1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn hiện nay

86 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2.3..Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại Đối với nhiều nước trên thếigiới, hoạt động XKLĐ là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lượng lao động đang t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ HoàngLinh

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 6

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 6

1.1 Khái niệm xuất khẩu lao động 6

1.2 Nội dung quản lý nhà nướcivề xuất khẩu lao động 11

1.3 Các yếu tố tác động tới QLNNivề xuất khẩu lao động 20

CHƯƠNG 2 23

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM 23

2.1 Tình hình xuất khẩu lao động của Việ Nam Trong thời gian qua 23

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam 29

CHƯƠNG 3 62

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRONG 62

THỜI GIANiTỚI 62

3.1 Quân điểm và định hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thời gian tới 62

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời gianitới 68

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

3 CNH Công nghiệp hóa

4 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

5 GD-ĐT Giáo dục và đào tạo

6 HĐH Hiện đại hóa

17 LĐXK Lao động xuất khẩu

18 LĐTBXH Lao động - Thương binh và xã hội

19 NNPTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

20 QLLĐNN Quản lý lao động ngoài nước

21 TTHTCG Trung tâm hợp tác chuyên gia

Trang 5

26 ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

27 FTA Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do

28 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

29 DOLAB Department of Overseas Labour Cục Quản lý việc làm ngoài

31 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

32 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân

33 ILSSA Institute of Labour Science and

Social Affairs

Viện Khoa học lao động & Xã hội

34 ILO International Labour Organization Tổ chức lao động quốc tế

35 IOM International Organization for

Migration

Tổ chức Di cư quốc tế

36 UAE United Arab Emirates Các Tiểu Vương quốc Ả rập

thống nhất

37 USD United State Dollar Đô la Mỹ

38 WB World Bank Ngân hàng Thế giới

39 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU

Bảng 2.1: Cơ cấu XKLĐ theo trình độ tay nghề thời kỳ 2010-2016 26

Bảng 2.2 : Cơ cấu XKLĐ theo giới tính giai đoạn 2010-2016 27

Bảng 2.3: Tình hình XKLĐ của Việt Nam tại các thị trường từ 2010-2016 27

Bảng 2.4:Tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài/vùng lãnh thổ và số nước/ vùng lãnh thổ nơi đến theo năm đi từ năm 2010 – 2016 28

Bảng 2.5: Cơ cấu nhân lực của Cục QLLĐNN 42

Bảng 2.6: Số lượng lao động, chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo thỏa thuận với nước ngoài của Bộ GD-ĐT và Bộ LĐTBXH từ 2007 đến 10/2013 47

Bảng 2.7: Số lượt doanh nghiệp được thanh, kiểm ta và xử lý hàng năm 50

Bảng 2.8: Số tiền người lao động đi xuất khẩu gửi về so với kim ngạch xuất khẩu hàng năm (2000 - 2016) 54

Bảng 2.9: Tỷ trọng của XKLĐ trong tổng số việc làm hàng năm trong nước 55

Bảng 3.1: Triển vọng tăng trưởng của kinh tế thế giới và một số nền kinh tế dẫn dắt đà tăng trưởng của nền kinh tế thế giới 2014-2020 63

Bảng 3.2: Dự báo thất nghiệp theo khu vực và thế giới từ năm 2014-2018 64

Bảng 3.3: Dự báo tình hình thất nghiệp của Việt Nam đến năm 2020 65

Sơ đồ 1.1: Mô hình quả lý lao động của VINACONEX tại Libya 11

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý và thực hiện XKLĐ từ 1991 đến nay 40

Biểu 2.1: Quy mô xuất khẩu lao động qua các năm thời kỳ 2010-2016 25

Biểu 3.1: Triển vọng tăng trưởng của kinh tế thế giới và một số nền kinh tế dẫn dắt đà tăng trưởng của nền kinh tế thế giới 2014-2020 (%) 63

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay ở Việt Nam, vấn đề lao động và giải quyết công ăn việc làm đang

là vấn đề bức xúc của toàn xã hội Trong những năm qua XKLĐ đã mang về nguồn thu ngoai tệ lớn cho đất nước, đồng thời cải thiện cuộc sống cho rất nhiều gia đình

Tuy nhiên, XKLĐ vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng sức lao động của đất nước Thực tế trong những năm gần đây XKLĐ cũng gặp nhiều khó khăn do sự khủng hoảng kinh tế thế giới, trình độ lao động thấp, sự cạnhitranh quyết liệt từ các thị trường lao động khác Để vượt qua những thách thức khó khăn đó thì đòi hỏi không những nỗ lực từ nhà nước, các doanh nghiệp XKLĐ mà còn chính từ người tham gia XKLĐ

QLNN về XKLĐ còn nhiều hạn chế, bất cập như chưa trang bị cho người lao động đầy đủ kiến thức pháp luật, kỹ năngilàm việc, các điều khoản hợp đồng phong tục tập quán, tiêu chuẩn theo yêu cầu của phía đơn vị tiếp nhận và luật pháp về XKLĐ chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường…nên xảy ra rất nhiều hậu quả như tình trạng lao động bỏ trốn, bị chèn ép ngược đãi do sự thiếu hiểu biết, giá nhân công thì bèo bọt…Do vậy cần có những nghiên cứu về thực trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam nhằm tìm hiểu những vấn đề và nguyên nhân tồn tại cũng như đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng QLNN đối với XKLĐ của Việt Nam giai đoạn hiện nay

Với tất cả những lý do trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà

nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, sức laoiđộng được coi là một loại hàng hóa với vai tròilà một yếu tố cơ bản đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Do vậy, sức lao động đượciđưa ra mua bán, trao đổi trên thị trường ở cả trong và ngoài nước cũng như giữa các nước, tạoira sự di chuyển quốc tế về HHSLĐ và hình thành hoạt động mua bán hay xuất - nhập khẩu HHSLĐ có định hướng và quản lýicủa mỗi Chính phủ Ở Việt Nam, QLNN vềiXKLĐ có vai trò rất quanitrọng trong sự nghiệp phát triển XKLĐ của mình Những vấn đề này được

Trang 8

sỹ của mình:”Tạo việc làm ở nước ngoàiiđể góp phần nâng cao hiệu quả nguồn lao động trong nước” đã chỉ ra XKLĐ ở Việt Nam hiện nay nặng về hình thức, chưa nối lên được nội dung và bản chất, đó là xuất – NKLĐ khôngingang giá

Tác giả Nguyễn Mạnh Cường trong đề tài nghiên cứu khoa họcicấp bộ “ Vấn

đề di chuyển thể nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Bộ LĐTBXH quan niệm: sự di chuyển của ngườiilao động trong XKLĐ thuộc khuôn khổ thỏa thuận về thượng mại và lao động được điều chỉnh bởi luật lao động và luật thương mại

Về mặt lịch sử, ở Việt Nam, việc diichuyển của NLĐ ra nước ngoài làm việc

vì các mục đích khác nhau đã có từ lâu, song để trở thành hệ thống và đặc biệt là có

sự tham gia của vai trò QLNN Các công trình nghiên cứu chủ yếu giảiiquyết một các vấn đề như:

(1) Phân tích và xây dựng lý luận chung về diichuyển lao động quốc tế, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hay hoạt động XKLĐ; Làm rõ tính tất yếu, sự cần thiết, vai trò củaiXKLĐ đối với nước ta; phân tích nguyên nhân và tác động của di chuyển lao động quốc tế hay hoạt động XKLĐ

(2) Khảo sát và phân tích kinh nghiệmiquốc tế của một số nước khu vực Đông Nam Á, châu Á về XKLĐ

(3) Hệ thống hóa lý luận chungivề QLNN về di chuyển lao động ra nước ngoài làmviệc

(4) Đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiệnicơ chế, chính sách quản

lý và mô hình tổ chức hoạt động XKLĐ của Việt Nam

Năm 2006, Việt Nam ban hành Luật NgườiiViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Luật này đưa ra khái niệm đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, trong điều 1 của Luật này quy định phạmiivi điều chỉnh của Luật là “hoạt động đưa

NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của NLĐ đi làm

Trang 9

Thứ nhất, là di cư lao động quốc tế: "Di cư lao động quốc tế" là sự di chuyển

của NLĐ từ một nước hay vùng lãnh thổinày tới một nước hay vùng lãnh thổ khác

để làm việc hay có mục đích tìm việc làm

Thứ hai, là di chuyển thể nhân để cung cấp dịch vụ: "Di chuyển thể nhân đế

cung cấp dịch vụ" là một thuật ngữ đượcisử dụng trong lĩnh vực thương mại để chỉ những NLĐ di chuyển từ nước này tới nước khác nhằm mục đích thực hiện các hoạt động thương mại dịch vụ

