ĐỀ 8: LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG? LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài. Những hoạt động của con người đã làm cho rất nhiều loài bị tuyệt chủng. Kể từ năm 1600 đến nay khoảng 21% các loài động vật và 1,3% các loài chim trên thế giới đã bị tuyệt chủng. Tốc độ tuyệt chủng của các loài trở nên ngày càng cao. Những loài còn sống sót thì cũng có nguy cơ đứng bên bờ của sự tuyệt chủng. Hơn 99% những sự tuyệt chủng thời cận đại là do con người gây ra . Sự ô nhiễm môi trường loại bỏ rất nhiều loài ra khỏi quần thể sinh học của chúng kể cả ở những nơi mà cấu trúc quần xã không bị ảnh hưởng lớn. Sự ô nhiễm môi trường bao gồm: sử dụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp, phân bón hóa học và ô nhiễm không khí gây ra mưa axit, nitơ bị lắng đọng quá mức, các khí quang hóa và khí ôzôn. Như chúng ta đã biết khí hậu địa cầu có thể bị thay đổi trong thế kỷ XXI bởi vì lượng khí cacbonnic thải vào khí quyên quá lớn do quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch. Mức độ tăng nhiệt độ dự kiến sẽ nhanh đến mức nhiều loài không thê nào điều chỉnh được biên độ sống của chúng và sẽ bị tuyệt chủng. Hiện nay tình trạng nghèo khó vẫn diễn ra ở nông thôn. Việc cải tiến đạt hiệu quả cao hơn các phương pháp săn bắn và hái lượm, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đã thúc đẩy sự khai thác quá mức đối với rất nhiều loài, đẩy chúng đến sự tuyệt chủng. Các nền văn minh của các xã hội trước đây có những truyền thống, thói quen hạn chế khai thác tài nguyên quá mức, nhưng ngày nay, những truyền thống đó đã bị phá vỡ và con người vô tình hoặc hữu ý đã chuyển hàng ngàn loài đến những vùng đất mới trên thế giới. Một số loài nhập cư đã có tác động xấu đối với các loài bản địa dẫn đến dịch bệnh và động vật sống ký sinh thường gia tăng khi các loài động vật bị nuôi nhốt tại những khu bảo tồn thiên nhiên và không thể di chuyển đi lại trong một địa bàn rộn lớn. Động vật bị nuôi nhốt thường có tỷ lệ bị mắc bệnh cao và các bệnh dịch đôi khi lan truyền giữa các loài động vật có quan hệ họ hàng với nhau. Đó chính là lý do của việc lựa chọn đề tài về môi trường và sự phát triển bền vững II. Mục tiêu nghiên cứu việc lựa chọn đề tài về sự phát triển bền vững, lí luận và thực tiễn nhằm các mục đích sau: Phân tích các ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển kinh tế Nhận thức rõ các nguy cơ, mặt lợi, mặt hại của sự phát triển kinh tế đến đời sống xã hội, môi trường, con người hiện tại và tương lai Từ đó có thể suy nghĩ về những giải pháp hài hòa giữa sự phát triển và bảo vệ môi trường, nhắm đến một sự phát triển bền vững. III. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này thông qua việc thu thập, phân tích các tài liệu có liên quan đến sự phát triển bền vững, các bài báo, các tác phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, nước ngoài đã được công bố .
