HIỆN TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG VỀ PTBV CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY Trong quá trình hội nhập quốc tế, vào năm 1991, Việt Nam đã thông qua " Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát tri
Trang 1Đề Tài Tiểu Luận Môn Chính Trị Học Phát Triển
Đề số 8 : Lý thuyết phát triển bền vững Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
Bài làm :
I) Phát triển bền vững là truyền thống của các Dân tộc Việt Nam
Pierre Gourou, nhà địa lý học nổi tiếng trên thế giới, chuyên gia về các vùngnhiệt đới ẩm, đã đề xuất một khái niệm về văn minh của loài người Ông chorằng,Việt Nam có truyền thống hàng nhiều thế kỷ về PTBV Một nền văn hoá cóhiệu suất cao về mật độ, không gian và thời gian (Pierre Gourou, 1982) Vớikhái niệm này nền văn hoá đồng nghĩa với khả năng duy trì cuộc sống của conngười Sự duy trì này không hoàn toàn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiênđược duy trì Các châu thổ các sông tại các vùng nhiệt đới khác nhau trên thếgiới hầu như có điều kiện đất đai, thuỷ văn, khí hậu tương tự như nhau, nhưng
có khả năng duy trì rất khác nhau Mật độ dân số trung bình của các châu thổnhiệt đới ở Châu Phi và Nam Mỹ là 14 người/km2, ở Châu Á là 170 người/km2.Tại Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH), mật độ này là 430 người vào năm 1931;
650 người vào năm 1975 và vào khoảng 1.238 người/km2 hiện nay ĐBSH rộng15.000 km2 Khả năng duy trì cuộc sống lâu dài này đã lôi cuốn sự chú ý củanhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau: địa lý; lịch sử;
nhân học; kinh tế Ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài "nền văn hoá sông Hồng", "nền văn minh lúa nước", “phương thức sản xuất Châu Á” là thuật
ngữ đã được dùng để chỉ rõ đặc trưng về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và mốiquan hệ giữa con người với tài nguyên thiên nhiên trên ĐBSH Đó là do:
- Người dân đã sử dụng các công nghệ với những đặc điểm tiêu tốn ítnăng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo của mặt trời, thuỷ lực, gió, thuỷ triều; sửdụng vật liệu tái tạo, tìm được tại chỗ hoặc gần nơi sản xuất; sử dụng, tái chế tất
Trang 2cả các phế thải, phụ phẩm của quá trình sản xuất và tiêu dùng Trong vườn nhàcủa người nông dân ĐBSH tài nguyên đất được sử dụng 2-3 vụ mỗi năm, nguồnnước được sử dụng nhiều lần từ dùng để uống, đun nấu, rửa đến tưới vườn,ruộng Năng lượng mặt trời được dùng để phơi sấy, năng lượng thuỷ triều đểtưới tiêu, gió để đẩy thuyền; nhiệt lượng từ không khí để biến thực phẩm qualên men Nhiều vật liệu xây dựng lấy từ cây cỏ, tre nứa Nước bẩn từ nhà bếp,nhà vệ sinh chảy về vườn, ruộng
- Sự tạo lập nên những giá trị văn hoá đề cao sự tự tôn trong lao động sảnxuất, tiết kiệm trong tiêu thụ và sử dụng tài nguyên, tránh những hành động canthiệp vào cân bằng và hài hoà của thiên nhiên Trong xã hội truyền thống ở ViệtNam, người có học được đặt vào vị trí cao nhất (nhất sĩ) người nông dân đượcđặt ở vị trí thứ hai(nhì nông) Kham khổ, tiết chế trong ăn, mặc, ở, được xem làđức tính quan trọng, ăn chay, cấm sát sinh là những tập quán phổ biến trong tín
đồ phật giáo
- Một hệ thống xã hội phát triển tinh thần đoàn kết, tương trợ trong nhân dân,tạo nên khả năng huy động tài sản của cộng đồng hoặc của cá nhân nhằm đảmbảo cho những việc công ích, kể cả việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, phòngchống thiên tai và bảo vệ môi trường (BVMT) đang là cơ sở tổ chức xã hội này
- Từ kinh nghiệm nhiều thế kỷ tại ĐBSH có thể thấy rằng PTBV là có khả nănghiện thực Tính hiện thực này dựa trên sự tổ hợp của lựa chọn đúng đắn điềukiện thiên nhiên, sử dụng công nghệ "sạch" thích hợp và hình thành một nềnvăn minh hoá PTBV
Chiến lược PTBV do IUCN, UNEP, WWWF soạn thảo xác định: "Đạo đức tạonên một cơ sở cho PTBV" Dựa trên nền tảng này, các tổ chức trên đề nghị: "Phải đề cao đạo đức của thế giới về PTBV; mở rộng và tăng cường giáodục môi trường; thừa nhận và cải tiến ý thức tập thể và cộng đồng về PTBV;
Trang 3chấp nhận luật pháp và sáng kiến củng cố các biện pháp PTBV"(IUCN,UNEP,WWF,1989).
