Không chỉ có các nhà nghiên cứu viết về lễ hội trong các cuốn sách, các bài tạp chí, các nhà báo cũng công bố hàng nghìn bài viết trên báo chí về thành tố văn hóa tinh thần này.. Nghiên
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Xuân Kính
Hà Nội, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí Việt Nam là
công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Xuân Kính
Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố tại bất cứ công trình nào và công trình này đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu
Nghiên cứu sinh
Lại Thị Hải Bình
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ, HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Sơ đồ tương quan trong việc sử dụng ngôn từ 99 Hình 3.2: Biểu đồ tỉ lệ bài viết về lễ hội đăng tải năm 2014 102 Hình 4.1: Ảnh minh họa về lễ hội được đăng tải trên báo mạng 136,137
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG
8 1.1 Khái niệm 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu lễ hội 14
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về diễn ngôn trên báo chí 21
1.4 Lí thuyết diễn ngôn 24
CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN VỀ LỄ HỘI TRÊN BÁO CHÍ TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
32 2.1 Diễn ngôn báo chí về lễ hội trước Cách mạng tháng Tám 32
2.2 Diễn ngôn báo chí về lễ hội từ ngày độc lập (2/9/1945) đến ngày đất nước thống nhất (30/4/1975)………
59 2.3 Diễn ngôn báo chí về lễ hội từ sau ngày đất nước thống nhất đến tháng 12/1986
72 CHƯƠNG 3: DIỄN NGÔN VỀ LỄ HỘI TRÊN BÁO CHÍ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
79 3.1 Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí từ tháng 12/1986 đến hết năm 1996 79
3.2 Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí từ năm 1997 đến năm 2009 87
3.3 Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí từ năm 2010 đến nay 99
CHƯƠNG 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ DIỄN NGÔN VỀ LỄ HỘI TRÊN BÁO CHÍ
116 4.1 Mối quan hệ giữa chính quyền – nhà khoa học – nhà báo – dư luận xã hội 116 4.2 Vấn đề giới của chủ thể diễn ngôn 127
4.3 Định hướng tuyên truyền của Đảng và Nhà nước 131
4.4 Nền kinh tế thị trường và xu hướng thương mại hóa hoạt động báo chí … 134 4.5 Chủ nghĩa dân tộc, quan điểm bảo tồn di sản và những “ám ảnh” tiến hóa luận
138 KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 167
Trang 7Đã có nhiều hướng nghiên cứu lễ hội: nghiên cứu một lễ hội tiêu biểu (như hội Gióng ở Gia Lâm, Hà Nội), nghiên cứu lễ hội một tỉnh, miêu thuật giới thiệu tổng quát lễ hội cả nước; nghiên cứu các thời kỳ lịch sử lễ hội; đúc kết các vấn đề lý luận (như giá trị của lễ hội, cấu trúc và thành tố của lễ hội, vai trò của lễ hội cổ truyền trong cuộc sống đương đại, )
Không chỉ có các nhà nghiên cứu viết về lễ hội trong các cuốn sách, các bài tạp chí, các nhà báo cũng công bố hàng nghìn bài viết trên báo chí về thành tố văn hóa tinh thần này Việc phản ánh lễ hội trên báo chí thể hiện sự quan tâm của nhà báo, cho thấy những biến động lịch sử xã hội trong suốt chiều dài lịch sử Thông qua báo chí, lễ hội được đánh giá dưới nhiều góc độ Diễn ngôn về nó thể hiện một cách chân thực quan niệm của thời đại, đồng thời cho thấy sự thay đổi nhanh chóng những quan niệm này trong các mốc thời gian khác nhau Nghiên cứu diễn ngôn về
lễ hội trên báo chí là một vấn đề lý thú nhằm khám phá các chiều kích văn hóa, xã hội, tư tưởng của lịch sử Việt Nam Là người đi sau, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm
và thành quả của người đi trước, chúng tôi xin được nghiên cứu diễn ngôn về lễ hội trên báo chí
Việc nghiên cứu lễ hội là phù hợp với chuyên ngành Văn hóa học Nghiên cứu diễn ngôn là một trong những hướng quan tâm của ngành Nghiên cứu văn hóa
Ở nước ta, giữa Văn hóa học (Culturelogy) và Nghiên cứu văn hóa (Cultural Studies) có nhiều điểm chung và cũng có sự phân biệt “Hướng tiếp cận của Nghiên
Trang 8cứu văn hóa phương Tây sẽ là một sự bổ sung cho Văn hóa học trong việc khám phá một lĩnh vực phong phú, biểu trưng và đa nghĩa như văn hóa” [130, tr.91]
Thực hiện đề tài “Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí Việt Nam”, chúng tôi có
dịp trải nghiệm nghiên cứu liên ngành giữa Văn hóa học và Báo chí học Từ góc nhìn của chúng tôi – một cán bộ giảng dạy trong một trường đào tạo báo chí truyền thông, chắc chắn sau khi hoàn thành luận án, đề tài sẽ có tác động tích cực đối với việc giảng dạy của bản thân, tạo điều kiện để NCS tiếp tục công tác chuyên môn tốt hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, tập hợp và hệ thống hóa các bài báo viết về lễ hội từ đầu thế kỷ
XX đến nay Đối với báo chí trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 do khối lượng không nhiều và tình hình lưu trữ báo chí của ta không thật đầy đủ cho nên chúng tôi
cố gắng khai thác tối đa những tư liệu hiện còn Đối với báo chí từ năm 1955 đến nay, nhất là báo chí từ năm 1986 trở lại đây do số lượng các tờ báo rất lớn, do số lượng các bài báo viết về lễ hội cực kỳ phong phú, chúng tôi tập hợp theo nguyên tắc lựa chọn những tờ báo tiêu biểu
- Thứ hai, trên cơ sở bối cảnh chính trị xã hội, tình hình kinh tế, tình hình báo chí, các khuynh hướng và nội dung diễn ngôn về lễ hội trên báo chí, luận án sẽ phân chia diễn ngôn về lễ hội trên báo chí thành các thời kỳ, trong mỗi thời kỳ lại chia thành các giai đoạn Việc phân kỳ, phân đoạn này tạo nên cái nhìn khái quát về diễn ngôn trên báo chí về lễ hội từ đầu thế kỷ XX đến nay
- Thứ ba, phân tích diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn
- Thứ tư, bàn luận những vấn đề đang đặt ra nhằm góp phần lý giải và cung cấp những kinh nghiệm để các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, giới báo chí và những người quan tâm tham khảo
Trang 93 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những diễn ngôn về lễ hội được đăng tải trên báo chí Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay
báo quốc ngữ ra đời sớm nhất ở Hà Nội, đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tìm cách phổ biến chữ quốc ngữ trong mọi tầng lớp dân chúng và thay đổi lối hành văn trong cách viết Đồng thời tạp chí cũng truyền bá tư tưởng Âu Tây bằng cách dịch những tác phẩm hay và nghiên cứu tư tưởng nền văn học Á Đông trên tinh thần mới Tờ báo còn đóng vai trò lớn trong tiến trình hiện đại hóa văn học 30
năm đầu thế kỷ XX [17] Về tạp chí Nam Phong, cuối đời nhìn lại, học giả Đào Duy
Anh kể rằng, ông có hứng thú với văn học Việt Nam nhờ những truyện ngắn của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn đăng trên tạp chí này Khi dạy học ở Đồng Hới (Quảng Bình), đồng thời với việc học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất
định, ông nghiên cứu Quốc văn và Hán văn với công cụ chính là Nam Phong tạp chí
[1, tr.18-19]
Không ít trường hợp như Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, sau khi đăng bài trên báo, các tác giả đã tập hợp các bài viết lại in thành sách
Về báo chí từ năm 1945 đến năm 1986, chúng tôi khảo sát diễn ngôn về lễ
hội trên báo Sự Thật, báo Nhân Dân, báo Tiền phong và các tập san Văn hóa, tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, tạp chí Văn học, tạp chí Dân tộc học, tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, tạp chí Văn hóa dân gian Đây là những tờ báo xuất bản ở Hà Nội,
dưới chính thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo Riêng về báo chí miền Nam
(1955-1975), chúng tôi khảo sát diễn ngôn về lễ hội trên Văn hóa nguyệt san, Bách khoa
và tập san Sử Địa (đều xuất bản ở Sài Gòn), dưới chính quyền Sài Gòn
Trang 10Đối với báo chí từ năm 1986 đến nay, chúng tôi sử dụng các báo Nhân Dân cuối tuần, Tiền phong, Tuổi trẻ Báo Nhân Dân cuối tuần là cơ quan ngôn luận của
Đảng Cộng sản Việt Nam Hai báo còn lại là cơ quan ngôn luận của thanh niên Việt Nam, có số lượng phát hành rất lớn Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát diễn ngôn về lễ
hội trên hai tờ báo mạng điện tử là Vnexpress và Vietnamnet từ năm 2014 đến nay
Đây là hai báo điện tử thu hút một lượng rất lớn độc giả Sở dĩ từ năm 1986 đến nay, chúng tôi không chọn các tập san, tạp chí đã nêu để để khảo sát bởi vì các tác giả cộng tác với các tập san, tạp chí ấy là các nhà khoa học, đồng thời họ cũng phát biểu các quan niệm về lễ hội trên các tờ báo viết và báo mạng vừa nêu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Để thực hiện luận án chúng tôi đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét đối tượng nghiên cứu trong sự vận động và mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định sẽ xuất hiện những diễn ngôn đặc trưng về lễ hội Chính bối cảnh xã hội, điều kiện kinh tế, điều kiện chính trị, quan điểm chính sách của nhà nước, sự phát triển của tri thức khoa học và chủ đích của mỗi tác giả báo chí đã chi phối việc hình thành diễn ngôn báo chí về lễ hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Phương pháp liên ngành đã được GS Đinh Gia Khánh đề cập trong cuốn
sách Văn hóa dân gian những phương pháp nghiên cứu Theo tác giả, trong tổ chức
nghiên cứu liên ngành thường có một ngành khoa học giữ vai trò trung tâm, nói cho đúng hơn là giữ vai trò tổ chức Vai trò ấy được quy định bởi những điều kiện khác nhau: thí dụ như mục tiêu cuối cùng của đề tài nghiên cứu hoặc tính chất của tư liệu nghiên cứu,… Đề tài “Hùng Vương dựng nước” đã được xử lý theo tổ chức nghiên cứu liên ngành Nhiều ngành khoa học xã hội và cả một số ngành khoa học tự nhiên
đã được huy động vào việc nghiên cứu đề tài ấy Thời đại Hùng Vương không lưu lại những tư liệu viết, những văn bản nhưng còn lưu lại khá nhiều những hiện vật khảo cổ học Vì vậy, khoa Khảo cổ học đã giữ vai trò trung tâm, vai trò tổ chức của việc nghiên cứu liên ngành
Trang 11Trong đề tài “Quy hoạch đồng bằng sông Hồng” hoặc “Quy hoạch đồng bằng sông Cửu Long” thì dù các ngành khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, folklore, nông học, … có thể tùy theo hoàn cảnh mà có đóng góp nhiều hoặc ít vào kết quả nghiên cứu nhưng khoa Kinh tế học phải giữ vai trò trung tâm, vai trò tổ chức, bởi vì mục tiêu của việc nghiên cứu liên ngành này trước hết là mục tiêu kinh
