Khái niệm liên quan đến chất thải y tế Theo WHO, chất thải y tế là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm cả các chất thải nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn The
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ quan trọngcủa ngành Y tế Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám, chữa bệnh và chămsóc sức khỏe của nhân dân, hệ thống các cơ sở y tế đã không ngừng được tăngcường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, hệ thống y
tế đặc biệt là các Bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải bỏChất thải tại các bệnh viện là những chất thải ra trong quá trình điều trị,chẩn đoán, chăm sóc và sinh hoạt trong môi trường bệnh viện Chất thải bệnhviện bao gồm: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm, chất thảithông thường [1]
Theo WHO, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chấtthải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chấtgây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điềutrị [3], đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầmbệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùngbệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật đối với cộng đồng dân cư sống trong vùng tiếpgiáp Do đó, vấn đề xử lý chất thải y tế (CTYT) tại các bệnh viện luôn là vấn đềquan tâm của toàn xã hội
Bộ Y Tế đã ban hành nhiều quy định về: Phân loại, thu gom và xử lý CTYTnhư: Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộtrưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế… và gần đây làThông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT – BTN&MT Quy định về việc phânloại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTYT
Để thực hiện tốt những quy định này, Trường Cao đẳng y tế Thái Nguyêncũng đã và đang giảng dạy cho sinh viên cách phân loại, thu gom và xử lýCTYT để các em có kiến thức và thái độ đúng đắn với công tác phân loại, thugom và xử lý CTYT khi đi thực hành chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Tuyvậy, để đánh giá kiến thức, thái độ của sinh viên Điều dưỡng tại Trường CĐYT-
TN về vấn đề này trong thời gian qua vẫn chưa có điều tra nào
Trang 2Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá nhận thức, thái độ của Sinh viên Cao đẳng điều dưỡng khóa 10 đối với việc thu gom, phân loại chất thải y tế sau khi đi thực tập lâm sàng tại bệnh viện A Thái Nguyên” nhằm mục tiêu:
1 Đánh giá nhận thức, thái độ của sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng khóa 10 đối với việc thu gom, phân loại chất thải y tế
2 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao sự nhận thức và thái độ của sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng đối với việc thu gom, phân loại chất thải y tế
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chất thải y tế
1.1.1 Khái niệm liên quan đến chất thải y tế
Theo WHO, chất thải y tế là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các cơ
sở y tế, bao gồm cả các chất thải nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn
Theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Việt Nam:
- Chất thải y tế: Là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm CTYT nguy hại và chất thải thông thường
- Chất thải y tế nguy hại: Là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con
người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đượctiêu hủy an toàn
- Chất thải y tế thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ
- Quản lý chất thải y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu
gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ CTYT
và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
- Thu gom chất thải tại nơi phát sinh: Là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế
- Vận chuyển chất thải: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới
nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy
- Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữhoặc tiêu hủy
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTN&MT ngày 31/12/2015 của Bộ Y
tế và Bộ TN&MT: Chất thải y tế được phân loại như sau:
1.1.2.1 Chất thải lây nhiễm bao gồm:
Trang 4a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vếtcắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn củadây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh; cưa dùng trongphẫu thuật và các vật sắc nhọn khác
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứamáu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách lyc) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụđựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ cácphòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định
số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tạiphòng xét nghiệm
d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xácđộng vật thí nghiệm
1.1.2.2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
a) Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
b) Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại
từ nhà sản xuất;
c) Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và cáckim loại nặng;
d) Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
đ) Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTN&MT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường vềquản lý chất thải nguy hại
36/2015/TT-1.1.2.3 Chất thải y tế thông thường bao gồm:
a) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của conngười và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
b) Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mụcCTYT nguy hại
c) Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
Trang 5 Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
a) Chất thải y tế nguy hại và CTYT thông thường phải phân loại để quản
lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
b) Từng loại CTYT phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bịlưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các CTYT nguy hại không có khảnăng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý cóthể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa
c) Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗnhợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:
a) Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụphân loại CTYT
b) Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại CTYT phải có hướng dẫn cách phânloại và thu gom chất thải
Bao bì, dụng cụ lưu chứa chất thải y tế:
a) Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kíchthước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa
b) Màu sắc của bao bì, dụng cụ lưu chứa CTYT quy định như sau:
- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ lưu chứa chất thải lây nhiễm;
- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm
- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT thông thường
- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế
Trang 6
Phân loại CTYT tương ứng với màu sắc bao bì, dụng cụ lưu chứa CTYT:a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng cólót túi và có màu vàng;
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng cólót túi và có màu vàng;
d) Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và cómàu vàng;
đ) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trongthùng có lót túi và có màu đen;
e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ
1.1.3 Thu gom chất thải y tế
1.1.3.1 Thu gom chất thải lây nhiễm:
a) Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưugiữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
b) Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựngchất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ trong quá trình thu gomc) Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lâynhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khuvực khác trong cơ sở y tế
d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom vềkhu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
đ) Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chấtthải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày
Trang 7e) Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khulưu giữ tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu
là 01 (một) lần/tháng
1.1.3.2 Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:
a) Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
b) Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua
sử dụng có chứa thủy ngân: Chất thải có chứa thủy ngân được thu gom và lưugiữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không
bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường
1.1.3.3 Thu gom chất thải y tế thông thường: CTYT thông thường phục vụ mục
đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thugom riêng
1.1.4 Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
a) Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chấtthải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường.Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C,thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lâynhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03 ngày trongđiều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặcthiết bị lưu chứa được đậy nắp kín;
b) Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về để xử
lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày.Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C vàthời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày
1.1.5 Tác hại của chất thải y tế
1.1.5.1 Đối với môi trường
Trang 8 Môi trường đất: Chất thải y tế được xử lý không đúng cách trước khi thải bỏ
vào môi trường thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm sâuvào môi trường đất gây nhiễm độc, nhiễm mầm bệnh cho môi trường đất
Môi trường không khí: Từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng, CTYT
đều gây tác động xấu tới môi trường không khí Nếu không được thu gom, quản
lý đúng quy cách, chúng có thể phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơidung môi, hóa chất… vào không khí Ở khâu xử lý sẽ phát sinh những khí độchại như dioxin, fluran từ lò đốt hoặc CH4, NH3, H2S…từ bãi chôn lấp Các khínày nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe củacộng đồng dân cư xung quanh
Môi trường nước: Nước thải từ các cơ sở y tế bao gồm nước thải sinh hoạt
và nước thải từ các bồn rửa các thiết bị, dụng cụ y tế đã qua sử dụng Do đó,nước thải có thể chứa Salmonella, tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn Gram âm đakháng, các chất hữu cơ, các hóa chất độc hại, các kim loại nặng… Chính vì vậy,nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải ra môi trường sẽ gây nhiễmbệnh, nhiễm độc cho cộng đồng dân cư xung quanh sử dụng nguồn nước này
1.1.5.2 Đối với con người
Tất cả những người tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có nguy cơ bị tác hại,bao gồm những người làm việc trong cơ sở y tế, những người làm nhiệm vụ vận
chuyển CTYT và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm do hậu quả của
việc thu gom, quản lý, vận chuyển và xử lý không đúng quy cách
- Chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn: Chất thải loại này có thể chứa một
lượng lớn các tác nhân vi sinh vật truyền nhiễm như: Salmonella, lỵ, các loạisán, các virus HIV, viêm gan B, C… Đặc biệt, chất thải sắc nhọn được coi làchất thải rất nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người,nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm vừa thông qua vết thương gâynên bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải đó có các mầm bệnh
Những nguy cơ của chất thải lây nhiễm[6]:
Trang 9Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây bệnh Chất truyền bệnh
Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa Salmonella, Shigella ,
Vibrio cholera Phân và chất nônNhiễm khuẩn đường hô hấp Trực khuẩn Lao, virus sởi,
phế cầu khuẩn…
Nước bọt, chất tiếtđường hô hấp
Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây bệnh Chất truyền bệnh
Bệnh suy giảm miễn dịch HIV Máu, dịch tiết từ
đường sinh dục
Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể
- Chất thải hóa học và dược phẩm: Những chất này có thể gây nhiễm độc cấp
tính hoặc mạn tính khi tiếp xúc Việc tiếp xúc với các chất ăn mòn, các hóa chấtgây phản ứng, chất dễ cháy có thể gây tổn thương đến da, niêm mạc, mắt hoặcniêm mạc đường hô hấp
- Chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại
phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong bệnh viện, các chất phóng xạthường có chu kỳ bán rã ngắn (từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các dấuhiệu hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn, ở mức độnghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền[4]
1.2 Tình hình nghiên cứu về chất thải y tế
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt
là các nước phát triển như: Anh, Mỹ, Nhật Bản, Canada, các công trình nghiêncứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý CTYT (biện pháp giảm thiểu chấtthải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quảcủa các biện pháp xử lý chất thải, ), tác hại của CTYT đối với môi trường, biện
Trang 10pháp giảm thiểu tác hại của CTYT và phòng chống tác hại của CTYT đối vớisức khỏe cộng đồng[6].
