1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN vận dụng quan điểm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy luyện từ và câu kiểu câu ai làm gì ở lớp 3”

21 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN vận dụng quan điểm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy luyện từ và câu kiểu câu ai làm gì ở lớp 3” SKKN vận dụng quan điểm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy luyện từ và câu kiểu câu ai làm gì ở lớp 3” SKKN vận dụng quan điểm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy luyện từ và câu kiểu câu ai làm gì ở lớp 3” SKKN vận dụng quan điểm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy luyện từ và câu kiểu câu ai làm gì ở lớp 3”

Trang 1

PHẦNI: ĐẶT VẤN ĐỀ

Xuất phát từ yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa năm 2000 cónhiệm vụ trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy và học Vận dụng nhữngquan điểm đổi mới theo hướng giao tiếp, theo hướng tích cực, theo hướngtích hợp vào giảng dạy trong nhà trường Tiểu học đặc biệt là môn Tiếng Việt

đã thu được nhiều thành công đáng kể, nâng cao hiệu quả dạy và học mộtcách toàn diện hơn

Bên cạnh những kết quả đạt được còn bộc lộ một số nhược điểm đó là:

Áp dụng quan điểm đổi mới vào thực tế giảng dạy của một số giáo viên cònmáy móc, chưa linh hoạt sáng tạo Việc hiểu và vận dụng quan điểm đổi mớitheo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh còn chưa đầy đủ, nên chưathực sự phát huy được khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, dẫnđến nhiều em học sinh khi học môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện

từ và câu nói riêng còn ỷ lại, trông chờ vào giáo viên khi làm bài tập Vì vậykhi giao tiếp, các em còn lúng túng, không tự tin Nhiều em học sinh còn nói,viết sai về nội dung và ngữ pháp Sau nhiều năm dạy ở trường Tiểu học, tôithấy phân môn Luyện từ và câu là phân môn rất quan trọng Học phân mônnày giúp cho học sinh có hiểu biết về câu: cấu tạo, các kiểu câu, nắm đượcqui tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp, các kỹnăng nghe, nói, đọc, viết, song việc áp dụng phương pháp dạy học vàotừng bài dạy để đạt hiệu quả thì còn là một việc làm khó Xuất phát từ thực

tế, qua giảng dạy ở nhà trường và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của cácthầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp tôi đã nghiên cứu và viết sáng kiến kinhnghiệm: Góp phần nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở bậc

Tiểu học, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu Với nội dung: “ Vận dụng quan điểm tích cực hoá hoạt động của học sinh trong dạy Luyện từ và câu kiểu câu: Ai làm gì? ở lớp 3”

Trang 2

Phần II: Giải quyết vấn đề

1 Cơ sở lí luận của vấn đề:

1.1 Cơ sở ngôn ngữ học:

Ở Phương Đụng, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đó đề cao phương phỏp

dạy học tớch cực hoỏ hoạt động của học sinh Trong giảng dạy ụng chia làmhai phần một phần tõm truyền và một phần cụng truyền Phần cụng truyềnnúi về luõn thường đạo lớ để dạy cho mọi người, phần tõm truyền núi về sựcao xa khú hiểu hơn để dạy riờng cho những người cú tư chất đặc biệt ễngnhấn mạnh mỗi người phải tự mỡnh học tập để lĩnh hội lấy kiến thức chứkhụng phải qua giảng giải nhiều lời của thầy giỏo ễng đề cao sự nỗ lực củatừng cỏ nhõn và yờu cầu thầy giỏo phải tuỳ vào đặc điểm của từng người màtỡm ra cỏch dạy cho thớch hợp

Từ xa xưa ụng cha ta cũng đó vận dụng cỏch thức dạy học dựa trờn đặcđiểm và trỡnh độ cỏ nhõn của mỗi người học Trong thời phong kiến xuất hiệnkiểu dạy học thầy đồ (một thầy cựng một lỳc dạy nhiều trũ với nhiều lứa tuổi

và tŕnh độ khỏc nhau) Kiểu dạy này bắt buộc thầy phải quan tõm đến từngngười để cú cỏch dạy phự hợp với đặc điểm lứa tuổi, trỡnh độ nhận thức vànhu cầu của họ

