SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1 SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1 SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1 SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1 SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1 SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1 SKKN nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1
Trang 1MỤC LỤC
Trang
II.Thời gian thực hiện và triển khai SKKN………… Trang số 3
B PHẦN THỨ HAI : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Trang số 4
II.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu……… Trang số 4
C.PHẦN THỨ BA : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang số 14
* Ý kiến của hội đồng khoa học…………
DANH MỤC CÁC CHỮ ĐƯỢC VIẾT TẮT
ST
T
CHỮ VIẾT TẮT CHỮ ĐƯỢC VIẾT TẮT
Trang 21 GV Giáo viên
A PHẦN THỨ NHẤT :
ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Lý do khách quan:
Ngôn ngữ là hiện tượng kỳ thú Chúng ta nghe, chúng ta nói hàng ngày, hàng giờ nó rất quen thuộc với chúng ta và là phương tiện giao tiếp quan trọng
Trang 3thức và tư duy của con người Để thực hiện chức năng giao tiếp ngôn ngữ hoạt động dưới hai dạng: Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong đó ngôn ngữ nói có sớm nhất được biểu hiện bắng âm thanh và tiếp thu bằng cơ quan thính giác.Trong đời sống xã hội hoạt động núi được tồn tại mọi nơi, mọi lúc, ở mỗi người tuỳ theo đặc điểm nghề nghiệp đều sử dụng hoạt động núi với những mục đích khác nhau Và bậc học đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người đó là bậc Tiểu học Tôi còn nhớ có một nhà văn đã từng
nhắc nhở chúng ta: Ngôi trường Tiểu học, người thầy giáo Tiểu học là những hình ảnh thân thiết sẽ theo suốt cuộc đời mỗi con người như một thứ hành trang tinh thần có sức dìu đỡ, động viên để vượt khó khăn và sống cho xứng đáng Trình độ văn hoá của chúng ta có thể bộc lộ rõ và phổ biến ở các ngôi trường Tiểu học, hãy chăm lo tỉ mỉ và chu đáo hơn nữa cho con người ngay từ tuổi thơ Hãy bắt đầu từ trường Tiểu học Ta muốn khắc sâu trong tâm trí những người dân Việt Nam về sự giàu có, về rừng vàng, biển bạc của đất nước Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu
về tự nhiên, xã hội, trang bị những phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức thực tiễn Bên cạnh đó nó còn bồi dưỡng, phát huy tình cảm đạo đức và nhân cách tốt đẹp của con người trong tương lai Các môn học ở Tiểu học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau Đặc biệt môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng trong tất cả các môn học ở Tiểu học Ngay từ ngày đầu đến trường, các em đã được làm quen với bộ môn này Đó là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức đưa các em đến với kho tàng văn hoá của nhân loại Cùng với sự phát triển của xã hội, năm học 2002 - 2003 cũng đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử giáo dục Việt Nam, đó là việc thay sách.Việc thay sách này kéo theo sự thay đổi trong cách dạy, cách học ở tất cả các môn học trong đó có
phân môn Tiếng Việt Đây là một phân môn có vai trò hết sức quan trọng không thể thiếu được, bởi vì:
Trang 4Phân môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu
về hệ thống tiếng nói và chữ viết Tiếng Việt Học tốt phân môn Tiếng Việt sẽ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng đọc - nghe - nói - viết và còn tạo điều kiện cho học sinh học tốt các môn học khác Sự thay đổi, nâng cao hiểu biết về ngôn ngữ, vẻ đẹp của đất nước, con người và nền văn hoá dân tộc mình cũng như trên thế giới Từ đó, các em có vốn sống, vốn tri thức vững chắc để tiếp tục học lên bậc học cao hơn
2 Lý do chủ quan:
Hoạt động nói là nhu cầu lớn của con người đặc biệt trong giao tiếp, thông qua nói học sinh mới mở rộng hiểu biết về tự nhiên, cuộc sống con ngưới, văn hoá, văn minh, phong tục tập quán của các dân tộc trong nước và trên thế giới Việc nói đối với học sinh mang ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát triển lớn Trong chương trình thay sách giáo khoa mới ở Tiểu học thì việc đổi mới phương pháp dạy học đánh dấu một bước nhảy vọt đáng kể trong việc dạy và học ở tất cả các môn học Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bản thân tôi cũng như nhiều Giáo Viên khác có rất nhiều những ý kiến tranh luận, trao đổi, bàn bạc Trước thực tế đó nhiều chuyên đề về ngôn ngữ được mở ra Song ở mỗi khoá học, mỗi vùng, mỗi trường, mỗi đối tượng học sinh khác nhau lại có một khả năng khác nhau
Học sinh lớp 1 có khả năng tự trả lời các câu hỏi đơn giản và phát triển lời nói thành một câu, theo cảm xúc, suy nghĩ của mình
Đồ dùng dạy học đầy đủ, tranh ảnh đẹp kích thích học sinh có tư duy nói, ham học, ham tìm hiểu
Đa số các chủ đề luyện nói gần gũi với thực tế cuộc sống của học sinh (Chủ
đề về bản thân bé, bạn bè xung quanh, ba mẹ, ông bà, những sinh hoạt thông thường của các em : phim hoạt hình, đọc truyện, nhà trẻ, chuối, bưởi, vú
sữa …)
Trang 5Giáo viên được tham gia tập huấn, dự giờ riêng cho phần luyện nói , từ đó giúp giáo viên nắm được các mục tiêu chính trong phần luyện nói cho học sinh Cũng như các trường học khác Trường Tiểu học Bạch Hạc vẫn thường xuyên quan tâm đến các hoạt động đặc thù khi dạy học để hình thành kỹ năng nói cho học sinh Thực tế học sinh trong trường đều là con em nông dân, điều kiện giao lưu của các em còn hạn chế , kỹ năng nói của các em là điều đáng quan tâm Là giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường tôi thấy cần phát triển khả năng ngôn
ngữ của các em Chính vì lý do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả hoạt động luyện nói trong tiết tiếng việt cho học sinh lớp 1”.Tôi hy vọng
với biện pháp của bản thân tôi phần nào giúp học sinh có kỹ năng nói ngày một tốt hơn
II Thời gian thực hiện và triển khai sáng kiến kinh nghiệm
- Nghiên cứu và thực hiện từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012
- Nghiên cứu tại trường Tiểu học Bạch Hạc - Thành phố Việt Trì
B PHẦN THỨ HAI :
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Sống trong xã hội, con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau và ngôn ngữ đóng vai trò là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Có thể nói không
Trang 6một nội dung nào mà ngôn ngữ không truyền đạt nổi, ngay cả các sắc thái tình cảm sâu kín và tế nhị nhất Để có được ngôn ngữ con người phải dày công rèn luyện giữa một tập thể nói một ngôn ngữ nhất định Như ta đã thấy trẻ em không phải tự nhiên nói được muốn sử dụng công cụ giao tiếp quan trọng phải trải qua quá trình rèn luyện phức tạp đặc biệt giai đoạn học sinh Tiểu học ngôn ngữ của các em bắt đầu hình thành do vây ảnh hưởng nhiều yếu tố như xã hội, yếu tố tâm sinh lý
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Ở bậc Tiểu học, môn Toán và môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và khả năng học tập của HS Đặc biệt, Học Vần là một phân môn có ý nghĩa quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Tiếng Việt
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 1 tại trường Tôi nhận thấy
các em còn mắc nhiều lỗi về thói quen phương ngữ Ngoài ra cũng chưa kể hết việc HS nói ngọng các cặp phụ âm khác như ch/tr; s/x hoặc thanh (~) sắc (/), nói ngọng sai các vần: ang, ác, ăn, ưn, ân, ich,…
Như vậy chúng ta có thể thấy ngay rằng việc nói sai sẽ dẫn đến nhiều tác hại như làm sai lệch nội dung của văn bản, viết sai, hiểu sai ý định biểu đạt của nội dung bài
