Với những ý nghĩa đã nêu trên, tác giả luận án chọn đề tài Nghiên cứu văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều với mong muốn góp phần nghiên cứu văn bia Hán Nôm tại các cụm di tích ở V
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
TRƯƠNG THỊ THỦY
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã s ố: 9 22 01 04
LU ẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
Hà N ội - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
TRƯƠNG THỊ THỦY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng gửi lời tri ơn tới thày hướng dẫn khoa học PGS.TS Đinh Khắc Thuân, người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn tới các quý thày cô đang công tác tại Học viện Khoa học Xã hội, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các bậc nghiên cứu tiền bối, cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi và luôn động viên khích lệ trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án
Nghiên cứu sinh xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới quý thày cô trong Hội đồng đánh giá luận án Kính nhận những góp ý của quý thày cô để giúp cho nghiên cứu sinh học tập và nghiên cứu đạt được kết quả tốt
Tác giả luận án
Trương Thị Thủy
Trang 5DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ĐNNTC Đại Nam nhất thống chí
EFEO Viện Viễn đông Bác cổ (Ecole Francaise d Extreme-Orient)
KHXH Khoa học xã hội
N0 Thác bản văn bia lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
NCS Nghiên cứu sinh
VCĐT Vòng cung Đông Triều
VNCHN Viện Nghiên cứu Hán Nôm
[,] Kí hiệu sách và trang trích dẫn ở tài liệu tham khảo
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG-BIỂU ĐỒ
2 Bảng 2.2.Bảng Phân loại văn bia theo triều đại 33
3 Bảng 2.3 Bảng Phân loại văn bia theo niên hiệu 37
4 Bảng 2.4.Phân bố theo huyện, tỉnh, cụm di tích VCĐT 43
5 Bảng 2.5.Bảng Thống kê văn bia phân bố theo thời gian và không gian 46
6 Bảng 2.6 Bảng thống kê văn bia theo loại hình di tích 51
7 B ảng 2.7 Bảng TH thành phần soạn văn bia cụm di tích VCĐT 72
8 Biểu đồ 1 Biểu đồ số lượng thác bản trùng nhau giữa EFEO và VNCHN 32
9 Bi ểu đồ 2 Biểu đồ phân bố văn bia theo triều đại 36
10 Biểu đồ 3 Biểu đồ phân bố văn bia theo niên hiệu 42
11 Biểu đồ 4 Biểu đồ phân bố văn bia theo không gian 46
Trang 7M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1.Tính c ấp thiết của đề tài……… 1
2.M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 5
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………5
4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu……….……… 6
5.Đóng góp mới về khoa học……… 7
6.Ý nghĩa, lý luận và thực tiễn………8
7.Cơ cấu luận án……… 9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Khái quát v ề văn bia 10
1.2 Tình hình sưu tầm văn bia 12
1.3 L ịch sử nghiên cứu về văn bia 14
1.3.1 Các công trình kh ảo cứu về văn bia 14
1.3.2 Các bài viết khảo cứu về văn bia 18
1.3.3 Các lu ận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về văn bia 19
1.3.4.Các đề tài, bài viết liên quan đến văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều……….22
Ti ểu kết chương I 25
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VĂN BIA CỤM DI TÍCH VÒNG CUNG ĐÔNG TRIỀU 27
2.1 Khái quát địa lý hành chính vòng cung Đông Triều 27
2 1.1 Vòng cung Đông Triều trong lịch sử 27
2.1.2 Vòng cung Đông Triều ngày nay 29
2.2 V ăn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều……… ………29
2.2.1 Giới thuyết về văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều 29
2.2.2 Tình hình phân b ố văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều 33
2.2.2.1.Phân b ố theo thời gian……… 33
2.2.2.2.Phân b ố theo niên hiệu……… 36
2.2.2.3.Phân b ố theo không gian………42
2.2.2.4 Phân b ố theo loại hình di tích ……….50
2.3 Hình th ức và văn bản 58
2.3.1 Hình th ức 58
Trang 82.3.1.1.V ề kích thước……… ………… 58
2.3.1.2 Hoa văn……….60
2.3.2 Bố cục và tự dạng 63
2.3.2.1.Bố cục văn bia……… ………… 63
2.3.2.2.T ự dạng văn bia……… ………… 64
2.3.2.3.Ch ữ húy…….……… ………… 64
2.3.2.4.Ch ữ Nôm……… ………… 67
2.4.Tác gi ả soạn, người viết chữ và thợ khắc bia 68
2.4.1 V ề tác giả soạn 68
2.4.2 Người viết, người khắc chữ .73
Ti ểu kết chương II 74
CHƯƠNG III: GIÁ TRỊ VĂN BIA TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN T Ử Ở VÒNG CUNG ĐÔNG TRIỀU 76
3.1 S ự hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 76
3.1.1.Tình hình kinh t ế chính trị thời Trần 76
3.1.2 Sự hình thành Phật giáo thời Trần 77
3.2 Các v ị sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 80
3.2.1 Trần Nhân Tông 80
3.2.2 Pháp Loa 83
3.2.3 Huyền Quang 94
3.3 Ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm với Phật giáo thời Hậu Lê 98
3.3.1 Thiền sư Chuyết Chuyết 99
3.3.2 Thi ền sư Minh Hành Tại Tại 100
3.3.3 Thi ền sư Hương Hải 101
3.3.4 Thi ền sư Chân Nguyên 102
Ti ểu kết chương III 105
CHƯƠNG IV: GIÁ TRỊ VĂN BIA TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU CỤM DI TÍCH THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN T Ử ……… ….……….108
4.1 Di tích văn hoá Thiền phái Trúc lâm Yên Tử………108
4.1.1 Di tích Thi ền phái Trúc Lâm Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh 110
4.1.2 Di tích Thi ền phái Trúc Lâm Yên Tử thuộc tỉnh Hải Dương 125
4.1.3 Di tích Thi ền phái Trúc Lâm Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang 130
4.2 Con đường du lịch văn hóa tín ngưỡng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử 140
Trang 94.2.1 Tuy ến Tây Yên Tử 140
4.2.2 Tuy ến Đông Yên Tử 141
4.2.3 K ết hợp tuyến Đông- Tây Yên Tử 141
4.3 Gi ải pháp đối với quần thể cụm di tích khu vực vòng cung Đông Triều 141
Ti ểu kết chương 4 145
K ẾT LUẬN 147
DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151
TÀI LI ỆU THAM KHẢO……… ……… 152
PH ẦN PHỤ LỤC Phụ lục 1: Danh mục văn bia cụm di tích Vòng cung Đông Triều……….169
Ph ụ lục 2: Tuyển dịch một số văn bia tiêu biểu……… 237
Trang 101
1 Tính c ấp thiết của của đề tài
Văn khắc Hán Nôm là những văn bản được khắc trên bia đá, chuông đồng, cũng như được chạm khắc trên một số chất liệu cứng khác như gốm, gỗ Trong đó, phổ biến hơn cả là bài văn bia khắc trên bia đá, minh văn khắc trên chuông đồng, khánh đá Đây là sản phẩm văn hóa tồn tại trong chiều dài ngàn năm lịch sử của Việt Nam Văn khắc Hán Nôm còn lại đến ngày nay chở tải đầy đủ giá trị văn bản và giá trị hiện vật khảo cổ Được khắc trên đá là một trong những vật liệu định hình bền vững, văn khắc thường được lưu truyền lâu dài hơn so với các văn bản viết tay hoặc in ấn khác Văn khắc Hán Nôm
hiện diện ở nhiều loại hình di tích như: chùa, đình, đền, miếu, nhà thờ họ, văn miếu, võ miếu, văn chỉ từ chỉ, lăng mộ, cầu, chợ, …nhằm ghi lại những sự kiện, những việc làm của từng con người ở từng thời gian, không gian cụ thể
Nội dung văn khắc đề cập tới mọi khía cạnh của đời sống xã hội đương thời,
