SKKNMột số biện pháp rèn đọc đúng, đọc hay cho học sinh lớp 2 SKKNMột số biện pháp rèn đọc đúng, đọc hay cho học sinh lớp 2 SKKNMột số biện pháp rèn đọc đúng, đọc hay cho học sinh lớp 2 SKKNMột số biện pháp rèn đọc đúng, đọc hay cho học sinh lớp 2 SKKNMột số biện pháp rèn đọc đúng, đọc hay cho học sinh lớp 2
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngônngữ cho học sinh Thể hiện thông qua bốn hoạt động, tương ứng với chúng ta làbốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết Trong đó tập đọc là một phân môn quan trọng,
nó có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh Nó có một ý nghĩa
to lớn, nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầutiên là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải giao tiếp và hoạt động học tập Nó làcông cụ để học tập các môn học khác Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng
tự học và tinh thần học tập cho cả đời Phân môn này còn trau dồi cho học sinhkiến thức Tiếng Việt, kiến thức văn học, kiến thức đời sống, giáo dục tình cảmthẩm mĩ Do đó, tập đọc là môn khởi đầu cũng đồng thời là công cụ để học tậpkhông chỉ trong nhà trường mà còn trong cuộc sống nói chung Trước hết, mônTập đọc giúp cho học sinh rèn kĩ năng đọc ( đọc đúng, đọc diễn cảm ) một vănbản ( bài văn bài thơ hoặc đoạn văn, đoạn thơ ) làm tiền đề khoa học cho côngviệc tìm hiểu bài Xét về tính mục đích, dù trong khuôn khổ của chương trìnhlớp học, đọc vẫn là một hình thức tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm
Đọc để giải mã các tín hiệu ngôn ngữ, để hiểu tác phẩm, để tiếp cận thếgiới nghệ thuật mà nhà văn xây dựng Để tìm hiểu một tác phẩm văn học đọckhông chỉ có ý nghĩa khởi động cho quá trình nhận thức Đọc thường có sựtham gia của nhiều yếu tố trong đó liên tưởng, tưởng tượng giữ vai trò then chốtgiúp cho người đọc có những dự cảm, hình dung về bối cảnh và diễn biến sựviệc mà nhà văn xây dựng trong tác phẩm Đọc được xem là cơ sở tiền đề củaviệc nhận thức và phát triển tư duy nghệ thuật cho học sinh Thông qua đọc, họcsinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp, tiếp thu được tình cảm đạo đức trong mỗibài tập đọc Mặt khác nó còn giúp các em viết đúng, làm văn hay, giao tiếptốt…
Trang 2Những điều trên đã khẳng định sự cần thiết, quan trọng của việc hìnhthành và phát triển có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh
Tuy vậy trong thực tiễn giảng dạy môn Tập đọc hiện nay trong nhà trườngcòn nhiều hạn chế như chưa xác định đúng yêu cầu và tầm quan trọng của mônTập đọc, người thầy còn nặng về truyền đạt, ít hướng dẫn học sinh tự tìm hiểucách đọc của bài và vì sao phải đọc như vậy Nhiều giáo viên chỉ quan tâm đếnviệc làm sao cho học sinh trả lời đúng câu hỏi, làm sao để mỗi giờ tập đọc cókhoảng 1/3 học sinh trong lớp được đọc chứ chưa chú ý đến chất lượng đọc dẫntới kết quả học sinh đọc sai và hiểu sai nội dung văn bản
Chính vì vậy, là một giáo viên trực tiếp đứng lớp tôi rất băn khoăn về những vấn
đề tồn tại trên Vì vậy tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài nghiệp vụ sư phạm:
“Một số biện pháp rèn đọc đúng,đọc hay cho học sinh lớp 2”với mong muốn
nâng cao trình độ, rèn luyện nghiệp vụ và có những suy nghĩ đề suất để tháo gỡnhưng vấn đề trên để giúp học sinh đọc đúng, đọc hay, có khả năng giao tiếp tốt,viết đúng các bài chính tả viết hay những bài văn và ngày càng yêu thích vàhứng thú đọc sách…
II
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Với khuân khổ đề tài này tôi đã chọn đối tượng nghiên cứu ở chương trình sáchgiáo khoa Tiếng Việt lớp 2 hiện hành
Vì thời gian có hạn, muốn nghiên cứu tập chung nên tôi đã chọn phạm vi nghiêncứu hẹp là tập thể học sinh lớp 2D trong trường tiểu học Dữu Lâu
III
Phương pháp nghiên cứu:
* Để đạt được mục đích rèn đọc đúng, đọc haycho học sinh tôi đã sử dụng một
số phương pháp sau:
1.Thu thập tài liệu, nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan đến đề tài, tìm hiểu
sách giáo khoa Tiếng Việt 2 sách bài soạn, sách hướng dẫn Tiếng Việt 2 về nộidung và cấu trúc
Trang 32.Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp giáo viên,học sinh.