Ở lớp, phần luyện nói được biên soạn theo các chủ đề với nội dung rất phong phú, đa dạng Không chỉ với mục đích rèn nói mà nó còn giáo dục lòng yêu quê hương Đất Nước, yêu thiên nhiên, giáo dục đạo đức lối sống, giúp HS tiếp cận với những thông tin thời sự cập nhật qua các văn bản hành chính, giúp
HS có kĩ năng ứng sử giao tiếp trong cuộc sống…Chính lẽ đó mà thông qua phần luyện nói GV cần liên hệ thực tế và giúp các em rút ra những bài học sâu sắc nhất thì có GV lại còn vô tình quên việc này
Với HS lớp 1 tôi áp dụng sáng kiến, qua giảng dạy tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau:
Trang 7* Thuận lợi: Hầu hết các em thích môn Tiếng Việt đặc biệt là phần luyện nói
là những bài có nội dung rất gần gũi với cuộc sống thực của các em, phù hợp với tâm lý lứa tuổi nên có tác dụng khơi dậy trí tò mò, lòng ham hiểu biết ở các
em Các em có ham muốn tìm hiểu nhiều vấn đề mà cuộc sống diễn ra xung quanh
* Khó khăn: Trường Tiểu học Bạch Hạc là một trường vùng ven của thành
phố, trình độ dân trí chưa cao Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1 của trường ngay buổi đầu tôi thấy khả năng ngôn ngữ của các em cần lưu ý một số học sinh còn nói ngọng, nhiều em chưa phân biệt được các tiếng có phụ âm l/n, ch/tr ,s/x, đ/l… Bên cạnh đó phải có tới 2/3 số phụ huynh HS trong lớp đi làm kinh tế xa, gửi con lại cho ông bà đã già, chưa thực sự quan tâm đến việc học hành của con em mình Điều này đã ảnh hưởng gián tiếp đến việc học của các
em Nhiều gia đình HS còn gặp khó khăn nên chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình
*.Nguyên nhân:
* Khách quan: Bạch Hạc là một Phường vùng ven của Thành phố nên điều
kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Nhiều em gia đình nằm trong hộ nghèo nên bản thân phụ huynh mải làm ăn chưa quan tâm thực sự đến việc học của con em mình
Địa bàn dân cư sống thưa thớt nên việc tiếp xúc của các em với xã hội còn nhiều hạn chế dẫn đến các em nói ngọng ngay từ lúc còn bé
* Chủ quan: Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế chưa theo
kịp với các trường trong Thành Phố nên việc truyền tải kiến thức đến cho các
em chưa được phong phú
III.CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ LUYỆN NÓI TRONG TIẾT TIẾNG VIỆT CHO HS LỚP 1.
Trang 8Muốn nâng cao chất lượng giảng dạy thì đòi hỏi người GV phải nhận thức đúng về vị trí và tầm quan trọng của việc rèn nói cho HS đặc biệt với phân môn Học Vần Bởi vì, phân môn này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và ứng xử trong cuộc sống của các em
Khi dạy mỗi phần luyện nói khác nhau thì bắt buộc GV phải có cách tổ chức luyện nói khác nhau Tuy nhiên tuyệt đối không được thay đổi phần cứng của phương pháp giảng dạy mà trong sách thiết kế đã trình bày rất cụ thể
Để giải quyết vấn đề tôi tiến hành điều tra thực trạng hoạt động luyện nói của học sinh lớp 1B tại trường vào thời điểm đầu tháng 10 năm 2011 Cụ thể như sau
Lớp TSHS Giỏi % Khá % T.Bình % Yếu % 1B 30 10 33,3 8 26,7 7 23,3 5 16,7
Để các em đạt kết quả cao trong học tập tôi đã vận dụng một số phương pháp và biện pháp sau
1 Điều trước tiên, tôi phải xác định và nắm từ mục tiêu chính của chủ đề
cần luyện nói là gì? Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói Gợi
ý sao để tất cả HS đều được nói, không đi quá xa với chủ đề.
- Chẳng hạn như: Chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Giúp đỡ cha mẹ” ,”Con ngoan trò giỏi” ”Những người bạn tốt”… Nếu đi quá sâu vào chủ đề sẽ dễ lẫn sang
dạy đạo đức Vì thế, để khắc phục điều này, tôi chỉ định hướng cho các em câu hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói:
- Em hãy kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm ơn ai đó về điều gì?