từ những vấn đề chính trị quan trọng hết sức lớn lao của đất nước, quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo, tín ngưỡng, đến những sinh hoạt đời thường của người dân như việc gửi hậu, làm đường, dựng chợ, đào ao, trồng cây, khơi rãnh … Văn khắc với cách trình bày công phu, chạm trổ hết sức tinh
xảo đã tạo cho nó những giá trị thẩm mỹ nhất định Có thể dễ dàng nhận thấy văn khắc Hán Nôm thường xuất hiện ở những nơi được nhiều người biết đến nên nội dung thông tin có thể truyền đi được nhiều hơn Dựng bia đá, khắc minh văn nhằm mục đích vừa công bố văn bản vừa truyền lại cho hậu thế
những thông tin của quá khứ Văn khắc đã được ví như những trang sử đá
muôn đời trường cửu Trong Lê triều thông sử [28] Lê Quý Đôn đã coi văn
khắc vào bia, vào đỉnh là một nguồn sử liệu đứng cùng hàng và có giá trị quan trọng như các sử liệu cần thiết khác Như vậy, văn khắc chính là một nguồn
sử liệu hết sức có giá trị, đáng tin cậy để bổ sung cho tư liệu chính sử Hiện
Trang 112
nay tại các điểm di tích trong cả nước và kho lưu trữ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) đang lưu giữ một khối lượng lớn văn khắc Hán Nôm Trong số văn khắc đó, văn bia chiếm khối lượng nhiều nhất và vì vậy giá trị
nội dung nó mang tải cũng rất phong phú
Vòng cung Đông Triều (VCĐT) là nơi có cụm di tích gắn với Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử Nơi đây để lại kho tàng văn bia đồ sộ có nội dung phong phú phản ánh hoạt động Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử
Với những ý nghĩa đã nêu trên, tác giả luận án chọn đề tài Nghiên cứu
văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều với mong muốn góp phần nghiên
cứu văn bia Hán Nôm tại các cụm di tích ở VCĐT, cũng như những vấn đề về hoạt động Phật giáo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Vòng cung Đông triều nằm trên địa phận các tỉnh thành phố: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, xuất phát từ hệ thống núi giáp biên giới Việt- Trung, vào Việt Nam Chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, dọc theo ranh giới hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn, sau đó vòng sang hướng Đông Tây khi tới phía Nam tỉnh Quảng Ninh, đến cuối thì chạy theo hướng Đông Đông Nam- Tây Tây Bắc trên ranh giới hai tỉnh Hải Dương
và Bắc Giang Dãy núi VCĐT quay lưng về hướng Đông Nam, trông ra biển Đông và kéo dài xuống Hải Phòng tới bán đảo Đồ Sơn Nổi tiếng nhất trong dãy núi này là ngọn Yên Tử Trên núi có ngôi chùa Đồng là nơi quy tụ lòng người xưa nay về với thiền phái Trúc Lâm Đây chính là một trong bốn phúc địa của Giao Châu xưa, vì thế An Kỳ Sinh đã tìm đến nơi đây tu hành Nơi đây trở thành trung tâm Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng phái đặc trưng Việt Nam- dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh “Điều Ngự Giác Hoàng” Ông đã cho dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử
Trang 12Năm 1330, khi tổ Pháp Loa viên tịch, tổ Huyền Quang lúc ấy đã 77 tuổi nhận kế truyền làm tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Tuy nhận
trọng trách làm lãnh đạo giáo hội nhưng vì già yếu, hơn nữa hoàng đế đương
vị lại không mặn mà với Phật đạo nên tổ ủy thác mọi việc cho Quốc sư An Tâm trở về trụ trì chùa Tư Phúc ở Côn Sơn Bốn năm sau (1334) tổ viên tịch tại đây, hưởng dương 81 tuổi
Phật giáo Việt Nam nói chung, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng là
một trong những thành tố của di sản văn hóa Việt Nam Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã chứng tỏ khả năng dung hợp và tiếp biến văn hóa của người Việt Nam đối với các yếu tố văn hóa và tôn giáo ngoại lai Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử là một Thiền phái Phật giáo thuần Việt, do các thiền sư Việt Nam đã chọn lọc
và “Việt hóa” nhiều giá trị tinh túy trong tư duy Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa Đóng góp to lớn của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là luôn đồng hành với dân tộc,
là “điểm tựa tinh thần”, góp phần củng cố và nâng cao ý thức liên kết cộng đồng, tinh thần độc lập tự chủ của Đại Việt trước mọi thử thách cam go của lịch sử
Trang 13cấp bách Nghiên cứu này góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với mục đích bảo tồn nền văn hoá truyền thống lâu đời của dân tộc nói chung và khu vực VCĐT nói riêng Văn bia cũng là lĩnh vực đang được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đây là mảng đề tài rất phong phú và đa dạng Mặc dù gần đây đã có khá nhiều thành
tựu nghiên cứu nhưng vẫn còn để lại nhiều khoảng trống, nên cần nhiều hơn
nữa các công trình bổ sung để hoàn thiện về phương diện nội dung, hình thức
và giá trị của mảng tư liệu này
Đối với tư liệu văn bia ở VCĐT hiện còn 1.818 đơn vị văn bản, phong phú về thể loại và đa dạng về hình thức Khu vực này có nhiều văn bia có giá
trị về văn hóa, tôn giáo Phật giáo nói chung và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng Văn bia có niên đại sớm nhất vào niên hiệu Khai Hựu 3(1331), tấm bia có niên đại muộn vào năm 1947 Số văn khắc này cho đến nay vẫn chưa
có bất cứ một công trình nào đi sâu khai thác và nghiên cứu thành một đề tài chuyên sâu
Với ý nghĩa như thế, nhu cầu thực hiện đề tài Nghiên cứu văn bia cụm
di tích vòng cung Đông Triều là cần thiết
Trang 145
Là một người được đào tạo chuyên ngành Hán Nôm, yêu văn hóa truyền thống, ham học hỏi, tìm hiểu về lịch sử, về Phật giáo, có nhiều năm công tác trong ngành và có quá trình làm các đề tài về văn khắc, tác giả lựa chọn đề tài
Nghiên c ứu văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều làm luận án Tiến sĩ
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Di sản Hán Nôm gồm những thư tịch và tài liệu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, là một phần quan trọng trong di sản văn hóa của dân tộc ta Đây là kho văn hóa thành văn duy nhất trước khi có các văn bản ghi bằng chữ La tinh Nguồn tư liệu này ghi lại quá trình đấu tranh giữ nước, dựng nước cũng như các hoạt động xã hội khác của Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử Giữ gìn, khai thác, nghiên cứu kho tư liệu này để phục vụ cho sự nghiệp văn hóa của đất nước là nguyên tắc nhất quán trong đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng và Nhà nước ta
Kho thác bản của VNCHN đã trải qua các lần in rập, có khá nhiều kí hiệu thác bản trùng nhau Luận án sẽ lập danh mục thác bản toàn bộ văn bia khu vực VCĐT, thống kê thác bản trùng nhau giữa EFEO và VNCHN
Luận án đưa ra bảng thống kê tình hình phân bố của 1.818 văn bia Trên tình hình phân bố đó, sẽ chọn lựa văn bia tại các di tích chùa, chủ yếu là văn bia mang nội dung viết về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để đi vào khai thác giá trị nội dung của văn bia và các di tích mang đậm dấu ấn của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trên địa bàn VCĐT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm 1.816 thác bản văn bia hiện được lưu trữ tại VNCHN và số văn bia do NCS sưu tầm, tổng cộng 1.818 văn bia
Trang 15Phạm vi nghiên cứu: Luận án đi vào hai vấn đề chính:
-Hệ thống hóa và khảo sát văn bia cụm di tích VCĐT trên các phương diện thời gian, không gian, hình thức thể hiện
-Khai thác giá trị văn bia cụm di tích VCĐT trong việc nghiên cứu Thiền phái Trúc lâm Yên Tử như quá trình hình thành, truyền thừa của Thiền phái
và khai thác giá trị văn bia trong việc nghiên cứu hệ thống di tích thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành viết luận án, NCS chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu như sau:
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm: Đối tượng nghiên cứu của luận án
là các thác bản văn bia đang được lưu trữ tại VNCHN và những bia đá hiện còn tại cụm di tích VCĐT, nên NCS sử dụng phương pháp này để đánh giá
mức độ chân xác của những văn bản, nhằm xác định niên đại của những văn bia khắc lại, qua đó có thể xác định được niên đại văn bản, làm cơ sở cho việc nghiên cứu nội dung văn bia của cụm di tích ở VCĐT
-Phương pháp bi ký học: Xác định niên đại văn bia, đa số các văn bia đều ghi niên đại, nhưng cũng có một số bia ghi niên đại không chính xác, không rõ ràng Để xác định niên đại, NCS căn cứ vào chữ húy, địa danh,
Trang 167
những sự kiện lịch sử, v.v… ghi trong văn bia để xác định niên đại Xác định địa điểm tạo ra văn bia, xác định tính chân ngụy của văn bản văn bia
- Phương pháp thống kê định lượng: Luận án sử dụng phương pháp
thống kê để thể hiện sự phân bố văn bia theo không gian, thời gian và loại hình di tích Số văn bia ở cụm di tích VCĐT được sắp xếp theo thời gian từ thời Trần, Lê, Tây Sơn, Mạc, Lê trung hưng đến thời Nguyễn, đồng thời sắp xếp theo không gian là các di tích lưu giữ văn bia và địa danh hành chính xã, huyện có văn bia Qua đó, rút ra những đặc điểm cơ bản về nội dung và hình
thức của văn bia cụm di tích VCĐT
- Phương pháp khảo sát điền dã: Dùng phương pháp này để bổ sung những tư liệu mới, từ đó có thể bao quát được tổng thể số lượng văn bia và đem so sánh với số thác bản đang được lưu giữ tại VNCHN Đồng thời giải quyết những vấn đề còn tồn nghi trên thác bản như phần văn bản bị đục bỏ
hoặc khắc lại trên bia hiện vật
- Các phương pháp liên ngành: Nghiên cứu văn bia cụm di tích VCĐT không chỉ là xem văn bia là đối tượng nghiên cứu trong quá trình vận động
của lịch sử phát triển văn bia, mà cần kết hợp các tri thức về khoa học xã hội, tôn giáo, văn hóa Do vậy, luận án sử dụng kết hợp, đan xen các phương pháp nghiên cứu của các ngành sử học, xã hội học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tôn giáo học và mỹ thuật học … những tri thức liên ngành được vận dụng thích
hợp trong quá trình phân tích và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án
5 Đóng góp mới về khoa học
- Lần đầu tiên luận án tập hợp, thống kê 1.818 văn bia trên khu vực VCĐT Trong đó có 1.428 văn bia có niên đại từ thời Trần đến năm hết triều Nguyễn hiện đang lưu trữ tại VNCHN Trên cơ sở đó sẽ cung cấp cho độc giả
Trang 17- Trong số 1.818 văn bia, NCS đi sâu nghiên cứu 948 văn bia, hiện đặt tại các di tích chùa Thông qua tìm hiểu nội dung văn bia cụm di tích chùa tại VCĐT, luận án cung cấp thông tin về sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử, hành trạng và quá trình truyền thừa của ba vị sư tổ, sự ảnh hưởng về tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tới các Thiền phái khác
- Luận án cung cấp các tư liệu về lịch sử xây dựng, trùng tu các di tích Phật giáo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, qua đó giới thiệu các cụm di tích thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đưa ra một số giải pháp để giữ gìn, bảo
tồn, phát triển giá trị của các cụm di tích VCĐT
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi tư tưởng của Thiền phái Trúc lâm Yên Tử được hình thành và phát triển đến đỉnh cao, tạo ra một Tư tưởng Phật giáo riêng của Việt Nam, có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về dòng thiền này Tuy nhiên, chưa có ai đi sâu tìm hiểu tư tưởng này qua hệ thống văn bia của cụm di tích VCĐT Trong khoảng thời gian phát triển tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, các vị tổ đã truyền thừa, phát huy, truyền
bá rộng khắp khu vực VCĐT và các tỉnh trong cả nước, việc này được ghi rất
rõ qua tư liệu văn bia tại đây
Thông qua những trang tư liệu bằng đá này, luận án hi vọng sẽ đưa đến cho những người quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, chính trị, tôn giáo một cách
Trang 189
nhìn toàn diện hơn về lịch sử và sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử, cũng như các giá trị của văn bia trong việc nghiên cứu hệ thống di tích trên khu vực VCĐT Thông qua tình trạng thực tế, luận án sẽ đưa ra một số ý
kiến, giải pháp để các di tích tại đây sẽ khôi phục, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Khảo sát văn bia vòng cung Đông Triều
Chương 3: Giá trị văn bia trong việc nghiên cứu Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Chương 4: Giá trị văn bia trong việc nghiên cứu hệ thống di tích thuộc
vòng cung Đông Triều
Trang 1910
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Chương này, luận án trình bày khái quát tình hình nghiên cứu văn bia ở
Vi ệt Nam nói chung và những nghiên cứu liên quan đến đề tài Từ đó đưa ra những vấn đề cơ bản cần tiếp tục nghiên cứu đối với nội dung mà văn bia
c ụm di tích VCĐT phản ánh
1.1 Khái quát v ề văn bia
Những văn bia (bia đá và thác bản) còn lại đến ngày nay là những di vật quý giá, góp phần phán ánh nhiều mặt của đời sống xã hội ở từng giai đoạn khác nhau Cuối năm 2013, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh công bố phát hiện về tấm bia tại nghè thờ Đào Hoàng, thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Trên thạch bi này, mặt trước khắc niên đại niên
hiệu Kiến Hưng nhị niên (314), mặt sau khắc niên đại Tống Nguyên Gia (424-453) Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, đây là tấm bia có niên đại sớm nhất ở Việt Nam Vào tháng 10 năm 2012, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát lộ được tấm bia Xá lị tháp minh 舍利 塔 銘 ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, tấm bia này có niên đại Nhân Thọ nguyên niên (601)
Trước khi phát hiện hai văn bia kể trên thì bia Đại Tùy Cửu Chân quận
B ảo An đạo tràng chi bi văn 大 隨 九 真 郡 寶 安 道 場 之 碑 文 dựng vào
niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618) được phát hiện ở Thanh Hóa hiện nay đang đặt tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từng được coi là văn bia có niên đại sớm
nhất ở nước ta
Sang đến thế kỉ X là các cột đá khắc kinh là Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh
nghi ệm đà la ni 佛 頂 尊 勝 加 句 靈 驗 陀 羅 尼 thời Đinh Tiên Hoàng (968 -
Trang 2011
979) được phát hiện ở tỉnh Ninh Bình; Bài kệ Khải pháp 啟 法 dưới triều Lê Đại
Hành (995) được phát hiện ở Hoa Lư, Ninh Bình Phải sang các thế kỉ sau văn bia mới bắt đầu phát triển cả về hình thức và nội dung Theo số liệu trong Văn
kh ắc Hán Nôm Việt Nam[163], bia mang niên hiệu nhà Lý (1010-1225) gồm 21