Thứ ba, là hợp tác quốc tế về lao động: Đây là thuật ngữ chủ yếu được sử

dụng để phản ánh hoạt động cung ứng và tiếp nhận laoiđộng giữa Việt Nam với các nước XHCN ở Đông Âu và một số nước ở châu Phi, Trung Đông theo các hiệp định hợp tác quốc tế về lao động của Chính phủ các nước

Thứ tư, là đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài: Trong hoạt động này, sự di

chuyển của NLĐ ra nước ngoài làicó chủ đích, có tổ chức, có tính toán chi phí - lợi ích khi thực hiện và mang tính tự giác

Thứ năm, là xuất khẩu lao động: Thuật ngữ nàyiít được sử dụng trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, nhưng lại được sử dụng phổ biến ở Việt Nam

từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1996)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở phân tích thực trạng QLNNivề XKLĐ của Việt Nam, luận văn đưa ra một số các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐicủa Việt Nam giai đoạn hiện nay

Trang 10

4

Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hoá và xây dựng cơ sởilý luận về XKLĐ, QLNN về XKLĐ; tổng kết kinh nghiệm quốc tế QLNN về XKLĐ

Phân tích thực trạng QLNN vềiXKLĐ của Việt Nam những năm qua, rút ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong QLNN về XKLĐ của Việt Nam

Đề xuất một số định hướng vàigiải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ của Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Quản lý nhà nước đối với XKLĐ của Việt Namgiai đoạn hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu hoạt động QLNN đối với hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016, chủ yếu tập trung đi sâu phân tích thực trạng theo các nội dung của QLNN về XKLĐ trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016, tương ứng với

cơ chế quản lý mới

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứuiQLNN đối với hình thức XKLĐ trực tiếp,

đó là hình thức đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Hình thức XKLĐ tại chỗ sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu củailuận văn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong nghiên cứu kinh tế như phương pháp luận của chủ nghĩa duyivật biện chứng, duy vật lịch sử.Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về XKLĐ cũng là cơ sở cho phương pháp luận nghiên cứu của luận văn.Bên cạnh đó, luận văn sử dụng những phương pháp

cụ thể mang tính truyền thống như: Phương pháp phânitích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp mô hình, phương pháp suy diễn và quy nạp Ngoài ra luận văn còn sử dụngiphương pháp so sánh để phân tích làm sáng tỏ hơn các kết luận trong từng hoàn cảnh cụ thể Các phương pháp này được sử dụng kết hợp và bổ sung cho nhau

Trang 11

5

Nguồn thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn đượcilấy từ Bộ LĐTBXH, tổng cục Thống kê, viện Khoa học Lao động & Xã hội, IOM, các trang mạng…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:

Từ lý luận chung về QLNN về XKLĐ, luậnivăn tập trung làm rõ:

Khái niệm QLNN về XKLĐ, trong đó chủ thể QLNN về XKLĐ là các cơ quan QLNN tác động có chủ đích lên đối tượng bị quản lý là toàn bộ hoạt động XKLĐ và các khách thể là các doanhinghiệp XKLĐ và NLĐ nhằm đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường

Nội dung QLNN về XKLĐ, bao gồm: (1) Xây dựng và ban hành hệ thống luật pháp tạo môi trường phápilý cho hoạt động XKLĐ, (2) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chính sách về XKLĐ, (3) Tổ chức hoạt động XKLĐ,(4) Hợp tác quốc tế và phát triền thịitrường XKLĐ,(5) Giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động XKLĐ

Các yếu tố tác động đếniQLNN về XKLĐ theoihai nhóm nhân tố tác động chủ yếu là: Nhóm các yếu tố thuộc về nướciXKLĐ và nhóm các yếu tố thuộc ngoài nước XKLĐ Trong đó, bối cảnh quốc tế tiếpitụcidiễn biến phức tạp là yếu tố mà QLNN về XKLĐ cần phải tính đến

Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu

Luận văn đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằmihoàn thiện QLNN về XKLĐ của Việt Nam, trong đó tập trung vào kiện toàn, bổ sung thêm bộ phận và nhân sự cho các khâu phân tích và dự báo về thị trường cũng như quản lý lao động ở nước ngoài

để hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về XKLĐ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm những nội dung sau:

Chương 1: Những cơ sở lý luận về QLNN đối với hoạ t đ ộng XKLĐ

Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam

Trang 12

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm xuất khẩu lao động

1.1.1 Khái niệm xuất khẩu lao động

XKLĐ là một phạm trù có nội dung kinh tế xã hội sâu sắc liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực, nó có mối quan hệichặt chẽ với các yếu tố kinh tế xã hội khác Làm rõ mối quan hệ này cho phép chúng ta nhìn nhận vấn đề XKLĐ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội một cách khách quan và thực tế hơn Để quá trình nghiên cứu được hệ thống và thống nhất, trước hết phải định hình rõ một số khái niệm liên quan đến hoạt động XKLĐ từ đó giúpichúng ta có cái nhìn tổng thể,

rõ ràng về vấn đề XKLĐ

1.1.1.1.Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thểilực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội, phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội

nó diễn ra giữa con người với tự nhiêninhằm cải tạo tự nhiên cho phù hợp với mục đích của con người Lao động là sự vận dụng của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội

Như vậy, sức lao động của một con người là khả năng lao động của một con người Còn lao động là sự vận dụng sức lao độngicủa người đó để tiến hành hoạt động sản xuất, chính vì vậy lao động được coi là hành vi của con người trong hoạt động sản xuất

1.1.1.3 Nguồn lao động: Nguồn lao động là một bộ phận của dân cư bao gồm

những người trong độ tuổi lao động (không kể số người mất khả năng lao động) và những người ngoài độ tuổi laoiđộng (trên hoặc dưới tuổi lao động) nhưng thực tế có tham gia lao động

1.1.1.4 Thị trường lao động: Thị trường là một phạmitrù riêng của kinh tế hàng hoá Thị trường là nơi diễn ra trao đổi hàng hoá, dịch vụ Nội dung của thị trường được biểu hiện qua hai nhân tố có quan hệ mật thiết với nhau: cung và cầu hàng hoá

Trang 13

7

Thị trường lao động quốc tế có một số đặc điểm sau:

TTLĐ quốc tế xuất hiện là do quá trình quốcitế hoá đời sống kinh tế thế giới

và nảy sinh cung cầu lao động vượt ra khỏi biên giới quốcgia Cung cầu lao động trên TTLĐ quốc tế biến động mạnhimẽ do tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động thường xuyên

1.1.2 Xuất khẩu sức lao động (XKLĐ)

Xuất khẩu sức lao động là một loại hình di chuyển quốc tế sức lao động Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượngiNLĐ di chuyển ra nước ngoài nhằm mục đích tìm việc làm để có thu nhập Khi ra khỏi một nước, người đó được gọi là người xuất cư, còn sức lao động của người đó được gọi là sức LĐXK

Trước hết ta thấy TTLĐ là một thị trường đặc biệt, đặc trưng cơ bản của hoạt động XKLĐ khác so với xuất khẩu các loạiihàngihoá khác xuất phát từ tính đặc thù của loại hàng hoá này Sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt vì con người là chủ thể lao động, có tư duy và khả năng làm chủ bản thân

XKLĐ là một lĩnh vực hoạt động kinh tế đốiingoại đặc thù, XKLĐ là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế giữa các nước trong sản xuất, phù hợp với quy luật phânicông lao động quốc tế, góp phần đưa Việt Nam hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

1.1.2.2 Xuất khẩu lao động thể hiện rõ tính chất nhân văn

Đây là một đặc điểm có ý nghĩa lớn nhất của hoạt động XKLĐ Vì XKLĐ thực chất là xuất khẩu sức laoiđộng, trong khi sức lao động lại gắn bó chặt chẽ với NLĐ, không tách rời NLĐ Do vậy, mọi hoạt động của các doanh nghiệp tham gia XKLĐ không phải chỉ nhằm mục tiêu lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn phải xuất phát từ con người, quan tâm tới lợi íchicủa người đi LĐXK

1.1.2.3 Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại

Đối với nhiều nước trên thếigiới, hoạt động XKLĐ là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng hoặc dư thừa ra nước ngoài làm việc và thu ngoại tệ bằng cách chuyểnitiền về nước của NLĐ và các lợi ích khác Khi hoạt động XKLĐ diễn ra thì có nghĩa là đã tạo các quan hệ kinh tế quốc

Trang 14

8

tế, cụ thể ở đây là các quan hệ di chuyển quốcitế về sức lao động, đây cũng chính là một nội dung của hoạt động kinh tế đốiingoại

1.1.2.4 Là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động

và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức kinhitế thực hiện hoạt động XKLĐ