tế Như thế trong việc nghiên cứu liên ngành thì các ngành khoa học giữ tính chất độc lập với nhau trong khi vẫn phối hợp chặt chẽ nhau [183, tr.13-14]
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong đó Văn hóa học đóng vai trò là ngành chính Bên cạnh đó, để hoàn thành luận án chúng tôi cũng quan tâm đến lĩnh vực báo chí học để xem các diễn ngôn báo chí được thể hiện như thế nào; lĩnh vực lịch sử văn hóa để phân tích các điều kiện xã hội dẫn tới việc hình thành diễn ngôn, các yếu tố quyền lực chi phối việc hình thành các diễn ngôn đó
4.2.2 Các phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích tài liệu và so sánh
Chúng tôi tổng hợp các bài viết có diễn ngôn về lễ hội được đăng tải trên báo
chí gồm: Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc chủ nhật, Ngày Nay, Tri Tân, báo Sự thật, báo Nhân Dân, báo Tiền phong, tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, tập san Sử Địa, tập san Văn hóa, tạp chí Dân tộc học, tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, tạp chí Văn hóa dân gian xuất bản trước năm 1986; báo Tiền phong, Tuổi trẻ, Nhân Dân cuối tuần từ năm 1986 đến nay và hai trang báo mạng điện tử Vnexpress
và Vietnamnet trong thời gian từ 2014 - 2017
Để xử lý khối tài liệu 558 bài báo với hàng ngàn trang viết về lễ hội, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích tài liệu và so sánh Việc tổng
hợp các bài báo viết về lễ hội trước năm 1945 là công việc khó nhất bởi các tờ Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc chủ nhật, Ngày Nay, Tri Tân đều
được xếp vào dạng tư liệu đặc biệt quý hiếm Để có được nguồn tư liệu trên NCS đã phải gặp trực tiếp ban lãnh đạo Thư viện Quốc gia xin được giúp đỡ Để có được
các bài viết trên Nam Phong tạp chí, tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, tập san Sử Địa, thông qua sự giới thiệu của bạn bè đang công tác tại Thư viện Khoa học Xã hội
(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), NCS đã tiếp cận được với một thư viện
số hóa trên mạng Internet với tên gọi Thư viện số SCI-BOT (Ban điều hành là một nhóm NCS Việt Nam ở nước ngoài) để mua bản số hóa các tài liệu trên Với các tài
Trang 12liệu báo in còn lại, NCS đã làm việc nhiều ngày tại Thư viện Quốc gia để chụp lại các bài báo viết về lễ hội Việc tổng hợp các bài viết trên báo mạng là công việc thuận lợi nhất
Bài viết của GS Đinh Gia Khánh về phương pháp tổng hợp và phân tích trong khoa nghiên cứu văn hóa dân gian đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình làm việc [183, tr.16-20] Để hiểu rõ nội dung diễn ngôn về lễ hội trên báo chí chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích các chủ đề cùng được đề cập trên các tờ báo trong từng giai đoạn khác nhau để tìm hiểu khuynh hướng tư tưởng của tờ báo, của dòng báo và sự phát triển trong quá trình nhận thức về lễ hội gắn với các giai đoạn lịch sử quan trọng, cũng như sự tác động của các chính sách quản lý của nhà nước, sự kiện chính trị đối với nhận thức về lễ hội Bên cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng phương pháp so sánh diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong hai thời kỳ (trước năm 1986 và từ năm 1986 đến nay) và các giai đoạn trong từng thời kỳ để thấy được sự khác nhau qua các thời kỳ, các giai đoạn
4.2.3 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Để thực hiện đề tài này, bên cạnh nỗ lực cá nhân, có những tri thức, có những vấn đề tự bản thân chúng tôi chưa minh định được chúng tôi đã thực hiện phương pháp phỏng vấn một số chuyên gia là các nhà báo, nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý Cách phỏng vấn là đa dạng, khi xin hẹn gặp trực tiếp, khi hỏi qua điện thoại (nếu là câu hỏi cần trả lời ngắn gọn và được sự đồng ý của chuyên gia), hoặc gửi email phỏng vấn
Trong một đề tài nghiên cứu cần sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp để đạt kết quả tối ưu nhất Dù lựa chọn phương pháp nào thì người nghiên cứu cũng cần chú ý đến mối liên quan, sự hỗ trợ nhau giữa các phương pháp trong một đề tài nghiên cứu, phương pháp nào nên thực hiện trước, phương pháp nào thực hiện sau
và sử dụng thông tin thu được từ mỗi phương pháp như thế nào đều phải được cân nhắc rõ ràng trong chiến lược nghiên cứu [183, tr.280]
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đã trình bày một cách tương đối toàn diện và hệ thống diễn
ngôn báo chí về lễ hội từ đầu thế kỷ XX (năm 1915) đến nay
Trang 13Thứ hai, luận án đã phân tích diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong từng thời
kỳ và từng giai đoạn, làm rõ những điều kiện chính trị, tư tưởng, học thuật cho phép hình thành diễn ngôn
Thứ ba, bàn luận những vấn đề đang đặt ra nhằm góp phần lý giải và cung cấp những kinh nghiệm để các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, giới báo chí và những người quan tâm tham khảo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận án hệ thống hóa việc nghiên cứu vấn đề diễn ngôn trong các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa, từ trong cái chúng của các lĩnh vực nghiên cứu ấy thấy được cái riêng của nghiên cứu diễn ngôn trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa
- Luận án đề xuất các nội dung phân tích diễn ngôn về lễ hội trên báo chí
- Luận án làm rõ những yếu tố chi phối diễn ngôn về lễ hội trên báo chí và cơ chế quyền lực chi phối loại diễn ngôn này
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Khái niệm, tổng quan tình hình nghiên cứu và lý thuyết vận dụng Chương 2: Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trước thời kỳ Đổi mới
Chương 3: Diễn ngôn về lễ hội trên báo chí trong thời kỳ Đổi mới
Chương 4: Những vấn đề đặt ra từ diễn ngôn về lễ hội trên báo chí
Trang 14CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
mà còn hướng tới sự đa dạng hóa nội hàm của thuật ngữ này ngay trong định nghĩa của chính mình: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định được cá thể hóa, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [214, tr.1]
Theo PGS.TS Trần Văn Toàn, trong đoạn trích vừa nêu, M Foucault cùng một lúc đã đưa ra ba định nghĩa về diễn ngôn Thứ nhất, đó là định nghĩa rộng nhất, theo đó diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung Thứ hai, diễn ngôn như
là một nhóm các nhận định được cá thể hóa Diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung Theo đó, người ta có thể nói đến, chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn y học, diễn ngôn phân tâm học Thứ ba, diễn ngôn như một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định Ở định nghĩa này M.Foucault quan tâm đến những quy tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định, những diễn ngôn cụ thể
Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập nhưng trong thực tế nghiên cứu, các định nghĩa này luôn luôn được sử dụng xen kẽ nhau và định
Trang 15nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa kia tùy theo hướng triển khai của người nghiên cứu [214]
Theo Foucault, diễn ngôn đa phần do con người tạo ra Chủ thể tạo ra diễn ngôn trong xã hội có thể là giới cầm quyền, có thể là giới bình dân muốn phản ứng
và xây dựng lại xã hội mới, có thể là những cá nhân kiệt xuất như một nhà cách mạng, một lãnh tụ tôn giáo, một nhà khoa học, một nhà hoạt động xã hội, một nhà văn, một diễn viên nổi tiếng, [21, tr.93]
Theo TS Lâm Minh Châu, các diễn ngôn có hai điểm chung:
Thứ nhất, chúng đưa ra một chuẩn mực về thế nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là tốt đẹp và thế nào là xấu xa, thế nào là giỏi và thế nào là dốt, thế nào là bình thường và không bình thường Thứ hai, với những người, nhóm người hoặc thậm chí là xã hội chịu sự chi phối của diễn ngôn, thì những gì diễn ngôn ấy nói được coi là chân lý, hiển nhiên, và làm theo một cách vô thức [21, tr.93]
Trong mỗi một thời kỳ, giai đoạn lịch sử, diễn ngôn không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật ngôn ngữ mà còn chịu sự chi phối của môi trường sinh thái văn hóa Chính vì thế, qua các diễn ngôn, chúng ta có thể thấy được dấu ấn của thời đại lịch sử mà diễn ngôn đó ra đời Chẳng hạn trong thời kỳ văn hóa Đại Việt, người ta hay nói đến “tạo hóa”, “con tạo”, “vũ trụ xoay vần”, “tài mệnh tương đố”,
“hồng nhan bạc phận”, Từ những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, chống chiến tranh phá hoại của hải quân và không quân
Mĩ đối với miền Bắc, trong các diễn ngôn, hàng loạt từ ngữ sau được sử dụng với tần số rất cao: “chiến tranh”, “hòa bình”, “chủ nghĩa xã hội” “độc lập dân tộc” “tư sản”, “vô sản”, “cách mạng”, “phản động”, “đồng chí”, “kẻ thù”, “địch”, “ta” Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các từ vựng của ngành kinh tế học đã lấn át những từ ngữ vừa nêu, xuất hiện ngày càng nhiều trong diễn ngôn của các lĩnh vực khác, kể cả trong diễn ngôn văn hóa: “kinh tế thị trường”, “thương hiệu”, “hàng hóa”, “nhà phân phối”, “đẳng cấp”, “chất lượng”, “cạnh tranh”, Ngoài ra những từ ngữ vay mượn từ nước ngoài được sử dụng một cách thường xuyên hơn như:
“shop”, “fan”, “laptop”, “chat”, “festival”, “computer”, “world cup”, “lazer” [126]
Trang 16Có diễn ngôn chỉ hình thành ở xã hội này mà không có ở xã hội khác Thí dụ, trong xã hội phong kiến chuyên chế, diễn ngôn về bổn phận, về lòng trung thành tuyệt đối với đức vua, về sự hạ thấp người phụ nữ là những diễn ngôn thường gặp Ngược lại trong xã hội tư bản những diễn ngôn trên hầu như vắng bóng, thay vào đó
là những diễn ngôn về quyền tự do cá nhân, về sự bình đẳng giới, về sự kiểm soát quyền lực, về tự do báo chí, Trong xã hội cũ, môi trường học tập ở Việt Nam bị chi phối bởi các diễn ngôn về quan hệ thầy trò và về những quy định về bổn phận của người học trò Các diễn ngôn tiêu biểu cho rằng người thầy là người truyền dậy các tư tưởng của thánh hiền, thầy dậy một chữ cũng là thầy, dạy nửa chữ cũng là thầy; học trò là người tiếp nhận những điều thầy truyền dậy, phải tôn trọng lắng nghe thầy, không được suy nghĩ hay nói năng trái với lời thầy, phải hiểu rằng
