1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng một số phương pháp phân tích để nghiên cứu phân bón hữu cơ và khoáng nhả chậm từ vỏ lạc (2018)

74 200 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây hoa cúc trong các lô thí nghiệm ..... Tuy nhiên hiện nay hiệu quả sử dụng phân bón ở Việt Nam

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hóa phân tích

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hóa phân tích

Người hướng dẫn khoa học

ThS NGUYỄN THỊ HUYỀN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp là bước đầu tiên em làm quen với việc nghiên cứu khoa học, đến với thế giới tri thức rộng lớn trước sự bỡ ngỡ và còn gặp nhiều khó khăn do chưa có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới ThS

NGUYỄN THỊ HUYỀN, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em

trong quá trình hoàn thành đề tài

Do lần đầu là quen với việc nghiên cứu khoa học nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo trong khoa để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên thực hiện

TRẦN THỊ THÚY HẰNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3 Mục tiêu của đề tài 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Nội dung nghiên cứu 3

7 Những điểm mới đóng góp của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 5

1.1 Tổng quan về loài Lạc 5

1.1.1 Giới thiệu về loài Lạc 5

1.1.2 Thành phần hóa học của vỏ lạc 6

1.2 Tổng quan về phân bón 7

1.2.1 Thành phần của phân bón 7

1.2.2 Phân loại phân bón 8

1.3 Một số loại phân bón thường dùng 11

1.3.1 Phân đạm 11

1.3.2 Phân lân 15

1.3.3 Phân kali 17

1.3.4 Phân hỗn hợp và phân phức hợp 19

1.3.5 Phân hữu cơ 20

1.4 Tác dụng của phân bón 25

1.4.1 Tác dụng của phân bón đối với cây trồng 25

1.4.2 Tác dụng của phân bón đối với đất và môi trường 26

1.4.3 Tác dụng của phân bón đối với hệ thống xử lí biện pháp trồng trọt 26

1.4.4 Tác dụng đối với thu nhập của người sản xuất 27

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM 28

2.1 Nguyên liệu, hóa chất và dụng cụ 28

Trang 5

2.1.1 Nguyên liệu 28

2.1.2 Hóa chất 28

2.1.3 Dụng cụ 28

2.2 Phương pháp điều chế phân bón 28

2.2.1 Bổ sung NH 3 28

2.2.2 Bổ sung urê 29

2.2.3 Bổ sung NPK 30

2.2.4 Bổ sung nước tiểu 30

2.2.5 Điều chế phân bón nhả chậm 30

2.3 Xác định hàm lượng Nitơ 31

2.3.1 Nguyên tắc 31

2.3.2 Phá mẫu sử dụng máy phá mẫu kieldahl 32

2.3.3 Thực hiện quy trình phân tích đạm 32

2.4 Tính kết quả 35

2.5 Thử nghiệm phân hữu cơ khoáng nhả chậm trên cây trồng 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đối với mẫu chưa ủ 38

3.2 Chế tạo phân hữu cơ khoáng 38

3.2.1 Đối với mẫu bổ sung NH 3 38

3.2.2 Đối với mẫu bổ sung ure 40

3.2.3 Đối với mẫu bổ sung NPK 42

3.2.4 Đối với mẫu bổ sung nước tiểu 43

3.3 Phân hữu cơ khoáng nhả chậm 44

3.3.1 Phân hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc và ure 44

3.3.2 Phân hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc và NPK 46

3.4 Phân hữu cơ khoáng nhả chậm chứa nguyên tố vi lượng 49

3.5 Thử nghiệm các loại phân bón với một số giống hoa 49

3.5.1 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây hoa cúc trong các lô thí nghiệm 49

Trang 6

3.5.2 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm

từ vỏ lạc đến năng suất chất lượng hoa Cúc vàng 57

3.5.2 Đánh giá chung 59

KẾT LUẬN 61

KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU - HÌNH VẼ Bảng:

Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng lạc từ 2011-2015 6

Bảng 1.2 Thành phần của vỏ lạc 6

Bảng 2.1 Mẫu ủ với NH3 29

Bảng 2.2.Mẫu ủ với Urê 29

Bảng 2.3 Bảng mẫu bổ sung NPK 30

Bảng 2.4 - Nồng độ axit sunfuric tiêu chuẩn tính theo tổng lượng nitơ 34

Bảng 3.1 Ảnh hưởng nồng độ NH3 đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ 5 ngày 38

Bảng 3.2 Ảnh hưởng thời gian ủ đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ với NH3 1M 39

Bảng 3.3 Ảnh hưởng lượng ure đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ 25 ngày 40

Bảng 3.4 Ảnh hưởng thời gian ủ đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ với ure 41

Bảng 3.5 Ảnh hưởng lượng NPK đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ 25 ngày 42

Bảng 3.6 Ảnh hưởng thời gian ủ đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ với NPK 43

Bảng 3.7 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạc và ure trong đất 44

Bảng 3.8 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạc và ure trong đất 45

Bảng 3.9 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạcvà NPK trong đất 47

Bảng 3.10 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạcvà NPK trong đất 48

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm tới chiều cao của cây hoa cúc vàng 50

Trang 8

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm

tới số lá/cây của cây hoa cúc vàng 52 Bảng 3.13.Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm đến đường

kính thân cây hoa Cúc 53 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc

thời gian sinh trưởng, kích thước của cây khi có nụ của cây

hoa Cúc 55 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm

từ vỏ lạc đến năng suất chất lượng hoa Cúc vàng 56 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm đến hiệu

quả kinh tế của hoa cúc 57

Hình:

Hình 2.1 Ảnh Cây hoa Cúc vàng 36 Hình 3.1 Ảnh hưởng nồng độ NH3 đến hàm lượng Ntrong phân bón khi

ủ 5 ngày 38 Hình 3.2 Ảnh hưởng thời gian ủ đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ

với NH3 1M 39 Hình 3.3 Ảnh hưởng lượng ure đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ

25 ngày 40 Hình 3.4 Ảnh hưởng thời gian ủ đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ

với ure 41 Hình 3.5 Ảnh hưởng lượng NPK đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ

25 ngày 42 Hình 3.6 Ảnh hưởng thời gian ủ đến hàm lượng Ntrong phân bón khi ủ

với NPK 43 Hình 3.7 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạc và ure trong

đất 45 Hình 3.8 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạc và ure trong

đất 46

Trang 9

Hình 3.9 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạcvà NPK

trong đất 47 Hình 3.10 Khả năng nhả chậm phân hữu cơ khoáng từ vỏ lạcvà NPK

trong đất 49 Hình 3.11 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm

tới chiều cao của cây hoa cúc vàng 51 Hình 3.12 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm

tới số lá/cây của cây hoa cúc vàng 52 Hình 3.13: Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm đến