bia Có 44 bia mang niên hiệu nhà Trần (1225-1400) Theo công bố của nhóm Nghiên cứu Văn bia Lê sơ - VNCHN thì bia thời kỳ này (1428-1527) có hơn 100 bia Thời Mạc (1527-1592) có 166 bia Văn bia thời Lê Trung hưng (1533-1788)
có khoảng hơn 5.000 bia Thời Tây Sơn (1788-1802) có khoảng 359 bia Thời Nguyễn có khoảng hơn 4.000 văn bia Thiết nghĩ, con số này có thể còn được bổ sung qua những lần sưu tầm sau này
Công việc sưu tập văn bia được biết đến sớm nhất trong bộ Đại Việt sử
kí toàn thư (ĐVSKTT) 大 越 史 記 全 書 [67] của Ngô Sĩ Liên (thế kỉ XV) ông
đã ghi tóm lược nội dung bài Khai Nghiêm tự bi kí 開 嚴 寺 碑 記 của Trương Hán Siêu và B ắc Giang Bái thôn Thiệu Phúc tự bi kí 北 江 沛 村 紹 福 寺 碑 記
của Lê Quát (thế kỉ XIV) Đến thế kỉ XVIII nhà bác học Lê Quí Đôn cũng rất chú trọng đến công tác sưu tầm Trong Kiến văn tiểu lục 見 聞 小 錄 ở mục
Thiên chương cho biết: “… tôi thu nhặt những di văn còn sót lại ở đồ đồng và
bia đá (kim thạch di văn) được mấy chục bài…”[27] Bùi Huy Bích cũng cho chép lại khá nhiều bài văn bia vào tập Hoàng Việt văn tuyển 皇 越 文 選[190] Đầu triều Nguyễn, có một bộ sách dành riêng cho việc sưu tầm và công bố về văn bia đó là Lê triều lịch khoa Tiến sĩ đề danh bi ký 黎 朝 歷 科 進 士 題 名碑 記[62] của Lê Cao Lãng, ông đã sao chép được 82 văn bia Văn miếu Hà Nội Khảo sát trong Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu [97] có khoảng 200 đầu sách chép nội dung văn khắc, phần lớn là văn bia Nội dung
văn bia được sao chép, sưu tập trọn vẹn trong một cuốn sách như: Ái Châu bi
Trang 2112
kí 愛 州 碑 記[183] của Hồ Đắc Dự chép năm Duy Tân 3 (1909), trong đó ghi
100 bài kí và thơ được khắc vào bia ở chùa, hang đá, lăng mộ hay miếu
đình … thuộc tỉnh Thanh Hóa Hay Bắc Ninh tự miếu bi văn 北 寧 寺 廟 碑 文
nội dung ghi về văn bia và di tích các ngôi đền, miếu ở tỉnh Bắc Ninh Sách ghi riêng nội dung văn bia của một di tích như Chùa Hang bi 廚 𧯄𧯄 碑
Sách chép văn bia cũng được chia theo nội dung phản ánh như: Chư đề
mặc 諸 題 默 [184] chỉ chép những bài văn bia được đề vịnh khắc trên vách đá
và các hang động Kim thạch di văn 金 石 遺 文 [192] gồm 116 trang ghi lại 22 bài thơ và 17 bài văn được khắc trên đá Đăng khoa bi kí lục 登 科 碑 記 錄 [188]
nội dung chép 24 bài văn bia Tiến sĩ đề danh của triều Lê
Qua đó có thể thấy công việc sưu tầm văn bia vào sách vở đã được nhiều
thế hệ lưu tâm Do đặc thù của văn bia là gắn liền với di tích, các nhà nghiên
cứu văn hóa đã tiến hành in rập văn bản mang về lưu trữ và nghiên cứu, việc
in rập đã tiến hành hiệu quả mà không bị sai sót
1.2 Khái quát tình hình sưu tầm văn bia
Đầu thế kỉ XX, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội (EFEO) đã bắt đầu chương trình sưu tập các bản rập văn khắc Hán Nôm Cách làm này có ưu điểm hơn so với sao chép là không có hiện tượng tam sao thất bản Mới đầu EFEO cho triển khai ở Hà Nội và các cùng lân cận, sau đó mở rộng ra các tỉnh ở 40 tỉnh thành trong phạm vi cả nước, kết quả thu được là 11.561 đơn vị văn khắc, tương ứng với 20.979 mặt thác bản
Bắt đầu từ năm 1991, VNCHN thực hiện dự án điều tra sưu tầm trên địa bàn cả nước, Viện tổ chức sưu tầm ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ như: Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và
Trang 2213
Hà Nội Sau đó triển khai đến tất cả các tỉnh còn lại ở miền Bắc, miền Trung
và hiện nay đang tiếp tục sưu tầm ở các tỉnh Nam Trung bộ Đến nay, kết quả
tạm thời đã thu thập được khoảng 40.000 mặt thác bản (tính đến năm 2014), nâng tổng số thác bản của kho thác bản văn bia lên tới 60.000 đơn vị thác bản
Trên cơ sở 11.651 tấm bia (tương đương 20.979 mặt thác bản) do EFEO chuyển giao, từ năm 1970-1975, cán bộ Ban Hán Nôm (nay là VNCHN) đã biên soạn bộ Thư mục văn bia Việt Nam gồm 29 tập; từ năm 1984-1986 Hoàng Lê chủ trì tiến hành biên soạn bộ Thư mục bia giản lược [63] gồm 30
tập, trong đó mỗi văn bia đều có chỉ dẫn về địa điểm, kích thước, tác giả, niên đại và nêu tóm tắt nội dung
Bộ Danh mục thác bản văn khắc Hán Nôm [50], do GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng làm chủ biên, giới thiệu được 1.919 bản văn khắc của kho thác
bản VNCHN, mỗi địa phương trong cả nước đều được chọn một số văn bản tiêu biểu chia theo công năng di tích và mô tả chi tiết cùng một số thông tin
cơ bản của từng thác bản
Về thư mục văn bia phải kể đến bộ Danh mục văn khắc Hán Nôm Việt
Nam, do phòng Bảo quản của VNCHN lên thư mục là tài liệu lưu hành nội bộ,
từng địa phương được đóng thành từng tập riêng, có ghi rõ thời gian sưu tầm
Bộ Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam [80] cho ra mắt được
8 tập đã cung cấp một tập hợp các thác bản văn khắc đã được sưu tầm của EFEO trước đây, cuốn sách đã mô tả một cách chi tiết về hình thức, nội dung
và những đặc điểm đáng chú ý của từng văn bia Cùng với bộ Tổng tập thác
bản và Thư mục thác bản còn có một hệ thống Cơ sở dữ liệu tin học về văn
khắc Hán Nôm đang được thực hiện, nhằm tạo kiện cho nhiều đối tượng có thể khai thác tư liệu văn bia một cách dễ dàng Một công trình hợp tác giữa
Trang 2314
Viện Nghiên cứu Hán Nôm với Trường Cao học thực hành (Cộng hòa Pháp)
đã cho ra đời Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam [118], hiện nay
đã xuất bản 22 tập, in ảnh chụp các thác bản gốc, rất tiện ích cho việc tra cứu
1.3 L ịch sử nghiên cứu về văn bia
1.3.1 Các công trình kh ảo cứu về văn bia
Với một khối lượng văn bia hết sức phong phú, đã thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình biên dịch và các tuyển tập theo văn bia
từng triều đại lần lượt được giới thiệu:
-Năm 1977 một nhóm tác giả của viện Văn Học đã cho xuất bản cuốn
Thơ văn Lý - Trần [16] gồm 3 tập, trong đó đã tuyển chọn công bố 18 bài văn
bia rất có giá trị về mặt văn học Sau này đã có một số công trình nghiên cứu
về văn bia thời Lý -Trần của tập thể và cá nhân gồm: Văn khắc Hán Nôm Việt
Nam (th ời Lý) của VNCHN hợp tác với EFEO giới thiệu 27 văn bản gốc từ
thời Bắc thuộc đến thời Lý Việc khảo cứu, dịch và chú toàn bộ các văn bản thời Lý đang được các nhà nghiên cứu quan tâm, kết quả đã có một số sách xuất bản như: Văn bia thời Lý [150] do Nguyễn Văn Thịnh chủ biên Cuốn
Văn bia chùa Phật thời Lý [137] do Đinh Khắc Thuân khảo cứu và dịch thuật
cũng tập trung khai thác và giới thiệu 18 văn bia Cuốn Văn bia thời Mạc [142]
của Đinh Khắc Thuân, ngoài phần khảo về đặc điểm cũng như giá trị phản ánh trong văn bia thời Mạc, tác giả đã cho biết, tổng số văn bia thời Mạc hiện nay có khoảng 180 đơn vị văn bản, 03 minh chuông Ngoài ra còn có 07 văn
bản khắc trên gỗ, trên 40 văn bản khắc trên đồ gồm thời Mạc Trong cuốn sách này, tác giả đã dịch chú 162 văn bia
Đinh Khắc Thuân với Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, xuất
bản năm 2001 [143] Trong cuốn sách này, tác giả đã tập hợp đầy đủ những tư
Trang 2415
liệu liên quan đến triều Mạc trong đó đặc biệt là tư liệu văn bia Tác giả đã khái quát về toàn bộ lịch sử triều Mạc và đưa ra những kiến giải, đánh giá về triều đại nhà Mạc