Trang 1ĐỀ 8: LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG? LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Sự ô nhiễm môi trường loại bỏ rất nhiều loài ra khỏi quần thể sinh học của chúng kể cả ởnhững nơi mà cấu trúc quần xã không bị ảnh hưởng lớn Sự ô nhiễm môi trường bao gồm: sửdụng quá mức thuốc trừ sâu, các chất thải công nghiệp, phân bón hóa học và ô nhiễm khôngkhí gây ra mưa axit, nitơ bị lắng đọng quá mức, các khí quang hóa và khí ôzôn Như chúng ta
đã biết khí hậu địa cầu có thể bị thay đổi trong thế kỷ XXI bởi vì lượng khí cacbonnic thải vàokhí quyên quá lớn do quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch Mức độ tăng nhiệt độ dựkiến sẽ nhanh đến mức nhiều loài không thê nào điều chỉnh được biên độ sống của chúng và sẽ
bị tuyệt chủng
Hiện nay tình trạng nghèo khó vẫn diễn ra ở nông thôn Việc cải tiến đạt hiệu quả cao hơncác phương pháp săn bắn và hái lượm, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đã thúc đẩy sự khaithác quá mức đối với rất nhiều loài, đẩy chúng đến sự tuyệt chủng Các nền văn minh của các
xã hội trước đây có những truyền thống, thói quen hạn chế khai thác tài nguyên quá mức,nhưng ngày nay, những truyền thống đó đã bị phá vỡ và con người vô tình hoặc hữu ý đãchuyển hàng ngàn loài đến những vùng đất mới trên thế giới Một số loài nhập cư đã có tácđộng xấu đối với các loài bản địa dẫn đến dịch bệnh và động vật sống ký sinh thường gia tăngkhi các loài động vật bị nuôi nhốt tại những khu bảo tồn thiên nhiên và không thể di chuyển đilại trong một địa bàn rộn lớn Động vật bị nuôi nhốt thường có tỷ lệ bị mắc bệnh cao và cácbệnh dịch đôi khi lan truyền giữa các loài động vật có quan hệ họ hàng với nhau Đó chính là
lý do của việc lựa chọn đề tài về môi trường và sự phát triển bền vững
II Mục tiêu nghiên cứu
việc lựa chọn đề tài về sự phát triển bền vững, lí luận và thực tiễn nhằm các mục đích sau:
xã hội, môi trường, con người hiện tại và tương lai
Từ đó có thể suy nghĩ về những giải pháp hài hòa giữa sự phát triển và bảo vệ môi trường,nhắm đến một sự phát triển bền vững
III Phương pháp nghiên cứu
Trang 2Nghiên cứu đề tài này thông qua việc thu thập, phân tích các tài liệu có liên quan đến sựphát triển bền vững, các bài báo, các tác phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học trongnước, nước ngoài đã được công bố
Trang 3CHƯƠNG II NỘI DUNG
Tháng 4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một tổ chức phichính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - một cụm từ được đặt ranhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầuvới tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinhdoanh cũng như các nhà lãnh đão của các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên
xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov và Rigoberta Menchú Tum) Trong nhiều năm, The Club
of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo The Limits toGrowth (Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cập tới hậu quả của việctăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên
Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường được tổchức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lựcchung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Một trong những kếtquả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hànhđộng chống ô nhiễm môi trường Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũngđược thành lập
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiếnlược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiênQuốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chútrọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tácđộng đến môi trường sinh thái học"
Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi
đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thếgiới (World Commission on Environment and Development - WCED), nay còn được biết đếnvới tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giátrị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững
Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khixuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tựa tiếng Anh: Our Common Futur vàtiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường được gọi là Báo cáo Brundtland) Bảnbáo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát triển bền vững", sự định nghĩa
Trang 4cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài Nhờ Báo cáoBrundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy banBrundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng đượcnhững nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu củacác thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh
tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cảcác thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thựchiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Futur đã được đưa ra bànbạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết 44/228 - tiền đềcho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc
Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất,tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) Tại đây,các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trìnhhành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự thamgia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ,hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một sốvăn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đổi khí hậu,tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng Tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hộinghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi
đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩymạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio+10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phivới sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trườngcủa gần 200 quốc gia, Hội nghị này là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếptục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói,phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩmgây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ
đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của cácquốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗiquốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vàotháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện VietnamAgenda 21
1.2 Nội dung khái niệm
Tác giả David Munro cho rằng: Bền vững không phải là mục tiêu chính xác mà là một tiêuchuẩn đối với quan điểm và hành động, đó là: “Một quá trình tiếp diễn, có tính lặp đi, lặp lại,thông qua kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ thống phức hợp, được tích lũy lại, được đánhgiá và được vận dụng”
Trang 5Stephan Viederman xác định: “Bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết, mà làmột tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình và giúp tập trung chú ý vào mộttập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tính luân lý và đạo đức để hướng dẫn hành độngcủa chúng ta” Tất yếu, một trong những đặc trưng cơ bản của phát triển bền vững biểu hiệntrên nhiều khía cạnh của tình hình trong toàn hệ thống không chỉ ở tầm trung hạn, mà còn làtầm dài hạn.