3.Phương pháp trao đổi và tọa đàm với đồng nghiệp
4.Phương pháp quan sát
III
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Qua nghiên cứu lí luận dạy bộ môn Tiếng Việt nói riêng đồng thời qua thực tiễntìm hiểu việc dạy tập đọc Trong đó việc rèn đọc,đọc đúng đọc hay cho học sinhlớp 2 ở trường tiểu học Dữu Lâu-Việt Trì-Phú Thọ nhằm góp phần cải tiến vàhoàn thiện phương pháp rèn đọc ở lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng dạy họcmôn tập đọc
IV.Mục đích:
*Góp phần hoàn thiện phương pháp rèn đọc, đọc đúng đọc hay Trong giờ tậpđọc nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc
Trang 4PHẦN II : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỀ TÀI.
I Mục đích, yêu cầu của việc rèn đọc đúng, đọc hay trong giờ tập đọc
1 Đọc là gì ?
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trongbốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết.Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ là quá trình chuyển dạng thức chữ viếtsang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó ( ứng với hình thức đọc thành tiếng )
là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không
có âm thanh (đọc thầm)
Đọc không chỉ là công việc giả một bộ mã gồm hai phần:
Chữ viết và phát âm: Nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” nênthành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhậnthức để có kỹ năng thông hiểu những gì đọc được.Trên thực tế,nhiều khi người
ta đã không hiểu khái niệm đọc một cách đầy đủ Nhiều chỗ, người ta chỉ nóiđến đọc như nói đén việc sử dụng bộ mã chữ âm, còn việc chuyển từ âm sangnghĩa đã không được chú ý đúng mực
2 Ý nghĩa của việc đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tưtưởng tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếpthu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, cóhạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại Biết đọc, con người
đã nhân khả năng tiếp thu, tiếp nhận nên nhiều lần, từ đây con người biết tìmhiểu đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên-xã hội-tư duy Biếtđọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ
Trang 5giao tiếp với thế giới bên trong của người khác , thông hiểu tư tưởng, tình cảmcủa người khác Đặc biệt khi đọc tác phẩm văn chương, con người không chỉđược thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động nảy nở tình cảm với những ước
mơ tốt đẹp, khởi dậy năng lực hành động sức mạnh sang tạo cũng như được bồidưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sựgiáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hoàn thiện nhân cách toàn diện Đặcbiệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽgiúp con người ta sử dụng các nguồn thông tin Đọc chính là học, học nữa, họcmãi Đọc để tự học, học cả đời
Vì những lẽ trên dạy đọc có một ý nghĩa hết sức to lớn ở tiểu học Đọc trởthành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đọc giúp trẻ chiếmlĩnh được một ngôn ngữ để dung giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tậpcác môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó là khả năngkhông thể thiếu được của con người văn minh
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữcũng như tư duy của người đọc Việc dạy học sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn,bồidưỡng cho các em lòng yêu cái đẹp, cái thiện,dạy cho các em biết suy nghĩ logiccũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó baogồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