-Cuốn sách chuyên khảo Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh
sinh ho ạt làng xã, xuất bản năm 2003 của Phạm Thị Thùy Vinh đã cung cấp
cho người đọc tiếp cận được cách nhìn về làng xã qua tư liệu hơn 1000 văn bia thời Lê của xứ Kinh Bắc
-Năm 2007, Nguyễn Văn Nguyên biên soạn Khảo sát, giám định niên đại
thác bản văn bia, do Viện Cao học thực hành, Viện Viễn đông Bác cổ, Nxb
Văn hóa Thông tin, Hà Nội xuất bản Tác giả đã khảo sát phạm vi tư liệu 5000 thác bản do EFEO sưu tầm, từ đó chỉ ra số lượng văn bia làm giả niên đại
-M ột số vấn đề về văn bia Việt Nam của Trịnh Khắc Mạnh, xuất bản năm
2008, tác giả khảo sát văn bia từ góc độ niên đại xuất hiện, qua đó đã giúp cho người đọc có được một cách nhìn khái quát nhất định những vấn đề chung
nhất của văn bia Việt Nam Tác giả đã hệ thống thành các vấn đề, cho người đọc cái nhìn bao quát nhất về văn bia, bắt đầu là sự hình thành đến quá trình phát triển của loại hình văn bia và giá trị nội dung mà nó phản ánh Có thể nói, cho tới thời điểm này, đây là cuốn sách duy nhất khái quát những vấn đề chung của văn bia Hán Nôm Việt Nam Tiếp đó năm 2013, Trịnh Khắc Mạnh
có cuốn Bi ký học và văn bản bi ký Hán Nôm Việt Nam, tác giả đã chỉnh lý
luận án nghiên cứu về văn bia của mình làm giáo trình giảng dạy trong các cơ
sở đào tạo Hán Nôm trong nước
Cuốn Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại [131] của Ngô
Đức Thọ, tác giả đã lấy văn bia là một trong những đối tượng chính để khảo sát về thể lệ kiêng húy của Việt Nam trong các triều đại phong kiến
Trang 2516
Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm có Các thể văn chữ Hán Việt
Nam [3], phân tích tới các thể loại văn học chữ Hán của Việt Nam, trong đó
có mục thể loại văn bia và tuyển dịch một số ví dụ điển hình
Văn bia Lê sơ tuyển tập, xuất bản năm 2014 do Phạm Thị Thùy Vinh
chủ biên đã khảo cứu và dịch 67 văn bia Cuốn sách đã giới thiệu khái quát về tình hình phân bố văn bia Lê sơ trong toàn quốc, một số đặc điểm về nội dung phản ánh, hình thức cấu tạo văn bia, địa điểm tạo dựng văn bản để từ đó có được cảm nhận chung về văn bia đầu thời kỳ Hậu Lê, mà NCS cũng là một thành viên tham gia biên dịch
Với số lượng nhiều, giá trị tư liệu phong phú của văn bia, nên chúng luôn là đối tượng quan tâm của các nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình khoa học tuyển chọn, giới thiệu văn bia theo tuyến không gian cũng khá phổ
biến, đặc biệt là Hà Nội, thủ đô văn vật của cả nước đã có các công trình:
Tuy ển tập văn bia Hà Nội [161] gồm 2 tập, nhóm tác giả đã phiên dịch được
63 bài văn bia Văn bia Hà Tây [98] được nhóm tác giả tuyển dịch 40 văn bia
Về nội dung bia đề danh có Văn bia Quốc tử giám Hà Nội [88] của Đỗ
Văn Ninh đã dịch 82 văn bia Tiến sỹ Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia Tiến
s ỹ [132] do Ngô Đức Thọ chủ biên, đã bước đầu khảo về Văn miếu và 82 tấm
bia Tiến sỹ Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam [72] của Trịnh Khắc Mạnh đã
tuyển dịch 137 văn bia đề danh Tiến sĩ (TS) ở Văn miếu Hà Nội, Văn miếu
Huế, Văn miếu Bắc Ninh và Văn miếu Hưng Yên Có nhiều bài chuyên luận
đề cập đến mảng văn bia văn miếu của tỉnh Vĩnh Phúc trong cuốn Kỉ yếu hội
thảo về Văn miếu và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc [165]
Trong dịp kỉ niệm Thăng Long, Hà Nội tròn một ngàn năm tuổi đã có nhiều cuốn sách về văn bia được giới thiệu đó là: Tuyển tập văn khắc Hán
Trang 2617
Nôm, tư liệu văn hiến Thăng Long-Hà Nội [172] do Phạm Thị Thùy Vinh chủ
biên tuyển dịch 127 văn bia tiêu biểu của Hà Nội, có lẽ đây là cuốn sách đầu tiên tập hợp giới thiệu được nhiều nhất tư liệu văn bia của Hà Nội Văn khắc
Hán Nôm Thăng Long-Hà Nội [43] do Đỗ Thị Hảo chủ biên tuyển dịch 123
văn bia Cuốn Di văn thời Tây Sơn trên đất Thăng Long-Hà Nội [96] do Trần
Nghĩa chủ biên tác giả đã tuyển dịch 35 văn bia
Các tuyển tập văn bia địa phương cũng được lần lượt giới thiệu: Văn bia
x ứ Lạng [33] do Hoàng Giáp chủ biên đã dịch, chú được 40 bài văn bia Đỗ
Thị Hảo có Văn bia Tiên Lãng- Hải Phòng [44] tuyển chọn giới thiệu 181 bia
Văn bia Văn miếu Bắc Ninh của Nguyễn Quang Khải Sách giới thiệu khái
quát về lịch sử hình thành, phát triển di tích Văn Miếu Bắc Ninh
Nhà xuất bản Thanh Hóa cho ra đời Tuyển tập văn bia Thanh hóa 2 tập,
tập 1 là Văn bia thời Lý Trần, tập 2 là Văn bia thời Lê sơ [10]
Cuốn Nghiên cứu Văn bia Vĩnh Phúc [87] của Nguyễn Hữu Mùi đã làm
thư mục của 937 văn bia, được phân bố trên địa bàn của 9 huyện, thị Văn bia Vĩnh Phúc có 01 bia có niên đại triều Lý; thời Lê sơ có 01 văn bia; Mạc có 09 văn bia; Lê Trung hưng có 357 văn bia; Tây Sơn có 25 văn bia và triều Nguyễn có 544 văn bia Cuốn sách giới thiệu cho chúng ta hiểu thêm về hoạt động của làng xã trong lịch sử, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa
cử của tỉnh này
Văn bia Hà Tĩnh, do Đinh Khắc Thuân chủ biên, xuất bản năm 2007,
giới thiệu 62 văn bia ở tỉnh Hà Tĩnh
Văn bia thành phố Hưng Yên, do Sở Văn hóa, thể thao và du lịch- Bảo
tàng tỉnh Hưng Yên xuất bản Cuốn sách cho biết, tại các di tích trong quần thể phố Hiến còn lưu giữ được gần một trăm văn bia có giá trị về mặt lịch sử,
Trang 2718
văn hóa Văn bia Hưng Yên có nội dung khá phong phú như: ca ngợi hiền tài,
ca ngợi cảnh đẹp, sự linh nghiệm của thần linh v.v…
Ngoài ra còn có nhiều văn bia ở các di tích và một số địa phương chưa được công bố
1.3.2 Các bài vi ết khảo cứu về văn bia
Văn bia là nguồn tư liệu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, điều đó
được thể hiện ở các bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Hán Nôm và được
giới thiệu trong Thông báo Hán Nôm học Phần lớn các bài viết đi vào giới
thiệu việc đã phát hiện, sưu tầm được một văn bia cụ thể nào đó, trong đó có nhiều bia niên đại cổ, quý hiếm như bia thời Lý, thời Trần, Lê sơ Số còn lại
đi sâu nghiên cứu tới nội dung, hình thức, thể loại, ngôn ngữ … của tư liệu
văn bia nói chung Có thể điểm qua: Bước đầu tìm hiểu những giá trị của văn
bia Vi ệt Nam đối với việc nghiên cứu tư tưởng chính trị xã hội nước ta thời phong ki ến [75] tác giả khẳng định vai trò của văn bia trong việc nghiên cứu
tư tưởng, chính trị, xã hội Việt Nam thời phong kiến Bài Đặc điểm thể loại
văn bia Việt Nam tác giả nhận định văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan
hệ văn hóa vùng Văn bia Việt Nam tuy được tiếp nhận ảnh hưởng của truyền
thống sáng tạo văn bia của Trung Quốc, nhưng nó vẫn có những nét riêng
mang đậm bản sắc Việt Nam Đinh Khắc Thuân với những bài Đính chính
niên đại giả trên một số thác bản bia tại kho bia của Viện nghiên cứu Hán Nôm [138], Nguy ễn Văn Nguyên Thực trạng vấn đề ngụy tạo niên đại trong
thác b ản văn bia Việt Nam [94], Ngô Đức Thọ có nhiều bài nghiên cứu về
chữ húy, trong đó phần lớn tư liệu được lấy từ văn bia như Bước đầu nghiên
cứu chữ húy đời Trần [133] và Chữ huý đời Lê sơ là những chỉ dẫn khá quan
trọng khi sử dụng nguồn tư liệu văn bia Đôi nét về bia Hậu [128] của Dương