“không thầy đố mày làm nên” Ngày nay, trong nền giáo dục mới ở ta đã xuất hiện diễn ngôn “tất cả vì học sinh thân yêu”, “học sinh là trung tâm” Trong xã hội có giai cấp, thường có những diễn ngôn của những giai cấp khác nhau Ở Việt Nam, trong thời kỳ quân chủ, các diễn ngôn thường gặp của giai cấp thống trị và Nho giáo
là những diễn ngôn về tam cương ngũ thường, về tam tòng tứ đức, về mối quan hệ giữa quân tử và tiểu nhân Tam cương có nghĩa là: bầy tôi phải có bổn phận vâng phục nhà vua (quân vi thần cương), người vợ phải có bổn phận vâng phục người chồng (phu vi phụ cương), con phải tuân phục cha (phụ vi tử cương) Ngũ thường là năm điều người ta phải có: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Tam tòng có nghĩa là ba điều ràng buộc đối với người phụ nữ: còn nhỏ ở với cha (tại gia tòng phụ), lớn lên lấy chồng thì phải theo chồng (xuất giá tòng phu), nếu chồng chết sớm thì ở vậy với con (phu tử tòng tử) Tứ đức là bốn chuẩn mực mà người phụ nữ xưa phải đạt tới: công, dung, ngôn, hạnh Nho giáo chia xã hội thành hai hạng người quân tử và tiểu nhân Người quân tử là người lao động trí óc, có trách nhiệm dạy bảo tiểu nhân Tiểu nhân là người lao động chân tay, có bổn phận phải làm ra lúa gạo để nuôi người quân tử Ngược lại, khi xã hội quân chủ suy vi, từ chỗ nghi ngờ, người dân dần dần chuyển sang phản kháng bằng bạo lực vũ trang và bằng cả những diễn ngôn của mình: “Được làm vua, thua làm giặc”, “Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Thuận
vợ thuận chồng bể Đông tát cạn”, “Con hơn cha nhà có phúc”, “Gái mà chi trai mà chi; sinh ra có nghĩa có nghì thì hơn”, “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “Đàn
Trang 17ông như giỏ, đàn bà như hom”, “Quân tử ứ hự đã đau, tiểu nhân dùi đục đập đầu như không”, “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”,
Tóm lại, “do văn hóa của con người là sản phẩm của các tập hợp diễn ngôn ( ), nên tập hợp diễn ngôn khác nhau thì văn hóa cũng khác nhau” [21, tr.94]
1.1.2 Lễ hội
Nhân dân ta trước kia thường dùng các từ và cụm từ: hội, hội làng, vào đám, hội hè đình đám,… Còn các thuật ngữ lễ hội và hội lễ không phải do dân chúng đặt
ra Năm 1957, báo Nhân Dân ngày 21 tháng 4 dùng từ lễ hội ngay trong tiêu đề
“Cần sửa chữa tình trạng phát triển lễ hội chệch hướng” [144, tr.65] Tại miền Nam
năm 1967, trên tập san Sử Địa số 5, tác giả Đông Hồ cũng dùng thuật ngữ lễ hội
trong bài viết “Những lễ hội ở Hà Tiên trong ba tháng mùa xuân” Trong bài, tác giả
còn dùng từ hội lễ với nghĩa tương đương như lễ hội Đối với tác giả ngày Tết, rằm tháng giêng, cũng là lễ hội Ở miền Bắc từ năm 1977, trên tạp chí Dân tộc học số
3, bên cạnh việc dùng phổ biến hai tiếng “hội làng”, tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết còn
sử dụng các cụm từ hội lễ, hội lễ nông nghiệp, hội lễ phồn thực giao duyên, bên cạnh cụm từ lễ hội thượng võ [178] Còn với tư cách là những thuật ngữ khoa học thì lễ hội và hội lễ được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến từ những năm 80 của
thế kỷ trước
Trong giới khoa học, GS Đinh Gia Khánh không dùng từ lễ hội mà kiên trì dùng từ hội lễ Năm 1985, ông cho rằng hội lễ là thời điểm mạnh của đời sống cộng đồng Tác giả viết: “Danh từ hội lễ nên được dùng như một thuật ngữ văn hóa Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố hội và lễ Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng Lễ là nghi thức đặc thù gắn với sinh
hoạt ấy” [86, tr.172]
Cho đến nay, đại đa số các tác giả đều dùng thuật ngữ lễ hội Sau khi dẫn ý
kiến của GS Trần Quốc Vượng rằng: “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa không tách rời nhau: Lễ (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu…) và Hội (tụ hội của dân một làng hay liên làng (vùng)”, “trên thực tế và về lý thuyết lễ - hội xoắn xuýt hữu
cơ vào nhau, không thể tách rời”, các tác giả Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm nhận xét: “(…), nếu không xem xét lễ hội ở góc độ gắn kết đó sẽ
rất dễ làm thô thiển nó và mất đi ý nghĩa đích thực của lễ hội Dùng thuật ngữ lễ hội, các nhà nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa thiêng liêng của lễ hội truyền
Trang 18thống của nhân dân ta trong quá khứ, khi mà rất nhiều trò chơi trong các lễ hội đều nhuốm màu thiêng liêng một cách có chủ ý của những người tổ chức Lễ hội bao hàm cả lễ và hội, là hai phần gắn bó chặt chẽ với nhau, đan quyện với nhau, bổ sung cho nhau Tách bạch ra để nghiên cứu, xem xét nhưng luôn luôn phải ghi nhận nó là một chỉnh thể Đặc biệt trong quá khứ, hầu hết các hoạt động trong phần hội đều chứa đựng những niềm tin, những phong tục nhằm đạt được ước vọng, khao khát và niềm tin mà ở phần lễ được thực hiện bằng các nghi lễ hết sức trang nghiêm, thành kính Để cuối cùng đạt được mục đích của lễ hội đó là tính thiêng liêng, cao cả của niềm tin mà mỗi cá nhân, cộng đồng gửi gắm vào đó [188, tr.9-10]
Các tác giả vừa nêu cũng đã xác đáng khi viết: “Tuy nhiên, cũng cần phải công nhận rằng, trong quá trình phát triển của xã hội, khá nhiều trò chơi dân gian trong các lễ hội đã phai nhạt và dần chuyển thành những trò giải trí thuần túy, kết hợp với các hoạt động văn hóa văn nghệ mới nên làm cho phần hội có vẻ bị tách ra khỏi phần lễ Song, một điều rõ ràng là cái còn giữ được của lễ hội cổ truyền và vẫn thu hút được con người hiện đại đến dự, đó chính là tính thiêng căn bản của lễ hội
mà chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy” [188, tr.10] Tóm lại, lễ hội dân gian là sinh hoạt đặc biệt của một cộng đồng Cộng đồng đó trong rất nhiều trường hợp là một làng Vì thế nhân dân ta có hội làng Mai Động, hội làng Kiêu Kỵ, hội làng Khoan Tế, hội làng Lệ Mật, hội làng Bồ Đề, hội làng Bát Tràng, hội làng Đa Sỹ, hội làng Triều Khúc, hội làng Yên Vỹ, hội làng An Thái – Bưởi, … Tất cả các làng này nay đều thuộc Hà Nội [187] Bên cạnh hội làng còn có hội vùng, như hội chùa Hương Đặc biệt có lễ hội ở tầm quy mô toàn quốc như lễ hội Đền Hùng Trong lễ hội Đền Hùng có cả yếu tố dân gian, hồn nhiên, tự phát và cả yếu tố cung đình, bác học Có lễ hội dân gian và có cả lễ hội cung đình
Người ta có thể chia lễ hội từ trước năm 1945 là lễ hội cổ truyền hoặc lễ hội truyền thống còn lễ hội mới xuất hiện từ sau năm 1945 là lễ hội hiện đại Theo một cách phân loại, lễ hội cổ truyền là những lễ hội đã từng diễn ra từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; lễ hội hiện đại hay lễ hội mới là những lễ hội diễn ra từ sau Cách mạng tháng Tám như: lễ hội về Hoàng Hoa Thám, lễ hội Xương Giang (đều ở tỉnh Bắc Giang) Trong luận án này, chủ yếu chúng tôi trình bày những diễn ngôn
về lễ hội cổ truyền có nội dung tưởng niệm các vị thần có công với làng với nước
1.1.3 Báo chí và nhà báo
Trang 191.1.3.1 Báo chí
Hiện nay, chúng ta phân biệt tạp chí và báo Về báo chí, có thể chia làm 4 loại hình báo chí chính là báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Còn trước Cách mạng tháng Tám, tình hình không phải như vậy Tờ báo chữ quốc ngữ
ra đời sớm nhất ở nước ta là tờ Gia Định báo xuất bản năm 1865 tại Sài Gòn Cho
đến trước năm 1945, ở miền Bắc báo in là phổ biến Còn ở Sài Gòn bên cạnh báo in,
từ tháng 9/1940 đã có Đài phát thanh Sài Gòn [81] Từ sau năm 1945, ở miền Bắc dưới chế độ nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chúng ta có hai loại hình báo chí phổ biến là báo in và báo phát thanh
Dưới chế độ của chính quyền Sài Gòn, ở miền Nam đã có đài truyền hình Ở miền Bắc, cho đến ngày 7/9/1970 dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ, chương trình truyền hình đầu tiên mới được phát sóng Như vậy là đến thời gian này, ở nước ta đã có ba loại hình báo chí phổ biến là báo in, phát thanh và truyền hình
Sau khi đất nước thực hiện công cuộc Đổi mới cho đến nay nước ta có hơn
800 cơ quan báo in (cả báo và tạp chí) với hơn 1.000 ấn phẩm báo chí, 67 đài
PT-TH, hơn 70 cơ quan báo mạng điện tử [32] Ngày 19/7/1997, Việt Nam chính thức hòa mạng Internet toàn cầu đánh dấu giai đoạn phát triển Internet tại Việt Nam
Ngày 31/12/1997, Tạp chí Quê Hương có địa chỉ http://quehuongonline.vn ra đời đánh dấu sự xuất hiện loại hình báo chí thứ tư tại Việt Nam - báo mạng điện tử
1.1.3.2 Nhà báo
Trước Cách mạng tháng Tám, ở nước ta người dân thường gọi người viết báo
là người viết nhật trình Trong khoảng 40 năm đầu thế kỷ XX, nhiều người viết văn cũng là những người viết báo Chính vì vậy chúng ta có nhà văn Ngô Tất Tố đồng thời cũng có nhà báo Ngô Tất Tố; có nhà văn, nhà báo Vũ Trọng Phụng Khi đó nhà báo là những người làm nghề tự do, họ kiếm sống bằng ngòi bút Lúc đó ở ta cũng chưa có hội đoàn, nghiệp đoàn báo chí Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đặc biệt là trong thời gian kháng chiến chống Pháp báo chí được sự lãnh đạo của Đảng, các nhà báo dần dần trở thành những công chức, viên chức được ăn lương nhà nước và làm việc trong những tờ báo nhất định Ở miền Nam, từ năm
1955 đến tháng 4/1975 tình hình không phải như vậy Sau khi đất nước thống nhất, báo chí cả nước cùng đi vào quỹ đạo chung là hoạt động dưới sự lãnh đạo của
Trang 20Đảng, quản lý của Nhà nước Năm 1990, Luật báo chí Việt Nam quy định: Nhà báo phải là người có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và nghiệp vụ báo chí do Nhà nước quy định, đang hoạt động hoặc cộng tác thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo [203]
Nhà báo là một khái niệm tập hợp một nhóm người trong đó có những người làm những việc khác nhau hoặc một người có thể làm được nhiều việc: phóng viên viết bài hoặc đưa tin, biên tập viên, họa sĩ thiết kế trình bày maket, Ở nước ta hiện nay, yêu cầu phấn đấu là ngoài chuyên môn giỏi, nhà báo còn là nhà hoạt động chính trị xã hội, có vốn kiến thức toàn diện, có bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc [147, tr.303] Do đặc điểm nghề nghiệp, nhà báo còn là người giao thiệp rộng, phản ứng nhanh, biết tập trung mũi nhọn vào cái gì, nhanh trí trong ứng xử, có thể đưa ra cách giải quyết nhanh và chính xác khi gặp khó khăn