3 Ý nghĩa của việc đọc đúng, đọc hay trong phân môn tập đọc
Trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn tập đọc có một vị tríquan trọng Dạy tốt phân môn này là đáp ứng một trong bốn kỹ năng sử dụngTiếng Việt Đối với học sinh lớp 2 việc rèn đọc đúng, đọc hay có ý nghĩa vôcùng quan trọng nó giúp các em viết đúng, thông hiểu được nội dung văn bản,giáo dục các em lòng yêu sách làm cho sách trở thành một thứ không thể thiếuđược trong nhà trường và gia đình, làm giàu kiến thức về ngôn ngữ đời sống và
Trang 6kiến thức văn học cho học sinh, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho các em, giáodục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ cho các em…
II Phân tích các tài liệu của phân môn tập đọc trong SGK Tiếng Việt 2
1 Phân phối chương trình:
Từ năm học 1981-1982 chương trình 35 tuần dành cho 5 lớp tiểu học từlớp 1 đến lớp 5 được đưa vào sử dụng 130 tiết tập đọc trong đó có cả bài họcthuộc lòng Riêng ở lớp 2 được học trong 35 tuần mỗi tuần 2 tiết
2 Nội dung phân môn tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2
Qua quá trình tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tôi nhận thấy hầu hếtcác bài tập đọc, học thuộc lòng đều là những tác phẩm hoặc đoạn trích củanhững văn bản có giá trị nghệ thuật Mỗi bài đã được các nhà viết sách chọn lựanhằm cung cấp cho học sinh một kiến thức nhất định Về nội dung: Các bài tậpđọc lớp 2 xoay quanh 6 chủ đề lớn: Nhà trường (5 tuần-15 bài) gia đình (4 tuần-
12 bài) Đất nước ta (8 tuần-24 bài) thiếu nhi (6 tuần-18 bài) Nhân dân ta (7tuần-21 bài) Bác Hồ (3 tuần-9 bài) Ngoài ra mỗi tuần còn có ít nhất 1 đến 2 bàiđọc thêm
Trong đó số bài văn xuôi và thơ được đưa vào chương trình khá đồngđều Văn xuôi 48,4% Thơ 51,5% Thể loại văn xuôi được đưa vào chương trìnhkhá đồng đều, phù hợp vì nội dung bài ngắn, dễ hiểu, dễ đọc và gần gũi vớicuộc sống xung quanh các em gồm nhiều loại, nhiều dạng bài như miêu tả, kể,vừa kể vừa tả hoặc có cả truyện ngắn Thể loại của thơ cũng rất phong phú chủyếu là thơ phần: Thơ lục bát thơ 5 chữ, thơ 4 chữ, thơ tự do, tục ngữ, ca dao…Trong đó thơ lục bát chiếm 39,6%.,Thơ 4 chữ: 29,1%.,Thơ 5 chữ 22,9% còn lại
là thơ tự do và tục ngữ, ca dao…
Những câu chuyện kể, những bài văn xuôi rất gần gũi gắn bó với cuộcsống xung quanh các em tạo cho các em một niềm vui thích, hứng thú đọc vàtìm hiểu như: Giàn mướp, đồ dùng để ở đâu, bé Mai trở thành người lớn như thế
Trang 7nào ? , đàn gà mới nở…Trong các bài tập đọc thời gian sử dụng các biện pháp
tu từ như so sánh, nhân hóa…Ngắn gọn, dễ hiểu tạo nên hình ảnh ngôn ngữ Vìvậy nhờ sự phân loại các dạng bài tập đọc đã góp phần giúp người giáo viên xácđịnh được đặc trưng riêng của từng giọng điệu để hướng dẫn học sinh đọc tốt,đọc hay và nâng cao chất lượng cảm thụ cho học sinh bằng chính giọng đọc
Về thể loại thơ thì thơ trữ tình chiếm vị trí, đa số các bài thơ được trínhdẫn từ hình ảnh, nhạc điệu quen thuộc thiên về giáo dục tình cảm đạo đức, yêuquê hương đất nước, yêu gia đình, trường học xóm làng,…Giúp học sinh nângcao kĩ năng cảm xúc thẩm mĩ, kích thích các em đọc đúng, đọc hay để khám phácái hay, cái đẹp của văn chương
- Đọc thành tiếng :Cần chú ý rèn đọc đúng , đọc nhanh tiến tới đọc diễn cảm