- GV khơi gợi để cho HS thấy và trả lời được hình ảnh trong SGK là một chị cho bé quả bóng và khi được cho quả bóng thì phải biết nói lời cảm ơn
- Hoặc kể những việc em đã làm để giúp đỡ cha mẹ của mình ?
Trang 9- Kể những việc đã làm thể hiện em đó cố gắng để trở thành một người con ngoan trong gia đình, một người trò giỏi của trường học? …
- Hoặc những chủ đề về “Biển cả”, “Thung lũng, suối, đèo”,“Hươu, Nai, Gấu, Voi, Cọp” “Sẻ, ri, bói cá, le le” “Gió, mây, mưa, bão, lũ”…rễ lẫn sang việc dạy tự nhiên và xã hội Do đó, tôi cũng cố gắng giúp học sinh bằng cách gợi ý những câu hỏi thật sát với chủ đề không sa đà tìm hiểu về đời sống của
các động vật, sự vật, hiện tượng,….Chẳng hạn những chủ đề về các sự vật, hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên.
VD: Bài 38 : Gió, mây, mưa bão, lũ
- Cho học sinh xem một số tranh ảnh liên quan đến các hiện tượng đó, Hs sẽ nêu được tên của các sự vật trên Sau đó, GV chỉ cần nêu câu hỏi gợi ý để các
em cùng thảo luận với nhau về những tác hại, hoặc những cách nào để ngăn chặn, bảo vệ khi chúng xảy ra
? Trong tranh vẽ gì
? Trên đường đi học về gặp ma em làm thế nào
? Khi nào em thích có gió
? Trước khi mưa to em thường thấy gì trên bầu trời
? Em biết gì về bão lũ
- Những chủ đề nói về động vật : GV có thể cho các em sắm vai tên của các
con vật trong rừng cần luyện nói Nêu lên nhận xét riêng của em về chúng(Em yêu, không thích con vật nào đó? Nói lên cảm nhận của mình: tại sao em lại yêu, không thích con vật đó?)
VD: Bài 42 : Hổ, Gấu, Báo, Hươu, Nai, Voi
? Trong tranh vẽ gì
? Những con vật này sống ở đâu.( Lưu ý cách trả lời của HS có thể là trong rừng và đôi khi trong sở thú)
Trang 10? Trong những con vật này con nào ăn cỏ.
? Con nào thích ăn mật ong
? Con nào to xác nhưng lại rất hiền lành
? Em còn biết con vật nào ở trong rừng nữa
? Em có biết bài thơ hay bài hát nào về những con vật này không Em đọc hay hát cho cả lớp cùng nghe
Hoặc phần luyện nói là một đoạn truyện
VD: Bài 51: Chia phần
- GV kể mẫu kèm theo các tranh minh họa
- Sau khi kể xong GV khơi gợi để cho hS kể theo từng nội dung bức tranh và chốt được nội dung câu chuyện
? Hai anh đi săn làm sao
? Họ có chia được ba con sóc thành hai phần bằng nhau không
? Nhờ đâu mà họ chia được
? Trong cuộc sống chúng ta phải biết làm gì
2 GV nắm bắt thực tế về khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp,
hình thức dạy luyện nói phù hợp với đối tượng.
- Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối tượng tuỳ nội dung từng bài
- Tùy theo từng chủ đề mà tôi có định hướng cho học sinh khi luyện nói Khi đặt câu hỏi để giúp các em biết cách nói cho sát nội dung bài Tôi phải chuẩn
bị và dự trù thêm 1 số câu hỏi cho từng đối tượng, đi từ câu hỏi tổng quát, rồi mới gợi ý bằng những câu hỏi nhỏ( Khi các em lúng túng sẽ dễ dàng có cơ sở theo sự định hướng của cô để rèn nói)
Trang 11- Chuẩn bị tranh ảnh, phương tiện dạy học phục vụ cho phần luyện nói thêm sinh động, hứng thú
- Ngoài những tranh ảnh được cung cấp, tôi cùng với các bạn trong khối sưu tầm thêm 1 số tranh ảnh, đồ dùng khác liên quan đến bài dạy để phần luyện nói thêm phong phú, gần gũi
- Chẳng hạn như: với các chủ đề nói về : cây cối, hoa trái ( đưa những vật
thật, tranh ảnh của những tờ ap-phích, hình trên lịch, hình chụp…
3 Phân các chủ đề ra thành nhiều nhóm khác nhau để chọn lựa phương pháp và hình thức khác thay đổi cho phù hợp với cá nhân, nhóm, đối thoại, độc thoại…
- Với những chủ đề gần gũi với học sinh như: Chủ đề: Ba má; Quà quê; Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Điểm 10; Bữa cơm… Giáo viên gợi mở cho
HS nói qua vốn hiểu biết thực tế của các em, chọn lựa những hình thức học tập, trò chơi v.v…
Chẳng hạn như:
Chủ đề nói về gia đình:”Ba má” “Bà cháu”… có thể cho học sinh sắm
vai nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, ba mẹ đó yêu thương, quan tâm, chăm sóc em Hoặc những tình cảm , việc làm của em thể hiện sự hiếu thảo của một người cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ của mình
- Với những chủ đề lạ, khó hơn: chủ đề: Vó bè; Suối đèo thung lũng; Lễ hội; Ao, hồ, giếng; Đất Nước ta tuyệt đẹp; Ba Vì; Ruộng bậc thang…
Chủ đề Vó bè : Cho Hs quan sát tranh thật kỹ , GV giới thiệu trực tiếp đó
chính là vó bè Gợi ý để các em nói được dụng cụ đó được đặt ở đâu? dùng
để làm gì ?
Chủ đề Ba Vì : Sau khi HS quan sát tranh xong, GV giới thiệu trực tiếp
luôn: Tranh vẽ cảnh ở Ba Vì Núi Ba Vì thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
Trang 12Tương truyền cuộc chiến giữa Sơn Tinh, Thủy Tinh đã xảy ra ở đây Sơn Tinh
ba lần làm núi cao lên để chống lại Thủy Tinh và đã chiến thắng Núi Ba Vì chia thành ba tầng , cao vút, thấp thoáng trong mây Lưng trừng núi là đồng cỏ tươi tốt, ở đây có nông trường nuôi bò, có sữa nổi tiếng Lên một chút nữa là rừng quốc gia Ba Vì Xung quanh Ba Vì là thác, suối, hồ, có nước trong vắt Đây là một khu du lịch nổi tiếng Gợi ý cho các em nêu lên những cảnh vật có trong bức tranh đó? Cảm nhận về cảnh vật ở đó như thế nào?( Thích hay không thích? Tại sao thích?)
GV có thể mở rộng chủ đề luyện nói về các vùng đất có nhiều cảnh đẹp ở đất nước ta, hoặc của chính ngay địa phương mình
* Do học sinh còn nhỏ nên các em nhận thức một cách thụ động Hoặc phát biểu thì chỉ dừng lại ở chỗ trả lời những câu hỏi cụ thể đưa ra Do vậy, để giúp cho các em làm quen và phát triển khả năng nói, tôi đó:
a) Gợi ý bằng hệ thống câu hỏi qua phương pháp đàm thoại :
- Bước đầu chỉ dừng lại ở việc: “Thầy hỏi – trò đáp” Dựa trên lời nói của
HS, GV sẽ chỉnh sửa câu nói sao cho rõ, gọn, đủ ý, diễn đạt ý theo nội dung câu hỏi xoay quanh chủ đề
b) Sử dụng tranh ảnh, đồ dùng trực quan :
- HS quan sát tranh và diễn đạt lại những gì đó được quan sát khi nhìn tranh Mỗi hình vẽ trong tranh là 1 tình huống thể hiện chủ đề của bài
- Khi HS đó quen với việc luyện nói, GV sẽ nâng dần hình thức trong quá trình dạy luyện nói:
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở thật kỹ Ban đầu là những câu hỏi dễ dành cho HS chọn và giúp cả lớp có được những ý chính của chủ đề cần được nói Sau đó câu hỏi được nâng dần cao hơn, khái quát hơn