Đối với nhiều nước trên thế giới , hoạt động XKLĐ là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lượng đang gia tang hoặc dư thừa ra nước ngoài và thu hút ngoại tệ về Những lợi ích này buộc các nướciXKLĐ phải chiếm lĩnh được thị trường có nghĩa là đã tạo được các quan hệ kinh tế quốc tế, quan hệ di chuyển quốc

1.1.2.6 Hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp diễn ra trong điều kiện, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra trongicác doanh nghiệp XKLĐ mà còn là sự cạnh tranh giữa các nước tham gia cung ứng trên cùng một thị trường

1.1.2.7 Hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ phải đảm bảo lợi ích trong quan

hệ ba bên

Lợi ích kinh tế của nhà nước từ khoản ngoại tệ mà người LĐ gửi về, lợi ích của doanh nghiệp XKLĐ là các khoảnithu phí, lệ phí Lợi ích của NLĐ là khoản thu nhập từ lương thưởng mà họ nhận được

1.1.2.8 Hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ chịu sự tác động mạnh mẽ của

các biến động của thị trường sử dụng lao động

Trên TTLĐ quốc tế thì thường các nướciXKLĐ phải chấp nhận các điều kiện

do các nước nhập khẩu lao động đưa ra như: Số lượng lao động, tiền lương, thưởng…

Trang 15

9

1.1.3 Nội dung của công tác xuất khẩu lao động

1.1.3.1 Tìm kiếm, khai thác thị trường

+ Đối với thị trường cung ứng lao động trong nước:iDo tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của nước ta là rất lớn, nhu cầu tìm kiếm việc làm rất cao nhưng không phải đối tượng nào muốn đi XKLĐ là có thể điidễ dàng được do nhiều nguyên nhân như: Sức khỏe, điều kiện kinh phí, trình độ…

+ Đối với thị trường nước ngoài tiếp nhận ilao động:

Nhà nước đóng vai trò quyết địnhicho sự ổn định và phát triển XKLĐ.Ngoài chức năng xác định chủ trương, định hướngichiến lược để hỗ trợ cho XKLĐ phát triển, Chính phủ còn có vai trò hết sức to lớnitrong phát triển thị TTLĐ ngoài nước

Sau khi đã khai thác được thị trường, có được đối tác tiếp nhận lao động thì

ta tổ chức đàm phán ký kết và thực hiện các hợp đồng cung ứng lao động

1.1.3.2 Công tác tuyển chọn

Nhằm cung cấp lực lượng lao độngiđủ về số lượng, tốt về chất lượng, kịp thời gian và đảm bảo yêu cầu của bên sử dụng lao động, phần lớn các doanh nghiệp làchọn những lao động có tiêu chuẩn tương đương với tiêu chuẩn bên sử dụng lao động yêu cầu và tổ chức thi sát hạch để tuyểnichọn lấy người phù hợp với yêu cầu của từng nghề

1.1.3.3 Tổ chức thực hiện dịch vụ kinh tế, hành chính, luật pháp để đưa người lao động ra nước ngoàiilàm việc

Các thủ tục hồ sơ chuẩn bị cho xuất cảnh:

Người lao động sau khi đã đượcichấp thuận, tuyển chọn phù hợp với các yêu cầu về công việc cũng như các yêu cầu khác của phía chủ sử dụng lao động, có kết quả khám sức khoẻ đảm bảo đủ tiêu chuẩniđi lao động ở nước ngoài sẽ được thoả thuận với doanh nghiệp để kýihợp đồng (theo mẫu số 9 ban hành kèm theo Thông

tư số 28/1999/TT-BLĐTBXH ngày 15/11/1999 của Bộ LĐTBXH)

Khi nhận được đầy đủ bộ hồ sơ của NLĐ theo quy định của pháp luật doanh nghiệp

sẽ làm thủ tục xin cấp visa cho NLĐ

Trang 16

Đối với các tổ chức XKLĐ có trách nhiệm:

- Thu từ người lao động các khoản trên

- Hoàn trảitiền đặt cọc cho NLĐ trong vòngimột tháng kể từ ngày NLĐ hoàn thành hợp đồng về nước hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà không gây thiệt hại về kinh tế cho tổ chức XKLĐ

- Nộp phí bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cao theo qui định của Chính phủ sau khi trích thu từ tiền lương hàng tháng của NLĐ

Khoản phí dịch vụ thuicủa NLĐ là doanh thu của tổ chức XKLĐ để tính thuế dịch vụ công ích cuả tổ chức XKLĐ nộp cho nhà nước.Tổ chức XKLĐ không được thu thêm của NLĐ bất kỳ một khoản nào ngoài một số phí đào tạo, huấn luyện trước khi đi, chi phí khám sức khoẻ, làm hồ sơ, chi phí kiểm tra tay nghề, ngoại ngữ nhưng không quá 1 triệu đồng

- Các khoản chi phí trực tiếp liêniquan đến hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp như:

Phí quản lý: Theo quy định tại khoản 12 điều 13 của Nghị định 152, doanh

nghiệp XKLĐ phải nộp phí quản lýicho Cục QLLĐNN - Bộ LĐTBXH, mức phí quản lý 1% số phí dịch vụ doanh nghiệp thu của NLĐ

Phí hoa hồng môi giới: Các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam phải chi phí môi

giới, tư vấn, dịch vụ việc làm cho phía nướcingoài để khai thác hợp đồng, quản lý NLĐ, công tác quản lý lao động ở nước ngoài

Tổ chức XKLĐ chịu trách nhiệm quản lýitrực tiếp NLĐ ở nước ngoài, cử người làm đại diện ở nước nhận lao động để quản lý lực lượng lao động của mình, theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồngiđã ký, xử lý tranh chấp lao động và những vấn đề phát sinh liên quan đến NLĐ Các doanh nghiệp XKLĐ tuỳ theo qui

mô, cơ cấu lao động của mình ở từng nước màicó mô hình quản lý thích hợp, chẳng

Trang 17

1.2 Nội dung quản lý nhà nước i về xuất khẩu lao động

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động

Trước hết phải lảm rõ khái niệm "Quản lý" rồi sau đó sẽ tiếp cận đến khái niệm "Quản lý nhà nước" và “Quản lý nhà nướcivề XKLĐ”

Ngay thuật ngữ “quản lý” cũng có nhiều cách hiểu, cụ thể:

Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác

Bí thư chi bộ Tổng đội trưởng

tổng đội xây dựng

Trang 18

Từ đó có thể hiểu khái niệm QLNN theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, QLNN được đặt trong cơ chế "Đảng lãnhiđạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ" Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN

Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm QLNN mộticách khái quát nhất như sau:

QLNN là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể QLNN (các cơ quan QLNN) lên đối tượng bị quản lýivà khách thể của QLNN nhằm sử dụng có hiệuquảnhất các tiểm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Theo cách hiểu đó, QLNN về XKLĐ là sự tác iđộng có chủ đích, có tổ chức của chủ thể QLNN (các cơ quan QLNN) lên đối tượng bị quản lý là hoạt động XKLĐ và khách thể của QLNN là các doanh nghiệp hoạtiđộng đưa lao động ra nước ngoài làm việc (doanh nghiệp XKLĐ) và NLĐ tham gia thị trườnginhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiểm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Như vậy, phải có ít nhất một chủ thể QLNN là các cơ quan QLNN về XKLĐ là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là mộtiđối tượng bị QLNN là các hoạt động XKLĐ chịu các tác động của chủ thể QLNN tạo ra và các khách thể là các doanh nghiệp XKLĐ và NLĐ tham gia thị trường có quan hệ gián tiếp với chủ thể QLNN

Trang 19

phát triển văn hóa xã hội, đảm bảo định hướng XHCN, tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường

Hai là, QLNN về XKLĐ phải đảm bảo phù hợp và tuân thủ các yêu cầu, quy

tắc mà Việt Nam đã cam kết khi tham gia vào cácitổ chức hợp tác kinh tế khu vực

và toàn cầu như WTO cũng như các thông lệ và chuẩn mực khác trong các quan hệ kinh tế quốc tế

Hiện nay, xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới với các cấp độ khu vực hóa và toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnhimẽ đã đặt ra yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc trong mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của nước ta cũng như các nước khác.Trong các hoạt động kinh tế quốc tế, XKLĐ mang lại lợi ích to lớn về xã hội, đóng góp giá trị kinh tế rất lớn để phát triển kinh tế đất nước nên Nhà nước cần phải đầu tư bằng nguồn lực nhà nước để phát triển XKLĐ

Ba là, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch trong

mọi hoạt động QLNN về XKLĐ

Nội dung của nguyên tắc làiphải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong QLNN Tập trung phải dựa trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung

Bốn là, kết hợp hài hòa các loại lợi ích xã hội.