* Dạy tập đọc cần coi học sinh là chủ thể luyện tập, các em phải được suy nghĩ,được nói lên ý nghĩa đó, được luyện đọc bài
Dạy tập đọc cần dạy sát đối tượng, sát trình độ học sinh để đảm bảo tínhvừa sức
3.1 Những phương pháp đã từng áp dụng cho phân môn tập đọc
Trang 8giọng đọc khác nhau Có bài đọc với giọng náo nức, phấn khởi, có bài đọc vớigiọng trang nghiêm trầm lắng, có bài đọc giọng ân cần, khuyên nhủ…Nghĩa làmỗi bài một vẻ Do đó giáo viên cần đọc đúng thể loại, ngữ điệu, tránh đọc đềuđều Không có cảm xúc, kết hợp biểu hiện tình cảm qua ánh mắt, nét mặt, nụcười khi đọc
Trực quan bằng cách ghi các từ khó lên bảng cho các em quan sát và đọcchuẩn xác Trực quan bằng tranh ảnh, vật thật khi giảng từ, khi giới thiệu bàigiúp các em háo hức tìm hiểu và cảm thụ bài đọc
Trực quan bằng một đoạn văn chép sẵn được ngắt theo cụm từ để các em đọcngắt hơi, nghỉ hơi đúng chỗ
Có thể trực quan bằng cách nghe giọng đọc hay của học sinh trong lớp…
3 2 b Phương pháp đàm thoại
Phương pháp này phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ, các em thích hoạt động (hoạt độnglời nói) Giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài để học sinh trả lờitìm ra cái hay của tác phẩm Muốn đọc hay trước tiên phải đọc đúng và cảm thụtốt bài bằng những rung cảm của mình Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn các embằng những câu hỏi đàm thoại dễ hiểu
Trang 9*Tóm lại :để một giờ tập đọc đạt kết quả người GV phải sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học một cách hợp lý sao cho giờ học không bị ngắt quãng GVphải luôn lấy học sinh làm trung tâm, GV chỉ lấy vai trò là người tổ chức hướngdẫn các em tìm ra cách đọc
- Vì tập đọc là môn mang tính chất tổng hợp vì ngoài nhiệm vụ dạy học đọc mà
nó còn có nhiệm vụ trau rồi kiến thức tiếng việt cho học sinh
- Phân môn tập đọc yêu cầu cơ bản là: Rèn kĩ năng đọc (đọc đúng , đọc diễncảm )
-Cảm thụ văn học
- Ở lớp 2 yêu cầu học sinh phải đọc rõ ràng rành mạch, phát âm đúng , sau đómới đến đọc diễn cảm Đọc diễn cảm sau khi cảm thụ bài học sinh đọc phân vaibiết phân biệt lời dẫn truyện
Trang 10CHƯƠNG II CƠ SỞ THỰC TIỄN
- Qua việc dạy và học môn tiếng việt trong đó phân môn tập đọc tôi nhận thấy
1 Thực trạng
-Trường tiểu học Dữu Lâu nằm trong thành phố Việt Trì là nơi tôi đang trực tiếpgiảng dạy có đội ngũ GV khá đông tuổi đời từ 28 đến 55, nhiều GV có trình độcao và trên chuẩn Học sinh có trên 400 em với 18 lớp Lớp hai có 4 lớp Các
em ngoan ngoãn chăm học
- Mấy năm gần đây trường tôi đã và đang đổi mới PPDH Đặc biệt là việc tổchức dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ hướng dẫn còn họcsinh chủ động tiếp thu kiến thức
- Chính vì thế mà chất lượng ngày càng được nâng cao và hiện nay trường đangphấn đấu trường đạt chuẩn giai đoạn hai
Mặc dù vậy trong quá trình dạy học GV không ít những khó khăn trăn trở trongkhi dạy môn tiếng việt nhất là phân môn tập đọc Làm thế nào dạy cho học sinhđọc đúng đọc hay để các em say mê học môn Tiếng Việt
2 : Điều tra khảo sát
PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC TẬP
Trang 11dưới hay rưới:…Nước mắm,…trăng, trên…
đã hay đá :…gọi hè,…bóng, để xem…
ươu hay iêu : Con h…, lọ hạt t…, n Cơm
b Em hãy ngắt nhịp và đọc đúng câu thơ sau:
-Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
- Bảng khảo sát lỗi đọc phát âm trước thực nghiệm.