Thị The, Phạm Thị Thoa Trần Thị Kim Anh với Bia Hậu Việt Nam [2]
Trang 2819
Nghiên cứu đặc điểm hình thức của văn bia là lĩnh vực còn bỏ ngỏ, bởi
lẽ đây là vấn đề đòi hỏi kiến thức liên ngành như Hán Nôm, Lịch sử, Thư pháp và Mỹ thuật…Vấn đề mới chỉ bước đầu được đề cập ở một số bài: Một
s ố nhận xét về đặc điểm, hình thức bia Việt Nam [74] của Trịnh Khắc Mạnh
Phạm Thị Thùy Vinh Một số đặc điểm về nội dung và hình thức của văn bia
Lê Sơ [174] Đặc điểm trang trí bia thời Lý Trần [116]của tác giả Tống Trung
Tín Hoặc Về nghệ thuật trang trí trên các bia Tiến sỹ thời Lê ở văn miếu Hà
N ội [14] của Nguyễn Du Chi Nguyễn Văn Ánh với bài Một số đặc điểm chính c ủa văn bia thời Trần [7], Lê Thị Liên Mấy nhận xét về bi kí Lý- Trần
[66] Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật của từng thời kì
có M ỹ thuật thời Lý [90], Mỹ thuật thời Trần [91], Mỹ thuật thời Lê sơ [92],
nêu lên những vấn đề chung về lí luận của mỹ thuật, những biểu tượng ở đó
có tính tổng hợp trên mọi chất liệu, trong đó có văn bia
Nghiên cứu về văn bia cũng được đăng trên nhiều Tạp chí liên ngành khác
như: Văn bia Việt Nam Công dụng thác bản văn bia Việt Nam đối với khoa học
xã h ội và những thác bản văn bia hiện còn ở Thư viện Khoa học Xã hội [38] của
Trần Văn Giáp đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Bia và văn bia chùa Việt
Nam [159] của Chu Quang Trứ, Tạp chí nghiên cứu Phật học…v.v…
1.3.3 Các lu ận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về văn bia
* Các lu ận án Tiến sĩ: 10 luận án đã bảo vệ thành công, với nội dung
phong phú mà nó chứa đựng, cùng với hình thức mà nó thể hiện văn bia đang
là mối quan tâm, là đối tượng nghiên cứu của không ít các luận án Năm 1990,
luận án PTS1đầu tiên về văn bia được thực hiện ở nước ngoài là Sự hình
thành và phát triển của văn bia Việt Nam và vị trí văn bia trong nền văn học
1 Nay là Tiến sĩ
Trang 2920
cổ điển Việt Nam [71] của Trịnh Khắc Mạnh, tại Viện Hàn lâm khoa học Liên
Xô-Matxcơva Luận án đã phân tích một cách có hệ thống giá trị của văn bia trong nền văn học cổ điển Việt Nam xét về mặt thể loại Văn bia Việt Nam
ngu ồn sử liệu thời kỳ trung và cận đại năm 1991
Năm 1997 luận án TS của Phạm Thị Thùy Vinh với đề tài Văn bia thời
Lê x ứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã là người đầu tiên khai thác
ở lĩnh vực văn bia theo địa danh, tác giả chỉ chọn văn bia của một thời kì của văn bia Kinh Bắc để đi sâu khai thác chúng dưới góc độ sinh hoạt làng xã
Tiếp đó năm 2000 có luận án Văn bia thời Mạc và đóng góp của nó
trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI [141] của Đinh Khắc Thuân
được bảo vệ tại trường Cao học khoa học Xã hội Pháp Nguồn tư liệu được tác giả sử dụng chính là 218 minh văn, gồm 165 văn bia
Nghiên cứu văn bia theo nội dung phản ánh có luận án Nghiên cứu văn
bia khuy ến học Việt Nam (Từ thế kỷ XV đến những năm đầu thế kỷ XX) [86]
của Nguyễn Hữu Mùi Tác giả đi sâu khai thác về về lĩnh vực hoạt động giáo dục Nho giáo, khuyến học của một số địa phương
Một số luận án được thực hiện theo hướng tiếp cận nghiên cứu theo địa
phương như Nguyễn Kim Măng với Nghiên cứu văn bia tỉnh Ninh Bình [82]
tác giả đã khảo sát, nghiên cứu 868 văn bia tỉnh Ninh Bình, đem đến thông tin chi tiết về lịch sử vùng đất, con người Ninh Bình
Nghiên c ứu văn bia hậu thần Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII của Trần Thị
Thu Hường, tác giả đã thống kê được số lượng 1569 thác bản văn bản Hậu
thần Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII
Trang 3021
Luận án Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Hoàng Thân [126] đã đưa ra những giá trị của văn bia trong việc nghiên cứu
về giao lưu quốc tế ở Quảng Nam- Đà Nẵng
Năm 2015, NCS Đoàn Trung Hữu bảo vệ thành công luận án Nghiên cứu
văn bia Thừa Thiên Huế [57], tác giả đã thống kê danh mục 512 thác bản văn
bia trên địa bàn tỉnh này
Luận án Nghiên cứu văn bia Phật giáo xứ Đoài của Nguyễn Lê Sáu đã nghiên cứu giới thiệu 482 văn bia Phật giáo có niên đại từ thế kỷ XI đến đầu
thế kỷ XX trên địa bàn xứ Đoài
Hầu hết các tác giả đều nghiên cứu về sự phân bố, rồi đưa ra những đặc điểm riêng, trên cơ sở đó đánh giá hình thức và giá trị nội dung văn bia tại
từng địa phương
Ngoài ra còn có các luận án qua tư liệu văn bia để nghiên cứu ngôn ngữ,
văn tự: Nghiên cứu chữ Nôm khắc trên bia đá (thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ
XX) của TS Đỗ Thị Bích Tuyển
* Các lu ận văn Thạc sĩ: Bên cạnh đó còn 12 luận văn Thạc sĩ khai thác về
văn bia như: Nghiên cứu văn bia chợ [121] của Đỗ Thị Bích Tuyển, tác giả
thông qua văn bia để tìm hiểu sự phát triển kinh tế hàng hóa trong xã hội thời kì phong kiến Nghiên cứu văn bia chữ Nôm [53] của Nguyễn Thị Hường lại đặc biệt chú ý đến mặt ngôn ngữ trên văn bia Văn bia đình làng Bắc Bộ thế kỉ XVII [54] của Trần Thị Thu Hường đi sâu nghiên cứu lịch sử của những ngôi đình ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ; Lê Văn Cường với Tìm hiểu văn bia hậu thời Tây Sơn
[13] với tổng số 359 bia của thời kì này có 251 bia hậu, tác giả đưa ra những nhận xét về giá trị về lịch sử, tập quán sinh hoạt, tín ngưỡng làng xã nông thôn thời Tây Sơn, một thời đại tương đối ngắn trong lịch sử
Trang 3122
Nghiên cứu văn bia theo địa danh không còn là địa hạt hiếm hoi, vì những năm gần đây đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tấm đến, điển hình là các luận văn Thạc sĩ xác định không gian từng huyện làm đề tài nghiên cứu
như: Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn, Thanh Hóa năm 2008 [115] của
Ngô Thị Thanh Tâm, Nghiên cứu văn bia Kiến Thụy, Hải Phòng [46] năm
1997 của Nguyễn Thị Kim Hoa Nghiên cứu văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội [135] của Lê Thị Thông năm 2010, Nghiên cứu văn bia huyện Gia Lâm, Hà
N ội [29] của Phạm Minh Đức năm 2009, đề tài Khảo sát văn bia huyện Vĩnh
L ộc, tỉnh Thanh Hóa [40] của Nguyễn Văn Hải năm 2012 Nghiên cứu văn bia huyện Văn Lâm của Nguyễn Ngọc Thanh năm 2015
Đối với một số luận văn thì văn bia lại được chú ý khai thác ở phạm vi rất hẹp, chỉ trong không gian của một số di tích cụ thể như: Nghiên cứu bia
chùa qu ận Ba Đình, Hà Nội [56] của Đoàn Trung Hữu Bia đá thế kỉ XVII của
m ột số chùa ở ngoại thành Hà Nội [180] của Nguyễn Thị Xuân từ cứ liệu văn
bia để nghiên cứu về lịch sử ngôi chùa làng của người Việt Còn một số luận văn, luận án đang thực hiện đã đi theo hướng tiếp cận này
1.3.4 Các sách chuyên khảo, đề tài, luận án, bài viết liên quan đến văn bia cụm di tích VCĐT
*Các sách chuyên khảo: có 06 cuốn, trong cuốn Văn khắc Hán Nôm Việt
Nam (th ời Trần) bia khu vực cụm di tích vòng cung Đông Triều có 04 bia, đó
là bia Thiên Liêu sơn Tam bảo địa 天寥山三寶地 được khắc vào năm Thiệu Phong thứ 8 (1348) [164, quyển thượng, 331], bia Thanh Mai viên thông tháp
bi 青梅圓通塔碑 [164, quyển hạ, 423] bia được khắc vào năm Đại Trị thứ 5 (1362) và bia Thanh Hư động bi 清虛洞碑 ghi Long Khánh ngự thư Long