QLNN trước hết là quản lýicon người, là tổ chức có hiệu quả các hoạt động lao động của con người Đối với QLNN về XKLĐ phải kết hợp hài hòa các loại lợi ích của xã hội như lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, tổ chức, doanh nghiệp XKLĐ và lợi ích của các cá nhân, người laoiđộng

Trang 20

14

Năm là, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốcilần thứ IX của Đảng có ghi

rõ: "Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện

quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh và phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"

Sáu là, đảm bảo nguyên tắc xử lý đúng đắn mốiiquan hệ giữa kinh tế và chính trị

Kinh tế và chính trị cóimối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.Thông thường chính trị ngoại giao mở đường thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển Phương hướng xử lý mối quan hệ này đã đượcichỉ ra tại Đại hội IX: "Thực hiện

nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế.Việt Nam sẵn sàng là bạn, làiđối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" và nhấn mạnh: "Chủ động HNKTQT và khu vực theo tinh thần phát huy tốiiđa nội lực, nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường"

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động

Căn cứ vào Luật Người Việt Namiđi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có thể thấy các nội dung QLNN về XKLĐ đã được đề cập khá chi tiết và cụ thể không chỉ về nội dung của QLNN mà còn đề cập cả những biện pháp, công cụ, giải pháp

cụ thể để thực hiện các nội dung củaiQLNN (như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cấp giấy phép hoạt động XKLĐ Đây là những nội dung mang tính chất là công cụ quản lý), thể hiện cách tiếp cận chi tiết, cụ thể hóa những công việc phải làm của QLNN Qua nghiên cứu và khảo sát thựcitiễn, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả đề xuất đi sâu vào xem xét một số nội dung cơ bản của QLNN về XKLĐ như sau:

Trang 21

Trên cơ sở hệ thống pháp luật về XKLĐ, Nhà nước xác định quyền và nghĩa

vụ của Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức XKLĐ vàingười lao động

Trong quá trình thực hiện, sẽ có những phát sinh bất cập về hệ thống luật pháp, chính sách với thực tiễn cũng như nhữngihạn chế, tồn tại trong công tác QLNN về XKLĐ nói riêng và hoạt động XKLĐ nói chung Do vậy, sau mỗi giaiđoạn cần phải đánh giá và điều chỉnh và bổ sung hệ thống văn bàn pháp luật và chính sách đối với hoạt động XKLĐ Hiệu quảivà chất lượng của quá trình đánh giá, điều chỉnh là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng hay tác động tới kết quả của quá trình quản lý tiếp theo

1.2.3.2 Xây dựng và tổ chức thực hiệnichiến lược, kế hoạch và chính sách về xuất khẩu lao động

Căn cứ vào việc phân tích tìnhihình kinh tế xã hội cũng như bối cảnh trong nước và quốc tế, kết hợp với các phân tích và dự báo có căn cứ và khoa học để đưa

ra các định hướng về XKLĐ đúng đắn và phù hợp Chiến lược về XKLĐ là hệ thống các quan điểm, định hướng phátitriển, mục tiêu tổng quát và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra cho hoạt động XKLĐ trong một khoảng thời gian dài Nó là căn cứ để hoạch định cácichính sách XKLĐ, kế hoạch, chương trình hay dự án trong từng giai đoạn 5 năm hoạch hàng năm

Kế hoạch về XKLĐ là việc cụ thể hóa cácimục tiêu và biện pháp đã được xác định trong chiến lược về XKLĐ.Kế hoạchithường là trung hạn (3-5 năm) hoặc

kế hoạch hàng năm

Trang 22

16

- Kế hoạch 5 năm là việc xác định hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản của hoạt động XKLĐ, các chính sách phân bổinguồn lực, vốn cho các chương trình, dự

án về XKLĐ Nội dung cơ bản bao gồm:

Xác định nhiệm vụ tổng quát, các mục tiêu và chỉ tiêu XKLĐ như chỉ tiêu về lao động và việc làm như: Quy mô, chỉ tiêu, số lượng…

Xác định các chương trình choiXKLĐ như: Đào tạo nghề cho LĐXK, xúc tiến thương mại dịch vụ và XKLĐ…

Xây dựng các giải pháp lớn cho kế hoạch 5 năm

- Kế hoạch hàng năm về XKLĐ: Là việcicụ thể hóa kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện kế hoạch trung hạn, là cơ sở để chỉ đạo và điều hành các hoạt động XKLĐ trong năm

- Chính sách về XKLĐ là hệ thống cáciquan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhàinước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động XKLĐ của quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với định hướng phát triển kinh tế -

xã hội của quốc gia Chính sách XKLĐ bao gồm các nội dung cơ bản như sau:

Chính sách về thịitrường (cả đầu vào và đâu ra của hoạt động XKLĐ): Bao gồm việc định hướng và các biện pháp mở rộng thị trường XKLĐ

Chính sách về phát triển nguồn cho hoạt động XKLĐ

Chính sách hỗ trợ và các chính sáchikhác liên quan đến hoạt động XKLĐ

1.2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động

Tổ chức thực hiện là tập hợp nhữngicông việc cụ thể mà Nhà nước phải làm

để thiết lập hệ thống quản lý, hệ thống hoạt động XKLĐ và vận hành hệ thống đó theo định hướng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Tổ chức bộ máy QLNN về XKLĐ: Theo nghĩa rộng, bộ máy QLNN về

XKLĐ là hệ thống tổ chức gồm các cơ quan, các bộ phận hợp thành nhằm thực hiện chức năng QLNN về XKLĐ như: Cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Hiểu theo nghĩa hẹp, bộ máy QLNN về XKLĐ là hệithống các cơ quan hành chính nhà nước quản lý hoạt động XKLĐ

Bộ máy QLNN về XKLĐ được tổichức từ trung ương đến địa phương và cơ quan quản lý lao động ở nước ngoàiNhà nước tuyển chọn, đào tạo và xây dựng đội

Trang 23

17

ngũ cán bộ, công chức QLNN về XKLĐ làm việc chuyên nghiệp, gồm cả cán bộ công chức nghiên cứu, hoạch định chính sách và công chức thực thi công vụ

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụicủa mình trong bộ máy QLNN về XKLĐ

và hệ thống văn bản pháp luật về XKLĐ, các cơ quan chức năng phối hợp tổ chức

và thực hiện các hoạt động về XKLĐ nhưicấp phép và các thủ tục hành chính về XKLĐ, tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và định hướng, hỗ trợ quản

lý lao động ở nước ngoài cũng như thực hiện chương trình hậu XKLĐ

1.2.3.4 Hợp tác quốc tế và phát triền thị trường xuất khẩu lao động

Hợp tác quốc tế về XKLĐ chínhilà việc tham gia đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế (song và đa phương) về NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Hiệp định, Thỏa thuận lao động với các nước còn là hành lang pháp lý quan trọng, cơ sở để bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ ở nước ngoài Chủ thể tham gia và thực hiện các đàm phán, iký kết các Hiệp định, thỏa thuận phải là các chủ thể cấp chính phủ hay nhà nước hoặc các Bộ, Ngành liên quan

Để thực hiện tốt công tác này, Nhà nước hayiChính phủ cần tích cực, tăng cường các hoạt động ngoại giao với các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế

1.2.3.5 Giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động

Một trong những vai tròiquan trọng của QLNN về XKLĐ là thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra đối với hoạt động XKLĐ để đảm bảo các thành viên trong

hệ thống hoạt đông theo đúngipháp luật, duy trì môi trường cạnh canh lành mạnh, hạn chế tiêu cực trong hoạt động XKLĐ Trên cơ sở giám sát, kiểm tra hoạt động để

có những điều chỉnh, xử lý, khắc phục kịp thời các vấn đề phát sinh nhằm đảm bảo thực hiện tốt và hiệu quả mục tiêu củaiXKLĐ đã đề ra Công tác kiểm tra giám sát cần được thực hiện thường xuyên

Trang 24

Hai là, hướng dẫn, hỗ trợ nhằm phátihuy nhân tố tích cực, góp phần thúc đẩy hoạt động XKLĐ

Ba là, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các viiphạm trong hoạt động XKLĐ Bốn là, giúp cơ quan QLNN xem xét, xử lý, giải quyết các tranh chấp khiếu nại, tố cáo phát sinh từ hoạt động XKLĐ theoiđúng pháp luật

Năm là, đề xuất kiếninghị để gópiphần hoàn thiện cơ chế quản lý, chế độ chính sách liên quan đến hoạt động XKLĐ

Sáu là, bảo vệ lợi ích của nhàinước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công dân

Bảy là, tăng cường pháp chế xã hộiichủ nghĩa trong lĩnh vực XKLĐ.Việc thanh tra, kiểm tra được thực hiện trongiphạm vi các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động XKLĐ, các đơn vị, tổ chức cung cấp lao động cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan và giải quyếtiđơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan theo hình thức định kỳ, theo chuyên đề, theo vụ việc hoặc thanh tra trọng điểm