Ở Phương Tõy, xuất hiện nhiều nhà giỏo dục cú tư tưởng tiến bộ đóchỳ ý đến dạy học hướng vào người học, khai thỏc tiềm năng của mỗi cỏnhõn học sinh

Từ những năm 30 - 40 của thế kỷ trước, dạy học phỏt huy tớnh tớch cựccủa học sinh đó được cỏc nhà giỏo dục Nga quan tõm và đặt lờn hàng đầu vềcụng cuộc đổi mới phương phỏp dạy học J.A.Cumenxki (1592 - 1670) chorằng dạy học phải phỏt huy tớnh tớch cực, tớnh chủ động của HS, dẫn dắtcỏc em suy nghĩ tỡm tũi để tự mỡnh nắm được bản chất vấn đề học tập.ễng cho rằng nếu khụng phỏt huy được tớnh tớch cực, chủ động tồn tạitrong mỗi HS thỡ dạy học sẽ khụng cú ý nghĩa gỡ cả

Trang 3

J.J.Rutxu (1712 - 1778) quan tâm đến sự phát triển tự nhiên của mỗicon người, phải lôi cuốn HS vào mỗi quá trình học tập làm cho họ tích cực,

tự lực tìm tòi, khám phá giành lấy tri thức

E.Claparide cho rằng quá trình dạy học phải hướng vào việc kích thích

sự ham muốn học tập, phải đặt trẻ vào trong tình huống, phải khơi dậynhững phản ứng thích hợp của trẻ nhằm thoả mãn nhu cầu, sở thích đó Dựavào khả năng riêng biệt của từng cá nhân điều khiển và hướng dẫn họ đạtđược mục tiêu dạy học đã đặt ra

Ở Pháp người ta đã coi trọng việc rèn luyện cho học sinh phương pháp

tự tìm kiếm tri thức ngay từ bậc học Tiểu học Trong một văn bản của Bộgiáo dục Pháp (1991) đã nêu rõ: “Cần đưa trẻ vào học ở các trung tâm giáodục có sự thích ứng tế nhị với mọi trường hợp Khi tính đến sự không đồngnhất của từng học sinh thì hoạt động của GV phải tập trung vào chính đứa trẻđang học, không cần chú ý đến nội dung mà nó đang phải học”

Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu tổ chức dạy học tích cực hoá hoạtđộng của học sinh chưa nhiều, một số tác giả Nguyễn Bá Kim, NguyễnHữu Châu, Hà Sĩ Hồ, Đặng Thành Hưng đã có những nghiên cứu về dạyhọc tích cực hoá hoạt động Giúp HS tự tìm tòi, khám phá tri thức bằng khảnăng của mình sẽ đem lại niềm vui hứng thú học tập cho các em

1 2 Cơ sở tâm lý, giáo dục học :

Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và tâm lý học, đặc biệt

là tâm lý học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lý ởcon người nói chung và ở trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thểgiảng dạy tốt và phát triển lời nói cho học sinh Phương pháp dạy học TiếngViệt vận dụng rất nhiều kết quả của tâm lý học Đó là các quy luật tiếp thu trithức, hình thành kĩ năng kĩ xảo Người thầy cần biết, khái niệm ngữ phápđược hình thành ở trẻ em ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư

Trang 4

duy, kĩ năng nói, viết được hình thành như thế nào Tâm lí học đưa ra chophương pháp những số liệu cụ thể về việc nắm ngữ pháp Những nghiên cứutâm lý học cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập.

Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáodục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Giáo dụchọc nói chung, lý luận dạy học đại cương nói riêng cung cấp cho phươngpháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các qui luật chung của việc dạymôn học Có thể coi phương pháp dạy học Tiếng Việt là một khoa học sinh

ra từ sự tích hợp biện chứng của Việt ngữ học và lí luận dạy học đại cương.Mục đích của phương pháp dạy học Tiếng Việt cũng như các khoa học giáodục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh,chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới

Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dụcthể hiện ở chỗ phương pháp được một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở.Phương pháp dạy học Tiếng Việt hoàn toàn sử dụng các khái niệm, thuật ngữcủa giáo dục học Nó hiện thực hoá mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do giáo dụchọc đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tưduy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức phát triển óc thẩm mĩgiáo dục tổng hợp và giáo dục lao động Trong phương pháp dạy học TiếngViệt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học Tiếng Việt.Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này theo đặctrưng riêng của mình Nhiệm vụ phát triển lời nói đã qui định việc xây dựngchương trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục đích phát triểnbốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết

Các phương pháp dạy học cơ bản – phương pháp dạy học bằng lời, bàitập đều có mặt trong giờ Tiếng Việt

Trang 5

Học sinh tiểu học thuộc lứa tuổi 6 – 11 tuổi, lứa tuổi này có sự thayđổi chuyển biến mạnh mẽ về mặt tâm lí Điều này xuất phát từ những hoạtđộng nhận thức của học sinh và ảnh hưởng tích cực của sự thay đổi môitrường sống Nếu ở giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủđạo thì bước vào lớp 1, hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ đạo Hoạtđộng học tập ở giai đoạn này diễn ra trong điều kiện của các quá trình nhậnthức mang màu sắc điển hình của lứa tuổi.

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, khả năng tri giác của các em mang tínhtổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và không chủ động Do đó, khả năng phân biệtđối tượng của các em chưa chính xác và chưa có ranh giới rõ ràng Vì vậycác em thường làm các bài tập luyện từ và câu theo mẫu cứng nhắc, chưadùng từ hay để đặt câu Đến cuối bậc tiểu học (lớp 4, 5), sự tri giác của các

em đã được nâng lên rõ rệt, các em đã biết đi sâu vào cái chi tiết, cái bộphận, bước đầu đã dùng từ, lựa chọn từ đúng hay để đặt câu Vì vậy các em

đã biết dùng đúng các kiểu câu, viết các câu văn đúng ngữ pháp, phù hợp vớivăn cảnh

Nhờ tác động tích cực của việc học tập, ở bậc Tiểu học, học sinh dầnchuyển từ nhận thức các dấu hiệu bên ngoài đến nhận thức được nhữngthuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Hoạt động phântích – tổng hợp còn sơ đẳng, các em chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích –trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Việc dạy Tiếng Việtnói chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng sẽ giúp học sinh biết phân tích

và tổng hợp Khi học Luyện từ và câu, học sinh sẽ hiểu được nghĩa của từ và

mở rộng vốn từ, từ đó các em biết dùng từ đặt câu đúng và phân biệt đượccác kiểu câu trong khi nói và viết

Tóm lại, đặc điểm tâm lí của học sinh ở giai đoạn này chưa có ý nghĩatuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối Vì vậy quá trình dạy học Tiếng Việt ở

Trang 6

tiểu học phải có nhiệm vụ từng bước làm thay đổi nhận thức của các em.Đây vừa là mục đích, vừa là động cơ để nâng cao hiệu quả dạy học TiếngViệt nói chung, dạy Luyện từ và câu nói riêng Như vậy, quá trình dạyLuyện từ và câu ở Tiểu học phải tìm ra được các giải pháp để nâng cao chấtlượng dạy học trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm tâm lý học sinh ở giaiđoạn này.

2 Thực trạng của vấn đề:

2 1 Chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên hiện nay:

Phân môn luyện từ và câu được tích hợp từ hai phân môn Từ ngữ Ngữ pháp Nó được đổi mới về tên gọi thể hiện quan điểm mới dạy học sinhthực hành không dạy lí thuyết

-2.1.1 Chương trình Luyện từ và câu của lớp 3:

Chương trình được phân bố trong 35 tuần, mỗi tuần có một tiết Luyện

từ và câu, cả năm có 35 tiết trong đó có bốn tiết ôn tập và kiểm tra (tuần 9,tuần 18, tuần 27 và tuần 35)

Chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 gồm các nội dung:+ Mở rộng vốn từ theo các chủ điểm

+ Ôn luyện những kiến thức đã học lớp 2 về từ loại, về kiểu câu, vềcác thành phần trong câu

+ Hình thành kiến thức sơ giản về biện pháp so sánh và biện phápnhân hoá, về dấu hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm

+ Bồi dưỡng tình cảm quý trọng Tiếng Việt, thói quen dùng từ và viếtcâu đúng, có ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp

Từ những nội dung trên phân môn Luyện từ và câu không phân tách từngữ - ngữ pháp riêng như chương trình cũ, kiến thức từ ngữ - ngữ pháp dạylồng ghép trong phân môn Luyện từ và câu

2.1.2 Sách giáo khoa :

Trang 7

Tiếng Việt 3 được biên soạn theo các chủ điểm, theo kiến thức từngtuần lần lượt theo từng phân môn như sau: Tập đọc, kể chuyện, luyện từ vàcâu, tập viết, chính tả, tập làm văn.

