1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức“giải toán có lời văn lớp 1

28 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 187 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức“giải toán có lời văn lớp 1 SKKN nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức“giải toán có lời văn lớp 1 SKKN nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức“giải toán có lời văn lớp 1 SKKN nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức“giải toán có lời văn lớp 1 SKKN nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức“giải toán có lời văn lớp 1

Trang 1

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên con đường xây dựng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước chúng ta cần có những con người có đủ phẩm chất và năng lực Chiếnlược đào tạo con người trở thành nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, Nhà nước vànhân dân

Mục tiêu giáo dục tiểu học là giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầucho sự phát triển đúng đắn lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ vàcác kỹ năng cơ bản về đọc, viết, nghe, nói, tính toán Có thói quen rèn luyệnthân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về hát múa âm nhạc Nội dunggiáo dục thông qua 6 môn bắt buộc

Môn toán là môn học tự nhiên, có ý nghĩa to lớn và thiết thực trongviệc ứng dụng khoa học vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống

Đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp quan trọng quyết địnhđến nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Đổi mới phương pháp vừa mangtính cấp bách trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài Thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học nói chung và môn toán nói riêng là thực hiện đúngđịnh hướng của Đảng về công tác giáo dục

Môn toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuấtphát của cả một bộ môn khoa học Môn toán mở đường cho các em đi vàothế giới kỳ diệu của toán học

Đối với mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là một trong năm mạchkiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình toán cấp tiểu học Toán có lời văn

là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các mônhọc khác Đây là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh và càng khóhơn với học sinh lớp một bởi học sinh lớp một có vốn từ, vốn hiểu biết, khảnăng đọc hiểu, tư duy lôgic còn hạn chế Các em chưa biết cách tự học, họcchưa tích cực nên các em hay lúng túng khi giải toán có lời văn

Trang 2

Một số giáo viên chưa thành thạo dạy loại toán có lời văn, ngại sửdụng đồ dùng minh họa, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc sơ đồ đoạnthẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìmđường lối giải và giải toán còn khó hiểu.

Từ thực tiễn ấy tôi thấy thật cần thiết phải giúp đỡ các em biết cáchgiải toán có lời văn một cách chính xác và thông minh nhất góp phần nângcao chất lượng học môn toán Tôi xin mạnh dạn tiến hành và nghiên cứu:

Nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức:“Giải toán có lời văn lớp 1”

Những kinh nghiệm bước đầu đã và đang tiến hành ở trường tôi(Trường Tiểu học Trưng Vương – Thành phố Việt Trì – Tỉnh Phú Thọ )

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận :

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức

Trang 3

dục, trong đó có sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy học Những phươngpháp dạy học kích thích sự tìm tòi, đòi hỏi sự tư duy của học sinh được đặc

biệt chú ý Mục tiêu giáo dục của Đảng đã chỉ rõ: “… Đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hoá phổ thông và hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt…” Muốn đạt được mục tiêu này thì

dạy và học Toán trong trường phổ thông là một khâu quan trọng của quátrình dạy học Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói về vị trí vai trò của bộ

môn Toán: “ Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu Nó là một môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo Nó còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như: Cần cù và nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý.” Để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra, Giáo

dục và Đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay đổi về nội dungchương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp Hội nghị BCHtrung ương khoá VIII lần thứ 2 đã chỉ rõ: ” Đổi mới mạnh mẽ phương phápgiáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duysáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phươngpháp hiện đại vào quá trình dạy học” Trong luật Giáo dục, Khoản 2, Điều 24

đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đổi mới cách thực hiện PPDH là vấn đề then chốt

Trang 4

của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đổi mớicách thực hiện PPDH sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế

hệ học trò - chủ nhân tương lai của đất nước Như vậy, đổi mới PPDH sẽ tácđộng vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo Nó tạo ra sự hiệnđại hoá của quá trình này Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thaythế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới Về mặt bản chất, đổi mớiPPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện vàhình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm cácphương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm pháthuy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Mục đích của đổimới PPDH chính là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tựgiác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội trithức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoànthiện nhân cách của mình Mặt khác môn toán thiết thực góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục tiểu học theo đặc trưng và khả năng của môn Toán, cụ thể

là chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng toán học cơ bản cần thiếtcho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao động

Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, làđiểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đường cho các

em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Rồi mai đây, các em lớn lên, nhiều

em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ…trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đờisống; trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi… nhưngkhông bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm

và tập viết 1, 2, 3… học các phép tính cộng, trừ… Các em không quên được

vì đó là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số,những phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời

Trang 5

Đối với mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn”, là một trong nămmạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thôngqua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹnăng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn làmạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lờivăn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tốhình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học vàthực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác.