1.2.3.6 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả quảnilý nhà nước về xuất khẩu lao động

Cơ sở để đánh giá QLNN về XKLĐichủ yếu căn cứ vào kết quả, hiệu quả và

sự phát triển hoạt động XKLĐ Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá như sau:

- Số lao động tuyển chọn: Tổ chức tuyển trực tiếp, công khai hay uỷ quyền

cho các đơn vị không có chức năng, tuyển thôngiqua trung gian Chất lượng lao động được tuyển chọn, tuyển đúng đối tượng, ngành nghề, cơ cấu, sức khỏe đảm

Trang 25

19

bảo theo yêu cầu của đối tác; số lao động phải vềinước trước thời hạn; số lao động ở nước ngoài vi phạm pháp luật

- Số lao động đào tạo, giáo dục định hướng: Hình thức tổ chức và chất lượng

đào tạo, giáo dục định hướng cho lao động trước khi điilàm việc ở nước ngoài

- Chỉ tiêu về quản lý lao động: Bộ máyitổ chức, cán bộ quản lý lao động ở nước ngoài; khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan đến NLĐ

- Cơ cấu bộ máy hoạt động của idoanh nghiệp: Doanh nghiệp có hay không

bộ máy chuyên trách làm công tác XKLĐ; có hayikhông đội ngũ cán bộ chuyên trách nếu không có bộ máy tổ chức; đội ngũ cán bộ có đáp ứng được các tiêu chuẩn theo yêu cầu

- Tình hình chấp hành các quy định của Nhà nước: Đăng ký hợp đồng trước khi tiến hành các thủ tục đưa lao động đi làm việciở nước ngoài; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ; thực hiện chế độ thu chi tài chính đối với NLĐ và các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; thực hiện các chỉ đạo về công tác XKLĐ của Nhà nước

Chỉ tiêu cụ thể

- Hiệu quả kinh tế - xã hội: Hiệu quảikinh tế - xã hội mà các doanh nghiệp XKLĐ mang lại đó chính là sự đóng góp của các doanh nghiệp vào việc góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, giải quyết việc làm cho một lược lượng đáng

kể NLĐ, nâng cao tay nghề và rèniluyện tác phong công nghiệp cho NLĐ, chuyển giao được kỹ thuật, công nghệ từ các nước về nước ta

Vấn đề ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa to lớn

* Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài đem lại bổ sung vào thu nhập quốc dân: Chỉ tiêu này được xác định như sau:

j + V j )k j (j = 1đến)

Trong đó:

P: Thu nhập cho ngân sáchiNhà nước của người lao động

V: Thu nhập của người lao động (Sau khi đã khấu trừ đi các khoản phải nộp)

K: Hệ số quy đổi ngoại tệ j: Biến số nước

Trang 26

20

1.3 Các yếu tố tác động tới QLNN i về xuất khẩu lao động

1.3.1.Những yếu tố thuộc ngoài nước xuất khẩu lao động

Một là, bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay

Giai đoạn từ 2008 đến nay, nền kinh tế thế giới đang trong thời kỳ khủng hoảng đã ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến hoạtiđộng XKLĐ của các quốc gia trên thế giới Nhiều chủ thể kinh tế ở các nước trên thế giới bị phá sản hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh của mình, dẫn đến cầu về lao động trong đó có lao động nhập khẩu từ nước ngoài giảm Cũng như các nước XKLĐ khác, Việt Nam trong giai đoạn này quy mô XKLĐ bị giảm sút đáng kể Cụ thể năm 2008 khi kinh tế thế giới bắt đầu rơi vào khủng hoảng, Việt Namixuất khẩu được 86990 lượt người đi làm việc ở nước ngoài thì đến năm 2009 chỉ xuất được 73028 lượt người, giảm 16,05%; năm 2012 chỉ được 80320 lượt người

Hai là, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ: Các thành tựu

khoa học - công nghệ hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt của nền sản xuất, nhu cầu sử dụng lao động và đặt ra những yêu cầu mớiiđối với chất lượng lao động, từ đó đã tác động vào sự chuyển dịch trong cơ cấu lao động xuất khẩu của Việt Nam cũng như của các quốc gia

Ba là, sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước XKLĐ: Từ thực tế ở nước ta

cũng như nhiều nước trên thế giới, XKLĐ đã mang lại những lợi ích to lớn về kinh

tế - xã hội nên ngày càng được rất nhiều nướciquan tâm, nhất là các nước đang phát triển và xem đây là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Bốn là, đặc điểm thể chế chínhitrị, văn hóa, xã hội, luật pháp, phong tục tập quán đa dạng, phức tạp của các nước NKLĐ

Ngoài ra, còn các yếu tố không thường xuyên và bất khả kháng khác: Chiến

tranh xung đột giữa các nước, khuivực hoặc lãnh thổ trên thế giới.Năm 2011, khi xẩy ra cuộc bạo loạn và chiến tranh ơ Libya, Chính phủ Việt Nam đã phải tổ chức đưa hơn 10 nghìn lao động ở Libya về nước, đến tháng 8 năm 2014 tiếp tục đưa hơn

1300 lao động về nước với lý do tương tự; cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; dịch bệnh (Sars, cúm gia cầm, lở mồm long móng, Ebola…) trong khu vực và thế giới Các yếu tố trên đã ảnh hưởng khônginhỏ đến hoạt động XKLĐ, đòi hỏi QLNN về XKLĐ phải tính đến để có định hướng và giải pháp phù hợp

Trang 27

21

1.3.2.Những yếu tố thuộc về nước xuất khẩu lao động

Một là, môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trong nước: Thể chế chính trị,

kinh tế, xã hội tạo nên môi trường vĩ môiảnh hưởng tới mọi mặt đời sống kinh tế, tổ chức xã hội và từ đó nó cũng quyết định tới phương thức, tổ chức bộ máy quản lý của đất nước

Hai là, chủ trương vàiđịnh hướng của Đảng và Nhà nước là mở cửa và hội nhập quốc tế, đẩy mạnh tham gia vào quá trình toàn cầu hóa

việc tạo nguồn cho hoạt động XKLĐ như chất lượng phát triển của TTLĐ và hạtầng giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe của Việt Nam

Chất lượng của LĐXK (hàng hóa sức LĐXK) là yếuitố quyết định đảm bảo năng lực cạnh tranh của XKLĐ trên thị trường quốc tế, nhất là trong điều kiện phát triển nhanh chóng của trình độ khoa học - công nghệ đã và đang diễn ra

Bốn là, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức và thực hiện hoạt động XKLĐ như: Bộ máy QLNN về XKLĐ, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong

bộ máy QLNN về XKLĐ và chấtilượng thực thi của bộ máy QLNN Pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý chỉ nói lên phương thức, cách thức thực hiện QLNN

Năm là, quan hệ chính trị với các nước: Quan hệ kinh tế cũng như các quan

hệ khác giữa các quốc gia không thể táchirời thể chế chính trị và quan hệ chính trị giữa các quốc gia đó Đặc biệt trong lĩnh vực XKLĐ, lĩnh vực liên quan đến con người, có nhiều yếu tố nhậy cảm thì quan hệ chính trị càng có ý nghĩa quan trọng

Sáu là, chất lượng của các doanh nghiệp XKLĐ: Hiệu quả của hoạt động

XKLĐ phụ thuộc rất lớn vào trìnhiđộ, năng lực tổ chức và thực hiện của doanh nghiệp mà nhân tố chính là đội ngũ cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ XKLĐ của mình Bản thân các doanh nghiệp tham gia trong lĩnh vực này phải hội tụ đủ các điều kiện như: Vốn, khai thác thị trường, sự nhạy bén…

1.3.3 Kinh nghiệm i của một số nước trong QLNN về XKLĐ, và bài học rút ra cho Việt Nam

Một số kinh nghiệm của các nước XKLĐ:

Thái lan: XKLĐ có từ những năm 1973, đạo luật về thuê LĐ và người cần việc

làm có từ năm 1985 bao gồm: Tập trung cấp phép và quản lý cơ quan tuyển dụng lao động tư nhân; thành lập cơ quan tuyểnidụng của chính phủ; xác định cụ thể

Trang 28

22

nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan tuyển dụng;thaanhf lập quỹ phúc lợi người LĐ; quy định mức độ, hình phạt, kỷ luật đối với các hành động phạm pháp.Văn phòng quản lý LĐ ngoài nước là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng điều phối

Hàn Quốc: Chính phủ quản lý thông qua văn phòng an ninh, văn phòng này

quản lý quá trình tuyển dụng và sắp xếp việc làmiở nước ngoài, chịu trách nhiệm về lập kế hoạch điều hành và giám sát tất cả các vấn đề liên quan Tuyển chọn NLĐ thông qua phỏng vấn, kiểm tra tay nghề, sơ yếu lý lịch, sức khỏe, giáo dục định hướng cho NLĐ trước khi ra nước ngoài làm việc