24/309/30
69,956,6
79.930Lỗi trung bình của một học sinh 71/30 ≈ 2,37
Trang 12* Qua kết quả khảo sát, qua dự giờ thực tập tôi rút ra
3 Nguyên nhân đọc kém của học sinh tiểu học
3.1 Hạn chế của tài liệu dạy tập đọc: Hệ thống văn bản chưa mẫu mực chưa
có nhiều lợi thế để dạy đọc đúng, đọc hay, đọc hiểu Bởi chúng chưa đa dạng vềphong cách, kiểu loại văn bản mà dạy học không phải chỉ là dạy đọc văn vớinghiệm là đọc văn bản văn chương, đành rằng đó là một mảng rất quan trọng.Dung lượng và trình độ sắp xếp các bài tập đọc đôi chỗ chưa hợp lí…Vì vậy cónhiều bài tập đọc chỉ có thể dạy đọc nhớ, khó dạy đọc hiểu do nội dung rời rạckhông có chiều sâu
3.2 Hạn chế của hướng dẫn tìm hiểu bài là nơi thể hiện khá rõ hướng khai thác nội dung và phương pháp dạy đọc ở trên lớp nhưng vẫn tồn tại những nhược điểm sau:
Câu hỏi và bài tập chỉ yêu cầu học sinh một phương thức hoạt động duynhất dùng lời Điều này có nhiều hạn chế: Số lượng học sinh được làm việc trênlớp ít bởi một người nói phải có người nghe không thể toàn bộ học sinh cùngnói Không tích cực hóa được hoạt động học của học sinh Đây là nguyên nhânchính làm cho số lượng học sinh hoạt động tích cực trong giờ tập đọc ít hơn giờtoán
Các câu hỏi, bài tập trong sách chủ yếu yêu cầu học sinh tái hiện lại các chitiết của bài, ít câu hỏi yêu cầu học sinh suy luận Nhiều câu hỏi, bài tập mangtính áp đặt về chúng nêu ra trước cánh hiểu, học sinh chỉ còn là người minh họacho những nhận xét này
3.3 Nguyên nhân chủ quan do chính các em đem lại, tức là tinh thần, thái độ
học tập của các em còn yếu Do đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 9-10 tuổi các emcòn rất hiếu động, khả năng tập chung chưa cao Trong khi đó để đọc đúng vàđặc biệt đọc hay lại đòi hỏi nhiều tính kiên trì, nhẫn nại, chịu khó
Trang 133.4 Nguyên nhân không nhỏ nữa là phía gia đình các em, là những gia đình
thuộc dân tộc ít người Từ ông, bà, cha mẹ, anh em trong gia đình đều đọc, nóisai Do tiếng địa phương
Ví dụ: đen tuyền - đọc là đen tuền
Quyển vở - đọc là quển vở…
Thành thử ở lớp cô giáo có sửa cho các em thì về đến gia đình lại nói theo mọingười nên đâu lại vào đấy
3.5 Do trình độ giáo viên chưa đồng đều nên mỗi giáo viên lại có cách hiểu và
phân loại khác nhau, nhiều khi thiếu chính xác nên dẫn đến việc nhận thứcgiọng đọc các bài khác nhau còn hạn chế Khi học sinh đọc bài giáo viên chưachú ý đến chất lượng đọc mà chỉ chú ý đến số lượng đọc, ít hướng dẫn cụ thểtừng học sinh khi các em đọc sai Ngoài ra, người giáo viên chưa chú ý đến việcrèn đọc cho học sinh trong giờ học các môn học khác
CHƯƠNG III : MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC ĐÚNG,
ĐỌC HAY CHO HỌC SINH LỚP 2
Trang 14Trên cơ sỏ lí luận của việc dạy học nói chung và dạy môn tập đọc nóiriêng, tôi nhận thấy thực tiễn dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học ở tiểuhọc Vì thế để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm có trong thực,tôi xin đưa ra một số biện pháp mà tôi đã áp dụng có kết quả, mong góp phầnnhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệu quả của mục tiêu cấp học.