Tác giả Nguyễn Văn Dững khi viết về vai trò của nhà báo trong việc tạo lập
dư luận xã hội cho rằng: Nhà báo cần có khuynh hướng tư tưởng rõ ràng, kiên định
và kiến thức sâu rộng, nếu không nhà báo khó mà phân tích, thuyết phục công chúng bằng cả "trí tuệ và cảm xúc" Hệ kiến thức chính là "nền tảng, là phông cơ bản hình thành nhân cách văn hóa và thái độ nhân văn khi tiếp cận và xử lý các vấn
đề xã hội trong hoạt động báo chí - truyền thông" [36, tr.373]
Những người làm báo chuyên nghiệp được gọi là nhà báo Có những người thỉnh thoảng mới viết bài, thậm chí có người cả đời chỉ viết một hai bài báo Những người đó không thể gọi là nhà báo Họ là những tác giả của một vài bài viết cụ thể Tuy nhiên từ lúc bản thảo của họ gửi đến tòa soạn, phải có người biên tập, người duyệt, bài báo đó mới được công bố Những người biên tập, người duyệt là nhà báo chuyên nghiệp Bởi vậy trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi không chỉ khảo sát những bài viết của các nhà báo mà còn thu thập cả những bài viết của những tác giả không chuyên viết về lễ hội
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu lễ hội
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về lễ hội trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Nhìn nhận một cách chặt chẽ, từ thế kỷ X cho đến năm 1858, các nhà nho chưa sưu tầm, nghiên cứu về lễ hội, nhưng nhìn ở từng thành tố, các tác giả ấy đã có
Trang 21những dòng ghi chép và có thể nói là những dòng ghi chép đầu tiên về lễ hội cổ truyền Việt Nam [15, tr.19]
Thời Pháp thuộc, năm 1883, nhà Đông phương học G.Dumoutier đã viết chi tiết về hội Gióng ở Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội) Tác giả đánh giá cao lễ hội này khi tự đặt câu hỏi cho chính mình và cho cả những người vốn vẫn tự xưng là “đi khai hóa văn minh”: “Liệu rằng ở châu Âu già cỗi, người dân có còn tự hào làm lễ
kỉ niệm một sự kiện lịch sử đã diễn ra từ hai nghìn ba trăm năm trước đây?” [33, tr.374] Ngoài ra còn có những bài viết khác của M.J Przyluski, Paul Giran, L Cadière và R.Orbard về lễ động thổ, về ma thuật và tôn giáo Việt Nam, về tế Nam giao, lễ rước sắc thần Thiên Yana ở điện Huệ Nam [15, tr.20]
Về các tác giả người Việt, năm 1915, Phan Kế Bính viết về việc thờ thần, lễ
kỳ an, việc tế tự [18]; năm 1930 Nguyễn Văn Khoan đề cập đến văn hóa phi vật thể gắn bó với ngôi đình [15, tr.21] Đáng chú ý nhất là hai công trình viết vào nửa cuối những năm 30 thế kỷ XX của GS Nguyễn Văn Huyên về hội làng Giá và hội làng Phù Đổng Đây là những miêu thuật chính xác, công phu, là những tài liệu mà bất
cứ những người đi sau nào nghiên cứu cũng phải sử dụng đến [79]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về lễ hội từ năm 1945 đến trước Đổi mới (tháng
12/1986)
Đúng như GS Nguyễn Chí Bền đã nhận xét, từ năm 1945 đến năm 1954 do hậu quả của nạn đói năm Ất Dậu 1945, do chính quyền cách mạng còn phải giải quyết biết bao nhiệm vụ cấp bách trước mắt, do khói lửa cuộc kháng chiến chống Pháp, hầu như lễ hội cổ truyền không được mở và do đó nó cũng không được quan
tâm nghiên cứu, sưu tầm
Từ cuối năm 1954 đến tháng 4 năm 1975, đất nước tạm thời chia cắt thành hai miền Ở miền Nam các tác giả Bửu Kế, Đạm Quang, Tạ Thúc Khải, Thái Bạch,
Lê Văn Hảo, từ năm 1959-1964 đã viết về lễ tế xuân, về hội Đền Hùng, về nghi thức cúng đình, về hội Gióng, về hội mùa của người Việt [15, tr.23-24] Hầu hết các bài viết vừa nêu đều thiên về miêu thuật và hoài niệm Từ năm 1965-1973 nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Thục lại khai thác lễ hội cổ truyền phục vụ cho việc phân tích tư tưởng người bình dân Việt Nam Nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Đông Hồ cũng viết về lễ hội Song người viết về lễ hội cổ truyền Việt Nam nổi tiếng hơn cả
là Toan Ánh Ông sinh ra và lớn lên ở Bắc Giang, sau khi di cư vào miền Nam, từ
Trang 22năm 1969-1974, với hai cuốn Nếp cũ hội hè đình đám (quyển thượng và quyển hạ)
ông đã miêu thuật 54 lễ hội cổ truyền trên mọi miền đất nước, đóng góp rất lớn vào
công việc sưu tầm và nghiên cứu lễ hội Việt Nam
Ở miền Bắc, từ sau khi hòa bình lập lại cho đến ngày thống nhất đất nước, lễ hội ít được mở và công việc sưu tầm nghiên cứu nó chưa có nhiều thành tựu Trong lĩnh vực này, có các tác giả Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong, Lê Văn Lan, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán và Cao Huy Đỉnh Bên cạnh việc miêu thuật, một
số tác giả đã có những nhận xét khái quát, bước đầu nêu lên tác dụng và hạn chế của
lễ hội hoặc khai thác nó nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền chính trị (trường hợp Cao Huy Đỉnh)
Sau khi đất nước thống nhất, về cơ bản, đất nước ở trong hoàn cảnh hòa bình nhưng nhà nước vẫn chưa khuyến khích việc phục hồi lễ hội cổ truyền Do đó, thật
là đáng trân trọng khi mà trong hai năm 1976-1977, tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết đã
công bố ba bài viết về lễ hội cổ truyền trên tạp chí Dân tộc học [176] [177] [178] Ở
đây tác giả phân loại hội làng, phác họa sự biến đổi của hội làng qua các thời kỳ của lịch sử, khẳng định giá trị của hội làng bên cạnh việc chỉ ra những hạn chế, tiêu cực của nó Đây chính là những bài viết có tính phát hiện Trong các năm 1984-1985,
nội dung của ba bài viết này lại được đăng tải trên tạp chí Văn hóa dân gian theo đề
nghị của tòa soạn [179] [180] Công việc phân loại lễ hội tiếp tục được hai tác giả
Tô Nguyễn, Trịnh Nguyễn thực hiện trong cuốn sách Kinh Bắc – Hà Bắc xuất bản
năm 1981 Các tác giả phân chia lễ hội cổ truyền ở Hà Bắc thành 6 loại: loại hội liên quan đến tín ngưỡng nông nghiệp; loại hội mùa biểu hiện hình thức thượng võ; loại hội hè liên quan đến các anh hùng dựng nước, giữ nước và nhân vật lịch sử; loại hội văn hóa; loại hội chùa; loại hội hè mang màu sắc đạo giáo [15, tr.30-31]
Do không thay đổi nền kinh tế bao cấp, kế hoạch tập trung, đất nước lâm vào khủng hoảng, tình trạng thiếu điện xảy ra nghiêm trọng trên địa bàn cả nước, năng suất nông nghiệp rất thấp, lạm phát có lúc lên tới ba con số Những khó khăn trong sản xuất và đời sống bắt nguồn từ sự khủng hoảng của phương thức quản lý kinh tế nông nghiệp đã là nguyên nhân thúc đẩy một số tổ chức Đảng và quần chúng tự tìm cách làm mới, từ khoán chui dẫn đến thí điểm khoán hộ Từ tình hình thực tiễn, Chỉ thị 100 (năm 1981) của Ban Bí thư Trung ương Đảng chính thức quyết định chủ trương thực hiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động
Trang 23[28, tr.374-380] Về đời sống tinh thần, trong Quyết định số 56-CP ngày 18/3/1975 của Hội đồng Chính phủ ban hành về thể lệ tổ chức việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội còn bao hàm sự thận trọng, cái nhìn chặt chẽ đối với lễ hội: “Đối với hội làng ở nông thôn mà từ lâu không tổ chức nữa thì nay không được phục hồi” [88, tr.293]
Năm 1984, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố Pháp lệnh số LCT/HĐNN7 ngày 4/4/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh; đề ra nhiệm vụ bảo vệ, sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử, văn hóa
14-và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền thống dựng nước 14-và giữ nước của nhân dân Việt Nam Qua đó góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân, làm giầu đẹp kho tàng di sản văn hóa dân tộc và góp phần làm phong phú văn hóa thế giới Pháp lệnh này tạo điều kiện đảm bảo cho nhân dân quyền làm chủ tập thể trong việc bảo
vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Năm 1993, với
tư cách là Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội, nhạc sỹ Vĩnh Cát đã nhận xét:
“Có thể nói đây là cơ sở pháp lí đầu tiên tạo điều kiện dẫn đến việc phục hồi các lễ hội truyền thống của ta” [19]
Không phải ngẫu nhiên trong các năm 1984-1985 có nhiều bài viết, thậm chí
có cả chuyên khảo về lễ hội
Năm 1984, chuyên khảo Lễ hội truyền thống và hiện đại của PGS.TS Thu
Linh và PGS.TS Đặng Văn Lung được xuất bản Trước năm 1986, đây là chuyên khảo duy nhất viết về lễ hội Chịu ảnh hưởng của phương hướng khai thác từ di sản văn hóa dân tộc để tổ chức tốt thời gian nhàn rỗi của nhân dân mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã thực hiện, trong sách này, các tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề
tổ chức lễ hội Theo các tác giả sinh hoạt lễ hội quần chúng là một biểu hiện nghỉ ngơi tích cực của con người “Mặc dù đã có thay đổi nhiều trong lịch sử song hội luôn là một hiện tượng hấp dẫn qua các thời đại Hoạt động hội trong những năm gần đây ở nước ta đã chứng tỏ rằng hội phù hợp với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội,
là tổ chức đời sống tinh thần ngày càng tốt đẹp hơn” [96, tr.8]
Năm 1985, trên tạp chí Văn hóa dân gian, GS Đinh Gia Khánh khẳng định:
“Hội lễ là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội
Trang 24loài người trên cơ sở một nhu cầu không thể không thỏa mãn của con người sống thành xã hội Hội lễ đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc, tức là dưới chế độ cộng sản nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội
cộng sản văn minh sau này Danh từ Hội lễ nên được dùng như một thuật ngữ văn hóa Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố là Hội và Lễ Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng Lễ là các nghi thức đặc
thù gắn với sinh hoạt ấy Có hội lễ gắn với tôn giáo, thậm chí với mê tín Nhưng lại
có hội lễ không liên quan đến tôn giáo, đến mê tín” [85, tr.3-4] Sau khi phân tích, tác giả nhấn mạnh ngay từ đầu, tức là từ thời nguyên thủy, hội lễ dân gian vốn ra
đời vì mục đích sản xuất và chiến đấu Ông cũng khẳng định hội lễ chính là thời điểm mạnh trong đời sống cộng đồng Tác giả cũng chỉ ra từ thế kỷ X đến thế kỷ
XX, tất nhiên hệ ý thức phong kiến đã có ảnh hưởng xấu đến hội lễ dân gian Nếu biết gạn đục, khơi trong thì sẽ thấy rằng tất cả các lễ hội dân gian đều có ý nghĩa xã hội và văn hóa tích cực Bài viết của GS Đinh Gia Khánh công bố cách đây hơn 30 năm Tại thời điểm bây giờ, chúng ta chưa đồng tình khi ông chưa phân tích đúng mức yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của một số lễ hội, song có thể thấy trong tư tưởng của mình, ông khẳng định hội lễ cổ truyền là một sinh hoạt cộng đồng tích cực và cần thiết