Gần đây, quốc tế lại đánh giá cao về hệ thống lúa nước có tưới và xem làmột hệ thống canh tác bền vững nhất do người Việt Nam sáng tạo Đó là do:
1 Là một hệ canh tác bền vững, ổn định về năng suất và an toàn để đầu tưthâm canh Hệ thống tưới tiêu đã nhân tạo hoá một phần điều kiện tự nhiên đểcanh tác lúa nước
2 Hạn chế lũ lụt: đê điều nhằm bảo vệ các cánh đồng lúa khỏi bị ngập lụt,nhưng mặt khác cần thấy tác động ngược lại là chính cánh đồng lúa đã góp phầnhạn chế lũ lụt Có thể xem vai trò các cánh đồng lúa như các hồ chứa nước vàBVMT có giá trị tương đương như các hồ chứa nước nhất là các cánh đồng cao,
ít bằng phẳng
3 Duy trì tài nguyên nước: Các cánh đồng lúa luôn lưu giữ lớp nước trên
bề mặt trải rộng trên diện tích lớn của lãnh thổ, nhờ đó đã tác động tích cực đếnchế độ nước ngầm Nước ngầm được cánh đồng lúa duy trì đã góp phần ổn địnhlưu lượng các dòng sông mùa cạn và duy trì mực nước ngầm cho các giếngnước sinh hoạt
4 Làm trong sạch môi trường (đất và khí quyển) và tạo cảnh quan đẹpcho vùng quê Các cánh đồng lúa và kể cả cánh đồng màu, các vườn cây đã tiêuthụ, phân giải các rác thải góp phần giảm thiểu ô nhiễm đất Đối với việc làmsạch không khí ngoài chức năng điều tiết khí CO2, các cánh đồng lúa còn hấpthu các khí độc như SO2 và NO2 Các hệ thống canh tác RVAC, nông lâm nghiệpkết hợp, xen canh, luân canh, làm ruộng bậc thang ở những vùng cao đều lànhững sáng tạo truyền thống của các dân tộc Việt Nam trong sử dụng bền vữngcác nguồn tài nguyên thiên nhiên và BVMT
Trang 4Như vậy, định hướng chiến lược để PTBV ở Việt Nam rất phù hợp với truyềnthống của người dân Việt Nam và nếu có những giải pháp phù hợp sẽ khơi dậymạnh mẽ truyền thống cao đẹp này.