1.2.1.1 Tình hình phát sinh chất thải y tế
Chất thải y tế phát sinh thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụthuộc vào yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện,lượng người bệnh khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực,phương pháp, thói quen của nhân viên y tế trong việc khám điều trị, chăm sóc,
số lượng người nhà được phép đến thăm
Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng CTYT thay đổi theo từng khu vựcđịa lý, theo mùa và theo mức thu nhập của quốc gia Các nước có thu nhập caothì lượng CTYT phát sinh trên đầu người cũng gia tăng, trung bình 0,4 - 5,5kg/đầu người Đồng thời lượng CTYT phát sinh cũng thay đổi tùy theo từng loạihình bệnh viện[7]
1.2.1.2 Công tác phân loại chất thải y tế
Ở các nước phát triển, CTYT phân thành các loại như sau: Chất thải khôngđộc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại);chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễmkhuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hóa học và dược phẩm(không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thảiphóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao[6]
1.2.1.3 Thu gom và lưu giữ chất thải y tế
Theo WHO, có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế có khoảng 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổnthương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng làphơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất với nhân viên y tế, chủ yếu là do dùnghai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn [6]
Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe và môi trườngkhu vực Châu Á - Thái Bình Dương, phần lớn các nước đang phát triển khôngquản lý tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả
Trang 11các loại chất thải khác Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản,Singapore, Australia, New Zeland đã đi đầu trong công tác xử lý CTYT [6].
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như xử lýchất thải bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được
áp dụng Vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phươngpháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippines đã áp dụng phương pháp
xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thảiđộc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng cónhững thiết bị cọ rửa; Indonesia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết chocác bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựachọn phù hợp [6]
1.2.2 Nghiên cứu trong nước
Trong những năm qua, hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môitrường, quản lý chất thải đã được ban hành, đây là căn cứ pháp lý cho các cấp cơ
sở quản lý có phát sinh chất thải thực hiện nhằm từng bước cải thiện tình trạng ônhiễm môi trường ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình phát sinh chất thải y tế
Chất thải y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuấtphát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giườngbệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số giatăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế, lượngCTYT nguy hại phát sinh khác nhau giữa các loại hình cơ sở y tế khác nhau.Cácnghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến Trung ương và tại các thành phố lớn có
tỷ lệ phát sinh CTYT cao nhất [3]
Theo nghiên cứu của Cục Quản lý khám chữa bệnh năm 2009 – 2010, lượngCTYT phát sinh trung bình 100-140 tấn/ngày (0,86kg/giường/ngày), trong đó có16-30 tấn thuộc chất thải nguy hại
1.2.2.2 Công tác phân loại chất thải y tế
Chất thải y tế phát sinh ở bệnh viện được phân loại ngay tại nguồn chiếm(81,25%) nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Việc phân loại
Trang 12chưa theo chuẩn mực như: Chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, còn lẫn nhiềuchất thải sinh hoạt vào CTYT và ngược lại Còn nhiều Bệnh viện chưa thu gomvật sắc nhọn vào các hộp đựng theo đứng tiêu chuẩn qui định, đa số các bệnhviện (88,6%) thường đựng vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựađựng nước khoáng [7]
1.2.2.3 Thu gom và lưu giữ chất thải y tế
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương (2007-2009) thì mức
độ phân loại, thu gom chất thải trong các bệnh viện chiếm 95,6% trong đó91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn [3]
Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ,còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thườngđược đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý; có 63,6% sử dụngtúi nhựa làm bằng nhựa PE, pp; chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theođúng quy chế; hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTYT được thu gom hàngngày[3]
Trang 13CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng khóa 10, đi thực
tập lâm sàng tại bệnh viện A Thái Nguyên
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018
- Địa điểm: Bệnh viện A Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả, thiết kế cắt ngang
2.4 Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, có chủ đích: Lấy tất cả 281 sinh
viên Cao đẳng Điều dưỡng sau khi đi thực tập tại Bệnh viện A, Tỉnh Thái Nguyên
2.5 Nội dung nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên Điều dưỡng về công tác thu gom, phân loại và xử lýCTYT được đánh giá thông qua các nội dung:
Nhận thức cơ bản về CTYT: Định nghĩa CTYT, CTYT nguy hại …
Nhận thức của sinh viên về phân loại CTYT
Nhận thức của sinh viên về thu gom CTYT
Nhận thức của sinh viên về tác hại của CTYT
Tác hại của CTYT đối với con người
Tác hại của CTYT đối với môi trường
Thái độ của sinh viên Điều dưỡng về công tác thu gom, phân loại và xử lýCTYT được đánh giá thông qua các nội dung:
Thái độ của sinh viên về ý nghĩa của công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT
Mức độ quan tâm của sinh viên đến công tác phân loại, thu gom và xử lý CTYT
Thái độ của sinh viên đối với học tập về công tác phân loại, thu gom và xử
lý CTYT
2.6 Phương pháp thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi thu thập số liệu được xây dựng dựa trên Thông tư liên tịch số58/2015/TTLT-BYT-BTN&MT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ TN&MTquy định về quản lý CTYT
Thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi tự điền nhằm tìm hiểu: Nhận thức củasinh viên về phân loại, thu gom và xử lý CTYT; sự nhận thức về tác hại của
Trang 14CTYT đối với con người và môi trường của sinh viên; thái độ của sinh viên đốivới công tác quản lý CTYT