Trên thực tế, hơn 10 năm qua, các nhà khoa học - trên các lĩnh vực và diễn đàn khác nhaukhắp nơi trên hành tinh này, đều đi đến một sự thống nhất có tính tương đối về bản chất vàkhía cạnh hiện thực của phát triển bền vững
Còn Denis Goulet cho rằng: Sự phát triển thực sự bền vững cần bao hàm 3 khía cạnh: Kinh
tế, chính trị và văn hóa
Riêng Goulet có ý kiến tách khía cạnh chính trị và văn hóa ra khỏi phạm trù xã hội - thêmvào đó là “mâu thuẫn về một cuộc sống đầy đủ” Ông tự đặt ra câu hỏi: “Lịch sử phát triểnđích thực như vậy có tương thích với nền kinh tế được toàn cầu hóa hay lại làm tăng thêmnhững khác biệt về kinh tế” Điều đó, đã đưa ra nhận định: “Phát triển bền vững là một nhiệm
vụ khó khăn vô cùng” Khó khăn là ở chỗ: đây không chỉ đơn thuần là xác định chuẩn của sựphát triển, mà là phải bảo đảm tính khái quát và hệ thống khá đầy đủ các khía cạnh: kinh tế, xãhội, chính trị, môi trường, sinh thái , đặc biệt, nếu còn chưa xác định rõ phạm trù văn hóa làm
cơ sở lâu bền cho sự phát triển của mỗi dân tộc thì khó khăn gặp phải sẽ tăng lên bội phần Nói thêm khởi nguồn của khái niệm (thuật ngữ) “Tính bền vững” và “Phát triển bền vững”được Charles V Kidd (1992) nêu ra Khái niệm “Phát triển bền vững” được sử dụng như mộtcông cụ hoạt động trong các cộng đồng bảo tồn và phát triển quốc tế nhờ việc công bố “Chiến
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặttrong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm nàyhiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thùkinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất vớiquốc gia đó
Theo báo cáo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu củahiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" Đó làquá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo và tôn trọng những quá trìnhsinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sốngcủa con người, động vật và thực vật Nhưng ở một mức độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bìnhđẳng giữa những nước giầu và nghèo và giữa các thế hệ Thậm chí, nó còn bao hàm sự cầnthiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết
để áp dụng khái niệm phát triển bền vững
Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtland, không chỉ
là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo
vệ môi trường Nội dung của nó còn bao hàm những khía cạnh chính trị - xã hội, đặc biệt là(1) Sách: Thế giới bền vững - Chủ biên Thaddcusc Trzyn - Viện Nghiên cứu chiến lược
và Chính sách Khoa học & Công nghệ - Hà Nội năm 2001
Trang 6bình đẳng xã hội Mặc dù không loại trừ sự cần thiềt của một số hình thức tăng trưởng kinh tế,đặc biệt là ở những nước nghèo nhất, nhưng Brundtland vẫn nhìn nhận phát triển như một quátrình phức tạp vượt ra ngoài sự tăng trưởng kinh tế giản đơn Phát triển bao hàm một sự biếnđổi kinh tế và xã hội không ngừng, ngay cả khái niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũng hàmchứa mối quan tâm đối với bình đẳng xã hội liên thế hệ, mối quan tâm cần phải được mở rộngmột cách hợp lý tới sự bình đẳng giữa các thế hệ trong quá trình phát triển
2 HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐÁNH GIÁ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG
A Nguyên tắc cơ bản phát triển bền vững
Tại hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janero(Braxin), các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thốngnhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toànnhân loại và đồng thuận tuyên bố chung về quan điểm phát triển bền vững gồm 27 nguyên tắc
cơ bản dưới đây:
1 Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người cóquyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên
2 Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của Luật pháp Quốc tế.Các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môitrường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo rằng những hoạt động trong phạm viquyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia kháchoặc những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia
3 Cần phải thực hiện phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về pháttriển và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai
4 Để thực hiện được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết phải là bộ phậncấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó
5 Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏnghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững để giảm nhữngchênh lệch về mức sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số nhân dân trên thế giới
6 Cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho các nhu cầu của các nước đang phát triển, nhất là cácnước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường; những hoạt động quốc tếtrong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến quyền lợi và yêu cầu của tất cả cácnước