Philippines: Năm 1993 đạt mốc 560000 LĐ đi làm việc ở nước ngoài mang về

2,5 – 3 tỷ USD/năm, sở dĩ đạt được kết quả này là do Philippins đã thành lập 3 cơ quan riêng biệt, độc lập trực thuộc bộ LĐ: Ban phát triển việc làm ngoài nước chịu trách nhiệm về việc tuyển mộ và bố trí lao động trên đất liền; Hội đồng thủy thủ quốc gia chịu trách nhiệm về các công ty tuyểnithủy thủ đi làm việc trên tàu viễn dương; Văn phòng dịch vụ việc làm chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi các tổ chức tuyển mộ đã được cấp phép; Chính phủ thục hiện chức năng tuyển mộ, bố trí và quản lý các khu vực tư nhân tham gia XKLĐ bằng CQCP duy nhất cục quản lý việc làm ngoài nước

Một vài gợi ý cho Việt Nam

- Một là, về chủ trương và cơ sở pháp lý đốiivới hoạt động XKLĐ: Chính phủ các nước đều coi XKLĐ là chiến lược, quốc sách lâu dài nên đều có chương trình quốc gia về XKLĐ

- Hai là, về quản lý chung: QLNN tập trung vào cơ quan chính phủ, quản lý chặt chẽ tới từng người lao động, các hợpiđồng được thẩm định một cách chặt chẽ, công tác quản lý ở ngoài nướciđược thực hiện hiệu quả hơn

- Ba là: công tác quản lý đào tạo định hướng được đặc biệt chú ý, các nước đều có trung tâm đào tạo quốc gia và QLNN đào tạo XKLĐ

- Bốn là: quản lý về lao động, chú trọngiphát triển văn phòng đại diện, vừa quản lý, vừa tham gia bảo vệ người LĐ

- Năm là: quản lý về thị trường XKLĐ, chính phủ tập trung chỉ đạo và hỗ trợ chương trình này thực hiện có hiệuiquả, đặc biệt công tác mở rộng thị trường

Trang 29

23

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO

ĐỘNG CỦA VIỆT NAM

2.1 Tình hình xuất khẩu lao động của Việ Nam Trong thời gian qua

2.1.1 Khái quát tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam thời gian qua

Ba mươi sáu năm qua (1980-2016), nước ta đã đưa được gần 132,4 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài

Căn cứ vào số lượng LĐXK trong 36inăm qua, chúng ta thấy năm 2016 là năm đưa đi được nhiều nhất, với 126292 người vàinăm 2015 là năm đưa đi nhiều thứ hai với 119530 người, năm 1992 đưa đi được ít nhất chỉ có 810 người, số lượng người đi xuất khẩu hàng năm tăng giảm thất thường Đến năm1997-1998 do cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chínhicủa các nước trong khu vực và trên thế giới, tỷ lệ laoiđộng của nhiều nước công nghiệp phát triển tăng cao, nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài giảm, nên số lao động Việt Nam đi XKLĐ từ 18500 người (năm 1997) giảm xuống còn trên 12000 ngưòi (năm 1998) và đến năm 1999 ước đi được khoảng 15000 người Đến năm 2002 số lao động đi làm việc ở nước ngoài đã tăng gần gấp 4 lần (45.882 người) so với năm 1998 Năm 2003, với việc khai thông thị trường mới Malaysia và do nhu cầu lao động tại thị trường Đài Loan tăng mạnh, XKLĐ của năm này đạt mức cao nhất từ trước đến thời điểm này (75.000 người) Tuy nhiên thời gian gần đây, tình hình thị trường XKLĐ của nước ta đã có những dấuihiệu tích cực, đỉnh điểm là năm 2016 đã đưa được khoảng hơn 126.000 lao động ra nước ngoài làm việc Từ đặc điểm nàyichúng ta có thể rút ra một số điểm lưu ý là: XKLĐ phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khách quan, sự biến động vềichính trị - kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giớiicó tác động trực tiếp đến việc XKLĐ của nước ta Song, cũng trong bối cảnh của tình hình thế giới như trên, một số nước như Philipin, Thái Lan, Trung Quốc, vẫn đưa được nhiều người đi XKLĐ, số người đi năm sau nhiều hơn năm trước; Ví dụ như Philipin, nămi1989 đi được 522.984 người, năm 1990: 446.095 người, năm 1991: 615019 người; năm

1998 Philipin vẫn đưa được 756.000 người Điều này chỉ rõ hàng năm một số nước vẫn có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài Chúng ta cần thực sự cầu thịitìm ra

Trang 30

24

chỗ yếu kém của mình để có giải pháp khắciphục.Các doanh nghiệp và tổ chức XKLĐ của Việt Nam vừa thiếu thông tin về thị trường XKLĐ, vừa thiếu điều kiện vật chất để hoạt động

2.1.2 Một số nét đặc trưng trong xuất i khẩu lao động của Việt Nam thời i gian qua

Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là đẩy mạnh XKLĐ: Duy trì và mở rộng XKLĐ trên thị trường đã có và phát triển trên thị trường mới Cho phép các thành phần kinhitế tham gia XKLĐ và làm dịch vụ XKLĐ trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý chặtichẽ của Nhà nước.Kiên quyết chấn chỉnh những hoạt động dịch vụ XKLĐ trái quy định của Nhà nước Năm

2002, Quốc hội thông qua Luậtisửa đổi, bổ sung mộtisố điều trong Bộ luật lao động, trong đó có bổ sung 6 điều về XKLĐ Ngày 17 tháng 7 năm 2003, Chính phủ Ban hành Nghị định 81/NĐ-CP thay thế nghị định 152/NĐ-CP Như vậy, có thể thấy trong các năm từ 2000 đến nay, chủ trương và chính sách XKLĐ đã rất rõ ràng và tương đối hoàn chỉnh, tạo khung pháp lý vững chắc để phát triển lĩnh vực này

a Hình thức XKLĐ

Hình thức XKLĐ trong giai đoạn nàyicũng tương tự như giai đoạn

1991-1999, chủ yếu XKLĐ thông qua hai hình thức chủ yếu sau: XKLĐ thông qua các hợp đồng cung ứng lao động (Đây vẫn là hình thức XKLĐ chủ yếu của nước ta trong giai đoạn này); XKLĐ theo hình thức bao thầu cóisử dụng nhân công

b Kết quả XKLĐ từ năm 2010 - 2016

Quy mô XKLĐ: Nhìn chung quy mô XKLĐ củainước ta trong giai đoạn này

có xu hướng tăng dần Nhìn biểu 2.1, có 2 thời điểm sụt giảm vào các năm 2012 và

2013 do biến động chính trị ở Lybia vàilao động của Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc bỏ trốn quá nhiều có thời điểm lên tới hơn 40% cao nhất trong tổng số 15 nước đang có lao động làm việc tại đây Từ năm 2014 đến 2016, lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng tăng mạnh vào năm 2016 với 126.296 người (tăng 32,3% so với năm 2010 và % ) Điều nàyicó được, một mặt là nhờivào sự chuyển đổi cơ chế chính sách của Nhà nước, mặt khác là sự hỗ trợ tích cực của các ngành, địa phương cùng sự nỗ lực của các doanh nghiệpitrongviệc khai thác và mở rộng thị trường Năm 2012, số lượng LĐXK của nước ta đã giảm xuống còn 80.320 người (giảm 6,3% so với năm 2010) Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của NLĐ Việt Nam ở nước ngoài, số lượng lao động bỏ trốn bất hợp

Trang 31

25

pháp ngày càng tăng và tranh chấpixảyiraigiữa một số NLĐ với doanh nghiệp XKLĐ Bên cạnh đó còn do ảnh hưởng của cuộc bất ổn chính trị tai Lybia

Từ năm 2014, với sự cố gắng của Chính phủ Việt Nam cùng các doanh nghiệp

để hạn chế số lượng lao động bỏ trốn nên LĐXK của nước ta tăng trở lại Năm 2014 đạt 106840 người, tăng 19,9% so với năm 2010 và tăng 25% so với năm 2012 Vào các năm 2012 và 2013 số lượng lao động giảm xuống chủ yếu là do ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu diễn ra vào năm 2008 đến nay chưa có dấu hiệu kết thúc, cuộc bất ổn chính trị, lao động bỏ trốn…

85564 88298 80320 88155

106840

115980

126296

năm 2010 năm 2011 năm 2012 năm 2013 năm 2014 năm 2015 năm 2016

Biểu 2.1: Quy mô xuất khẩu lao động qua các năm thời kỳ 2010-2016

Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước

Như vậy, thời kỳ này XKLĐ lao động của ta tăng lên 40732 người, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho đất nước Nếuitính bình quân thu nhập hàng tháng của NLĐ là