2 Thực trạng của vấn đề :

2.1 Về phía học sinh :

Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì tuyếnkiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối vớihọc sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi vì đối với lớpMột: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các

em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinh chưa biếtcách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán cólời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trảlời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiệnnay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số

em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lốigiải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic.Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chínhxác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán và giải toánmột cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước

2.1.1 Kết quả khảo sát tại trường Tiểu học Trưng Vương:

TSHS lớp 1B khảo sát: 29 em (vào thời gian tháng 1/2013)

Trang 6

Nhận xét : Qua kết quả khảo sát cho thấy :

Số HS đạt loại giỏi tương đối đã biết cách làm bài đúng, trình bày sạch

Số HS đạt loại khá biết cách làm nhưng trình bày còn bẩn,câu trả lời chưachuẩn

Số HS đạt loại trung bình làm phép tính và đáp số đúng , sai tên đơn vị, saicâu trả lời

Số HS yếu không biết cách làm bài

2.1.2 Ưu điểm:

Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn.Kết quả của bài toán đúng Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải bài toán có lời văn” nói riêng

Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế

2.1.3 Hạn chế:

Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp

Một số học sinh chưa biết cách đặt câu lời giải phù hợp

Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đếnkhông làm được bài

2.2 Về phía giáo viên:

Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúngtúng, chưa phát huy được tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạyhọc truyền thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày Một sốgiáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phương pháp

Trang 7

thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ, tròtiếp nhận ghi nhớ” Một số giáo viên chưa thành thạo dạy loại Toán có lờivăn, không muốn nói là làm cho bài toán trở nên phức tạp, khó hiểu hơn.Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, ngại tóm tắt bằng sơ đồhình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trongviệc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu.

2.3 Về đồ dùng dạy học:

Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy trực quan , để học sinh học tốt

“Giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ dùng thiết bị dạyhọc để minh hoạ

Trong những năm qua, các trường tiểu học đã được cung cấp khánhiều trang thiết bị và đồ dùng dạy học đồng bộ để dạy cho cả cấp học vànhững bộ va-li để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượngvẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu dạy “Giải toán có lời văn”

Từ những thực trạng trên cho thấy :

-Đối với giáo viên :

Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh “Giải toán

có lời văn” cho học sinh lớp 1 là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiêncứu để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả

Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề

Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhómcũng như các đối tượng học sinh trong quá trình học

Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy tuyến kiếnthức: “Giải toán có lời văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt

- Đối với HS :

Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của học sinh lớp 1 còn rấthạn chế nên khi giảng dạy cho học sinh lớp 1 giáo viên đã diễn đạt như với

Trang 8

các lớp trên làm học sinh lớp 1 khó hiểu và không thể tiếp thu được kiếnthức và không đạt kết quả tốt trong việc giải các bài toán có lời văn.

Khả năng kiên trì của học sinh lớp 1 trong quá trình học nói chungcũng như học “Giải toán có lời văn” nói riêng còn chưa cao

Từ thực tiễn, qua thực tế giảng dạy và kết quả học tập của HS tôi xin

mạnh dạn đề xuất: Sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng dạy tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn ở lớp Một”.

3 Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề:

3.1 Nắm bắt hệ thống kiến thức:

Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, “Giải bài toán có lời văn” nói

riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình,sách giáo khoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học,và đặc biệt là toán lớp

1 thì ai mà chả dạy được Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rấtchủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy Qua giờ dạy của một

số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai tháckiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan giáo viên nắm khôngthật chắc Người ta thường nói “Biết 10 dạy 1” chứ không thể “Biết 1 dạy 1”

vì kết quả thu được sẽ không còn là 1 nữa

Trong chương trình toán lớp Một giai đoạn đầu học sinh còn đang họcchữ nên chưa thể đưa ngay“Bài toán có lời văn”.Mặc dù đến tận tuần 23, họcsinh mới được chính thức học cách giải “Bài toán có lời văn” song chúng ta

đã có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài “Phép cộng trongphạm vi 3 (Luyện tập) ” ở tuần 7

3.1.1 Nhìn tranh nêu phép tính :

Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phépcộng trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng “Nhìntranh nêu phép tính” ở đây học sinh được làm quen với việc:

Trang 9

Xem tranh vẽ.

Nêu bài toán bằng lời

Nêu câu trả lời

Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)

* Ví dụ:

Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời: “Có 1quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi có tất cả mấy quả bóng?” rồi tậpnêu miệng câu trả lời: “có tất cả 3 quả bóng”, sau đó viết vào dãy năm ôtrống để có phép tính:

3.1.2 Tập nêu đề toán bằng lời :

Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồinêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phép tính thíchhợp vào dãy năm ô trống ở đây không còn tranh vẽ nữa (xem bài 3b – trang

87, bài 5 – trang 89)

Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn làchuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính Chính vì vậyngay sau các bài tập “nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống”chúng ta chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lờimiệng

Trang 10

Giáo viên nên hỏi tiếp: “Vậy có tất cả mấy con chim?” để học sinh trảlời miệng: “Có tất cả 4 con chim”; hoặc “Số chim có tất cả là bao nhiêu?