Muốn học sinh đọc đúng người giáo viên phải giúp cho các em phát âm chuẩn,đọc đúng ngữ điệu câu giúp các em tự hiểu nội dung bài Muốn học sinh đọchay ngoài việc hướng dẫn đọc đúng người giáo viên phải giúp các em xác địnhđúng loại câu, ngữ điệu, giúp các em phải biết “đặt” mình vào vị trí của nhânvật, của tác giả Ngoài ra giáo viên còn phải biết cách tổ chức một giờ học nhẹnhàng, sinh động, xây dựng được một phong trào thi đua đọc đúng, đọc hayngoài giờ học kết hợp với việc rèn đọc trong tất cả các môn học khác giúp chocác em tích cực hóa việc học và hành môn Tiếng Việt trong chương trình
1 :Hướng dẫn các em đọc đúng:
Qua điều tra thực tế tôi thấy rất nhiều em bị ngọng thanh và ngọng phụ âmđầu l/n Điều này làm cho các em cảm thấy xấu hổ mất tự tin khi đọc, hạn chếviệc đọc của các em, mất đi sự hứng thú với môn học này Do đó bắt buộcngười giáo viên phải hướng dẫn các em đọc đúng: Phát âm chuẩn Kết hợp độngviên các em và giao nhiệm vụ cho cả lớp cùng giúp bạn bằng cách: Không trêughẹo, không trêu đùa mà tạo cơ hội để bạn sửa chữa
1.1 Qua tìm hiểu tôi thấy đại đa số các em ngọng thanh do các nguyên nhân sau:
-Do bộ máy phát âm ( rất ít )
-Do môi trường sống.( nhiều hơn )
-Do phương ngữ
Vì vậy để sửa ngọng về thanh người giáo viên phải kiên trì, liên tục và có
hệ thống
Trang 15Thông thường những em này rất ngại đọc trước lớp vì sợ các bạn cười chếnhạo cho nên người giáo viên phải giải tỏa tâm lí cho các em bằng lời lẽ củamình đồng thời giải thích cho học sinh trong lớp cùng động viên giúp đỡ bạnsửa chữa
Trên lớp trong tất cả các giờ học và đặc biệt là trong giờ tập đọc tôithường xuyên rèn luyện cho các em phát âm đúng những tiếng có thanh ngã Đểphát âm đúng các tiếng có thanh ngã cần phải lấy hơi ra nhẹ hơn những tiếng cóthanh sắc, lưỡi hơi cong, ban đầu để lưỡi gần ngạc cứng, môi hơi tròn để phát
âm ra tiếng đó Cứ thế rồi các em sẽ quen dần và phát âm đúng
Ngoài việc sửa trên lớp cuối mỗi tiết học tôi giao những bài tập nhỏ lànhững từ có thanh ngã để các em luyện đọc ở nhà rồi tiết sau giáo viên kiểm trakịp thời Quá trình này được tôi thực hiện thường xuyên và kết hợp với gia đìnhcùng nhắc nhở các em
Trang 16
Ví dụ: Bài tập
a Em hãy chọn âm (l) hoặc (n) để điền vào chỗ trống cho thích hợp:
-…on…ước, …á rau, …ên …úi, …ạnh… ẽo, …ương khô, … õi ngô
-con… ợn, …ung vôi, cây… on, …í… ẽ, …ên người
b Em hãy đọc lại 20 lần những từ em vừa điền cho mọi người trong gia đìnhnghe
1.3 Ngoài việc cho học sinh luyện theo mẫu (miêu tả lại cách đọc của cô giáo
hoặc bạn học sinh đọc tốt) và làm theo mẫu thì học sinh còn được làm bài tập tạinhà với từng loại lỗi các em thường gặp (như ví dụ trên)
1.4 Đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu.