đường kính thân cây hoa Cúc 54 Hình 3.14 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc

thời gian sinh trưởng, kích thước của cây khi có nụ của cây hoa

Cúc 55 Hình 3.15 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm

từ vỏ lạc đến năng suất chất lượng hoa Cúc vàng 57 Hình 3.16 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm đến hiệu

quả kinh tế của hoa cúc 58

Trang 11

Những năm gần đây nhờ thành tựu KHKT các loại phế phẩm nông nghiệp

đã và đang được ứng dụng nhiều vào thực tế, người ta đã tận dụng để chế tạo làm ra các sản phẩm hữu ích phục vụ đời sống của con người Vỏ lạc cũng là một trong những bã thải được ứng dụng để chế tạo thành các thành phẩm sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, một trong những thành phẩm đó chính là phân bón

Tuy nhiên hiện nay hiệu quả sử dụng phân bón ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới còn rất thấp, cây trồng sử dụng ít lượng phân bón trong đất phần còn lại bị mất mát nhiều do sự rửa trôi, sự bay hơi của amoniac… từ đó làm tăng chi phí, giảm hiệu quả kinh tế và gây ô nhiễm môi trường Để nâng cao hiệu quả việc sử dụng phân bón trong nông nghiệp việc nghiên cứu chế tạo ra loại phân bón nhả chậm vừa cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây trồng trong một thời gian dài vừa giảm chi phí nhân công, hạn chế việc rửa trôi và thân thiện với môi trường đang là mối quan tâm của toàn xã hội đặc biệt là với các nhà nghiên cứu khoa học

Trang 12

Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài cho khóa

luận là: “Áp dụng một số phương pháp phân tích để nghiên cứu phân bón

hữu cơ và khoáng nhả chậm từ vỏ Lạc”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài mở rộng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu phân bón trong sản xuất

nông nghiệp

3 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu nhằm tận dụng nguồn phế phẩm trong nông nghiệp để tạo

ra những sản phẩm hữu ích phục vụ cho đời sống con người

- Bằng phương pháp hóa học, điều chế ra nguồn phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc

Trang 13

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm cho hoa Cúc vàng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp sưu tầm thông tin trên internet và trên thị trường

- Phương pháp đọc sách và nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp xử lí số liệu

6 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu chế tạo phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc

- Xây dựng quy trình chế tạo phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm từ vỏ lạc và sơ đồ khảo sát quá trình nhả chậm phân bón

- Nghiên cứu ứng dụng thử nghiệm phân bón hữu cơ nhả chậm cho hoa Cúc vàng

7 Những điểm mới đóng góp của đề tài

- Theo tìm hiểu của em trước kia và hiện nay hầu hết các nhóm tác giả mới chỉ nghiên cứu sử dụng vỏ lạc chế tạo vật liệu hấp phụ Chưa có đề tài nào tận dụng vỏ lạc để làm phân bón

- Đã chế tạo được thành công phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm, loại phân này có khả năng điều khiển chất dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển của cây trồng

Trang 14

- Đã khảo sát nghiên cứu một cách có hệ thống khả năng nhả dinh dưỡng của phân bón trong môi trường nước và đất

- Phân bón hữu cơ khoáng nhả chậm chế tạo được đã giúp cho cây hoa Cúc sinh trưởng phát triển tốt, ra hoa đều đẹp, tiết kiệm chi phí phân bón và thời gian bón phân, ngoài ra phân bón này rất thân thiện với môi trường không ảnh hưởng xấu đến tính chất lí hóa của đất

Thêm bố cục của khóa luận: (nêu tên các chương ra )

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về loài Lạc

1.1.1 Giới thiệu về loài Lạc

Loài Lạc (còn gọi là Đậu phộng, Đậu phụng) có tên khoa học là Arachis

hypogea L., thuộc họ đậu (Fabaceae), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), ngành

Ngọc lan (Magnoliphyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae)

Đặc điểm hình thái: Cây thân thảo, một năm, thân cao từ 3-50 cm; rễ có

nốt sần Lá kép lông chim, mọc cách, có lá kèm Mỗi lá kép có hai đôi lá chét mọc đối, lá chét có kích thước khoảng 1-7 x 1-3 cm Hoa gồm 2 loại: Hoa vô tính màu vàng, mọc trên thân, không có chức năng sinh sản Hoa sinh sản

(còn gọi là hoa ngậm - cleistogamic flower), mọc ở phần gốc cây, chúc xuống

dưới đất, xấu xí (trông giống như rễ mọc từ thân), có khả năng tự thụ phấn và

tự thụ tinh Trước khi thụ tinh, hạt phấn tự nảy mầm trong bao phấn (bình thường hạt phấn nảy mầm trên đầu nhụy) sau đó xuyên qua bao phấn để đi vào bầu Sau khi thụ tinh, bầu chỉ lớn lên một ít, còn phần cuống hoa lớn rất nhanh (dài tới 10 mm/ ngày đêm) đưa bầu vào sâu trong đất phát triển thành quả (thường gọi là “củ lạc”) Quả đậu (nhưng không mở), dài 3-7 cm, chứa 1-

2 (-4) hạt

Nguồn gốc và phân bố: Nguyên sản ở Braxin, được trồng phổ biến ở

nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Sênêgal, Nigeria, Myanmar, Sudan, Mỹ, Argentina và Inđônêxia Ở Việt Nam, lạc được trồng phổ biến khắp cả nước với nhiều giống khác nhau

Sinh học và sinh thái: Thích hợp với những vùng đất ẩm, xốp, không

chịu được khí hậu lạnh và úng Mùa thu hoạch ở miền bắc chủ yếu từ tháng

6-7, ở miền nam rải rác quanh năm

Giá trị sử dụng: Được đánh giá là cây công nghiệp và cây thực phẩm

quan trọng các sản phẩm từ loài này được dùng với nhiều mục đích khác nhau: Hạt là thực phẩm quen thuộc, được dùng với nhiều cách trong dân gian; trong công nghiệp, hạt được dùng để ép dầu, đóng hộp, làm bơ-phomát, làm dung môi hòa tan một số chất, làm dầu tiêm (trong y học)… Thân, lá, khô lạc (bã hạt sau khi ép dầu) làm thức ăn cho động vật nuôi…

Trang 16

Cho đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trên thế giới, lạc là cây họ đậu

có diện tích lớn nhất thế giới, hiện nay đứng thứ hai trong số các cây lấy dầu thực vật (về diện tích và sản lượng) với diện tích gieo trồng vào khoảng 20triệu ha/năm, sản lượng vào khoảng 25,5 triệu tấn Ở Việt Nam, lạc được trồng rộng rãi khắp cả nước Trừ các loại đất quá dốc, đất chua, đất mặn đất sét, các loại đất khác đều trồng được lạc Các số liệu về diện tích, năng suất,

và sản lượng lạc được cập nhật trong những năm gần nhất từ 2011 đến nay:

1.1.2 Thành phần hóa học của vỏ lạc

Vỏ lạc chiếm 25-35% khối lượng hạt Với sản lượng lạc hàng năm khoảng 500.000 tấn thì khối lượng vỏ hạt lên tới 150.000 tấn/năm Vỏ lạc có giá trị dinh dưỡng, thường được dùng để nghiền thành cám làm thức ăn cho gia súc hoặc phân bón cho cây Sau đây là kết quả phân tích vỏ lạc:

Sự kết hợp giữa xenlulozơ và hemixenlulozơ được gọi là holoxenlulozơ

có chứa nhiều nhóm OH, thuận lợi cho khả năng hấp thụ thông qua liên kết hiđrô

Trang 17

Xenlulozơ: là polisaccarit do các mắt xích glucozơ [C6H7O2(OH)3]n nối với nhau bằng liên kết 1,4-glucozit Phân tử khối của xenlulozơ rất lớn khoảng từ 10.000 đến 150.000 đvC

Hemixenlulozơ: về cơ bản hemixenlulozơ là polisaccarit giống như xenlulozơ nhưng số mắt xích nhỏ hơn Hemixenlulozơ thường bao gốm nhiều loại mắt xích và có chứa các nhóm thế axetyl và metyl

Ligin: là loại polime được tạo ra bới nhiều loại mắt xích phenylpropan Ligin giữ vai trò kết nối giữa xenlulozơ và hemixenlulozơ

1.2 Tổng quan về phân bón

Phân bón là "thức ăn" do con người bổ sung cho cây trồng Trong phân bón chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây Các chất dinh dưỡng chính trong phân là: đạm(N), lân(P), và kali(K) Ngoài các chất trên, còn có các nhóm nguyên tố vi lượng

1.2.1 Thành phần của phân bón

1.2.1.1 Yếu tố dinh dưỡng vô cơ

a Yếu tố đa lượng

Gồm đạm: kí hiệu là N (tính bằng N tổng số), lân: kí hiệu là P (tính bằng

P2O5 hữu hiệu), kali: kí hiệu là K (tính bằng K2O hữu hiệu) dạng dễ tiêu cây trồng có thể dẽ dàng hấp thụ được

b Yếu tố dinh dưỡng trung lượng

Gồm có Canxi (được tính bằng Ca hoặc CaO), Magiê (được tính bằng

Mg hoặc MgO), Lưu huỳnh (được tính bằng S) và Silic (được tính bằng Si hoặc SiO2) dạng dễ tiêu cây trồng có thể dẽ dàng hấp thụ được

c Yếu tố dinh dưỡng vi lượng

Gồm có Bo (được tính bằng B), Coban (được tính bằng Co), Đồng (được tính bằng Cu hoặc CuO), Sắt (được tính bằng Fe), Mangan (được tính bằng

Mn hoặc MnO), Molipđen (được tính bằng Mo) và Kẽm (được tính bằng Zn hoặc ZnO) dạng dễ tiêu cây trồng có thể dẽ dàng hấp thụ được

d Yếu tố dinh dưỡng đất hiếm

Gồm có 17 nguyên tố sau: Scandium (số thứ tự 21), Yttrium (số thứ tự 39) và các nguyên tố trong dãy Lanthanides (số thứ tự từ số 57-71:

Trang 18

Lanthanum, Cerium, Praseodymium, Neodymium, Promethium, Samarium, Europium, Gadolinium, Terbium, Dysprosium, Holmium, Erbium, Thulium, Ytterbium, lutetium) trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học của Mendeleep

1.2.1.2 Yếu tố dinh dưỡng hữu cơ

Bao gồm các thành phần: chất hữu cơ, axit amin, vitamin, axit humic, axit fulvic, …

Ngoài ra, trong phân bón còn có chứa chất giữ ẩm, chất hỗ trợ tăng hiệu suất sử dụng phân bón, chất điều hoà sinh trưởng thực vật, chất phụ gia…

1.2.2 Phân loại phân bón

Có rất nhiều cơ sở để phân loại phân bón như theo thành phần, theo chức năng,

1.2.2.1 Phân loại theo thành phần

Phân bón được chia làm 3 nhóm chính:

 phân hóa học (phân vô cơ)

 phân hỗn hợp

 phân vi sinh

Với sự khác biệt lớn giữa chúng là nguồn gốc, chứ không phải là những

sự khác biệt trong thành phần dinh dưỡng

a Phân bón vô cơ

Gồm phân khoáng thiên nhiên hoặc phân hoá học, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ Bao gồm các loại: phân vô cơ

Trang 19

đa lượng (phân khoáng đơn, phân phức hợp, phân khoáng trộn), phân vô cơ trung lượng, phân vô cơ vi lượng

Có 13 chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu cần thiết đối với sự sinh trưởng

và phát triển của cây trồng:

 3 nguyên tố đa lượng: N, P, K

 3 nguyên tố trung lượng: Ca, Mg, S

 7 nguyên tố vi lượng: Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, B, Cl

 một số nguyên tố khác cần cho cây như Na, Si, Co, Al,…

- Phân vô cơ đa lượng

Phân khoáng đơn: là loại trong thành phần chỉ chứa một yếu tố dinh

dưỡng đa lượng N hoặc P2O5 hữu hiệu hoặc K2O hữu hiệu

Phân phức hợp: là loại phân được tạo ra bằng phản ứng hoá học, có

chứa ít nhất hai (02) yếu tố dinh dưỡng đa lượng

Phân khoáng trộn: là loại phân được sản xuất bằng cách trộn cơ học

từ hai hoặc ba loại phân khoáng đơn hoặc trộn với phân phức hợp, không dùng phản ứng hoá học

- Phân vô cơ trung lượng

Thông thường các nhà máy không sản xuất phân trung lượng riêng mà kết hợp với các loại phân đa lượng Một loại phân đa lượng có thêm phân trung lượng như một hợp phần

Có một số loại phân trung lượng sau:

 Phân lưu huỳnh: phân supe lân chứa 12% S, phân supe hạt kali chứa 18% S, phân amonisunfat (SA) chứa 23% S, phân kali sunfat– magie chứa 16-22% S

 Phân canxi: phân lân nung chảy Văn Điển chứa 28-32% Ca, phân lân NPK Văn Điển chứa 13-14% CaO, phân supe lân chứa 22-23% CaO

 Phân magie: phân lân Văn Điển chứa 17-20% Mg, phân sunfat – magie chứa 5-7% Mg, phân magie borat chứa 19% Mg

- Phân vi lượng

Trang 20

Nguyên tố vi lƣợng là nguyên tố có hàm lƣợng từ 10-4

– 10-5 theo trọng lƣợng chất khô

Gồm:

 Phân Bo: gồm phân axit boric, phân natri borat, magie borat

 Phân đồng

 Phân mangan: gồm mangan sunfat, mangan clorua, kali pecmanganat

 Phân Molipden: gồm natri molipdat, amoni molipdat

 Phân kẽm: gồm kẽm sunfat, kẽm clorua

- Phân hữu cơ chế biến công nghiệp: là loại phân bón đƣợc sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, đƣợc chế biến theo quy trình công nghệ lên men công nghiệp, có hàm lƣợng chất hữu cơ, ký hiệu là HC (tính bằng HC tổng số) và các chỉ tiêu chất lƣợng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

- Phân hữu cơ sinh học: là loại phân bón đƣợc sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, đƣợc xử lý lên men bằng vi sinh vật sống có ích hoặc đƣợc xử lý bằng các tác nhân sinh học khác có các chỉ tiêu chất lƣợng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

- Phân hữu cơ khoáng: là loại phân bón đƣợc sản xuất từ phân hữu cơ chế biến công nghiệp hoặc hữu cơ sinh học trộn thêm một hoặc một số yếu tố dinh dƣỡng vô cơ, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dƣỡng vô cơ đa lƣợng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

- Phân hữu cơ vi sinh: là loại phân bón đƣợc sản xuất từ nguyên liệu hữu

cơ có chứa ít nhất một loại vi sinh vật sống có ích có mật độ và hoạt tính đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

Trang 21

c Phân vi sinh vật

Là loại phân bón trong thành phần có chứa một hoặc nhiều loại vi sinh vật sống có ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải xenlulo, vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật tăng khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác có mật độ và hoạt tính đạt quy định của quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia

1.2.2.2 Phân loại theo chức năng

Phân bón lá: là các loại phân bón thích hợp cho việc phun trực tiếp vào

thân, lá và thích hợp cho cây hấp thu dinh dưỡng qua thân, lá

Phân bón rễ: là các loại phân bón được bón trực tiếp vào đất hoặc vào

nước để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua bộ rễ

1.3 Một số loại phân bón thường dùng

1.3.1 Phân đạm

Là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều, lá có kích thước to, màu xanh, lá quang hợp mạnh do

đó làm tăng năng suất cây

 Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng (giai đoạn cây sinh trưởng mạnh)

Một số loại phân đạm thường dùng như sau:

1.3.1.1 Phân Urê CO(NH 4 ) 2 :

Là loại phân có tỉ lệ N cao nhất chứa 44-48% N nguyên chất Loại phân này chiếm 59% tổng số các loại phân đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới Urê là loại phân có tỷ lệ nitơ cao nhất

Trên thị trường có bán 2 loại phân urê có chất lượng giống nhau:

Trang 22

 Loại tinh thể màu trắng, hạt tròn, dễ tan trong nước, có nhược điểm hút ẩm mạnh Loại có dạng viên, nhỏ như trứng cá

 Loại này có thêm chất chống ẩm nên dễ bảo quản, vận chuyển nên được dùng nhiều trong nông nghiệp

Phân urê có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên nhiều loại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau Phân này bón thích hợp trên đất chua phèn

Phân urê được dùng để bón thúc Có thể pha loãng theo nồng độ 0.5–1.5% để phun lên lá

Trong chăn nuôi, urê được dùng trực tiếp bằng cách cho thêm vào khẩu phần thức ăn cho lợn, trâu bò Phân này cần được bảo quản kỹ trong túi polietilen và không được phơi ra nắng Bởi vì khi tiếp xúc với không khí và ánh nắng urê rất dễ bị phân huỷ và bay hơi Các túi phân urê khi đã mở ra cần được dùng hết ngay trong thời gian ngắn

Trong quá trình sản xuất, urê thường liên kết các phần tử với nhau tạo thành biuret Đó là chất độc hại biuret đối với cây trồng Vì vậy, trong phân urê không được có quá 1,5% biuret (theo Tiêu chuẩn Việt Nam)

1.3.1.2 Phân amoni sunfat

Phân amôn nitrat (NH4NO3) có chứa 33–35% nitơ nguyên chất Ở các nước trên thế giới loại phân này chiếm 11% tổng số phân đạm được sản xuất hàng năm

Phân này ở dưới dạng tinh thể muối kết tinh có màu vàng xám Amôn nitrat dễ chảy nước, dễ tan trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và khó sử dụng Là loại phân sinh lý chua Tuy vậy, đây là loại phân bón quý vì có chứa

cả NH4+

và cả NO3

-, phân này có thể bón cho nhiều loại cây trồng trên nhiều loại đất khác nhau Amoni sunfat bón thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía, ngô…

Phân bón này được dùng để pha thành dung dịch dinh dưỡng để tưới cây trong nhà kính và tưới bón thúc cho nhiều loại rau, cây ăn quả

Trang 23

1.3.1.3 Phân đạm amoni sunfat:

Còn gọi là phân bón SA, sunphat đạm (NH4)2SO4 có chứa 20–21% nitơ nguyên chất Trong phân này còn có 24-25% lưu huỳnh (S) Trên thế giới loại phân này chiếm 8% tổng lượng phân hoá học sản xuất hàng năm Phân này có dạng tinh thể, mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh Phân này có mùi nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi chua Cho nên nhiều nơi gọi là phân muối diêm Sunphat đạm là loại phân bón tốt vì có cả N và lưu huỳnh là hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây

Phân bón này dễ tan trong nước, không vón cục Thường ở trạng thái tơi rời, dễ bảo quản, dễ sử dụng Tuy nhiên, nếu để trong môi trường ẩm phân dễ vón cục, đóng lại thành từng tảng rất khó đem bón cho cây

Có thể đem bón cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại đất khác nhau, miễn là đất không bị phèn, bị chua Nếu đất chua cần bón thêm vôi, lân mới dùng được đạm amoni sunfat Phân này dùng tốt cho cây trồng trên đất đồi, trên các loại đất bạc màu (thiếu S)

Amoni sunfat được dùng chuyên để bón cho các loài cây cần nhiều S và

ít N như đậu đỗ, lạc v.v và các loại vây vừa cần nhiều S vừa cần nhiều N như ngô

Cần lưu ý đạm sunfat là loại phân có tác dụng nhanh, rất chóng phát huy tác dụng đối với cây trồng, cho nên thường được dùng để bón thúc và bón thành nhiều lần để tránh mất đạm

Khi bón cho cây con cần chú ý là phân này dễ gây cháy lá Không nên sử dụng phân đạm sunfat để bón trên đất phèn, vì phân dễ làm chua thêm đất

1.3.1.4 Phân đạm clorua

Phân này (NH4Cl) có chứa 24–25% nitơ nguyên chất Đạm clorua có dạng tinh thể mịn, màu trắng hoặc vàng ngà Phân này dễ tan trong nước, ít hút ẩm, không bị vón cục, thường tơi rời nên dễ sử dụng