7 Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần "chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo
vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của Trái đất Vì sự đóng góp khácnhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những trách nhiệm chungnhưng khác biệt nhau Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ trong các nỗ lựcquốc tế về phát triển bền vững do những áp lực mà xã hội của họ gây ra cho môi trường toàncầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính của họ chi phối, điều khiển
Trang 78 Để đạt được sự phát triển bền vững và chất lượng cao hơn cho mọi người, các quốc gianên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không bền vững và đẩymạnh những chính sách dân số thích hợp
9 Các quốc gia nên hợp tác để củng cố, xây dựng năng lực hội sinh cho phát triển bềnvững bằng cách nâng cao sự hiểu biết khoa học thông qua trao đổi kiến thức khoa học và côngnghệ và bằng cách đẩy mạnh sự phát triển và thích nghi, truyền bá và chuyển giao công nghệ,
kể cả những công nghệ mới và cải tiến
10 Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của dân chúng có liênquan và ở cấp độ thích hợp Ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân có quyền được các nhà chức tráchcung cấp các thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, bao gồm những thông tin về nhữngnguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng và cơ hội tham gia vào quá trình quyếtđịnh Các quốc gia cần khuyến khích, tuyên truyền và tạo đều kiện cho sự tham gia của nhândân bằng cách phổ biến những thông tin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận cóhiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính kể cả uốn nắn và sửa chữa
11 Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, các tiêu chuẩn môitrường, những mục tiêu quản ý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và pháttriển mà chúng gắn với Những tiêu chuẩn mà một vài nước áp dụng có thể không phù hợp vàgây tổn phí về kinh tế - xã hội không biện minh được cho các nước khác, nhất là các nướcđang phát triển
12 Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp đỡnhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển bền vững ở tất cả các nước, để nhằm đúng hơnvào những vấn đề thoái hoá môi trường
13 Những biện pháp chính sách về thương mại với những mục đích môi trường không nêntrở thành một phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lý hoặc một sự ngăn cản trá hìnhđối với thương mại quốc tế Cần tránh những hoạt động đơn phương để giải quyết những vấn
đề thách thức của môi trường ngoài phạm vi quyền hạn của những nước nhập cảng Nhữngbiện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề môi trường ngoài biên giới hay toàn cầudựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt được
14 Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho nhữngnạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác Các quốc gia cũng cần hợp tác một cáchkhẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý vàbồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong phạm vi quyền hạn haykiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ
15 Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự thay thế và chuyển giaocác quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây nên sự thoái hoá môi trườngnghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người
16 Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngănngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia Ở chỗ nào có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọng haykhông sửa chữa được thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trìhoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn sự thoái hoá môi trường
Trang 817 Các nhà chức trách của mỗi quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chiphí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắcngười gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức tới quyền lợi chung
và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế
18 Đối với những hoạt động có thể gây những tác động xấu tới môi trường cần có sự đánhgiá như một công cụ quốc gia về tác động môi trường và tuân theo quyết định của một cơ quanquốc gia có thẩm quyền
19 Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nàohay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của nước đó.Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này