Khánh là niên hiệu của vua Trần Duệ Tông [164, quyển hạ, tr 615]
Trang 3223
Tư liệu Hán Nôm huyện Yên Phong, sưu tầm biên dịch, giới thiệu 144
văn bia Di sản Hán Nôm Côn Sơn-Kiếp Bạc- Phượng Sơn [34] - Hoàng Giáp
chủ biên Sách giới thiệu tổng thể cụm di tích Côn Sơn Kiếp Bạc, sách biên
dịch giới thiệu 25 văn bia ở di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Sơn Chốn tổ
Vĩnh Nghiêm [12] giới thiệu về di tích, tư liệu Hán Nôm tại chùa Vĩnh
Nghiêm; Di tích l ịch sử-văn hóa nhà Trần tại Đông Triều do Nxb KHXH ấn
hành năm 2010, giới thiệu một số di tích nhà Trần thuộc huyện Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh; Cuốn Văn bia Lê sơ tuyển tập của Phạm Thị Thùy Vinh đã
giới thiệu 67 văn bia Lê sơ, trong đó khu vực CVĐT có 04 bia; Đinh Khắc
Thuân năm 2016 có cuốn Văn bia thời Trần [146], đã giới thiệu 53 văn bia,
trong đó văn bia có nội dung liên quan Phật giáo là 48 bia, trong đó văn bia khu vực VCĐT có 03 bia
Tại VNCHN cũng có những đề tài nghiên cứu về văn bia theo các mốc
thời gian mà NCS đã từng tham gia trước đây khi còn là thành viên của Phòng Nghiên cứu Văn khắc Hán Nôm Đề tài cấp Viện Văn bia Lê Trung hưng; Đề tài cấp Bộ “Di văn Hán Nôm thời Tây Sơn” do PGS.TS Phạm Thị Thùy Vinh làm chủ nhiệm đề tài, NCS là Thư ký đề tài, trong đó mảng văn bia là nhiều
nhất Tất cả các đề tài trên đều ít nhiều liên quan đến tư liệu văn bia ở cụm di tích VCĐT mà NCS đang tiến hành khảo cứu
*Một số Luận án có liên quan: 02 luận án; Nghiên cứu văn bia Hải
Phòng [47] của Nguyễn Thị Kim Hoa Tác giả luận án đã khảo sát và đánh giá một cách toàn diện về giá trị nội dung cũng như hình thức văn bia trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Năm 2016, NCS Nguyễn Văn Phong bảo vệ luận án với đề tài Nghiên
c ứu văn bia tỉnh Bắc Giang [103] tác giả đã đưa đến cho người đọc những
thông tin về văn hóa, vùng đất văn võ Bắc Giang
Trang 3324
*Bên cạnh đó, có các bài viết trên liên quan đến văn bia cụm di tích này được đăng trên Tạp chí Hán Nôm, Thông báo Hán Nôm học và các Tạp chí liên ngành như: Phát hiện bia đá thời Trần ở chùa Hang Tràm, huyện Yên
Dũng tỉnh Bắc Giang của Nguyễn Văn Phong[104]; Bước đầu khảo sát văn bia Hán Nôm B ắc Giang trước thế kỉ XVIII của Nguyễn Văn Phong[105] Cụm bia lăng mộ các vua Trần tại đền An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh của
Hoàng Giáp [36], Văn bia Đăng Minh bảo tháp của Nguyễn Khắc Minh [84]
Đôi nét về văn khắc huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang [32] của Lâm Giang,
Trương Thị Thủy Bia ghi sự tích vị thần hiệu Thiên Phi Bồng [152]; Trương
Thị Thủy-Phật Hoàng Trần Nhân Tông và thiền phái Trúc Lâm Yên Tử qua
tư liệu văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều [153]; Tư liệu Hán Nôm khu di tích danh th ắng Yên Tử của Trịnh Khắc Mạnh [79]; Trương Thị Thủy
với Văn bia đình huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng [151]; Trương Thị Thủy-
Tư liệu văn bia ở cụm di tích vòng cung Đông Triều góp phần tìm hiểu ba vị
sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử [154]; Trương Thị Thủy-Văn bia và cụm di tích Ph ật giáo huyện Đông Triều xưa [155] và một số tư liệu được lưu trữ tại
các di tích thuộc khu vực VCĐT
*Công tác sưu tầm văn bia khu vực vòng cung Đông Triều: Đợt 1 do Viễn Đông bác cổ Pháp (EFEO) in rập, giới thiệu trong Thư mục văn bia là
453 đơn vị văn bia Đợt hai do cán bộ VNCHN thực hiện từ những năm 1991
đến năm 2015, đăng ký trong Danh mục văn khắc Hán Nôm là 1.363 đơn vị
văn bia Với số lượng 1.816 văn bia và 02 văn bia chúng tôi mới bổ sung thêm trong quá trình đi sưu tầm tư liệu, tổng cộng là 1.818 văn bia
Trên đây là những luận án, luận văn, chuyên đề, bài viết, công tác sưu tầm có liên quan đến tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam nói chung và văn bia cụm di tích VCĐT Nhìn chung, việc nghiên cứu về văn bia nói chung và
Trang 3425
văn bia ở các địa phương khác nói riêng khá cụ thể, có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu văn bia Hán Nôm, cũng như lịch sử văn hóa từng địa phương Văn bia cụm di tích VCĐT cũng đã được một số người quan tâm sưu
tập, nhưng mới được đề cập ở góc độ đơn lẻ, mà chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu thành đề tài độc lập với giá trị và ý nghĩa của mảng tư liệu này Các đề tài văn bia mới được khai thác ở một đề tài nhất định, mà chưa có công trình nào đi sâu thống kê tới số lượng, nghiên cứu một cách hệ thống về hình thức và giá trị của tư liệu này Đây là khu vực địa -văn hóa tiêu biểu không
gắn với Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử Khu vực này để lại dấu ấn sâu đậm các di tích lịch sử văn hóa, trong đó có văn bia Hán Nôm liên quan đến hoạt động Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và vương triều Trần Ngày nay, chính quyền các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang cùng xây dựng hồ sơ di tích văn hóa khu vực Đông Yên Tử và Tây Yên Tử gắn với di sản văn hóa Phật giáo Trúc Lâm Vì thế, NCS đặt vấn đề khảo sát văn bia Hán Nôm ở khu vực địa - văn hóa này, bao gồm các di tích nằm trong vòng cung Đông Triều gắn với Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử Để thực
tích VCĐT trên các phương diện thời gian, không gian, hình thức thể hiện Sau đó bước đầu khai thác giá trị văn bia cụm di tích VCĐT trong việc nghiên
cứu Thiền phái Trúc lâm Yên Tử như quá trình hình thành, truyền thừa của Thiền phái và khai thác giá trị văn bia trong việc nghiên cứu hệ thống di tích thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Ti ểu kết chương I
Số lượng văn bia trong cả nước đã lên tới con số gần 60.000 thác bản tại VNCHN Nguồn tư liệu văn bia từ trước đến nay luôn là đề tài cho nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Các kết quả đã được thể hiện trong
Trang 35Với những thành tựu nghiên cứu về văn bia Việt Nam kể trên, tuy rất phong phú, nhưng mỗi đề tài, mỗi công trình đều có giá trị quan trọng và khác nhau Văn bia cụm di tích VCĐT với số lượng 1.818 đơn vị là một nền móng
cơ bản cho những đề tài khoa học có giá trị nhưng chưa được đi sâu vào nghiên cứu, nhất là từ các giác độ văn hóa, kinh tế, tín ngưỡng và phong tục tập quán Với mục đích đi sâu tìm hiểu giá trị văn hóa mỗi vùng miền theo địa
lý, NCS sẽ lựa chọn những văn bia mang tính chất đặc trưng, phong phú, truyền tải nhiều thông tin lý thú về lịch sử, tôn giáo và văn hóa Tiến hành nghiên cứu sâu giá trị nội dung mà văn bia truyền tải, để đưa ra những kết quả nghiên cứu cơ bản nhất về văn bia cụm di tích VCĐT
Trang 36Đền Kiếp Bạc Chùa Vĩnh Nghiêm
BẢN ĐỒ KHU VỰC VÒNG CUNG ĐÔNG TRIỀU
CUNG
Đền, chùa Khu vực Vòng cung Đông Triều
Cao độ (m)
-75 - 0 0.1 - 300 300.1 - 600 600.1 - 900
900.1 - 1,200 1,200.1 - 1,500 1,500.1 - 2,000 2,000.1 - 3,000
Chú Giải
Trang 3727
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VĂN BIA