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về lễ hội từ cuối năm 1986 đến nay
Từ sau khi đất nước bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, nhiều lễ hội cổ truyền được khôi phục và phát triển trở lại Thực tế này tạo tiền đề cho công tác sưu tầm, nghiên cứu lễ hội phát triển
Các tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật (nay là tạp chí Văn hóa nghệ thuật), tạp chí Văn hóa dân gian thường xuyên đăng tải các bài viết về lễ hội Theo
GS Nguyễn Chí Bền, nếu trước năm 1985 trên tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật chỉ có hai bài nghiên cứu về lễ hội cổ truyền thì từ năm 1986 đến năm 1998
tạp chí này đã công bố 66 bài viết hoặc miêu thuật về một lễ hội hoặc tiếp cận lễ hội theo hướng khái quát, đúc kết lý luận; trong đó cần phải kể đến bài viết “Từ một vài trò diễn trong lễ hội làng” của Nguyễn Từ Chi, bài “Những giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền và nhu cầu của xã hội hiện đại” của Ngô Đức Thịnh
Trên tạp chí Văn hóa dân gian nếu trước năm 1985 chỉ có 14 bài viết về lễ
hội dân gian thì từ năm 1986 đến năm 2003 tạp chí đã công bố 109 bài viết về lễ hội
Trang 25dân gian [111] Các bài viết tiếp cận lễ hội theo nhiều hướng: khái quát, đúc kết lý luận hay nghiên cứu lễ hội từ góc độ quản lý văn hóa hoặc miêu thuật về một lễ hội
cụ thể như lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng), hội chùa Keo (Thái Bình) Đáng chú ý trong giai đoạn này phải kể đến các bài viết như: “Phác thảo lịch sử lễ hội của người Việt ở Bắc Bộ” của GS Nguyễn Xuân Kính; bài viết “Lễ hội, một nhu cầu văn hóa xã hội” của PGS Lê Trung Vũ; bài viết “Từ truyền thống lịch sử đến những lễ hội về những người anh hùng ở Việt Nam” của GS Lê Hồng Lý hay bài
“Nhìn lại tình hình sưu tầm nghiên cứu lễ hội cổ truyền Việt Nam” của GS Nguyễn Chí Bền
Ngoài ra, các tạp chí khác như Nguồn sáng dân gian, Di sản văn hóa, Nghiên cứu văn hóa, Văn hóa học, các tạp chí của nhiều trường đại học cũng đăng tải bài
viết về lễ hội
Nhiều cơ quan nghiên cứu thực hiện các đề tài về lễ hội, thí dụ năm 1991 Sở
Khoa học công nghệ và môi trường Hà Nội cho thực hiện đề tài Khai thác những yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố tiêu cực của lễ hội dân gian truyền thống, định hướng một mô hình lễ hội hiện đại ứng dụng thể nghiệm vào tình hình hình lễ hội hiện nay đang được phục hồi nhanh chóng ở thủ đô Hà Nội do ông Nguyễn Vinh
Phúc làm chủ nhiệm đề tài [15, tr.37] Nhiều hội thảo quốc tế được tổ chức Thí dụ năm 1993, Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc tế tại Hà Nội với
chủ đề Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại Năm 2010, Bộ Văn hóa TT&DL cùng với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại (trường hợp hội Gióng) Đó là những sự kiện chưa bao giờ có trước Đổi mới năm 1986
Bên cạnh các bài tạp chí được đăng tải, các tham luận trong kỷ yếu các hội thảo quốc tế và quốc gia còn có hàng trăm cuốn sách về lễ hội được xuất bản Những ấn phẩm này thuộc các dạng sau:
Những công trình miêu thuật lễ hội của một tỉnh như: Lễ hội Hải Hưng (1995) của Vũ Thanh Sơn; Huế, lễ hội dân gian (1997) của Tôn Thất Bình; Lễ hội Thăng Long (1998) do Lê Trung Vũ chủ biên cùng cộng sự; Lễ hội truyền thống ở Thái Bình (2000) của Nguyễn Thanh; Lễ tục - lễ hội truyền thống xứ Thanh (2001) của Lê Huy Trâm và Hoàng Anh Nhân; Lễ hội Bắc Giang (2002) của Ngô Văn Trụ (chủ biên) cùng Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Lạng, Lễ hội dân gian Lạng Sơn
Trang 26(2002) do Hoàng Văn Páo chủ biên; Lễ hội cổ truyền Nam Định (2003) của Hồ Đức Thọ; Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh (2005) của Thái Kim Đỉnh; Lễ hội truyền thống tiêu biểu Hải Phòng (2006) do Trịnh Minh Hiên chủ biên; Lễ hội Vĩnh Phúc (2006) của Lê Kim Thuyên; Lễ hội Hà Nam (2009) của nhiều tác giả,
Những công trình miêu thuật, giới thiệu lễ hội cả nước gồm có: Hội hè Việt Nam (1990) do Trương Thìn chủ biên; 60 lễ hội truyền thống Việt Nam (1995) của Thạch Phương, Lê Trung Vũ; Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam (2000) do Nguyễn Chí Bền tổ chức bản thảo; Lễ hội Việt Nam (2002) do Lê Trung Vũ và Lê
Hồng Lý đồng chủ biên
Những công trình chuyên khảo về lễ hội gồm có Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ (1992) do Lê Trung Vũ chủ biên, Bảo tàng – di tích – lễ hội (1992) của Phan Khanh; Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng (1997) của Lê Văn Kỳ; Nghi thức lễ hội truyền thống Việt Nam (1997) của Đỗ Văn Rỡ; Lễ hội nông nghiệp Việt Nam (2002) của Lê Văn Kỳ; Lễ hội dân gian ở Nam Bộ (2003) của Huỳnh Quốc Thắng; Văn hóa ẩm thực trong lễ hội truyền thống Việt Nam (2003) của Nguyễn Quang Lê; Lễ hội và nhân sinh (2005 của Đặng Văn Lung); Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (2008) của Lê Hồng Lý; Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt (2009) của Bùi Hoài Sơn; Tìm hiểu lễ hội Hà Nội (2010) của Lê Hồng Lý, Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố (2013, tái bản 2015) của Nguyễn Chí Bền
Thuộc loại chuyên khảo còn có hàng loạt luận án tiến sĩ được bảo vệ: Hội đình của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh (1996) của Quách Thu Nguyệt; Hội đình Thông Tây Hội – Gò Vấp trong bối cảnh hội đình làng tại Nam Bộ (1996) của
Lê Sơn; Lễ hội của người Việt ở Hà Bắc (2000) của Bùi Văn Thành; Về biểu tượng trong lễ hội dân gian truyền thống (Qua khảo sát lễ hội dân gian truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ nước ta (2003) của Nguyễn Văn Hậu; Lễ hội cầu nước – trấn thủy
ở Hà Nội và phụ cận (2006) của Nguyễn Việt Hương; Trò diễn trong lễ hội dân gian vùng châu thổ Bắc Bộ (2008) của Đặng Hoài Thu; Tín ngưỡng phồn thực trong
lễ hội dân gian của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ (2009); Lễ hội cổ truyền Hưng Yên – sự biến đổi hiện nay (2009) của Hoàng Mạnh Thắng; Lễ hội của người Việt đồng bằng sông Cửu Long, truyền thống và phát triển (2010) của Nguyễn Xuân Hồng; Lễ hội cổ truyền cư dân ven biển Hải Phòng và sự biến đổi hiện nay (2012)
Trang 27của Lê Thanh Tùng, Những luận án tiến sĩ vừa nêu khi xuất bản sẽ là sách chuyên khảo
Ngoài ra còn có các cuốn sách khác như: Từ điển hội lễ Việt Nam (1993) của Bùi Thiết; Lịch lễ hội (1997) của Nguyễn Hồng Dương, Lê Trung Vũ; giáo trình sau đại học Lễ hội dân gian (2014) của Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương
Châm
Chúng tôi đã nhìn lại diễn trình nghiên cứu về lễ hội từ cuối thế kỷ XIX đến nay Trong sự phong phú đến bộn bề của các bài viết, các cuốn sách, chưa có một công trình nào nghiên cứu diễn ngôn về lễ hội
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về diễn ngôn trên báo chí
Năm 2011, Nguyễn Thế Kỷ công bố cuốn sách Nói năng giao tiếp trên đài truyền hình Bằng việc khảo sát các hành vi, cách thức nói năng, giao tiếp của một
số MC, người dẫn chương trình trên truyền hình tác giả đã tìm hiểu cơ chế thực hành diễn ngôn, các dạng thức diễn ngôn trên truyền hình là gì, được thể hiện ra sao, nó khác với diễn ngôn trong cuộc sống hàng ngày như thế nào? Theo tác giả:
"Ngôn ngữ trên báo chí không chỉ là phương tiện phản ánh đời sống xã hội mà còn
là bộ mặt văn hóa của cả một dân tộc Nhìn vào việc sử dụng ngôn ngữ, người ta thấy trình độ văn hóa, trình độ dân trí của một đất nước Từ đó, vấn đề chuẩn hóa được đặt ra như một trách nhiệm lớn lao của toàn xã hội, trong đó các nhà văn, nhà giáo, nhà báo, nhà ngôn ngữ, giới trí thức có vai trò rất quan trọng" [95, tr.224]
Cùng quan điểm như vậy, tác giả Vũ Thị Hồng Tiệp trong bài viết "Tiếp nhận tác phẩm văn học, diễn ngôn báo chí từ lí thuyết hoạt động giao tiếp ngôn ngữ" (2016) cũng cho rằng: "Để độc giả hiểu đúng thông tin, cần thiết và bắt buộc phải hướng tới sự đồng nhất ngữ cảnh của quá trình tạo lập diễn ngôn (nhà báo) và ngữ cảnh của quá trình tiếp nhận, lĩnh hội diễn ngôn (độc giả) Điều đặc biệt, nhà báo là người cung cấp thông tin về hoàn cảnh giao tiếp cho độc giả" [213]
Đi vào cụ thể hơn, có khá nhiều công trình viết về diễn ngôn trên báo chí về dân tộc thiểu số Trong bài viết "Văn hóa và con người các dân tộc thiểu số trên một
số báo viết Việt Nam" được công bố trên tạp chí Văn hóa dân gian năm 2010, tác
giả Nguyễn Văn Chính cho rằng "có thể hiểu được những biểu hiện, đặc điểm và mức độ định kiến của báo chí khi đưa tin, bài về các nhóm dân tộc thiểu số Các khái niệm và thuật ngữ có ngụ ý tiêu cực hay tích cực này đóng vai trò quan trọng
Trang 28tạo ra chân dung của các tộc người thiểu số qua lăng kính của báo chí Cách nhìn
nhận vấn đề như vậy cho thấy các nhà báo đã chưa cố gắng thấu hiểu văn hóa và lối sống của đồng bào, ngược lại đang dán nhãn lên lối sống của họ" [25, tr.6-10] Căn nguyên của tình trạng dán nhãn văn hóa là nền tảng tri thức đã ngấm ngầm, ăn sâu
và thấm nhuần vào tư duy của giới làm báo Bên cạnh đó, đối tượng độc giả mà họ nhắm tới cũng có tác động nhất định trong cách đưa tin bài của họ Khi viết họ thường muốn thỏa mãn tính tò mò và những điều khác lạ với văn hóa của số đông độc giả - những người trực tiếp mua báo và cũng là cách để tăng doanh số phát hành
Năm 2012, trong cuốn sách Giới, tăng quyền và phát triển, quan hệ giới từ
góc nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tác giả Phạm Quỳnh Phương nhận
định: "Trong các công trình nghiên cứu, báo chí truyền thông và trong các báo cáo
về phát triển thường đưa ra hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số như những nạn nhân của sự bất bình đẳng, bị coi thường, có vị thế thấp kém" [129, tr.14]
Năm 2013, trong cuốn sách "Thiểu số cần tiến kịp đa số" định kiến trong quan hệ tộc người ở Việt Nam (2013), các tác giả Phạm Quỳnh Phương, Hoàng