20 Các quốc gia cần phải thông báo trước, kịp thời và cung cấp thông tin có liên quan chocác quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh hưởng xấu đáng kểđến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần tham khảo ý kiến của các quốc gia này sớm và
có thiện ý
21 Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường Do đó, việc
họ tham gia đầy đủ là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững
22 Cần huy động tinh thần sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm của thanh niên thế giớinhằm tạo nên một sự chung lưng đấu cật để đạt được sự phát triển bền vững và đảm bảo mộttương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người
23 Nhân dân bản xứ, những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác của địa phương cóvai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường về sự hiểu biết và tập tục truyềnthống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mốiquan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển bền vững
24 Môi trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bị thống trị và bị chiếmđóng cần phải được bảo vệ
25 Chiến tranh vốn dĩ là yếu tố phá hoại sự phát triển bền vững Do đó, các quốc gia cầnphải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột vũ trang vàhợp tác để phát triển môi trường hơn nữa
26 Hoà bình, Phát triển và Bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được.Các quốc gia cần phải giải quyết mọi bất hoà về môi trường một cách hoà bình và bằng cácbiện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên hợp quốc
27 Mọi quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý với tinh thần chung lưng đấu cật trongviệc thực hiện các nguyên tắc được thể hiện trong bản tuyên bố này và trong sự phát triển hơnnữa luật pháp quốc tế trong lĩnh vực phát triển bền vững
B Tiêu chí để đo lường sự phát triển bền vững
Để đo lường sự phát triển bền vững, phải dựa trên các chỉ tiêu về: Bền vững sinh thái; bềnvững chính trị - xã hội, bền vững về mặt kinh tế bảo đảm duy trì bản sắc văn hóa mọi dân tộc Đặc biệt, để bảo đảm cho sự phát triển bền vững, trước hết ta phải xác định tính bền vững củamột đường lối phát triển Con đường, cách thức, phương pháp làm việc của mỗi con người,mỗi dân tộc để đưa đất nước phát triển bền vững thì hết sức đa dạng và phong phú
Trang 9Trên thực tế, chúng ta cần có nhiều công trình nghiên cứu khoa học “đắc dụng” và hệ thốngtri thức để đáp ứng yêu cầu thực tế của sự phát triển bền vững, nhưng đó phải là một nền khoahọc mới với một nền kinh tế tri thức mới có thể giúp ta định hướng đúng, kịp thời vào cácvấn đề đặt ra Phải là một hệ thống trí thức khoa học không thoát ly các giá trị chính trị, kinh
tế, xã hội và đạo lý, bảo đảm tính quy luật và khách quan, không thiên lệch trong cách tiếp cận,
có các bước thử nghiệm những giả thiết khoa học một cách bài bản và chính xác
Các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ sự phát triển bền vững phải được đặt trongkhuôn mẫu mới, biết chấp nhận sự phát triển mang tính quy luật của xã hội và tự nhiên, để từ
đó mới có thể điều khiển nó thoát ra khỏi những nhu cầu nghiên cứu phiến diện, nhằm gópphần không chỉ nâng cao giá trị phục vụ lợi ích cho toàn xã hội, mà còn là việc nâng cao chấtlượng cuộc sống của mỗi con người, đây chính là mục tiêu trọng tâm trong thời kỳ đổi mới,toàn cầu hóa hiện nay
Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch, Công nghệ
có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế –xã hội
Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất –nhu cầu-tài nguyên thiên nhiên vàphân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất Các nước trên thế giới đều
có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế –xã hội khác nhau, đưa đếnhiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do
đó cần xem xét bốn vấn đề: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tíchphát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững
1 Nhóm chỉ tiêu kinh tế
Phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ
em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyen sử dụng ruộng đất, đồngthời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội
Chỉ tiêu Tổng sản phẩm quốc dân (GNP),
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
GNP (còn được biết đến là GNI – Tổng thu nhập quốc dân) là toàn bộ giá trị sản phẩm vàdịch vụ cuối cùng được tạo ra do kết quả hoạt động kinh tế của công dân một nước trong mộtnăm
GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra do kết quả hoạt động kinh
tế trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một năm
Trang 10(GNP,GDP hh ) – GNP,GDP danh nghĩa
- GNP, GDP tính theo giá cố định:
(GNP, GDP cđ ) - GNP, GDP thực tế
- GNP, GDP thực tế được tính từ GNP, GDP danh nghĩa điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát
(GNP, GDP cđ = GNP, GDP hh / Tỷ lệ giảm phát)
- GNP, GDP (PPP-US$) được tính theo phương pháp mà Ngân hàng thế giới đề xuất
GDP, GNI của một số nước, năm 2000 (Đơn vị: tỷ US$)
Bảng 1
Nguon:World Development Indicators Database, 4/2002
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng (g) của nền kinh tế được tính bằng tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh
tế
GDP g
0
0
1
B ng 2 T c độ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000 ăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000 t ng tr ưởng GDP của một số nước, năm 2000 ng GDP c a m t s n ủa một số nước, năm 2000 ộ tăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000 ước, năm 2000 c, n m 2000 ăng trưởng GDP của một số nước, năm 2000
Trang 11 Tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người
Khả năng nâng cao phúc lợi vật chất cho nhân dân một nước, không chỉ là tăng sản lượngcủa nền kinh tế, mà còn liên quan đến vấn đề dân số Do vậy, chỉ số tổng thu nhập bình quânđầu người là một chỉ số thích hợp hơn để phản ánh sự tăng trưởng kinh tế GNI bình quân đầungười được tính bằng tổng thu nhập quốc dân chia cho dân số tại thời điểm giữa năm
Thu nhập bình quân đầu người:
GNI/người(USD/người)
Nguồn: World Development Indicators Database, 4/2002
quan trọng đo lường thu nhập bình quân của dân cư của một quốc gia
2 Nhóm chỉ tiêu xã hội
Các chỉ tiêu chăm sóc y tế
- Số người dân/bác sỹ
- Tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được sự giúp đỡ của y tế
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh
- Tuổi thọ kỳ vọng (Life expectancy at birth): Được tính bằng thời gian kỳ
vọng sống từ khi được sinh ra bình quân của cư dân
Một số chỉ tiêu phát triển xã hội
- Ve con người: để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học
kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự pháttriển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các
Trang 12thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đờisống Đảm bảo các tiêu chí :
- Tỷ số người dân/1 bác sĩ
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm
- Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, năm
- Các chỉ tiêu về dân số và việc làm
- Tốc độ tăng dân số: Thường được so sánh với tốc độ tăng trưởng kinh tế để xem xét khả năngđảm bảo việc làm
- Cơ cấu dân số, lao động theo ngành, theo giới, theo độ tuổi và theo vùng
Bảng 4 Một số chỉ tiêu về dân số của Việt Nam
Năm Dân số
(nghìn
người)
Tốcđộtăng(%)
Cơ cấu theo giới(%)
Cơ cấu theo vùng (%)
NGUỒN
NGHIỆP THẤT
NGƯỜI SỐ
- Một số chỉ tiêu về dân số và cơ cấu lao động
Tốc độ tăng dân số năm 2000 của một số nước: Đức: 0,1%, Nhật: 0,2%, Trung quốc: 0,9%,Thái Lan: 0,8%, các nước chậm phát triển nhất: 2,3% (Nguồn: World Development IndicatorsDatabase, 4/2002) Cơ cấu lao động của lực lượng lao động chia theo nhĩm ngành của ViệtNam tại thời điểm 1/7/2000:
- Nơng nghiệp: 22.650.814 người, chiếm 62,56%
- Cơng nghiệp và XD: 4.761.436 người, chiếm 13,15%
- Dịch vụ: 8.794.785 người, chiếm 24,29%
- Các chỉ tiêu về phân phối thu nhập và nghèo đĩi
Bất bình đẳng giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa nam và nữ, giữa các thế hệ:
Bảng Phân phối thu nhập theo quy mơ một quốc gia đang phát triển
Trang 1320% dân số có thu nhập trung bình 13
- Đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và phần trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân Đường cong Lorenz được xây đựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô
Từ các số liệu ví dụ ở Bảng 5 chúng ta có được những thông tin sau
Dân số cộng dồn – Xi(%) Thu nhập cộng dồn - Yi(%)
20 5
40 14
60 27
80 49
100 100
Đường cong Lorenz
- Hệ số Gini
Tỷ lệ đỉnh/đáy: Tỷ lệ thu nhập của 20% dân số giầu nhất với thu nhập của 20% dân số nghèo nhất
Tỷ lệ nghèo đói
20
30
40
50
20 40 60 80 100 % dân
số
Đường bình đẳng
Đường cong Lorenz
% Thu nhập
100
10
O
O’
E
Trang 14Yi : Tỷ lệ cồng don ve thu nhập của các nhóm dân cư
Hệ số Gini phản ánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, G càng lớn bất bình đẳngcàng cao, G = 0 bình đẳng tuyệt đối, G = 1 bất bình đẳng tuyệt đối, các giá trị này không cótrong thực tế
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới khoảng phân bổ của Hệ số Gini như sau:
- Những nước có thu nhập thấp: 0,3 < G < 0,5
- Những nước có thu nhập trung bình: 0,4 < G < 0,6
- Những nước có thu nhập cao: 0,2 < G < 0,4
Từ thực tế trên Ngân hàng Thế giới đưa ra kết luận là quốc gia nào có Hệ số Gini ở mức xungquanh 0.3 thì được đánh giá là tốt
Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam, năm 2001 là 32%, Trung Quốc: 6% (World Development
Trang 15Chỉ số HDI một chỉ tiêu tổng hợp, thường được dùng để xếp loại mức độ phát triển conngười của một đất nước.