700 USD/người với khoảng 326.831 lao động đã đưa đi, trung bình mỗi hợp đồng là 2 năm thì tổng số tiền chuyển về cho đất nước ước tính khoảng hơn 1,9 tỷ USD

+ Cơ cấu LĐXK: Lao động của nước tailàm việc trong khoảng 60 nhóm ngành nghề thuộc các lĩnh vực xây dựng công nghiệp và dân dụng, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, các ngành dịch vụ, vận tải biển và đánh bắt, chế biến hải sản, chuyên gia Y tế, giáo dục, nông nghiệp…

Trang 32

đi làm việc ở nước ngoài thì đến năm 2016 tỷ lệ này là 38,8% tăng 4,1% Trong khi lao động chưaqua đào tạo giảm từ 65,3% xuống còn 61,2%

Đến giai đoạn sau năm 2010, cơ cấu LĐXK theo ngành nghề cũng có nhiều thay đổi, NLĐ Việt Nam hiện nay làm việc ở nước ngoài trong môi trường đa dạng với hơn 60 nhóm nghề thuộc cả 4 khu vực: Nông - Lâm - Ngư nghiệp; công nghiệp; xây dựng cơ bản và dịch vụ

Về giới tính, trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2008, nước ta chủ yếu XKLĐ nam ra làm việc ở nước ngoài Trung bình trong thời kỳ này (2000- 2007), lao động nam tham gia hoạt độngiXKLĐ chiếm gần 70% trên tổng số LĐXK của Việt Nam Lao động nam điiXKLĐ năm 2001 chiếm hơn 78% Tuy nhiên đến năm 2010 tỷ lệ nam giới đi XKLĐ giảm xuống còn 71,5% những năm tiếp theo tỷ

lệ này giảm dần từ 71,5% vào năm 2010 và đến năm 2016 còn 58,5%

Trang 33

Nguồn: Phòng QLLĐ - Cục Quản lý lao động ngoài nước năm 2017

+ Về thị trường: Giai đoạn này công tác thị trường đã được đặc biệt coi trọng,

đã có sự tham gia của cơ quan Nhà nước vào công tác mở thị trường, đặc biệt là có quy định của pháp luật về công tác ngoại giao phụcivụ kinh tế, trong đó có một nhiệm vụ quan trọng là mở thị trường XKLĐ Chúng ta đã xây dựng và thực hiện các đề án cụ thể cho từng thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Trung Đông, Châu Phi, lao động trên biển

Bảng 2.3: Tình hình XKLĐ của Việt Nam tại các thị trường từ 2010-2016

Trang 34

là thị trường Nhật Bản với tổng số LĐXK trong giai đoạn này là 119,873 người, trong

đó năm 2016 là nhiều nhất với 39.938 người, còn lại các năm khác đều tăng

Đứng thứ 3 về số lượng XKLĐ củaiViệt Namitrong giai đoạn 2010-2016 là thị trường Hàn Quốc với tổng số là 60.259 người.Tiếp đến là thị trường các nước Malaixia với 53.252 người, Trung Đông với 20.968 người

Bảng 2.4:Tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài/vùng lãnh thổ và

số nước/ vùng lãnh thổ nơi đến theo năm đi từ năm 2010– 2016

Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TB-XH

Nhìn chung từ năm 2010- 2016 tổng số lao động đi làm việc tại nước ngoài tăng lên 32,4% tương đương với 40732 người

Năm 2016 tăng 8,99% so với năm 2015 vượt 26,29% kế hoạch đề ra( theo hiệp hội XKLĐ – VAMAS công bố) Đây là năm thứ 3 liên tiếp số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 lao động/năm Tại các thị trường trọng điểm gồm: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốcisố lượng lao động đưa đi đều tiếp tục tăng lên năm sau so với năm trước Như năm 2016 so với năm 2015 cụ thể:

Trang 35

29

68.244 lao động đi Đài Loan, 39.938 lao động đi Nhật Bản( tăng 47,86%), 8.482 lao động đi Hàn Quốc( tăng 40,92%)

Mục tiêu năm 2017 đưa 105.000 đi lao động xuất khẩu

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam

Hoạt động XKLĐ và cơ chế QLNN về XKLĐ ở nước ta về cơ bản được phân thành hai thời kỳ, trước và sau năm 1991 với dấuimốc là sự ra đời của Nghị định số

370 - HĐBT, ngày 09/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Trong luận văn này, tác giả tập trung đi sâu phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ ở nước ta từ sau năm 2010 trở lại đây, còn giai đoạn từ 2010 trở về trước chỉ khái quát một số nội dung cơ bản

2.2.1.Tình hình quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong giai đoạn 1991 đến nay

Sau những năm 1990 của thế kỷ trước, trongicông cuộc đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN cũng như tiến hành đẩy mạnh hội nhập với nền kinh tế thế giới, quan điểm của Đảng và Nhà nước về XKLĐ đã chỉ rõ XKLĐ là một hoạt động kinh tế đốiingoại, tuân theo nguyên tắc thị trường, theo các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu, quy luật giá cả giá-trị, quy luật cạnh tranh

Phương hướng phát triển XKLĐ trong cơ chế thị trường được chỉ rõ: “XKLĐ và

chuyên gia được mở rộng và đa dạng hóa hình thức, thị trường XKLĐ, phù hợp với

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứnginhu cầu của nước ngoài về

số lượng, trình độ và ngành nghề ”[1] Đến tháng 4 năm 2001, tại Đại hội Đảng

lần thứ IX đã tiếp tục khẳng định:“Đẩy mạnh XKLĐ, xây dựng và thực hiện đồng

bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn lao động ,đưa lao động ra nước ngoài, bảo vệ quyền lợi và tăng uy tín của NLĐ Việt Nam ở nước ngoài ” [5

Theo đó, hệ thống văn bản pháp luậtivề XKLĐ đã và đang có hiệu lực thi hành bao gồm:

Bộ Luật lao động nước CHXHCN Việt Nam đã được Quốc hội thông qua năm 1994

Đến năm 2002, Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung một số điều như: ngoài việc đã sửa đổi toàn diện 02 điều về XKLĐ, còn bổ sung thêm 04 điều mới [38], đưa tổng số nội dung đề cậpivề XKLĐ lên 06 điều, bao phủ khá toàn diện các vấn đề liên quan tới hoạt động XKLĐ Tiếp tục đổi mới hệ thống pháp luật về

Trang 36

30

XKLĐ, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được

Quốc hội thông qua năm 2006 (Luật số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc

hội khoa XI, kỳ họp thứ 10 - gọi tắt là Luật 72), có hiệu lực thi hành kể từ ngày

1/7/2007 [39], gồm 8 chương với 80 điều, quy địnhichi tiết và cụ thể hơn nhiều nội dung trước đây do các văn bản dưới luật quy định

Bên cạnh đó, một hệ thống vănibản pháp lý dưới luật (Nghị định, Thông tư, Quyết định ) đã được ban hành nhằm chi tiết và cụ thể hóa các quy định của luật

Cụ thể như sau:

Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ: số 163/2004/QĐ-TTg ngày 08/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ XKLĐ

Các thông tư và các văn bản hướng dẫn: Thông tư, Chỉ thị và Quyết định Ngày 22/9/1998, Bộ Chính trị khóaiVIII ban hành Chỉ thị số 41-CT/TW về đẩy mạnh XKLĐ và chuyên gia [1], trong đó nhấn mạnh phương hướng và việc đổi mới hoạt động XKLĐ Như vậy điểm mới trong Chỉ thị này là xác định 5 mục tiêu cơ bản của XKLĐ bao gồm: Phát triển nguồn nhân lực; giải quyết việc làm; tạo thu nhập; tăng thu ngoại tệ và tăng cườngihợp tác quốc tế

Ngày 20/9/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/1991/NĐ-CP quy định việc NLĐ và chuyên gia Việt Nam đi làm có thời hạn ở nước ngoài Nghị định

152 đã có những điểm mới sau:

Thứ nhất, về đối tượng được phép kinh doanh XKLĐ, được chia làm 2 loại

chuyên doanh và không chuyên doanh: Loại chuyên doanh hoạt động có giấy phép đưa người đi làm việc có thời hạn ở nướcingoài do Bộ LĐTBXH cấp; Những doanh nghiệp không có giấy phép hoạt động chuyên doanh, nhưng có hợp đồng nhận thầu, xây dựng công trình; hợp đồng liên doanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài, hợp đồng cung ứng lao động phù hợp với ngành nghềisản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đầu

tư ra nước ngoài cũng được phép đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài

Thứ hai, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của NLĐ khi đi làm việc ở nước

ngoài như; hoàn thành tốt hợp đồng được trả lại tiền đặt cọc, ưu đãi về lãi suất… hoặc tổ chức cho người khác bỏ hợp đồng trốn ra ngoài làm, cư trú bất hợp pháp

Trang 37

31

thu phí dịch vụ theo tỷ lệ % trên mức tiền lương của NLĐ bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra; doanh nghiệp đượcinhà nước hỗ trợ đào tạo tay nghề, kỹ thuật, công nghệ, ngoại ngữ cho NLĐ và bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ của doanh nghiệp làm nhiệm vụ quản lý hợp đồng của NLĐ đi làm ở nước ngoài Về nghĩa vụ, doanh nghiệp phải chuyển toàn bộ số tiền đặt cọc đã thu của NLĐ và đồng thời công khai hóa mọi thủ tục và thông tin liên quan…

Đồng thời, nêu rõ trách nhiệm của các bộ, ngành: Bộ LĐTBXH, Ngoại giao, Tài chính, Công an, Thương mại, Kế hoạchivà đầu tư, UBND các tỉnh thành phố nhằm tạo sức mạnh đồng bộ để đẩy mạnh XKLĐ

Trên cơ sở Nghị định 152, Bộ LĐTBXH đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành 4 Thông tư, 5 Quyết định và nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị địnhivề chế độ tài chính, cấp giấy phép, thẩm định hợp đồng, đào tạo lao động, ngăningừa xử lý vi phạm trong hoạt động XKLD

Ngày 02/4/2002, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung thì hoạt động XKLĐ cũng đã được bổ sung choiphù hợp với tình hình thực tế và nhấn mạnh việc tăng cường vai trò QLNN về XKLĐ, tạo điều kiện để các tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả, quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp, quyền lợi và trách nhiệm của NLĐ.Để tiếp tục đổi mới cơ chế XKLĐ, ngày 17/7/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2003/NĐ-CP quy địnhichi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài thay thế cho Nghịđịnh 152/1999/NĐ-CP Nghị định gồm 07 chương, 37 điều, quy định điều kiện cấp, thu hồi giấy phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việciở nước ngoài; đăng ký hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp; quyền và nghĩa vụ của NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài; Quỹ hỗ trợ đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Nghị định cũng quy định NLĐ nộpiphí dịch vụ không quá một tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc, riêng đối với sỹ quan và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển không quá 1,5 tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc Ngoài ra, để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 81/2003/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 01 Quyết định, Bộ LĐTBXH và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành 07 Thông tư và nhiều văn bản hướng dẫn thựcihiện Nghị định nêu trên

Trang 38

32

Trước tình hình, tỷ lệ NLĐ Việt Nam đi làm ở nước ngoài bỏ hợp đồng ra ngoài làm ăn cư trú bất hợp pháp ngày càng cao, ngày 11/11/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số141/2005/NĐ – CP về quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài nhằm xử lý đối với LĐ pháihợp đồng ở lại nước ngoài là măn, cư trú bất hợp pháp Quy định trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với NLĐ phá hợp đồng ở lại mức ngoài làm ăn, cư trú bất hợp pháp Quy định trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với NLĐ bỏ trốn và nếu cố tình bỏ trốn thì

có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vớiitội danh “ở lại nước ngoài trái phép”

Đến ngày 29/11/2006, tại kỳ hợp thứ 10, Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã thông qua Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 So với pháp luật hiện hành về XKLĐ, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có những điểm mới như mở rộng loại hình doanh nghiệp thamigia hoạt động XKLĐ, các hình thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, chế độ tài chính trong hoạt động XKLĐ, chế tài

xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật XKLĐ[6]

Cùng với việc đổi mới hệ thống phápiluật về lao động thì các văn bản hướng dẫn thi hành luật giai đoạnisau này cũng ngắn gọn hơn, ví dụ như Nghị định 126/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng chỉ còn có 17 điều (giảm 20 điều so với Nghị định số 81/2003/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành Bộ Luật lao động về XKLĐ) Các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong XKLĐ cũng được sửa đổi, bổ sung chi tiết và cụ thể hơn tại Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 với tổng số 44 hành vi vi phạm của từng đối tượng Với cơ sở pháp lý chặt chẽ và nhữngiqui định cụ thể, rõ ràng, minh bạch nên tính hiệu lực của pháp luật đã tăng lên nhiều Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật cũng chú trọng xây dựng cơ sở pháp lý để đảm bảo hiệu lực của các công cụ quản lý như giấy phép hoạt động, đăng ký hợp đồng, các hình thức XKLĐ đều được qui định cụ thể trong luật; quyền hạn và trách nhiệm của doanh nghiệp XKLĐ và NLĐ, chức năng và nhiệm

vụ của các cơ quan QLNN về XKLĐ đềuiđược quy định cụ thể và đầy đủ hơn.Có thể

kể ra một số văn bản chính như: Thông tư liên tịch số BTC ngày 4/9/2007 của Bộ LĐTBXH và Bộ Tài chính quy định cụ thể về tiền môi giới

16/2007/TTLT-BLĐTBXH-và tiền dịch vụ trong hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp

Trang 39

33

đồng; Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT- BLĐTBXH-BTP ngày 11/7/2007 của Bộ LĐTBXH và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch số17/2007/TTLT-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 4/9/2007 của

Bộ LĐTBXH và Ngân hàng Nhà nước quy định việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ; Quyết định số 18/2007/QĐ- BLĐTBXH ngày 18/7/2007 củaiBộ trưởng Bộ LĐTBXH ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Quyết định số 19/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 18/7/2007 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ban hành quy định về tổ chức bộ máy hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Quyết định số 20/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 2/8/2007 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ban hành chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Như vậy, sau khi Luật 72 ra đời đến nay, xét một cách tổng thể, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dưới Luật đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, đồng

bộ và kịp thời Nội dung những quy định cụithể tại các văn bản hướng dẫn đảm bảo tính thống nhất nên hiệu quả của Luật đã được phát huy, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện pháp luật về hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài một cách kịp thời, tạo cơihội thuận lợi hơn cho không chỉ NLĐ mà cả các doanh nghiệp được cấp phép tham gia hoạt động này và bước đầu đáp ứng yêu cầu QLNN về đưa NLĐ đi làm việciở nước ngoài Đến thời điểm này hệ thống pháp luật về XKLĐ đã được đánh giá là cơ bản đầy đủ và đồng bộ Do vậy, có thể khẳng định các kết quả đạt được trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế là thành tựu rất lớn của QLNN về XKLĐ Tuy nhiên, bên cạnh đó thì thể chế XKLĐ hiện nay vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định như:

- Vẫn còn một số quy định trong Luật chưaiđược hướng dẫni cụ thể, đầy đủ như: + Đối với hợp đồng cung ứng lao độngicho đối tác nước ngoài, chưa có quy định mẫu và nội dung cụ thể phù hợp với từng TTLĐ (quy định tại khoản 3, Điều

Trang 40

+ Đối với quy định về chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, dân tộc thiểu

số đi XKLĐ, đồng bộ về mức vay và lãi suất cho vay.Điều đó được thể hiện giữa các chính sách theo Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm đến năm 2010; Quyết định 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 về một số chính sách hỗ trợ giảiiquyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008-2010; Quyết định số 103/QD- TTg ngày 21/7/2008 về phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề tạoiviệc làm giai đoạn 2008-2015; Quyết định

số 71/2009/QĐ-TTg về “Phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh XKLĐ góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009- 2020”

+ Chưa quy định cụ thể cách thứcivà nội dung thông báo nên một số doanh nghiệp thực hiện không nghiêm túc và chính quyền địa phương khó nắm bắt được tình hình tuyển dụng lao động trên địa bàn

- Một số qui định của Luật đã chưa đi vào cuộc sống vì chưa có chính sách thực hiện cụ thể, làm cho một số quy địnhicủa Luật (Luật 72) mang tính hình thức, khả năng thực thi không cao như hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý, dạy nghề, ngoại ngữ của doanh nghiệp (khoản 3, Điều 5); khuyến khích đưa nhiều lao động có chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở những nước cóithu nhập cao, đi làm việc tại những công trình, dự án do doanh nghiệp nước ta trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ở nước ngoài (khoản 5, Điều 5); chính sách đối với laoiđộng hoàn thành hợp đồng về nước (Điều 59, 60); chính sách đầu tư của nhà nước với các cơ sở dạy nghề cho LĐXK (Điều 64 của Luật) Đến nay, không chỉ chưa ban hành chính sách riêng để thực hiện những quy định nêu trên của Luật 72, mà việc ban hành các văn bản hướng dẫn

Ngày đăng: 27/06/2018, 09:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w