Muốn đạt được điều đó cần phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa cáctiếng, từ để ngắt hơi cho đúng Khi đọc tuyệt đối không được tách từ ra làm hai,không tách từ chỉ loại với danh từ nó đi kèm, không tách giớ từ với danh từ đisau nó, không tách hệ từ (là) với danh từ đi sau nó
Trang 17Ví dụ: - Lá cọ xòe / ra từng phiến nhọn dài
Vì vậy trước khi giảng một bài cụ thể giáo viên cần dự tính những chỗhọc sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng
Ví dụ: Dạy bài: “Chú be liên lạc” có câu thơ:
… “Mồm / huýt sáo vang
Như / con chim chích
Nhảy / trên đường vàng…
Phải lưu ý về ngắt nhịp vì theo dự tính học sinh sẽ ngắt:
… “Mồm huýt / sáo vang
Như con / chim chích
Nhảy trên / đường vàng”…
Trong khi đó xét về mặt ngữ nghĩa và lí thuyết trọng âm ba câu này đều ngắtnhịp : 1-3
Bên cạnh việc dạy học sinh ngắt nhịp thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa –ngữ pháp còn phải dạy ngắt giọng biểu cảm nhằm gây ấn tượng về cảm xúc,nhằm tập trung sự chú ý của người nghe vào những từ ngữ mang trọng âm ngữnghĩa
Ví dụ: Đó là chỗ ngừng lâu hơn trong các câu thơ cuối bài:
Mẹ / là ngọn gió của con suốt đời
2 Hướng dẫn học sinh đọc hay:
Qua việc giảng dạy và thực tế trên lớp tôi thấy: Để học sinh đọc hay (hay nóicách khác là bước đầu đọc diễn cảm) cho học sinh khá giỏi thì cần phải thựchiện các nội dung sau:
2.1 Chuẩn bị kĩ cho việc dạy đọc hay
- Tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy để hiểu rõ và cảm thụ sâu sắc bài, giúp cho họcsinh đọc có hiệu quả hơn
Trang 18- Bài đọc trong sách giáo khoa của giáo viên cần phải ghi vắn tắt cách đọc, cáchngắt nhịp, sắc thái tình cảm cần đọc
Ví dụ: Bài ( Giàn mướp ) – TV2 – Tập I
- Đọc chậm rãi diễn tả hình ảnh đẹp của giàn mướp
- Nhấn mạnh các từ tả hình thù quả mướp
Bài “ Gạch đỏ ” – TV2 – Tập I
- Đoạn đầu thơ ba chữ: Đọc nhịp hối hả
- Đoạn sau thơ bốn chữ: Đọc giọng vui
- Cần ghi rõ những từ nhấn mạnh ( hoặc gạch chân ) Những đoạn câu trọng âmcần ghi kí hiệu ngắt ( / ) , nghỉ ( / / ) , lên giọng ( ↑ ) , xuống giọng ( ↓ ) , kéodài ( → )…
- Trong từng bài giáo viên dự tính những lỗi học sinh dễ mắc, giọng đọc cả bài,đọc cần nhấn mạnh, tốc độ đọc…
2.2 Chuẩn bị đồ dùng dạy học
Phương tiện trực quan chủ yếu trong giờ tập đọc là bài tập đọc và ngôn ngữ củagiáo viên Vì vậy giáo viên cần phải sử dụng triệt để sách giáo khoa, giúp họcsinh biết dùng sách giáo khoa để học phân môn Tập đọc để đạt kết quả tốt
Đồ dùng dạy học thông thường trong tiết tập đọc là tranh mẫu, và một số vậtthực, mô hình để giảng từ và ý Ngoài ra giáo viên cần chuẩn bị bảng phụ để ghinội dung bài, ý, câu thơ cần điền đọc
Tuy nhiên khi lên lớp còn nhiều tình huống sư phạm mới mẻ cần xử lí xong theotôi sự chuẩn bị của giáo viên càng chu đáo thì trên lớp sẽ chủ động và sáng tạorất nhiều Giờ dạy sẽ đạt kết quả hơn mong đợi
2.3 Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học
Đọc và cảm thụ là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Cảm thụ tốt giúp choviệc đọc hay của học sinh Tuy nhiên với đối tượng học sinh lớp 2 yêu cầu đọchay, đọc diễn cảm chưa cao, việc đọc đúng của học sinh được chú trọng hơn Ở