Cầm và các cộng sự cũng thừa nhận: "Định kiến trên báo chí thể hiện một phần diễn ngôn về dân tộc thiểu số nói chung cũng như định kiến của người Kinh đối với người dân tộc thiểu số nói riêng" [132, tr.10] Vì vậy diễn ngôn về dân tộc thiểu số trên truyền thông đã góp phần lớn vào việc hình thành những khuôn mẫu định kiến Những thông điệp mà người đọc lĩnh hội được từ các bài báo đều cho rằng người dân tộc thiểu số là "lạc hậu" về nhiều mặt, cả trong hoạt động kinh tế, lối sống hay tôn giáo Các tác giả cho rằng: "Xu hướng này của truyền thông thể hiện quan điểm tiến hóa luận (như đã trình bày ở phần trên) Diễn ngôn mang tính tiến hóa luận và triết lý phát triển này cùng với các phạm trù văn hóa - xã hội mới đi kèm theo nó như “lạc hậu”, “không văn minh”, “kém phát triển”, “mất vệ sinh”, “lãng phí”,
“không biết tính toán”, “nhận thức thấp”, “mê tín dị đoan”, v.v, đã chi phối rất lớn cách thức của cả người dân lẫn cán bộ nhà nước là người Kinh trong việc nhìn nhận
và đánh giá tiêu cực về các thực hành kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như tôn giáo - tín ngưỡng của các tộc người thiểu số" [132, tr.122]
Bên cạnh diễn ngôn về dân tộc thiểu số, vấn đề phụ nữ trên báo chí cũng là đối tượng được quan tâm nghiên cứu Năm 2008, tác giả Đặng Thị Vân Chi công bố
Trang 29chuyên khảo Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945 Tác giả cho
rằng phụ nữ Việt Nam trong một thời gian dài chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến nên chưa được đánh giá đúng về vai trò cũng như chưa được hưởng quyền lợi xứng đáng với những đóng góp của mình Nghiên cứu vấn đề phụ nữ qua báo chí sẽ thấy được những thay đổi trong đời sống tư tưởng của xã hội Việt Nam bởi báo chí là lĩnh vực thể hiện rõ sự thay đổi trong quá trình nhận thức về vấn đề phụ nữ, phản ánh quan điểm của tầng lớp trí thức tư sản và tiểu tư sản, cũng như cuộc sống sinh hoạt của phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa Sau khi phân tích vấn đề phụ nữ trên báo chí tác giả khẳng định: “Vấn đề phụ nữ trên báo chí còn phản ánh quá trình nhận thức của xã hội nói chung và của phụ nữ nói riêng về các vấn đề của họ như vai trò, vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội, vấn đề nữ quyền, bình đẳng nam nữ, vấn đề giải phóng phụ nữ” [24, tr.241]
Năm 2011 khi nghiên cứu về Hình ảnh các tổ chức dân sự trên một số báo in
và báo mạng (2011), các tác giả Đinh Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Minh Hiền, Vũ
Phương Thảo đã nhận được kết quả là: đa phần người dân có nhận định tích cực cho rằng tổ chức xã hội hoặc hoạt động của tổ chức xã hội là có ích với người dân Như vậy các tổ chức xã hội được các nhóm công chúng nhìn nhận với thái độ rất tích cực trên báo chí Tuyệt đại đa số đánh giá của nhà báo về tổ chức xã hội là tích cực Trong đó đa phần đánh giá về tác động tích cực của tổ chức đối với người dân Tuy nhiên bên cạnh đó còn một số hạn chế trong việc đưa tin bài về các tổ chức dân sự trên báo chí như: cách đưa tin bài còn mờ nhạt, khô khan, không gây cảm xúc hoặc
ít để lại ấn tượng hấp dẫn với bạn đọc [65, tr.40-45]
Năm 2015, trong bài viết "Sống thử" từ góc nhìn báo chí những năm gần
đây” công bố trên tạp chí Văn hóa dân gian, tác giả Đinh Việt Hà cũng cho rằng:
Xu hướng phản ánh của báo chí vẫn thay đổi chậm so với thực tế, đi sau so với thực tế phải chăng do báo chí ở Việt Nam, đặc biệt là các báo in vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của các tư tưởng, quan niệm đạo đức chính thống và các thiết chế xã hội (y
tế, giáo dục ) Thực tế đã xuất hiện các diễn ngôn đa chiều về "sống thử" Bởi vậy đòi hỏi báo chí cần có những cách thức, nội dung truyên truyền một cách chân thực, đầy đủ hơn, đa chiều hơn, tránh cách đưa tin phiến diện, với mục đích gây sốc, câu khách là chính, gây hiệu ứng không tốt, phản tác dụng tới xã hội [60, tr.62-68]
Trang 30Trong các công trình vừa nêu, các tác giả đã cho biết những nội dung thông điệp và những ngôn từ thường dùng Trong không ít trường hợp các tác giả chưa quan tâm đúng mức đến cơ chế quyền lực của các diễn ngôn
Như thế việc phân tích diễn ngôn trên báo chí không còn là hiện tượng hiếm muộn nhưng chưa có tác giả nào bàn đến vấn đề diễn ngôn về lễ hội trên báo chí
1.4 Lý thuyết diễn ngôn
Có nhiều ý kiến về diễn ngôn Theo khảo cứu của Manfred Frank, diễn ngôn (discourse) bắt nguồn từ tiếng La tinh “discoursus”, mà từ này có gốc động từ là
“discurere” có nghĩa là tán láo chơi, nói huyên thuyên Như vậy có thể hiểu rằng diễn ngôn là một lối nói, cách nói hoặc là một lượt nói có độ dài không xác định Từ điển Wikipedia cũng hiểu diễn ngôn là “sự giao tiếp hay tranh luận bằng ngôn ngữ nói hay viết Diễn ngôn còn có thể được gọi bằng những tên khác như hội thoại,
tranh luận hay chuỗi lời nói” Còn theo Collins Concise Enghlish dictionary (1988)
thì diễn ngôn được hiểu với các hàm nghĩa như: thứ nhất là sự giao tiếp bằng lời, nói chuyện, hội thoại; thứ hai là sự triển khai một vấn đề nào đấy bằng cách nói hoặc viết theo một trật tự; thứ ba, các nhà ngôn ngữ học thường sử dụng thuật ngữ diễn ngôn để chỉ một đơn vị của văn bản – đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu Trên diễn đàn http://www.ldoceonline.com, Longman đưa ra định nghĩa diễn ngôn trên cơ sở
ba nét nghĩa: “Thứ nhất là một bài phát biểu hoặc một đoạn viết quan trọng về một vấn đề cụ thể Thứ hai là một cuộc trò chuyện hoặc một cuộc thảo luận quan trọng giữa mọi người Thứ ba là ngôn ngữ được sử dụng trong một kiểu loại đặc biệt của
văn nói hoặc văn viết” Tác giả cuốn sách The Routledge dictionary of literary terms cũng khẳng định: “Cho đến nửa sau thế kỷ XX, thuật ngữ “diễn ngôn” vẫn
mang ý nghĩa cơ bản là chỉ sự trình bày một vấn đề cụ thể bằng cách nói hay viết theo một trật tự trước sau” [126, tr.18-19]
Các ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa đều quan tâm đến nghiên cứu diễn ngôn
Vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, chủ nghĩa cấu trúc luận trong ngôn ngữ học với tên tuổi nổi bật của F.de.Saussure dần dần nhường bước cho những hướng nghiên cứu mới như dụng học, phân tích hội thoại, ngữ pháp chức năng, ngữ pháp hệ thống Trong các hướng nghiên cứu mới đó, hướng nghiên cứu diễn ngôn
đã có mặt Khi nghiên cứu về phát ngôn, Emil Benviniste đã sử dụng nhất quán
Trang 31thuật ngữ “discourse” theo ý nghĩa mới (đối với ngôn ngữ học Pháp) là đặc điểm của lời nói do người nói nhận biết Nếu chủ nghĩa cấu trúc coi trọng ngôn ngữ thì những người theo phái diễn ngôn coi trọng lời nói Tác giả viết: “Câu, một sáng thế phong phú vô hạn, là hành động nói của con người trong đời sống hàng ngày Từ điều này, chúng ta kết luận rằng, với câu, chúng ta chuyển từ khu vực ngôn ngữ như một hệ thống các kí hiệu sang một vũ trụ khác, khu vực ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp mà hình thức diễn tả của nó là diễn ngôn” [126, tr.20]
Theo quan điểm của các nhà diễn ngôn trong lĩnh vực ngôn ngữ học, diễn ngôn là văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu Văn bản mới thể hiện hoạt động của ngôn ngữ, chứ không phải là câu hay từ như người ta vẫn thường quan niệm và đặc trưng của đơn vị này là sự thống nhất nghĩa và chức năng giao tiếp [69, tr.16] Nếu Emil Benviniste hiểu diễn ngôn là sự giải thích lập trường của người nói trong phát ngôn thì Zeling Harris quan niệm đối tượng của phân tích diễn ngôn là tính liên tục của phát ngôn, là đoạn cắt của văn bản lớn hơn câu
Trong cuốn sách Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, GS.TS Diệp
Quang Ban cho rằng, “trong cách hiểu ngắn gọn nhất, phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu Hiểu một cách cụ thể hơn thì phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa dạng [9, tr.158] Như thế, việc nghiên cứu diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học đã làm phong phú thêm mục đích của việc nghiên cứu ngôn ngữ, bổ sung cho ngôn ngữ học truyền thống vốn chỉ tập trung vào những đơn vị thành tố và cấu trúc câu
Trong giới nghiên cứu văn học, hướng nghiên cứu về diễn ngôn có các đại diện như G.Gennette, Tz.Todorov, R.Barthes, Iu.Lotman, M.Bakhtin, Trên cơ sở
phân biệt discourse và story, G.Gennette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách trình bày
một câu chuyện Tác giả đã phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp như: thời, thức và giọng Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và diễn ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt động kể và câu chuyện Trong công trình này, nhà nghiên cứu
Trang 32đã trình bày một số phương diện quan trọng của diễn ngôn tự sự như điểm nhìn (point of view), phản hồi (flashback), người trần thuật biết hết (ominiscient narrator), trần thuật ngôi thứ ba (third – person narrative) Một vấn đề đặc biệt
quan trọng được Gennette đề cập đến trong Diễn ngôn tự sự là vấn đề thời gian tự
sự được thể hiện qua các khái niệm trình tự, tốc độ, tần suất Trình tự (order) xác
định một quan hệ tiếp nối của các sự kiện trong câu chuyện được kể và cái cách mà
chúng được sắp xếp trong truyện Tốc độ (speed) xem xét mối liên hệ giữa khoảng
thời gian có thể thay đổi của các phần của câu chuyện với độ dài của chính văn bản
mà trong đó các phần truyện được kể lại, biểu thị nhịp độ của diễn ngôn tự sự Tần suất (frequency) nghiên cứu số lần những sự kiện xuất hiện trong câu chuyện và số
lần mà chúng được kể lại trong truyện [126, tr 22-23]
Tz.Todorov cho rằng diễn ngôn được hiểu là lời nói, kiểu diễn ngôn được
ông đồng nhất với kiểu lời nói Trong Thi pháp văn xuôi, ông đặc biệt chú ý đến chủ
ý của diễn ngôn, đến địa vị và thái độ của chủ thể diễn ngôn Nghiên cứu cấu trúc của diễn ngôn, Todorov cho rằng mọi lý thuyết ngữ nghĩa về các bộ phận của diễn ngôn đều phải dựa trên sự phân biệt giữa miêu tả và định danh, hai chức năng này của ngôn ngữ được phân phối chủ yếu thành các đơn vị động từ và tính từ, ngoài ra
có thể viện đến các phạm trù thức, giọng, thì, dạng Trong Dẫn luận văn chương kỳ
ảo, Todorov cho rằng: tác phẩm văn học cũng như mọi diễn ngôn khác được tạo
thành không phải bởi những từ mà bởi những câu và những câu này lại thuộc về những kiểu ghi ngôn ngữ khác nhau [126, tr.24]