II HIỆN TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG VỀ PTBV CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Trong quá trình hội nhập quốc tế, vào năm 1991, Việt Nam đã thông qua "
Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền 1991-2000" Tiếp đó,
đây là một trong những hoạt động đầu tiên ở tầm quốc gia về PTBV Ngày17/8/2004 Chính phủ đã ra quyết định số 153/2004/TTg ban hành văn bản
"Định hướng Chiến lược về phát triển bền vững ở Việt Nam - (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)" Nội dung của Định hướng chiến lược về PTBV bao
gồm mục tiêu dài hạn, những nguyên tắc, những lĩnh vực ưu tiên,những địnhhướng về chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện PTBV Định hướng chiếnlược đề ra khung chính sách để các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hộithiết kế và thực hiện chương trình hành động tiến tới PTBV của mình
Định hướng chiến lược đã đề ra một số giải pháp nhằm tổ chức thực hiệnchính như sau:
1 Phát triển hệ thống thể chế phù hợp với những yêu cầu PTBV, bao gồmhoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách và các văn bản pháp luật và xây dựng cơchế phối hợp hoạt động giữa các Bộ, Ngành, địa phương
2 Tăng cường năng lực quản lý PTBV của đội ngũ cán bộ
3 Huy động toàn dân tham gia thực hiện PTBV, thấm nhuần phươngchâm " PTBV là sự nghiệp của toàn dân"
4.Xây dựng và thực hiện chương trình hành động về PTBV của ngành vàđịa phương
Trang 55 Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực PTBV vàBVMT.
Chương trình nghị sự 21 của Việt nam (CTNS21) đánh dấu một thời kỳ mới
thực hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam Đó là "Phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" Đối với Việt Nam, đây là một cách tiếp cận mang
tính hệ thống, dài hạn, bảo đảm sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,môi trườngtheo hướng bền vững
Thời gian qua, để đưa những định hướng của chiến lược vào cuộc sống được sự
hỗ trợ của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Cơ quan phát triểnQuốc tế Đan Mạch (DANIDA), Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA)cùng các tổ chức quốc tế khác, Dự án "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chươngtrình nghị sự 21 quốc gia của Việt nam - VIE/01/021 do Bộ Kế hoạch và Đầu tưchủ trì thực hiện với sự phối hợp của các Bộ, Ngành, địa phương đã triển khainhiều hoạt động đến các tỉnh, thành và huyện, nhiều phương pháp tiếp cận, xâydựng và đánh giá định lượng các mô hình PTBV đã ra đời, trong đó phải kể đếncác phương pháp xây dựng ma trận: "Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Đáp ứng"
đã trở thành phổ biến trong đánh giá tiến bộ về PTBV Bên cạnh đó, Dự ánVIE/01/021 đã lần lượt ban hành 10 chuyên đề, bước đầu kiến nghị Bộ chỉ tiêukhởi đầu VN0 ở 2 cấp Quốc gia và các địa phương
Trang 6Bảng 1 Các mô hình về Phát triển Bền vững ở Việt nam
Lĩnh vực Mô hình Số lượng mô hình
đã được nghiên cứu
Khả năng mở rộng mô hình
Công nghiệp Sản xuất sạch hơn
3 23
Lưu vực PTBV lưu vực 1 20
Trang 7sông sông(lưu vực)
Nguồn: Hội BVTN và MT Việt Nam, 2006
Nhìn lại quá trình gần 5 năm thực hiện những nhiệm vụ đã nêu trong địnhhướng, Hội BVTN&MT Việt Nam với tư cách là tổ chức phản biện phi Chínhphủ nhận thấy, kể từ khi Quyết định 153 của Chính phủ được ban hành, ViệtNam đã đạt được bước tiến khá dài trên con đường đi tới mục tiêu phát triển bềnvững (PTBV) Có thể kể ra đây những kết quả chính như sau:
1 Phát triển hệ thống thể chế phù hợp với yêu cầu PTBV
Chủ trương PTBV được các cơ quan lãnh đạo Đảng và Quốc Hội tích cựchưởng ứng và PTBV đã trở thành một quan điểm chủ đạo trong đường lối vàchính sách phát triển dài hạn của Việt Nam thông qua việc lồng ghép một số chỉtiêu cơ bản vào kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006-2010 Một số biện pháp
về tổ chức và thể chế cho PTBV đã được thành lập: sự hình thành Hội đồngPTBV quốc gia theo quyết định số 1032/QĐ/TTg ngày 27/9/2005 của Thủtướng Chính phủ và Văn phòng PTBV đặt trong Bộ KH&ĐT(Văn phòng 21) cónhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo thống nhấtviệc thực hiện trong phạm vi cả nước Chiến lược PTBV
2 Tăng cường năng lực quản lý PTBV của đội ngũ cán bộ
Trong những năm qua nhiều cuộc hội thảo, lớp tập huấn đã được tổ chức
ở tất cả các vùng, miền trong cả nước để phổ biến nội dung của Định hướngChiến lược PTBV Đặc biệt ở 6 tỉnh tiến hành thí điểm (Thái Nguyên, Sơn La,Ninh Bình, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bến Tre)
3 Huy động được một bộ phận dân chúng tham gia thực hiện PTBV
Trang 8Thời gian qua các Tổ chức Quốc tế quan tâm giúp đỡ nhiều tài liệu, mởcác lớp tập huấn, các Dự án lớn cùng với những phương tiện thông tin đạichúng đã tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền PTBV Kiến thức vềPTBV cũng được hệ thống hoá và bước đầu đưa vào giảng dạy trong một số cơ
sở đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt của bộ máy nhà nước như Học viện chính trịHCM, Học viện Hành chính quốc gia; đã tổ chức và giao cho ĐHQG Hà Nội vàHọc viện chính trị tại Tp.HCM biên soạn 2 tài liệu về PTBV mang tính nghiêncứu, bước đầu đã sử dụng những tài liệu này để giảng dạy và tham khảo ở cácđơn vị này.Ngoài ra, Liên hiệp các Hội Khoa Học& Kỹ thuật Việt Nam(VUSTA) phối hợp với VACNE đã biên soạn tài liệu tập huấn bao gồm chủ đề
về PTBV và đã tiến hành các lớp tập huấn ở một số tỉnh thành trong cả nướccho các Hội viên của Hội
4 Xây dựng và thực hiện chương trình hành động về PTBV của ngành và địa phương
Cụ thể, Thông tư hướng dẫn các Ngành và địa phương xây dựng
Chương trình nghị sự 21 cấp Ngành và địa phương đã được Bộ KH &ĐT banhành 2005 (Thông tư 01/2005/TT-BKH ngày 9/3/2005) Theo tinh thần củaThông tư này, 6 tỉnh nói trên đã được Dự án VIE/01/021- Bộ KH&ĐT triểnkhai thí điểm thực hiện quy trình mẫu xây dựng CTNS21 của tỉnh Các tỉnh cònlại, trong đó có Hà Nội, một số cũng đã và đang tiến hành xây dựng CTNS21của địa phương mình Tại các tỉnh làm thí điểm đã thành lập Uỷ Ban PTBV do
1 Phó Chủ tịch tỉnh làm chủ nhiệm, Giám đốc Sở KH&ĐT làm Phó Chủ nhiệm.Tại những địa phương, hoặc ngành này nhiều mô hình trình diễn về PTBV đãđược thực hiện và VACNE đã tổng kết để phổ biến (bảng 1)
Cụ thể, mô hình xây dựng Hương ước làng bản về PTBV, phổ biến các
mô hình nông nghiệp kết hợp với bảo vệ rừng ở tỉnh Sơn La; phổ biến cácphương thức thực hiện nông nghiệp bền vững trong việc trồng trọt và chế biến
Trang 9chè sạch ở 2 tỉnh Thái Nguyên và Lâm Đồng; xây dựng Quy ước cộng đồng đểthực hiện du lịch sinh thái bền vững ở Ninh Bình; phổ biến quy trình tạo nănglượng sạch trong cộng đồng nghèo ở Quảng Nam; phương thức nuôi tôm sinhthái ở Bến Tre; kết hợp phát triển ngành nghề để xoá đói giảm nghèo với việcbảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng
5 Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực PTBV và BVMT
Với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhiều Dự án quan trọng đangthực hiện nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao bình đẳng giới, BVMT, giảm nhẹtác động của thiên tai, cải cách thể chế và quản trị
6 Xu hướng tích cực trong chính sách đảm bảo công nghiệp hoá sạch
Xu hướng tích cực trong chính sách đảm bảo công nghiệp hoá sạch là sản
xuất sạch hơn đã được chú ý thúc đẩy áp dụng ở quy mô cả nước Chỉ thị số
08/CT-BCN ngày 10/7/2007 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về việc áp dụng sảnxuất sạch hơn trong các cơ sở công nghiệp đã chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty
và doanh nghiệp công nghiệp nghiên cứu, phổ biến và áp dụng Đến nay đã cóhơn 30% số cơ sở công nghiệp áp dụng Tuy chưa kèm theo những công cụ điềuchỉnh pháp lý, khuyến khích kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để hiện thực hoá Chỉ thị,song đây là bước tiến về nhận thức của giới lãnh đạo công nghiệp với vai tròsản xuất sạch hơn
7 Văn kiện Định hướng Chiến lược PTBV đặt phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn như là một lĩnh vực ưu tiên hàng đầu
Bên cạnh đó, Đề án " Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân" đượcHội nghị BCH Trung ương lần thứ 7 (năm 2008) thông qua đã vạch ra nhữngkết quả, những tồn tại và giải pháp Tuy có nhiều khó khăn thực hiện PTBV ởnông thôn do chủ yếu sản xuất tiêu nông, nhưng trong những năm gần đây đãgặt hái nhiều thành công trong chuyển giao công nghệ, trong xây dựng các mô
Trang 10hình sản xuất bền vững như VAC, mô hình canh tác bền vững trên đất dốc(SALT), mô hình làng kinh tế sinh thái và phong trào làm hầm biogas đã cảithiện đáng kể bộ mặt nông thôn và ở mức độ nào đó đã thể hiện tính bền vững.
III NHỮNG THÁCH THỨC
1 Phát triển hệ thống thể chế phù hợp với yêu cầu PTBV
Quá trình thực hiện PTBV đã bắt đầu được các cơ quan nhà nước vàchính quyền địa phương chú ý và đã có những bước tiến đáng kể Tuy vậy, tiến
độ thực hiện còn chậm so với mong đợi và vì vậy tình hình phát triển kinh tếvẫn đang tiếp tục gây suy thoái môi trường và nhiều lĩnh vực xã hội yếu kémvẫn chưa được cải thiện Những ví dụ điển hình là các vụ gây ô nhiễm môitrường trầm trọng của Công ty Vedan Việt Nam, Công ty Miwon, gần 1500 làngnghề nông thôn phát triển không bền vững, vẫn tiếp tục sản xuất theo phươngthức cũ gây ô nhiễm môi trường Một số trung tâm làng nghề ở Bắc Ninh, HưngYên đã hình thành, nhưng công tác quản lý yếu kém dẫn đến việc các hộ chuyển
cả gia đình ra sống ở các trung tâm và chiếm dụng luôn đất đai
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là hệ thống cơchế, chính sách hỗ trợ thực hiện PTBV còn rất thiếu và hiệu lực thực hiện rấtyếu Mới có rất ít văn bản chính sách nhằm trực tiếp hỗ trợ thực hiện Ở cấpTrung ương có một số văn bản trực tiếp liên quan là:
- Quyết định số 685/QĐ-BKH ngày 28/6/2004 của Bộ KH&ĐT về việcthành lập văn phòng PTBV
- Quyết định số 1032/QĐ-TTg ngày 27/9/2005 của Thủ tướng Chính Phủ
về việc thành lập Hội đồng PTBV Quốc gia
- Quyết định số 248/QĐ-TTg ngày 24/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Hội đồng PTBVQuốc gia
Trang 11- Thông tư số 01/2005/TT-BKH ngày 09/3/2005 của Bộ KH&ĐT về việctriển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Định hướng chiếnlược PTBV ở Việt Nam.