Chỉ số HDI được tính tổng hợp từ các chỉ tiêu cơ bản:
3 Nhóm chỉ tiêu môi trường
Ve môi trường: phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng, nguon
nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sảnlượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh Phát triển bền vữngđòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, khônglạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước vàlương thực
- Tỷ lệ che phủ rừng: tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính theo phần trăm (%)
- Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải
- Tỷ lệ các khu công nghiệp có hoặc sử dụng chung hệ thống xử lý rác thải rắn
- Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001
- Phát thải các khí nhà kính, tính theo tấn/năm
- Tỷ lệ các vùng đô thị có mức ô nhiễm không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép
- Hệ sinh thái đang bị đe doạ và các loài có nguy cơ diệt chủng, tính bằng số lượng
- Tổn thất về kinh tế do thiên tai hàng năm, phải được qui đổi ra tiền
Trang 16 Chỉ tiêu tổng hợp đo lường phát triển bền vững
- Điều hòa ổn định khí hậu, hấp thụ CO2
- Quá quan trọng trong việc lưu trữ nước và làm chậm tốc độ dòng chảy sau mưa
- Vô giá đối với bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, các nguồn gien quý hiếm
- Vô giá trong việc cung cấp các thảo dược quý
- Vô giá đối với sức khỏe con người
- Con ngứời đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất (ha/người)
- Theo cách sống hiện tại, loài người đến 2050 sẽ cần 02 hành tinh như Trái đất
- Đã hơn 20 năm qua chúng ta đã sống vượt quá khả năng chịu tải của Trái đất Đó làlối sống, tiêu dùng không bền vững
Báo cáo của LHQ năm 2005 đã cảnh báo: Mặc dù 1/5 dân số Châu Á còn sống duới 01USD/ngày nhưng vùng này đã bị khai thác quá khả năng chịu tải về môi trường của nó
20% người giầu nhất thế giới hưởng thụ và sở hữu 80% tổng số của cải vật chất 80% ngườinghèo nhất sở hữu 20% của cải còn lại
Ve Công nghệ: phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguon tàinguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sảnxuất Trong sản xuất công nghiệp can đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môitrường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tangozon bảo vệ trái đất Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội –văn hoá –môi trường.Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác
Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tươnglai vì xã hội loài người
CHƯƠNG III THỰC TIỄN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1 Khái niệm về nước đang phát triển
- Nước đang phát triển là quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệpkém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao Ở các nước này, thunhập đầu người ít ỏi, nghèo nàn phổ biến và cơ cấu tư bản thấp "Nước đang phát triển"gần nghĩa với Thế giới thứ ba thường dùng trong Chiến tranh Lạnh
2 Những Đặc điểm chung của các nước đang phát triển
- Thu nhập thấp
- GDP thấp, GNI/ người thấp
- GNI bình quân đầu người ở mức 2000 USD được coi là điểm mốc để giải quyết các vấn đề
cơ bản của con người (lương thực, y tế, giáo dục Tuy nhiên, hiện nay có trên 100 nướcđang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người nhỏ hơn mức 2000 USD, trong số đógần một nửa có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 600 USD, Khả năng tích luỹ
Trang 17thấp Tỷ lệ tích luỹ của các nước đang phát triển hiện nay trên dưới 10% GDP Phải chịumột áp lực lớn về dân số và việc làm - Dân số đông, tốc độ tăng dân số cao
- Sản xuất kém phát triển triển, do tỷ lệ tích luỹ thấp, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao
- Công nghệ sản xuất lạc hậu
- Hoạt động của nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỷ trọngcao trong GDP, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất thấp
- Trình độ công nghệ của các nước đang phát triển chậm hơn từ 3 đến 6 thập kỷ so với trình
độ công nghệ của các nước phát triển
- Những đặc điểm cơ bản này tạo ra “vòng luẩn quẩn” cho các nước đang phát triển:
Vòng luẩn quẩn của các nước ĐPT
- Vấn đề đặt ra là các nước đang phát triển phải tìm ra con đường phát triển của mình đểphá vỡ vòng luẩn quẩn trên vươn lên thành các nước phát triển Mô hình phát triển kinh
tế nào là phù hợp để đẩy nhanh quá trình phát triển của các nước đang phát triển
Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ(MDGMillennium Development Goals) bao gồm từ mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ nghèo cùngcực tới chặn đứng sự lây lan của HIV/AIDS và đạt phổ cập giáo dục tiểu học, tất cả đều phảihoàn thành vào năm 2015
Các MDG đã được tất cả các nước cũng như tất cả các cơ quan/tổ chức phát triển hàng đầutrên thế giới nhất trí Các mục tiêu này đã thúc đẩy những nỗ lực to lớn chưa từng có nhằm đápứng nhu cầu của những người nghèo nhất trên thế giới.Các MDG là nhằm phục vụ con người