Iu.M Lotman và các cộng sự của ông đã nỗ lực mở rộng đối tượng, nới lỏng biên độ của nghiên cứu văn học để biến nó thành lĩnh vực đặc biệt của văn hóa học Văn hóa mới thực sự là đối tượng nghiên cứu chủ yếu, đặc biệt của Lotman và trường phái Tartu Lotman quan niệm văn hóa là hiện tượng ký hiệu học Ông cho rằng, các hệ thống rạch ròi và đơn nghĩa về mặt chức năng không thể tồn tại tự nó, ở dạng biệt lập Được tách ra riêng rẽ, không một hệ thống nào có khả năng hoạt động thực sự Chỉ khi nào được bao bọc trong một mạng lưới ký hiệu học tràn đầy những cấu trúc ký hiệu học với những dạng khác nhau và tồn tại ở những cấp độ tổ chức khác nhau nào đó, chúng mới hoạt động Lotman lấy văn bản làm trung tâm Ông cho rằng: “Giao tiếp là quá trình liên tục phiên dịch, giải mã thông tin giữa người phát và người nhận như những chủ thể kí ức Cho nên, ngôn ngữ không phải là cái
Trang 33gì có sẵn, tồn tại trước văn bản, mà ngược lại, văn bản bao giờ cũng có trước ngôn ngữ và rộng hơn ngôn ngữ Rõ ràng, có nhiều văn bản, ta vẫn đọc trơn tru, mà
chẳng hiểu gì cả, vì chưa phát hiện ra ngôn ngữ của nó Muốn đọc một văn bản, ta phải giải mã, tức là tìm ra cái ngôn ngữ đã được sử dụng để mã hóa thông tin có trong văn bản ấy Văn bản rộng hơn ngôn ngữ, vì nó có những phạm trù mà ngôn ngữ không hề có, ví như các phạm trù đánh dấu sự mở đầu và kết thúc [97, tr.11]
Trong chương Kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, phần thứ tư Văn bản văn học nghệ thuật của cuốn sách Kí hiệu học văn hóa, Iu.M.Lotman đã bàn về
những vấn đề như khung, không gian, truyện kể, nhân vật, đặc trưng của thế giới nghệ thuật, nhân vật và tính cách, điểm nhìn của văn bản Ông cho rằng, tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc biểu nghĩa, một mô hình nghệ thuật – mô hình hữu hạn của một thế giới vô hạn: “Về nguyên tắc, tác phẩm nghệ thuật là sự phản ánh cái vô cùng trong cái hữu hạn, cái chỉnh thể trong một trường đoạn, cho nên, không thể kiến tạo ra tác phẩm giống như là sự sao chép đối tượng trong những hình thức vốn
có của nó Nó là sự phản ánh một hiện thực này vào một hiện thực khác, có nghĩa,
nó bao giờ cũng là sự phiên dịch” [97, tr.383] Sau khi dẫn ví dụ để chỉ ra mối liên
hệ giữa vấn đề ranh giới và tính ước lệ của ngôn ngữ phản ánh một đối tượng trong một đối tượng khác nào đó, ông khẳng định: “Mô hình hóa một đối tượng là cái vô cùng (hiện thực) bằng các phương tiện của một văn bản hữu hạn, với không gian của mình, tác phẩm nghệ thuật đã thay thế không phải một phần (đúng hơn, không chỉ một phần) đời sống được phản ánh, mà là toàn bộ đời sống ấy trong tính tổng hợp của nó Mỗi mô hình riêng lẻ đều mô hình hóa một đối tượng vừa là một cá thể nào đó, lại vừa mang tính phổ quát” [97, tr.385]
Đối với Bakhtin, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ Ngôn ngữ là đối tượng của ngôn ngữ học truyền thống, còn diễn ngôn là đối tượng của khoa học xã hội và
nhân văn Trong cuốn sách Những vấn đề thi pháp Dostoievxki, Bakhtin dành một
chương chuyên nghiên cứu ngôn ngữ của Dostoievxki gọi là “slovo” mà Trần Đình
Sử dịch là “lời văn” Mở đầu chương này, ông tuyên bố: “Ngôn ngữ của Dostoievxki chỉ cái chỉnh thể ngôn ngữ sống động, cụ thể, chứ không phải cái ngôn ngữ như đối tượng nghiên cứu chuyên biệt của ngôn ngữ học” [126, tr.27] Cái gọi
là chỉnh thể ngôn ngữ mà Bakhtin hay dùng thực chất là diễn ngôn Sự phân tích ngôn ngữ của Bakhtin thực chất là phân tích diễn ngôn, ông nghiên cứu cái phần mà
Trang 34ngôn ngữ học không nghiên cứu – phần nội dung, ý nghĩa, và sức mạnh do ngôn ngữ mang lại M.Bakhtin nêu xu hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học”, tức là lấy diễn ngôn (lời nói, văn bản) làm đối tượng nghiên cứu, hình thành khuynh hướng
“diễn ngôn học”, mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận ngôn từ văn học
Trong quan niệm của M.Bakhtin, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, ngôn ngữ trong sử dụng, có tư tưởng, có tính hoạt động xã hội, tức tính thực tiễn Diễn ngôn là bất cứ lời nói nào được phát ra trong thực tế, chứ không phải là ngôn ngữ trong từ điển, nó không thể tách rời ý thức chủ quan của người nói; nó là sản phẩm của giao tiếp, là sản phẩm của xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại về mặt xã hội của ba nhân tố: người nói (tác giả), người nghe (độc giả) và người được biểu hiện (nhân vật) Bản chất của diễn ngôn là mang tính đối thoại bởi
nó chính là mảnh đất giao cắt, hội tụ, tranh biện của những tư tưởng, quan niệm khác nhau về thế giới Mỗi phát ngôn của chúng ta chỉ được hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại, thường xuyên, liên tục với những phát ngôn của các cá nhân khác [126]
Lotman và Bakhtin là những nhà nghiên cứu văn học nhưng đồng thời cũng
là những nhà văn hóa, trong tư tưởng của họ chứa đựng nhiều quan niệm triết học Tuy nhiên trong ngành nghiên cứu văn hóa khi bàn đến nghiên cứu diễn ngôn, chúng ta không thể không nhắc tới M.Foucault Ông là nhà tư tưởng theo thuyết hậu cấu trúc có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu văn hóa ở thời điểm hiện nay [7, tr.132] Với ông, nội hàm khái niệm diễn ngôn rất rộng, bao gồm các ý kiến (ý kiến
về tính dục, về nhà tù, hình phạt), học thuyết, khoa học (y học, tâm lý học, xã hội học ), thiết chế về kiểm soát xã hội (nhà tù, nhà trường, bệnh viện, phòng xưng tội trong nhà thờ )
Như chúng tôi đã trình bày, theo M.Foucault, văn hóa của con người là sản phẩm của các tập hợp diễn ngôn, nên tập hợp diễn ngôn khác nhau thì văn hóa cũng khác nhau
Khác với Malinowski (1884-1942), Foucault cho rằng văn hóa không phải là sản phẩm của những nhu cầu của con người mà chịu sự chi phối của những yếu tố nằm ngoài mong muốn chủ quan của con người Khác với Radcliffe Brown (1881-1955), Foucault không cho rằng cấu trúc xã hội hiện tại tạo nên văn hóa mà là tập hợp các diễn ngôn trong khi Radcliffe Browm cho rằng cấu trúc xã hội chi phối
Trang 35hành vi của con người Foucault quan niệm rằng các diễn ngôn chi phối cả con người lẫn cấu trúc xã hội Theo Foucault, các diễn ngôn có sức mạnh vượt lên trên tất cả và chi phối tất cả mọi thứ trong xã hội
Giống với Boas (1858-1942) và Lévi Strauss (1908-2009), Foucault cũng nhấn mạnh hai yếu tố quan trọng hình thành nên văn hóa Đó là quá trình lịch sử đặc thù của từng vùng miền và cách thức tư duy của con người Bên cạnh đó, Foucault đã có sự khác biệt lớn với hai học giả vừa nêu Boas cho rằng, quá trình lịch sử của mỗi tộc người tạo nên văn hóa của mỗi tộc người đó thông qua sự thích nghi và văn hóa lại định hình luôn cách họ tư duy và cách thức tư duy này giúp cho văn hóa được duy trì Còn Lévi Strauss thì khẳng định rằng tư duy của con người không phải được hình thành qua quá trình lịch sử mà là hình thành ngay từ khi sinh
ra, còn quá trình lịch sử chỉ quyết định xem tư duy ấy biểu hiện ra dưới dạng này hay dạng khác Trong khi đó, Foucault cho rằng cái mà quá trình lịch sử tạo ra là các diễn ngôn, và các diễn ngôn này chi phối tư duy của con người, chi phối cách con người suy nghĩ, hành động, phân biệt đúng sai, phải trái và qua đó tạo nên văn hóa của họ Ông quan niệm diễn ngôn không phải là sản phẩm của sự thích nghi với môi trường sống như quan điểm của Boas, mà trước hết là sản phẩm nhân tạo của các chủ thể, các nhóm người tạo ra, để tranh giành vị thế, tầm ảnh hưởng, hay theo cách gọi của chính ông là quyền lực Trong mỗi thời kỳ lịch sử, giai đoạn lịch sử, các cá nhân và các nhóm người khác nhau thường xuyên đưa ra các quan điểm tư tưởng mới và nỗ lực biến chúng thành các diễn ngôn tức là ấn chúng vào đầu óc của người khác thông qua nhà trường, phim ảnh, báo chí, các tác phẩm văn học cho đến khi nào những người được nhồi nhét, áp đặt coi các tư tưởng đó là những điều hiển nhiên và làm theo một cách vô thức Trong mỗi xã hội luôn luôn có sự tương tác xung đột, cạnh tranh giữa các diễn ngôn để tranh giành vị thế chân lý Foucault nhấn mạnh, việc diễn ngôn nào mạnh hơn, diễn ngôn nào bị loại bỏ và diễn ngôn nào được đề xướng mới là tùy thuộc vào các nhóm ủng hộ các diễn ngôn đó trong
xã hội, tùy thuộc vào quyền lực của họ trong xã hội chứ không phải do quá trình thích nghi của con người [21] Chính vì thế trong các quãng đời của mình, tuy cùng quan tâm đến diễn ngôn nhưng mục tiêu theo đuổi của Foucault là khác nhau Trong những năm 60 của thế kỷ XX, ông triển khai các luận điểm về sự kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động, tạo lập, luân chuyển của diễn ngôn Từ những năm 70 trở đi
Trang 36ông lại quan tâm đến mối quan hệ tay ba giữa diễn ngôn – tri thức – quyền lực [214]
Foucault cũng nhấn mạnh rằng các diễn ngôn không phải là một thứ mang tính bản năng tồn tại sẵn trong não người như quan điểm của Lévi Strauss Foucault cho rằng mỗi xã hội sẽ bị chi phối bởi một tập hợp các diễn ngôn khác nhau, được hình thành và tích tụ qua quá trình lịch sử tùy vào điều kiện lịch sử của xã hội đó Bởi hệ thống các diễn ngôn thường xuyên thay đổi, có những diễn ngôn mất đi và
có những diễn ngôn mới được bổ sung, nên tư duy của con người cũng liên tục thay đổi và không giống nhau Điều này rất khác với Lévi Strauss, người chủ trương một cấu trúc tinh thần bất biến và giống nhau ở khắp nơi trên thế giới [21, tr.96-97]
Vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào đề tài luận án, chúng tôi hiểu rằng diễn ngôn về lễ hội trên báo chí được hình thành và công bố bởi một chủ thể đa dạng Đó
là những người lãnh đạo, các nhà hoạt động xã hội, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các nhà báo Khi phân tích diễn ngôn về lễ hội trên báo chí, chúng tôi
sẽ cố gắng làm rõ những điểm dưới đây:
- Những thông tin về lễ hội; những từ ngữ thường dùng và cách diễn đạt hay gặp trong các diễn ngôn, sự thay đổi trật tự của diễn ngôn; từ những thông tin đó tạo nên tri thức về lễ hội; những tri thức này thường tồn tại trong thời gian dài và sẽ có
sự thay đổi theo thời gian
- Những chủ thể của các diễn ngôn về lễ hội, lập trường của người phát ngôn diễn ngôn đó được thể hiện trong môi trường truyền thông như thế nào?