2 Về tổ chức
Văn phòng PTBV đã qua 4 năm hoạt động, nhưng đội ngũ cán bộ mỏng
và năng lực yếu Văn phòng chưa thực hiện được tất cả các chức năng quản lýcũng như triển khai thực hiện, đặc biệt là công tác đôn đốc, giám sát, đánh giákết quả hoạt động PTBV Một số tỉnh thí điểm tuy có tổ chức Uỷ ban phát triểnbền vững nhưng hoạt động như thế nào là tuỳ thuộc vào từng địa phương, khâukiểm tra, đánh giá còn yếu
Hội đồng PTBV quốc gia được thành lập từ 2005, ban đầu quá cồng kềnh(gồm 44 thành viên đại diện lãnh đạo các Bộ, Ngành, đoàn thể, tổng công tylớn) Chính vì vậy, tháng 2/2009 Chính phủ đã có quyết định điều chỉnh tổ chứccủa Hội đồng với chức năng và nhiệm vụ tập trung hơn, cơ cấu tổ chức gọn hơn(gồm 30 thành viên)
3 Về Thông tư hướng dẫn triển khai CTNS21
Tuy đã được phổ biến tới tất cả các tỉnh và Bộ, Ngành, nhưng mới chỉ cónhững tỉnh thành nằm trong diện thí điểm, được Dự án VIE/01/021 cấp kinh phíthì khởi động, tuyệt đại đa số các tỉnh, thành còn lại chưa thực hiện đầy đủ Lý
do có thể là:
- PTBV và CTNS21 là những vấn đề mới nên rất cần những hướng dẫn
về việc xây dựng Chương trình nghị sự 21 cho các địa phương Cần phải có sự
hỗ trợ qua tập huấn, bồi dưỡng cán bộ và tư vấn về các phương pháp tiến hànhcông việc
Trang 12- Chương trình nghị sự 21 quốc gia mới chỉ mang tính chất khung địnhhướng và chưa có văn bản nào quy định phải bắt buộc tuân thủ tất cả các Điềutrong đó.
- Tuy có nêu nguồn kinh phí cho CTNS21 nhưng các địa phương, ngànhkhó huy động nguồn vốn vì kinh phí ban đầu tuy không lớn để xây dựngCTNS21, nhưng không nằm trong các khoản chi nằm trong danh mục các khoản
chi ngân sách Các ngành, địa phương phải "vận dụng" bằng cách lấy từ dòng
ngân sách dành cho vốn điều tra cơ bản, quy hoạch, chuẩn bị đầu tư
4 Ngoài những văn bản có liên quan trực tiếp đến thực hiện CTNS21 cũng
có nhiều chính sách liên quan tới những nội dung lồng ghép các mục tiêu
KT-XH và MT trong quá trình phát triển, nhưng không được các nhà lập chính sáchquan tâm Ví dụ, đánh giá môi trường Chiến lược (ĐMC) đã được ban hànhtrong Luật BVMT 2005 cách đây 3 năm, quy định đánh giá một cách hệ thống
về các hậu quả môi trường của các đề xuất về chính sách, kế hoạch và chươngtrình phát triển, nhưng cho đến nay, các Bộ, Ngành, các cơ quan chính quyềnđịa phương chưa thực sự quan tâm Ngay cả Quy hoạch tầm cỡ Quốc gia như
"Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007 và đến nay Dự án alumina Tân Rai (Lâm Đồng) đã triển khai được hơn 1 năm nhưng vẫn chưa cóđánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)
bauxit-5 Định hướng Chiến lược PTBV mới chỉ dừng lại ở phạm trù lý luận, chưa
thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống Quá trình chuyển sang phát triển theo chiềusâu hầu như không có như định hướng chiến lược đã đề ra là chuyển tăngtrưởng từ chiều rộng sang chiều sâu bằng cách áp dụng công nghệ mới, nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả Các cấp chính quyền hiệnvẫn theo đuổi tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua các chính sách thu hút đầu
Trang 13tư "thoáng" bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng ở những địa điểm thuận tiện, hạ
