cập tới vấn đề nguồn gốc của nhà nước.Xuất phát từ các góc độ khác nhau, các nhà tư tưởng trong lịch sử đã cónhững lý giải khác nhau về vấn đề nguồn gốc của nhà nước

Những nhà tư tưởng theo thuyết thần học (đại diện thời trung cổ Ph.Ácvin, thời kỳ tư sản có: Masiten, Koct ) cho rằng: Thượng đế là người sắpđặt mọi trật tự trong xã hội, nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệtrật tự chung xã hội Nhà nước là do đấng tối cao sinh ra, là sự thể hiện ý chícủa chúa trời Do vậy, quyền lực của nhà nước là hiện thân quyền lực củachúa, vì thế nó vĩnh cửu

Những người theo thuyết gia trưởng (Arixtôt, philmer, Mikhailốp,Merđoóc.v.v ) cho rằng nhà nước ra đời là kết quả của sự phát triển gia đình,

là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, vì vậy, cũng như giađình, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội, quyền lực nhà nước, về thực chấtcũng giống như quyền lực của người đứng đầu trong gia đình, nó chỉ là sựtiếp tục của quyền lực của người gia trưởng trong gia đình

Vào thế kỷ XVI, XVII, XVIII, cùng với trào lưu cách mạng tư sản,trong lịch sử tư tưởng chính trị pháp lý đã xuất hiện nhiều quan điểm mới

về nhà nước nói chung và về nguồn gốc của nó Thuyết khế ước xã hội đượchình thành trong điều kiện như vậy Thuyết khế ước xã hội (đại diện tiêu biểucó: Grooxi, Xpirôza, gốp, Lôre, Rút xô v.v ) cho rằng nhà nước ra đời là kếtquả của một bản hợp đồng (khế ước) được ký kết giữa các thành viên sốngtrong trạng thái tự nhiên không có nhà nước Về bản chất, nhà nước phản ánhlợi ích của các thành viên sống trong xã hội, lợi ích của mỗi thành viên đềuđược nhà nước ghi nhận và bảo vệ

Với sự ra đời của thuyết khế ước xã hội đánh dấu một bước tiến trongnhận thức của con người về nguồn gốc nhà nước, đó là một cú đánh mạnh vào

Ngày đăng: 28/06/2018, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Viện Triết học, Hội thảo khoa học tác phẩm Ph.Ăngghen “Nguồn gốc gia đình, của chế độ te hữu và của nhà nước”, Tạp chí Triết học, số 11 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồngốc gia đình, của chế độ te hữu và của nhà nước
1. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4 Khác
2. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 19 Khác
3. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 20 Khác
4. C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H, 1983, từ tập I đến tập VI Khác
5. C.Mác và Ph.Ăngghen - Cuộc đời và hoạt động, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978 Khác
6. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
7. PGS. TS Doãn Chính – PGS. TS Đinh Ngọc Thạch (2002), Vấn đề cơ bản của triết học trong tác phẩm của C.Mác và Ăngghen – V.I.Lênin. Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
8. PGS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Sự hạn chế quyền lực nhà nước. Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội 2005, tr. 660 Khác
9. V.I.Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1976, tập 33 Khác
10. V.I.Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tập 39 Khác
11. Theo Đinh Ngọc Thạch, Tập bài giảng triết học Tây Âu cận đại, Đại học khoa học xã hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) Khác
12. Tiểu sử C.Mác, Ph.Ăngghen, Nxb KHXH, 1975 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w