- Những điều kiện chính trị xã hội cho phép hình thành diễn ngôn, cơ chế quyền lực nào thể hiện trong diễn ngôn
Tiểu kết
Trong luận án này có ba khái niệm quan trọng nhất là diễn ngôn, lễ hội và báo chí Chúng tôi đã trình bày khái niệm về diễn ngôn, lễ hội và báo chí, đồng thời nhìn lại diễn trình nghiên cứu lễ hội ở Việt Nam Nếu tính từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay chúng ta đã có một số lượng khổng lồ các bài viết, các cuốn sách và các luận án về lễ hội Bên cạnh khuynh hướng miêu thuật từng lễ hội hoặc giới thiệu tổng thể lễ hội của một tỉnh, một vùng hoặc cả nước là khuynh hướng đi sâu nghiên cứu những vấn đề có tính chất lý luận như cấu trúc và thành tố của lễ hội, diễn trình lễ hội trong lịch sử, khai thác vận dụng lễ hội cổ truyền nhằm
Trang 37phục vụ cuộc sống đương đại Trong sự phong phú của thành tựu nghiên cứu về lễ hội, tiếc rằng chưa có một công trình nào quan tâm đến vấn đề diễn ngôn về lễ hội Nghiên cứu sinh cũng đã giới thuyết khái niệm báo chí, nhà báo, đã đi đến nhận xét rằng đã có một số lượng đáng kể diễn ngôn trên báo chí nhưng chưa có diễn ngôn nào nói về lễ hội Nghiên cứu diễn ngôn đã được thực hiện trong ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học và nghiên cứu văn hóa Chúng tôi quan niệm nghiên cứu diễn ngôn về lễ hội trên báo chí là trình bày những gì mà các tác giả nói về lễ hội, những từ ngữ thường dùng và cách diễn đạt hay gặp trong các diễn ngôn, sự thay đổi trật tự của các diễn ngôn; từ những thông tin về lễ hội sẽ hình thành tri thức về
lễ hội; những tri thức này thường tồn tại trong một thời gian dài và sẽ có sự thay đổi theo thời gian Chúng tôi cũng sẽ cố gắng phân tích các chủ thể của diễn ngôn, lập trường của người phát ngôn, những điều kiện chính trị cho phép hình thành diễn ngôn và cơ chế quyền lực thể hiện trong diễn ngôn
Trang 38CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN VỀ LỄ HỘI TRÊN BÁO CHÍ
TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Lịch sử báo chí Việt Nam được bắt đầu từ năm 1865 với tờ Gia Định báo
Từ năm 1865 đến trước Đổi mới (tháng 12/1986) là cả một thời kỳ dài với nhiều giai đoạn Trong thời gian Pháp thuộc, chưa có sự phân biệt thật rành rẽ giữa tạp chí
và báo như thời gian hiện nay Trước Cách mạng tháng Tám, số lượng bài báo, tạp chí viết về lễ hội chẳng những đã ít mà khâu lưu giữ trong các thư viện lớn ở Việt Nam cũng hạn chế, tức là hiện nay chúng không thể cung cấp cho người đọc toàn
bộ các bài báo ít ỏi đó Chính vì vậy bên cạnh việc trình bày các diễn ngôn về lễ hội trên báo chí của thời kỳ này, chúng tôi xin được phân tích thêm một số ý kiến không công bố trên mặt báo của các tác giả khác
2.1 Diễn ngôn báo chí về lễ hội trước Cách mạng tháng Tám
2.1.1 Bối cảnh xã hội và những cuộc đấu tranh tư tưởng
Nếu tính từ năm 1865 đến mùa thu tháng Tám năm 1945, lịch sử Việt Nam
có nhiều biến động dữ dội Người Pháp tiếp tục các cuộc xâm lăng bằng quân sự và đến năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Hác - măng, thừa nhận sự đô hộ của người Pháp trên toàn cõi Việt Nam Theo đó, Việt Nam được chia thành ba kỳ với những chế độ chính trị khác nhau Nam Kỳ là đất bảo hộ thuộc Pháp Trung Kỳ
là vùng đất nửa bảo hộ Ở đây có triều đình Huế; song về thực chất chính quyền Nam triều chỉ là bù nhìn Bắc Kỳ là xứ bảo hộ Thực dân Pháp đô hộ nước ta nhằm mục đích vơ vét tài nguyên và bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt; thậm chí trong hai cuộc đại chiến thế giới, thực dân Pháp đưa hàng vạn thanh niên Việt Nam sang châu
Âu làm bia đỡ đạn cho chúng Năm 1941, phát xít Nhật kéo vào Đông Dương, hất cẳng Pháp, từ đây dân ta lại thêm một tròng nô lệ
Trước sự xâm lăng của thực dân Pháp, người Việt Nam đã tiến hành không biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ Sau khi phong trào Cần Vương thất bại là đến cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (1884-1913) Tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu Chưa bao giờ ở Việt Nam lại diễn
ra những cuộc đấu tranh, khác biệt về tư tưởng như thời gian này Tư tưởng xuyên suốt, cơ bản của người Việt Nam là đấu tranh giành độc lập dân tộc Tư tưởng cơ bản này được thể hiện ở những thời gian khác nhau với những sự khác biệt Trong
Trang 39thời gian đầu là tư tưởng Cần Vương do các sĩ phu yêu nước đề xuất Dưới lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, những vị quan yêu nước và các văn thân tập hợp binh lính
và nhân dân đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp và tay sai Muốn đánh đuổi thực dân, ngoài việc sử dụng vũ khí, người Việt Nam cần phải thay đổi nếp nghĩ và cách sống Tư tưởng duy tân của các nhà nho tiến bộ ra đời, phê phán cách học cách nghĩ cổ hủ, đề nghị cải cách giáo dục, chú trọng đến thực hành và nội dung của việc học, vận động nhân dân học chữ Quốc ngữ Để chống Pháp, Phan Bội Châu chủ trương kêu gọi Nhật Bản giúp đỡ bởi ông tin rằng những người cùng máu đỏ da vàng thì sẽ bảo vệ cho nhau Hàng trăm thanh niên Việt Nam đã sang Nhật Bản du học Phan Bội Châu chủ trương lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp bằng bạo lực
vũ trang [93] Phan Chu Trinh lại chủ trương giành độc lập dân tộc bằng con đường công khai và ôn hòa Ông vạch trần sự thối nát của triều đình Nam triều và giới quan lại Việt Nam Các tác phẩm của Phan Chu Trinh thể hiện tinh thần khảng khái bất khuất, “tư tưởng yêu nước nồng nàn, có xu hướng cải lương không bạo động” [77, tr.402-403] Sau khi bị Nhật Bản trục xuất, quan sát diễn biến của cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, Phan Bội Châu có ý định lập ra một đảng chính trị của giai cấp tư sản Nhưng sau khi gặp Nguyễn Ái Quốc, ông bỏ ý định đó
và có những ý tưởng theo hướng xã hội chủ nghĩa Năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải (Trung Quốc) giải về nước, kết án tử hình Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội Châu, thực dân Pháp buộc phải đưa ông về an trí ở Bến Ngự (Huế) Trong 15 năm cuối đời, ông vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu nước bằng văn chương [77, tr.402] Việt Nam Quốc dân Đảng là chính đảng tiêu biểu cho xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam, đại diện cho quyền lợi và nguyện vọng của giai cấp tư sản dân tộc và tầng lớp tiểu tư sản Đảng này chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, đánh đổ ngôi vua tiếp lập dân quyền Về thành phần xã hội, số đông đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng xuất thân là học sinh, sinh viên, giáo viên, công chức, người làm nghề tự do, tiểu tư sản thành thị, thân hào, địa chủ ở nông thôn và binh lính người Việt trong quân đội Pháp Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930) bị thất bại, nhiều yếu nhân của đảng bị Pháp xử tử hình, nhiều đảng viên phải sang sống lưu vong ở Trung Quốc Việt Nam Quốc dân Đảng yêu nước bị tan rã hoàn toàn [78, tr.805] Năm 1930, Đảng Cộng sản ra đời, với cương
Trang 40lĩnh chủ trương đánh đổ hai kẻ thù là đế quốc Pháp và giai cấp phong kiến tay sai, thực hiện cách mạng dân tộc trước, sau đó tiến hành cách mạng dân chủ Nòng cốt của cách mạng là liên minh giai cấp giữa công nhân và nông dân, trong đó công nhân là giai cấp lãnh đạo Đảng Cộng sản đã mắc sai lầm khi quá tả trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, coi cả những người giàu có nói chung và trí thức là đối tượng bài trừ của cách mạng Sai lầm này đã được uốn nắn Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, với 5.000 đảng viên, Đảng Cộng sản đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền
Thực dân Pháp ra sức tuyên truyền, đề cao ưu thế của văn minh, văn hóa Pháp, ngăn chặn ảnh hưởng của nước Đức, văn hóa Đức vào Việt Nam Người Pháp không giấu diếm ý đồ uy hiếp tinh thần nhân dân ta bằng kỹ thuật và máy móc Một
tác giả người Pháp đã viết trong cuốn Đường sắt của Đông Dương (1902) như sau:
“Phải làm cho họ thấy rằng, trên hành động chúng ta thực sự là một giống người cao đẳng và “những con quỷ phun lửa” của chúng ta chạy trên đường sắt nhanh như chớp thực sự là nguồn gốc của sự giầu có và thịnh vượng” [173] Nếu như thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp về quân sự, chuyên chế về chính trị đối với Đảng Cộng sản thì trong lĩnh vực văn hóa chúng cũng coi đảng và sách báo cộng sản là kẻ thù Chúng cấm tàng trữ và lưu hành sách báo cộng sản Chúng tiến hành kiểm duyệt báo chí và đàn áp sách báo tiến bộ Bên cạnh đó chúng còn dùng chính sách
mị dân, dùng khuynh hướng cải lương để đánh lạc hướng và xoa dịu phong trào
cách mạng Năm 1934, toàn quyền Pháp tung ra chính sách Pháp Việt đề huề để
đánh lừa những người yêu nước nhẹ dạ Thực dân Pháp cũng ủng hộ những hoạt động tôn giáo nhằm ru ngủ và đánh lạc hướng thanh niên, ủng hộ phong trào văn hóa có xu hướng cải lương tư sản như tổ chức thi sắc đẹp, tổ chức cho các cô gái thi
xe đạp, gây phong trào chợ phiên, phổ biến những bản nhạc sầu não Thực dân Pháp còn cho phép học sinh, sinh viên được ca ngợi các vị anh hùng dân tộc trong lịch
sử Về thực chất chúng muốn hướng thanh niên vào chủ nghĩa dân tộc Xô vanh, chủ nghĩa phục cổ, chủ nghĩa bảo thủ duy tâm, Mục đích của chúng là dấy lên các hoạt động cải lương để làm cho thanh niên quên bẵng phong trào cách mạng [49, tr.312]
Sau khi đổ bộ vào Đông Dương, về mặt văn hóa, phát xít Nhật tung ra thuyết Đại Đông A nhằm ru ngủ mọi người và tìm mọi cách phát triển quan hệ Việt Nam