giá cho thuê đất, ưu đãi thuế, đơn giản hoá thủ tục Nếu xét theo các tiêu chíPTBV thì chính sách này là không bền vững, là nới lỏng những tiêu chuẩn sửdụng tiết kiệm tài nguyên quý hiếm như đất đai, khoáng sản, năng lượng và hạthấp tiêu chuẩn BVMT Tình trạng lãng phí đất ở các khu công nghiệp (tỷ lệ lấpđầy diện tích các khu công nghiệp trên cả nước chưa đến 50%), đã chuyển đổigần 400.000 ha đất nông nghiệp màu mỡ thành các khu công nghiệp, đô thị, sângolf, cho phép đầu tư các nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm cao, khai thác vàhối hả khai thác các loại khoáng sản để xuất khẩu thô hiện đang là những vấn đềbức xúc trong xã hội Những ví dụ điển hình là như dự án khai thác bauxite TâyNguyên đã thể hiện rõ nét những khía cạnh tiêu cực về kinh tế, xã hội, tàinguyên và môi trường Việc cả nước hiện có 141 sân golf ở 39 tỉnh sử dụng49.268 ha đất trong đó có 2.625 ha đất trồng lúa, sân golf đã trở thành một hiệntượng đang bùng nổ, là sát thủ của nhà nông, đe dọa an ninh lương thực quốcgia, mất việc làm của một bộ phận không nhỏ nông dân và gây ô nhiễm môitrường do dùng nhiều nước và hoá chất bảo vệ mặt cỏ
6 Các nhà hoạch định chính sách và lập quy hoạch còn xem nhẹ và chưa
nhận thức đầy đủ sự cần thiết của việc gắn kết môi trường vào các quy hoạchphát triển Trong khi đó các nhà môi trường lại bị đứng ngoài quá trình xâydựng các quy hoạch phát triển đó Nhiều ngành kinh tế phát triển nhanh gây áplực lớn đến môi trường và xã hội, nhưng khi lập quy hoạch phát triển lại hầunhư không đề cập đến PTBV theo khía cạnh môi trường và an sinh xã hội Đa
số các bản quy hoạch này thường nặng về phát triển kinh tế, chưa quan tâmđúng mức đến sinh kế của một bộ phận đông đảo dân cư và BVMT Nói cáchkhác, nhận thức về PTBV mới chỉ dừng lại ở phạm trù lý thuyết chưa có tínhthực tiễn, khoảng cách giữa nhận thức về lý luận và thực tiễn còn rất rộng Ví
dụ, công trình thuỷ điện Sơn La mang tầm cỡ Quốc gia tuy đã được tiến hành,nhưng kéo dài còn sơ sài, không xét tới tính bền vững Việc tách riêng đánh giá
Trang 14tác động môi trường với tái định cư, với giao thông thuỷ bộ là không hợp lý,không thể hiện tính bền vững.
7 Công tác truyền thông về CTNS21 còn yếu ở Trung ương và địa phương, chỉ
những cán bộ quản lý chủ chốt mới được thông tin, còn nhiều bộ phậncán bộ các Sở, Ban Ngành và cộng đồng đều thiếu thông tin Do đó, quá trìnhlập quy hoạch thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương, dẫn đến hiệu quả vàtính thực thi các quy hoạch rất thấp Dự án VIE/01/021- Bộ KH&ĐTđã lựa chọn
bộ chỉ tiêu khởi đầu gồm 58 CT Trong đó lĩnh vực kinh tế gồm 12 CT, lĩnh vực
xã hội: 17 CT; lĩnh vực TNMT 12 CT; lĩnh vực thể chế 3 CT, nhưng đến nayvẫn chưa được công bố chính thức Một mặt khác, đến nay không có một vănbản nào quy định về việc đưa vào giảng dạy CTNS21 ở các Trường Đại học vàCao đẳng, nếu có chỉ mang tính tự phát và theo yêu cầu của rất ít khối trường
hệ thống chuyên trách dân số kế hoạch hoá gia đình ở các địa phương Kết quả
là, xu hướng gia tăng tốc độ tăng dân số và việc lựa chọn giới tính thai nhi đang
là nỗi lo trong xã hội; mục tiêu giảm sinh năm 2007 đã không đạt chỉ tiêu củaQuốc Hội Theo báo cáo của Bộ Y tế vào tháng 6/2008, có 39/64 tỉnh thành có