Đối với phân môn Luyện từ và câu: Như tên gọi của nó, phân mônLuyện từ và câu ở lớp 3 có các bài tập về từ (mở rộng, hệ thống hoá, tích cựchoá vốn từ, nhận biết các biện pháp tu từ từ vựng) và về câu (phân tích câubằng cách đặt câu hỏi cho các bộ phận câu hoặc tìm bộ phận câu trả lời câuhỏi nhất định, đặt câu theo mẫu, sử dụng dấu câu) Theo quy định củachương trình và sách giáo khoa mới, học sinh lớp 3 không học lí thuyết màchỉ tiếp nhận kiến thức và rèn luyện kĩ năng thông qua các bài tập thực hành

Sách giáo khoa góp phần đổi mới phương pháp dạy học để học sinhchuyển từ học tập thụ động sang học tập chủ động Sách giáo khoa đãchuyển cách trình bày truyền thống – giải thích – minh hoạ sang cách tổchức các hoạt động tìm tòi khám phá, qua đó học sinh tự lực chiếm lĩnh nộidung bài học

Sách giáo khoa mới về nội dung phù hợp khả năng tiếp thu của đa sốhọc sinh Sách giáo khoa được biên soạn với khổ giấy có kích thước phù hợpđảm bảo yêu cầu mĩ thuật

Hạn chế của sách giáo khoa : Phân môn Luyện từ và câu không cósách riêng nên việc ghi nhớ kiến thức theo hệ thống của học sinh còn hạnchế

Trang 8

2.1.3 Sách giáo viên :

Sách giáo viên là tài liệu hướng dẫn giáo viên thực hiện nội dung vàphương pháp dạy học mới Sách giáo viên Tiếng Việt 3 có 2 phần : Phầnhướng dẫn chung và phần hướng dẫn cụ thể

Phần hướng dẫn chung trình bày mục tiêu của môn Tiếng Việt ở lớp

3, đặc biệt của sách giáo khoa và nội dung, phương pháp giảng dạy từngphân môn ( bao gồm các biện pháp dạy học chủ yếu, qui trình giảng dạyphân môn)

Phần hướng dẫn cụ thể gợi ý cách dạy từng bài Các bài soạn trongphần này được coi là phương án giáo viên tham khảo

2 2 Dạy phân môn Luyện từ và câu của giáo viên hiện nay:

Chương trình Tiểu học năm 2000 đã có sự đổi mới cả về nội dung vàhình thức dạy học Đổi mới về cấu trúc bài dạy không chia theo cấu trúc ngữpháp, không trình bày riêng từ ngữ - ngữ pháp mà hai phần đó nằm trong hệthống bài tập Việc dạy học phân môn Luyện từ và câu được dạy từ lớp 2 đếnlớp 5 nhằm cung cấp và mở rộng vốn từ cho học sinh đồng thời học sinh biếtdùng từ đặt câu với các kiểu câu đơn, các thành phần trong câu Đối với kiểucâu đơn Ai làm gì? ở lớp 3 khi dạy giáo viên sử dụng hệ thống câu để họcsinh trả lời, sau đó các em hiểu được đây là kiểu câu đơn, Ai? chỉ người, vật

là chủ thể, còn làm gì? là chỉ hoạt động của người, vật, chủ thể vừa nói đến.Kiểu câu Ai làm gì? là kiểu câu đơn nói về hoạt động của người hay vật

Phân môn Luyện từ và câu không dạy lí thuyết mà thông qua hệ thốngbài tập để học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng nên khi dạy loại bài nàygiáo viên cần đưa ra các hình thức tổ chức khác nhau để hướng dẫn học sinhtích cực học tập Khi dự giờ của đồng nghiệp cũng như trực tiếp giảng dạyphân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 tôi nhận thấy :