Là loại phân sinh lý chua Vì vậy, nên bón kết hợp với lân và các loại phân bón khác

Đạm clorua không nên dùng để bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, vừng, v.v

Trang 24

Ở các vùng khô hạn, ở các chân đất nhiễm mặn không nên bón phân đạm clorua, vì ở những nơi này trong đất có thể tích luỹ nhiều clo, dễ làm cho cây

bị ngộ độc

1.3.1.5 Phân canxi xianamit

Phân này có dạng bột không có tinh thể, màu xám tro hoặc màu trắng, đốt không có mùi khai Canxi xianamit có chứa 20 – 21% N nguyên chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than Vì có than cho nên phân bón có màu xám đen Cũng có loại phân tỷ lệ than thấp hoặc không có than nên phân có màu trắng Cần chú ý chống ẩm cho phân khi bảo quản, bởi vì nếu phân hút ẩm sẽ bị biến chất, hạt phân phình to lên làm rách bao bì và làm hỏng dụng cụ đựng Phân này dễ bốc bụi Khi bám vào da sẽ làm hỏng da, phân bay vào mắt sẽ làm hỏng giác mạc mắt, vì vậy khi sử dụng phân này phải rất cẩn thận

Phân này có phản ứng kiềm, bởi vậy có thể khử được chua, dùng rất tốt

ở các loại đất chua

Canxi xianamit thường được dùng để bón lót Muốn dùng để bón thúc phải đem ủ trước khi bón Bởi vì phân này khi phân giải tạo ra một số chất độc có thể làm hỏng móng chân trâu bò, hại da chân người nông dân Thường sau 7 – 10 ngày các chất độc mới hết Thường canxi xianamit được trộn ủ với phân rác làm cho phân chóng hoai mục Phân này không được dùng để phun lên lá cây

1.3.1.6 Phân photphat đạm (còn gọi là amoni photphat)

Là loại phân vừa có đạm, vừa có lân Trong phân có tỷ lệ đạm là 18%, tỷ lệ lân là 44-50% Phôtphat đạm có dạng viên, màu xám tro hoặc trắng,nói chung màu sắc tùy thuộc vào nhà sản xuất và không ảnh hưởng tới chất lượng

10-Trên thị trường hiện nay đang lưu hành hai loại phân bón ammonphot là DAP(18-46-0)và MAP(10-50-0)

Phân dễ chảy nước Vì vậy, người ta thường sản xuất dưới dạng viên và được đựng trong các bao nilông

Phân rất dễ tan trong nước và phát huy hiệu quả nhanh Phân được dùng

để bón lót, bón thúc đều tốt Phân là loại dễ sử dụng Phân DAP là loại phân

Trang 25

trung tính nên có thể sử dụng trên các loại đất khác nhau, còn phân MAP là loại chua sinh lý(pH: 4-4,5) nên không thích hợp đối với các loại đất chua Phân có tỷ lệ đạm hơi thấp so với lân, cho nên cần bón phối hợp với các loại phân đạm khác, nhất là khi bón cho các loại cây cần nhiều đạm

1.3.2 Phân lân

Có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng Kích thích sự phát triển của rễ, làm cho rễ đâm sâu lan rộng nên cây ít đổ ngã, kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều, tăng đặc tính chống rét, chống hạn, chịu độ chua, chống sâu bệnh hại…

Vai trò:

 Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng, có trong thành phần chính của hạt nhân tế bào, rất cần trong việc hình thành các bộ phận mới của cây

 Lân tham gia vào quá trình hình thành enzyme, các protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axitamin

 Lân kích thích quá trình phân nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa, kết quả sớm và nhiều

 Cải thiện chất lượng nông sản

 Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi cho cây

 Thiếu lân không những làm giảm năng suất cây trồng mà còn hạn chế hiệu qủa của phân đạm

1.3.2.1 Phôtphat nội địa

Đó là loại bột mịn màng, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu nâu nhạt

Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều, từ 15% đến 25% Loại phân thường có trên thị trường có tỷ lệ là 15 – 18%

Trong phân phôtphat nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở dạng khó tiêu đối với cây trồng Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua

Vì lân trong phân ở dưới dạng khó tiêu, cho nên phân chỉ dùng có hiệu quả ở các chân đất chua Ở các chân ruộng không chua, hiệu lực của loại phân này

Trang 26

thấp; ở loại đất này, loại phân này dùng bón cho cây phân xanh có thể phát huy được hiệu lực

Phân này chỉ nên dùng để bón lót, không dùng để bón thúc Khi sử dụng

có thể trộn với phân đạm để bón, nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không được để lâu Phân này dùng để ủ với phân chuồng rất tốt Phân phôtphat nội địa ít hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể cất giữ được lâu Vì vậy, bảo quản tương đối dễ dàng

1.3.2.2 Supe lân

Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên

Trong supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất Ngoài ra, trong phân này

có chứa một lượng lớn thạch cao Trong phân còn chứa một lượng khá lớn axit, vì vậy phân có phản ứng chua Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây

dễ sử dụng Phân thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi Supe lân có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được Phân này có thể sử dụng để bón

ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân Supe lân có thể dùng

để ủ với phân chuồng Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng Có thể dùng phôtphat nội địa hoặc apatit Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15% Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua của supe lân thì dùng 10 – 15%, nếu dùng vôi thì tỷ lệ là 5 – 10% Phân supe lân thường phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây Phân này có thể dùng để hồ phân rễ mạ Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể

bị nhão và vón thành từng cục Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt

1.3.2.3 Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy)

Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh Tỷ lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20% Ngoài ra trong phân còn có

Trang 27

canxi 30% một ít thành phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%, có khi có cả kali

Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất Phân này không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu Cây sử dụng dễ dàng Phân có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt Tecmô phôtphat phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì phân có phản ứng kiềm Phân sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu vì phân chứa nhiều vôi, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali Phân này thường được bón rải, ít khi bón tập trung và ít được sản xuất dưới dạng viên Không sử dụng tecmô phôtphat để hồ phần rễ mạ Tecmô phôtphat ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng

1.3.2.4 Phân lân kết tủa

Phân có dạng bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi bột Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27 – 31% Ngoài ra trong thành phần của phân có một ít canxi Phân này được sử dụng tương tự như tecmô phôtphat Phân ít hút ẩm cho nên bảo quản dễ dàng

1.3.3 Phân kali

Là nhóm phân bón cung cấp chất dinh dưỡng kali cho cây

Vai trò:

 Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá

trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây

 Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không

lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh

 Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu

hạn, chịu rét

 Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của

cây

 Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả làm cho màu sắc quả đẹp

tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả

Trang 28

 Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng đường

trong mía

Để sử dụng hợp lý phân kali cần chú ý đến những điều sau đây:

 Bón kali ở các loại đất trung tính dễ làm cho đất trở nên chua Vì vậy

ở các loại đất trung tính nên kịp thời bón thêm vôi

 Kali nên bón kết hợp với các loại phân khác

 Kali có thể bón thúc bằng cách phun dung dịch lên lá vào các thời gian cây kết hoa, làm củ, tạo sợi

 Có thể bón tro bếp để thay thế phân kali

 Bón quá nhiều kali có thể gây tác động xấu lên rễ cây, làm cây teo rễ Nếu bón quá thừa phân kali trong nhiều năm, có thể làm cho mất cân đối với natri, magiê Khi xảy ra trường hợp này cần bón bổ sung các nguyên tố vi lượng magiê, natri

Một số loại phân kali:

1.3.3.1 Phân kali clorua

Phân có dạng bột màu hồng như muối ớt Nông dân ở một số nơi gọi là phân muối ớt Cũng có dạng clorua kali có màu xám đục hoặc xám trắng Phân được kết tinh thành hạt nhỏ

Hàm lượng kali nguyên chất trong phân là 50 – 60% Ngoài ra trong phân còn có một ít muối ăn (NaCl) Clorua kali là loại phân chua sinh lý Phân này khi để khô có độ rời tốt, dễ bón Nhưng nếu để ẩm phân kết dính lại với nhau khó sử dụng Hiện nay, phân clorua kali được sản xuất với khối lượng lớn trên thế giới và chiếm đến 93% tổng lượng phân kali

Cloria kali có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trên nhiều loại đất khác nhau Có thể dùng phân này để bón lót hoặc bón thúc Bón thúc lúc cây sắp ra hoa làm cho cây cứng cáp, tăng chất lượng nông sản Clorua kali rất thích hợp với cây dừa vì dừa là cây ưa clo Không nên dùng phân này để bón vào đất mặn, là loại đất có nhiều clo, và không bón cho thuốc lá là loại cây không ưa clo Phân này cũng không nên dùng bón cho một số loài cây hương liệu, chè,

cà phê, vì phân ảnh hưởng đến chất lượng nông sản

Trang 29

1.3.3.2 Phân kali sunfat

Phân có dạng tinh thể nhỏ, mịn, màu trắng Phân dễ tan trong nước, ít hút ẩm nên ít vón cục Hàm lượng kali nguyên chất trong sunphat kali là 45 – 50% Ngoài ra trong phân còn chứa lưu huỳnh 18%

Phân này có thể sử dụng thích hợp cho nhiều loại cây trồng Sử dụng có hiệu quả cao đối với cây có dầu, rau cải, thuốc lá, chè, cà phê Sunphat kali là loại phân chua sinh lý Sử dụng lâu trên một chân đất có thể làm tăng độ chua của đất Không dùng sunphat kali liên tục nhiều năm trên các loại đất chua, vì phân có thể làm tăng thêm độ chua của đất

1.3.3.3 Một số loại phân kali khác

Phân kali – magie sunphat có dạng bột mịn màu xám Phân có hàm lượng K2O: 20 – 30%; MgO: 5 – 7%; S: 16 – 22% Phân này được sử dụng có hiệu quả trên đất cát nghèo, đất bạc màu

Phân "Agripac" của Canada có hàm lượng K2O là 61% Đây là loại phân khô, hạt to, không vón cục, dễ bón, thường được dùng làm nguyên liệu để trộn với các loại phân bón khác sản xuất ra phân hỗn hợp

Muối kali 40% có dạng muối trắng kết tinh có lẫn một ít vảy màu hồng nhạt Ngoài hàm lượng kali chiếm 40% trong khối lượng phân, trong thành phần của phân còn có muối ăn với tỷ lệ cao hơn muối ăn trong phân clorua kali Phân này cần được sử dụng hạn chế trên các loại đất mặn

1.3.4 Phân hỗn hợp và phân phức hợp

Trên thị trường hiện có các loại sau: loại 2 yếu tố (N-P, N-K, P-K), loại

3 yếu tố (N-P-K), loại 4 yếu tố (N-P-K-Mg)

1.3.4.1 Phân NP: gồm các thương hiệu sau:

Phân Amophor: tỉ lệ N:P:K là 1:1:0 chứa 18% N và 18% P2O5, dạng viên rời, dùng để bón cho đất phù sa, đất phèn

Phân Diamophor (DAP): tỉ lệ N:P:K là 1:2,6:0 chứa 18% N, 40% P2O5, thích hợp cho đất phèn, đất bazan

Phân hỗn hợp: 20:20:0; 23:23:0; 10:10:0 dùng để bón lót

1.3.4.2 Phân NK: gồm

Phân kali nitrat: chứa 13% N, 45% K2O, dùng để bón cho đất nghèo kali

Trang 30

Phân hỗn hợp: 30:0:10; 20:0:20; 20:0:10 dùng để bón vào cuối thời kỳ sinh trưởng của cây

Phân Amsuka: có tỉ lệ NPK là 1:0,4:0,8 được sản xuất bằng cách trộn

amôn với supe lân đã trung hòa vào muối KCl

Phân nitro phoska: có 2 loại:

 Loại có tỉ lệ NPK là 1:0,4:1,3 được sản xuất bằng cách trộn muối nitrat với axit photphoric; chứa 13% N, 5,7% P2O5, 17,4% K2O

 Loại có tỉ lệ NPK là 1:0,3:0,9 được sản xuất bằng cách trộn muối nitrat với axit sunphuric; chứa 13,6% N, 3,9% P2O5, 12,4% K2O

Phân Amphoska: có tỉ lệ NPK là 1:0,1:0,8 chứa 17% N, 7,4% P2O5, 14,1% K2O

Phân viên NPK Văn Điển: có tỉ lệ NPK là 5:10:3 trong phân ngoài chứa

NPK còn có 6,7% MgO, 10-11% SiO2, 13-14% CaO

Phân hỗn hợp NPK 3 màu: do nhà máy phân bón Bình Điền 2 sản xuất,

có các dạng: 15:15:15; 20:20:15; 15:10:15; 16:16:8; 14:8:6; 15:15:6

Phân tổng hợp NPK: do nhà máy phân bón Đồng Nai sản xuất, gồm các

dạng: 16:16:8; 14:8:6; 10:10:5; 15:15:20

1.3.5 Phân hữu cơ

Phân hữu cơ là hợp chất hữu cơ dùng làm trong nông nghiệp, hình thành

từ phânngười, phân động vật, lá và cành cây, than bùn, hay các chất hữu

cơ khác thải loại từ nhà bếp Phân bón giúp tăng thêm độ màu mỡ cho đất bằng cách cung cấp thêm các chất hữu cơ và bổ dưỡng