Địa lý tự nhiên VCĐT vừa giáp núi lại liền biển, nên văn bia khu vực này có nh ững đặc điểm riêng Điều đáng nói là những cụm di tích lưu giữ nhiều văn bia trong khu vực là những danh thắng nổi tiếng gắn với những ngôi chùa c ổ kính, liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Quá trình
kh ảo sát và tập hợp, NCS sẽ khảo sát văn bia cụm di tích VCĐT trên các phương diện: phân loại theo không gian, theo thời gian, loại hình di tích từ
đó đưa ra nhận định về thực trạng và đặc điểm nổi bật của văn bản văn bia cụm di tích VCĐT
2.1 Khái quát địa lý hành chính vòng cung Đông Triều
2.1.1 Vòng cung Đông Triều trong lịch sử
VCĐT xuất phát từ hệ thống núi giáp biên giới Việt- Trung, vào Việt Nam, chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, dọc theo ranh giới hai tỉnh Quảng Yên và Lạng Giang, đến cuối thì chạy theo hướng Đông Đông Nam- Tây tây Bắc trên ranh giới tỉnh Hải Dương Dãy núi vòng cung Đông Triều có lưng quay về hướng Đông Nam, trông ra biển Đông và kéo dài xuống huyện
Thủy Đường, trấn Hải Dương
Sách Đại Nam nhất thống chí ghi rằng “Vùng đất này có từ lâu đời
Tương truyền từ thời Hùng Vương thuộc bộ Thang Tuyền, đời Tần vùng đất này thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc quận Giao Chỉ Nước ta thời Trần là
Hồng Lô, lại gọi là lộ Hải Đông, sau chia làm các phủ lộ Hồng Châu và Nam Sách Thời thuộc Minh là đất hai phủ Lạng Giang và Tân An Năm Vĩnh Lạc thứ 5 mới đặt phủ Lạng Giang, có 3 châu và 15 huyện: Châu Nam Sách lãnh 3 huyện Thanh Lâm, Chí Linh và Bình Hà; châu Thượng Hồng lãnh 3 huyện
Trang 3828
Đường Hào, Đường An và Đa Cẩm; phủ Tân An có 3 châu 21 huyện; bản phủ lãnh 5 huyện Giáp Sơn, Thái Bình, Đa Đực, Hà Côi và Tây Quan, châu Đông Triều lãnh 4 huyện: Đông Triều, Cổ Phí, An Lão, Thủy Đường” [22, 374]
Đời Lê niên hiệu Thuận Thiên gọi là Đông Đạo; đời Diên Ninh chia làm
lộ Nam Sách thượng và lộ Nam Sách hạ; Năm Quang Thuận thứ 7 đặt Nam Sách thừa tuyên; Năm thứ 10 định bản đồ cả nước gọi là Hải Dương thừa tuyên, lãnh 4 phủ là Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn, 18 huyện: Phủ Thượng Hồng có 3 huyện Đường Yên, Đường Hảo và Cẩm Giàng;
phủ Hạ Hồng có 4 huyện Trường Tân, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại và Thanh Miện; phủ Nam Sách có 4 huyện Bình Hà, Tân Minh, Thanh Lâm và Chí Linh; phủ Kinh Môn có 7 huyện Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Thủy Đường, Kim Thành và An Dương
Đời Tây Sơn (1787-1802) đem phủ Kinh Môn lệ vào trấn Yên Quảng Năm Gia Long thứ nhất (1802) lại đem Kinh Môn lệ vào trấn Hải Dương như cũ, lãnh
4 phủ, 18 huyện là huyện Đường An, Đường Hào, Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thanh Miện, Gia Lộc, Chí Linh, Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, Giáp Sơn, Đông Triều, Kim Thành, Thủy Đường, An Lão, An Dương và Nghi Dương
Đại Nam nhất thống chí ghi Huyện Chí Linh: phía đông đến địa giới
huyện Đông Triều, phía tây đến địa giới huyện Quế Dương và huyện Phượng Nhãn tỉnh Bắc Ninh 8 dặm, phía nam đến địa giới huyện Thanh Lâm 8 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Ninh 8 dặm [22, 381]
Huyện Đông Triều: phía tây giáp địa giới huyện Chí Linh, phía Bắc đến địa giới huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Ninh Từ đời Trần về trước gọi là huyện Đông Triều, thời thuộc Minh vẫn theo như thế [22, 384] Đông Triều là một trong những huyện trọng yếu của trấn Hải Dương có địa thế hùng vĩ Trong
Trang 3929
sách H ải Dương Phong vật chí ghi “Phía Bắc tiếp giáp hai huyện Phượng
Nhãn và Lục Ngạn, có những dãy núi cao chót vót muôn trùng Phía tây tiếp giáp với huyện Chí Linh, phía Nam chạy dọc theo huyện Thủy Đường rồi đổ vào cửa sông Bạch Đằng” [45, 24]
Huyện Thủy Đường: phía bắc giáp huyện Đông Triều Xưa là Nam Triệu Giang, tên huyện mới thấy từ thời thuộc Minh, thuộc châu Đông Triều
Huyện Kim Thành: thời thuộc Minh gọi là huyện Cổ Phí, do châu Đông Triều lãnh, lệ phủ Tân An, đời Lê Quang Thuận đổi tên huyện hiện nay [22, 386]
2.1.2 Vòng cung Đông Triều ngày nay
Theo Lê Bá Thảo trong Thiên nhiên Việt Nam, ngày nay VCĐT nằm trên địa phận các tỉnh thành phố: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng Xuất phát từ hệ thống núi giáp biên giới Việt- Trung, vào Việt Nam
Chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, dọc theo ranh giới hai tỉnh Quảng Ninh
và Lạng Sơn, sau đó vòng sang hướng Đông Tây khi tới phía Nam tỉnh Quảng Ninh, đến cuối thì chạy theo hướng Đông Đông Nam- Tây Tây Bắc trên ranh giới hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang Dãy núi vòng cung Đông Triều có lưng quay về hướng Đông Nam, trông ra biển Đông và kéo dài xuống Hải Phòng tới
bán đảo Đồ Sơn Nổi tiếng nhất trong dãy núi này là ngọn Yên Tử [124,67]
2.2 V ăn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều
2.2.1 Gi ới thuyết về văn bia cụm di tích vòng cung Đông Triều
Vòng cung Đông Triều là khái niệm địa lý học, về mặt địa lý VCĐT không thay đổi, nhưng tên gọi của đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh) nằm trong khu vực địa lý này có sự thay đổi qua từng thời kỳ Việc thay đổi này không ảnh hưởng đến diên cách VCĐT
Trang 4030
Dựa trên địa lý của dãy núi VCĐT, chúng tôi thống kê toàn bộ số lượng văn bia của 4 huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng, Việt Yên của tỉnh Bắc Giang; 2 huyện Chí Linh, Kim Thành tỉnh Hải Dương; huyện Đông Triều, huyện Hoành Bồ, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí, Vân Đồn, thành phố Hạ Long
của tỉnh Quảng Ninh và văn bia huyện Thủy Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng Sau khi thống kê toàn bộ văn bia VCĐT gồm 1.818 văn bia Trong số này có 1.428 văn bia có niên đại Bia có niên đại sớm nhất là Đại Khánh thời
Trần (1314-1323), bia có niên đại muộn là niên đại Bảo Đại (1926- 1945)
Trước hết, luận án lập danh mục đầy đủ 1.818 văn bia này, sau đó đi sâu, khai thác tìm hiểu nội dung của văn bia tiêu biểu cụm di tích VCĐT Địa danh hành chính mà chúng tôi nêu trong luận án này là căn cứ vào bộ Thư mục văn bia và
có quy đổi ra địa danh hiện nay khi tiến hành khảo cứu văn bia làm luận án
Số văn bia khu vực VCĐT sưu tầm chia theo hai đợt cụ thể như sau:
Đợt 1 do Viễn Đông bác cổ Pháp (EFEO) in rập, giới thiệu trong Thư mục
văn bia là 453 đơn vị văn bia Số thác bản văn bia này đều được ghi địa danh
khi in rập, nên rất thuận lợi trong việc xác định văn bia thuộc địa bàn VCĐT Đợt hai do cán bộ VNCHN thực hiện từ những năm 1991 đến năm 2015,
đăng ký trong Danh mục văn khắc Hán Nôm là 1.363 đơn vị văn bia Số văn
bia này khi đi sưu tầm, in rập các cán bộ của VNCHN cũng ghi rõ địa điểm văn bia, nên rất thuận lợi cho việc khảo cứu, thống kê Với số lượng 1.816 văn bia
và 02 văn bia chúng tôi mới bổ sung thêm trong quá trình đi sưu tầm tư liệu,
tổng cộng là 1.818 văn bia Hiện nay, giới nghiên cứu đã và có thêm những công bố về việc phát hiện những tấm bia mới trong các địa phương và không ngoại trừ trên địa bàn VCĐT cũng có những phát hiện thêm những tấm bia mới