(Số chim có tất cả là 4) …

Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giảibằng miệng Do đó các em sẽ dễ dàng viết được các câu lời giải sau này

3.1.3 Giới thiệu cấu tạo của một bài toán có lời văn:

Trước khi chính thức học “Giải các bài toán có lời văn” học sinh đượchọc bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thành phần chính

là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vì khó có thểgiải thích cho học sinh “Bài toán là gì?” nên mục tiêu của tiết này là chỉ giớithiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán:

+ Những cái đã cho (dữ kiện)

+ Và cái phải tìm (câu hỏi)

Để làm việc này sách Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là bốn đềtoán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện lẫncâu hỏi (biểu thị bằng dấu …) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán,sau đó điền số vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn đểtrống) Từ đó giáo viên giới thiệu cho các em “Bài toán thường có hai phần ”: + Những số đã cho

+ Số phải tìm (câu hỏi)

Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “Bài toán có lời văn”

3.1.4.Tập giải các loại toán có lời văn :

* Dạng bài toán thêm “Thêm ” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:

Chẳng hạn: “An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn cómấy quả bóng?”, dạng này khá phổ biến

Trang 11

*Dạng bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: ” Lớp

1A có 35 bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?”,dạng này ít gặp vì dạng này hơi khó (trước đây dạy ở lớp 2)

* Về hình thức trình bày bài giải, học sinh phải trình bày bài giải đầy

Để lường trước về vốn từ và khả năng đọc hiểu của học sinh khi “Giảibài toán có lời văn” chương trình toán 1 đã có những giải pháp:

Hạn chế dùng các vần khó và tiếng khó trong đề toán như: thuyền,quyển, Quỳnh… tăng cường dùng các vần và tiếng dễ đọc, dễ viết như: cam,

gà, Hà, Nam… trong các đề toán

Trang 12

Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa mộtchút xíu thôi là được ngay câu lời giải.

Cài sẵn “cốt câu” lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tómtắt mà viết câu lời giải

Cho phép (thậm chí khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặtlời giải khác nhau Chẳng hạn, với bài toán: “An có 4 quả bóng Bình có 3quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”; Học sinh có thể đặt lời giảitheo rất nhiều cách như:

Như chúng ta đã biết, con đường nhận thức của học sinh tiểu học là:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng trởlại thực tiễn” Đồ dùng thiết bị dạy học là phương tiện vật chất, phương tiệnhữu hình cực kỳ cần thiết khi dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớpMột Cũng trong cùng một bài toán có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt,dùng lời để hướng dẫn học sinh làm bài thì vừa vất vả tốn công, vừa khônghiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng đồ dùng thiết bị, tranhảnh, vật thực để minh hoạ Chính vì vậy rất cần thiết phải sử dụng đồ dùngthiế bị dạy học để dạy học sinh “Giải bài toán có lời văn”

Hiện nay bộ đồ dùng trang bị đến từng lớp đã có khá nhiều các đồdùng mẫu vật cho việc sử dụng dạy “Giải toán có lời văn” song vẫn là thiếunếu giáo viên thực sự có trách nhiệm Mỗi nhà trường cần có kế hoạch mua

bổ xung, từng tổ khối, cá nhân giáo viên cần sưu tầm, làm thêm các

Trang 13

thiết bị như: vật thực, tranh ảnh… làm đồ dùng, dùng chung và riêng chotừng lớp.

Một điều hết sức quan trọng là một số giáo viên còn ngại, hoặc lúngtúng sử dụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khi dạy “Giải toán

có lời văn” nói riêng Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần có ý thứcchuẩn bị sử dụng đồ dùng dạy học trước khi lên lớp Cần cải tiến nội dungsinh hoạt chuyên môn để đa việc thống nhất sử dụng đồ dùng dạy học vàphương pháp sử dụng đồ dùng dạy học

3 3.Giảng dạy “Giải bài toán có lời văn” ở lớp Một:

3.3.1 Quy trình “Giải bài toán có lời văn ” thông thường qua 4 bước:

+ Đọc và tìm hiểu đề bài

+ Tìm đường lối giải bài toán

+ Trình bày bài giải

+ Kiểm tra lại bài giải

a) Đọc và tìm hiểu đề toán

Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọngđầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viêncần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọngnhư ” thêm, và, tất cả,… ” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, …” (có thể kếthợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cầngạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Một số giáo viên còn gạch chân quánhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm tắt.Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn

Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằngcách đàm thoại” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của họcsinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán.Đây là cách rất tốt để giúp trẻ ngầm phân tích đề toán

Trang 14

? que tính

Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên chocác em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ, với bài 3 trang 118, giáo viên cóthể hỏi:

+ Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (… có 5 con vịt)

+ Trên bờ có mấy con vịt? ( … có 4 con vịt)

+ Em có bài toán thế nào? (…)

Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa

Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thểgắn mẫu vật (gà, vịt,…) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ,…) để thay cho tranh;hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đềtoán

* Thông thường có 2 cách tóm tắt đề toán:

Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng

Với cách viết thẳng theo cột như: 14 quyển và 26 quả

12 quyển 33 quả … quyển? … quả?

Ngày đăng: 28/06/2018, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w