1.3.5.1 Phân hữu cơ truyền thống

Phân hữu cơ truyền thống là loại phân có nguồn gốc từchất thải của người, động vật hoặc từ các phế phụ phẩm trồng trọt,chăn nuôi, chế biến nông, lâm, thủy sản, phân xanh, rác thải hữucơ, các loại than bùn được chế

Trang 31

biến theo phương pháp ủ truyềnthống Có thể chia phân hữu cơ truyền thống

ra làm 4 nhóm: phân chuồng, phân rác, than bùn và phân xanh

a Phân chuồng

Có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng đa, trung và vi lượng mà một loại phân bón vô cơ không có được Ngoài ra, phân chuồng cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp hơn, bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế nước bốc hơi, chống được hạn, xói mòn Tuy nhiên, phân chuồng cũng có nhược điểm như: hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí vận chuyển cao, ngoài ra nếu không chế biến

kỹ có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng

Phân chuồng thường được nhà nông tự sản xuất chế biến

b Phân rác:

Loại phân này làm từ rơm, rạ; thân lá các cây ngô, đậu, đỗ, vỏ lạc, trấu,

bã mía, chặt thành đoạn ngắn 20-30 cm, có thể ngâm nước vôi loãng 2-3 ngày trước khi ủ

Tùy theo nguyên liệu và kỹ thuật ủ, thànhphần trung bình của phân rác là

Có 2 chỉ tiêu vật lý là sức chứa ẩm và mức độ phân giải để đánh giá chất lượng than bùn phục vụ cho sản xuất phân bón Kết quả nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa giai đoạn năm 2002-2003 với 224 mẫu than bùn ở 3 vùng trong nước ta cho thấy:

- Hầu hết các mẫu than bùn đều có độ ẩm cao, trung bình là 42,1%, cao nhất là: 58,0% và thấp nhất là: 17,9%, trong đó, ở miền Bắc là 30,7%; vùng

Trang 32

duyên hải Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Tây Nguyên là 48,5% và ở Đồng bằng sông Cửu Long 28,2% Do độ ẩm cao nênnếu sử dụng than bùn làm phân bón thì phải tốn chi phí để sấy

- Các mẫu than bùn đều khá nhuyễn, mức độ phân giải trungbình là 35,3% khối lượng mẫu là nhỏ hơn 0,2 mm; cao nhất là44,8% và thấp nhất là 25,3% và thích hợp cho sản xuất phân bón

- Mức độ phân giải ở các mỏ là tương đối giống nhau và càng xuống sâu thì khả năng phân giải càng cao

Bón phân từ nguồn gốc than bùn có tác dụng cải tạo đất tốt song khối lượng lớn do hàm lượng chất dinh dưỡng thấp

d Phân xanh

Phân xanh là tên gọi chung các cây hoặc lácây tươi được ủ hay vùi thẳng xuống đất để bón ruộng Đồng thời với tác dụng làm phân bón, cây phân xanh

có thể phủ đất, chống xói mòn, bảo vệ đất và làm cây che bóng

Trong quá trình phân giải của cây phân xanh (vùi trong đất)nhất là ở điều kiện ngập nước, thường phát sinh ra nhiều hợp chất độc hại đối với cây như

H2S, axit butiric, CH4, C2H2, v.v do đó,cần bón vôi, lân kèm theo để hạn chế

e Các loại phân hữu cơ khác

Phân bắc có chất lượng cao, nhưng cần ủ kỹ hoặc sát trùng trước khi

dùng Bình quân 1 người lớn thải ra trong 24 giờ là 133 g phân tươi, gồm có

25 g chất khô, 2g N, 4,5 g tro, 1,35 g P2O5 và 0,64 g K2O Phân gia cầm có thể

là phân gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu Tỷ lệ % trong phân tươi của các gia cầm biến động như sau: Nước: 56,0-77,5%; N: 0,55-1,76%;P2O5: 0,54-1,78%;

K2O: 0,62-1,00%; CaO: 0,84-2,40%; MgO:0,20- 0,74%

Bùn ao, bùn hồ, bùn sông có hàm lượng mùn trung bình là: 4,90% (dao

động trong khoảng 1,65 –14,90%), N tổng số:0,23% (dao động 0,11 –0,52%),

P2O5 tổng số: 0,29% (dao động0,21- 0,48%), K2O tổng số: 0,40% (dao động 0,13-0,70%), H2S trung bình là 7,1 mg/100 g bùn (dao động 3,4 -13,6 mg/100 g) nên có thể bón cho cấy trồng

Trang 33

Nước phù sa: Như chúng ta đã biết thuật ngữ “Phù sa” là chỉ hạt đất có

kích thước từ thô đến mịn do bị cuốn theo các dòng chảy (sông, suối) và được lắng đọng ở ven sông, cửa sông hay gần bờ biển Nước sông Hồng chứa trung bình 0,5 kg/m3 phù sa lúc bình thường và đến tháng 6, khi bắt đầu có lũ thì lên 1,8 kg/m3 và lũ to có thể đến 3,5 kg/m3 Thành phần phù sa sông Hồng như sau:pH 7,4-7,6; mùn –0,84-1,36%; N tổng số 0,10-0,15%; P2O5 tổng số 0,13-0,17%; K2O tổng số: 0,95- 1,43% Như vậy sử dụng nước phù sa để tưới đã cung cấp cho cây trồng, cho đất một lượng chất hữu cơ và một số các nguyên

tố dinh dưỡng

Khô dầu: là bã còn lại sau khi hạt đã ép lấy dầu Tùy theo thành phần

của mỗi loại khô dầu mà nông dân đã sử dụng như loại phân hữu cơ bón vào đất để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng

Tro: Tro là chất còn lại của một số vật sau khi cháy hết và thường có

màu xám Trong nông nghiệp một số nguyên liệu thực vật như cây: sắn, bông, ngô, lá dừa, mạt cưa, v.v sau khi bị đốt có tỷ lệ tro và chất dinh dưỡng khá

cao

1.3.5.2 Phân hữu cơ công nghiệp

Phân hữu cơ công nghiệp là một loại phân được chế biến từ các nguồn hữu cơ khác nhau để tạo thành phân bón tốt hơn so với bón nguyên liệu thô ban đầu Hiện nay có thể chia ra 5 loại phân hữu cơ công nghiệp, đó là: phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ

vi sinh

a Phân hữu cơ chế biến

Là loại phân bón được sản xuất chủ yếutừ các nguồn nguyên liệu hữu cơ với tiêu chuẩn như sau: ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 22%; hàm lượng đạm tổng số (Nts) không thấp hơn2,5%; pHH2O (đối với phân hữu cơ bón qua lá) trong khoảng từ 5-7

b Phân hữu cơ khoáng

Là loại phân được sản xuất từnguyên liệu hữu cơ phối trộn thêm một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng khoáng, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh

Trang 34

dưỡng khoáng đa lượng Tiêu chuẩn bắt buộc của loại phân này như sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%; ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượng Nts + P2O5hh + K2Ohh; Nts + P2O5hh; Nts +

K2Ohh; P2O5hh + K2Ohh không thấp hơn 8%

c Phân hữu cơ sinh học

Là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ theo quy trình lên men

có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác Tiêu chuẩn của phân hữu cơ sinh học như sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 22%; độ ẩm đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượng Nts không thấp hơn 2,5%; hàmlượng axit humic (đối với phân chế biến từ than bùn) không thấp hơn 2,5% hoặc tổng hàm lượng các chất sinh học (đối với phân chế biến từ nguồn hữu cơ khác) không thấp hơn 2,0% hoặc

pH2O (đốivới phân hữu cơ sinh học bón qua lá) trong khoảng từ 5-7 Nếu phân

có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thì tổng hàm lượng các chất này không vượt quá 0,5%

d Phân vi sinh:

Là loại phân trong thành phần chủ yếu có chứa một hay nhiều loại vi sinh vật sống có ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali, phân giải xenlulozơ, vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật tăng khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác với mật độ phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật đã ban hành là mật độ mỗi chủng VSV có ích không thấp hơn 1x 108 CFU/g (ml)

Trên cơ sở tính năng tác dụng của các chủng loại VSV sử dụng, phân bón VSV còn được gọi dưới các tên:

- Phân VSV cố định nitơ (phân đạm vi sinh, nitragin) chứa các VSV sống cộng sinh với cây bộ đậu, hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng nitơ (N) từ không khí tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng

- Phân VSV phân giải hợp chất phốt pho khó tan (phân lân vi sinh photphobacterin) sản xuất từ các VSV có khả năng chuyển hóa các hợp chất phốtpho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng

Trang 35

- Phân VSV kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật chứa các VSV có khả năng sản sinh hoạt chất sinh học có tác dụng điều hòa, kích thích quá trình trao đổi chất của cây

- Phân VSV có chứa các chủng VSV đối kháng vi khuẩn / vi nấm gây bệnh vùng rễ cây trồng cạn

- Phân VSV đa chủng, phân VSV chức năng có chứa hỗn hợp các VSV

có khả năng cố định nitơ, phân giải phốt phát khó tan, sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật và đốikháng vi khuẩn/vi nấm gây bệnh vùng rễ cây trồng có tác dụng cung cấp dinh dưỡng và nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng, đồng thời có khả năng hạn chế bệnh vùng rễ cây trồng do vi khuẩn hoặc vi nấm gây ra, qua đó nâng cao năng suất nông sản và hiệu quả kinh tế

e Phân hữu cơ vi sinh

Là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có chứa ít nhất một chủng vi sinh vật sống có ích với mật độ phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật đã ban hành, cụ thể như sau: hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%; ẩm

độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 30%; mật độ mỗi chủng VSVcó ích không thấp hơn 1 x 106 CFU/g (ml)

Đối với tất cả các loại phân hữu cơ công nghiệp, các chỉ tiêu định lượng bắt buộc trong phân bón như sau: asen (As) không vượt quá 3,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; cadimi (Cd) không vượt quá 2,5mg/kg (lit) hoặc ppm; chì (Pb) không vượt quá 300,0 mg/kg (lit)hoặc ppm; thủy ngân (Hg) không vượt quá

2,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; mật độ tế bào vi khuẩn Salmonella không phát hiện

trong 25 ghoặc 25 ml mẫu kiểm tra (CFU)

1.4 Tác dụng của phân bón

Việc bón phân hợp lý cho cây trồng mang lại nhiều lợi ích như: tăng năng suất, phẩm chất nông sản; ổn định và tăng độ phì của đất; tăng thu nhập cho người sản xuất bảo vệ môi trường

1.4.1 Tác dụng của phân bón đối với cây trồng

Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng phát triển Nếu chỉ lấy từ đất thì cây trồng hoàn toàn không đủ chất

Trang 36

dinh dưỡng mà phải lấy thêm phần lớn từ phân bón Phân bón chính là thức

ăn nuôi sống cây trồng Điều tra tổng kết ở khắp nơi trên thế giới đều cho thấy trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, bón phân luôn là biện pháp có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất cây trồng

Theo tổ chức FAO, trong thập niên 70-80 của thế kỷ XX, trên phạm vi trên toàn thế giới trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng nông sản tăng thêm Ở nước ta, cho đến năm 1990, trung bình phân bón làm tăng 35% tổng sản lượng, bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thu được 13 tấn hạt ngũ cốc Bón phân cân đối và hợp lý còn làm tăng chất lượng nông sản, cụ thể là làm tăng hàm lượng chất khoáng, protein, đường và vitamin cho sản phẩm Tuy nhiên, nếu thiếu chất dinh dưỡng hoặc bón quá nhiều và không cân đối cũng có thể làm giảm năng suất và chất lượng nông sản

1.4.2 Tác dụng của phân bón đối với đất và môi trường

Bón phân làm tăng độ phì nhiêu cho đất, đất tốt hơn, cân đối hơn, đặc biệt phân hữu cơ và vôi là biện pháp cải tạo đất rất hữu hiệu Ở những đất có

độ phì nhiêu tự nhiên ban đầu thấp, tức là đất xấu thì việc bón phân càng có tác dụng rõ Việc sử dụng các chất phế thải trong các hoạt động đời sống vủa người và động vật, chất phế thải của công nghiệp để làm phân bón góp phần hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường Tuy vậy bón phân không hợp

lý, không đúng kỹ thuật có thể làm cho đất xấu đi hoặc gây ô nhiễm môi trường, phân hữu cơ có thể tạo ra nhiều các chất CH4, CO2, NH3, NO3, phân

vô cơ tạo ra nhiều đạm ở thể khí làm đất trở nên độc với cây trồng và ô nhiễm không khí, nguồn nước

1.4.3 Tác dụng của phân bón đối với hệ thống xử lí biện pháp trồng trọt

Sử dụng phân bón có liên quan đến hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác

Ví dụ: Sử dụng giống mới cần kết hợp với bón phân hợp lý và đầy đủ Ngược lại, các biện pháp kỹ thuật khác cũng ảnh hưởng đến hiệu lực của phân bón

Ví dụ: Chế độ nước không thích hợp hoặc kỹ thuật làm đất kém có thể làm giảm 10-20% hiệu lực phân bón

Trang 37

1.4.4 Tác dụng đối với thu nhập của người sản xuất

Do làm tăng năng suất và chất lượng nông sản nên sử dụng phân bón hợp lý làm tăng thu nhập cho người trồng trọt

Ngày đăng: 27/06/2018, 18:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w