Trang 9

- Giáo viên đã soạn bài đầy đủ và nghiên cứu bài trước khi lên lớp.Nhiều thầy cô rất say sưa với nghề dạy học, họ đã đọc và tham khảo nhiềutạp chí giáo dục để đưa tiết dạy ngày một hiệu quả Tuy vậy, trong khi giảngdạy còn bộc lộ một số hạn chế sau :

Việc vận dụng phương pháp mới vào dạy học còn mơ hồ, chưa pháthuy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Hoạt động nhóm củahọc sinh trong giờ học còn hình thức, hoạt động diễn ra theo một chiều từthầy đến trò Là một trường ở thành phố Việt Trì, chúng tôi cũng học tập,thảo luận về phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục xongnhiều khi sử dụng phương pháp dạy học mới còn lúng túng, thiếu tự tin

2 3 Học phân môn Luyện từ và câu của học sinh hiện nay:

Chương trình, sách giáo khoa năm 2000 đổi mới tên gọi, nội dung,chương trình Phân môn Luyện từ và câu được kết hợp cả hai phân môn Từngữ - Ngữ pháp Trước đây học sinh được làm quen khái niệm sau đó vậndụng thực hành Nhưng chương trình mới không dạy lí thuyết mà thông quacác bài tập, học sinh vận dụng sự hiểu biết của mình, dưới sự hướng dẫn củathầy cô để nắm vững kiến thức và kĩ năng Do vậy việc học của học sinh có

ưu điểm sau :

Nhiều học sinh sợ học môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Luyện từ

và câu vì các em khó tìm từ, khó đặt câu đúng theo yêu cầu của bài tập, một

số em còn phụ thuộc vào sách giáo khoa mà chưa biết chủ động làm bài

Trang 10

Qua việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh, phân môn Luyện

từ và câu là môn học khó, nó đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng và sử dụngvốn từ ngữ Tiếng Việt đã có của mình vào đặt câu và giao tiếp Do vậy họcsinh phải được luyện tập, thực hành trong giờ học cũng như khi giao tiếp Đểnắm được tình hình học tập của các em đòi hỏi người giáo viên phải nghiêncứu và tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với nội dung từng bài để họcsinh tập trung và có hứng thú khi học phân môn Luyện từ và câu

Giáo viên phân loại được từng đối tượng học sinh về trình độ, khảnăng nhận thức để từ đó có kế hoạch dạy học cụ thể Đối với phân mônLuyện từ và câu, cụ thể với bài học về kiểu câu đơn Ai làm gì? ở lớp 3 cầncho học sinh luyện tập, thực hành Từ đó phát huy được tính tích cực tronghọc tập của học sinh để các em tự tìm hiểu và nhớ được nội dung của bài.Sau khi hiểu được câu Ai làm gì? thì nói, viết, giao tiếp các em sẽ biết đặtcâu hỏi đúng và trả lời các câu hỏi trong giao tiếp với mọi người xungquanh

Nhiệm vụ của mỗi giáo viên là phát triển các kĩ năng giao tiếp ấythành kĩ năng thành thục trong môi trường ngôn ngữ văn hoá

3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

Trong thời gian dạy môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Luyện từ

và câu, tôi băn khoăn suy nghĩ vì học sinh thường cho rằng đặt câu, viết câu

là khó Chính vì vậy mà học sinh rất ngại học phân môn Luyện từ và câu.Đặc biệt khi vận dụng làm bài tập về kiểu câu đơn : Ai làm gì ? Nhiều emcòn làm bài tập đặt câu chưa sáng tạo dẫn đến câu văn giống câu mẫu; nhầmlẫn giữa các kiểu câu : Ai là gì? với Ai làm gì ? từ đó dẫn đến nói, viết chọncâu chưa đủ ý, chưa đúng và trẻ em nói chuyện giao tiếp với mọi ngườikhông được tự tin Vì vậy, khi làm bài tập Luyện từ và câu các em còn ỷ lại,trông chờ vào bài mẫu và gợi ý của giáo viên Để giúp các em nắm được

Ngày đăng: 28/06/2018, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w