VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI SÙNG MÍ LỬ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÈO VẠC - TỈNH HÀ GIANG Chuyên
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
SÙNG MÍ LỬ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MÈO VẠC - TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ANH VŨ
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Sùng Mí Lử
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Khoa Kinh tế học của Học viện cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo, Tiến sĩ Lê Anh Vũ - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển bền vững Vùng (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), người thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến UBND huyện, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Chi cục Thống kê huyện và các Hợp tác xã trên địa bàn huyện Mèo Vạc đã giúp đỡ tôi về thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc chắn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 101.1 Các khái niệm 101.2 Hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp 151.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp của một số địa phương 22Chương 2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÈO VẠC 272.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc 272.2 Thực trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc 312.3 Hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Mèo Vạc 39Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN MÈO VẠC 503.1 Bối cảnh mới nâng cao hiệu quả của hợp tác xã nông nghiệp tại huyện Mèo Vạc 503.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc 523.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc 53KẾT LUẬN 65DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6Bảng 2.2 Tình hình biến động số lượng HTX nông nghiệp từ
Bảng 2.5 Năng lực điều hành của cán bộ quản lý và trình độ xã
viên của các HTX nông nghiệp điều tra 38
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp lợi nhuận thu được (lợi nhuận so với
vốn) của các HTX trong năm 2015 và 2016 40
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá hiệu quả hoạt động
Bảng 2.8 Tình hình công nợ của các HTX nông nghiệp điều tra
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hình thức tổ chức sản xuất tập thể là một trong những tiêu chí quan trọng trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Con đường hợp tác đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trải qua hơn 50 năm; có những bước thăng trầm do những điều kiện khách quan và chủ quan đem lại, song kinh tế tập thể (KTTT), nòng cốt là hợp tác xã (HTX) trong những năm qua, đã có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tổ hợp tác hoặc hợp tác xã là mô hình sản xuất giúp hỗ trợ nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn vừa góp phần tạo điều kiện phát huy nội lực rất hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới trong cả nước Trên thực tế, nếu HTX phát triển đúng hướng, sẽ tạo nền tảng thúc đẩy nông thôn phát triển Ngoài ra, khi gắn với chương trình tái cơ cấu nông nghiệp, HTX sẽ khẳng định được vai trò điều hành sản xuất, kinh doanh, tìm kiếm thị trường đầu ra, tiêu thụ sản phẩm cho các thành viên và nông dân, ngày càng khẳng định được vị thế trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, HTX vẫn là
mô hình giữ vai trò to lớn trong xã hội Các HTX hoạt động hiệu quả sẽ góp phần vào việc ổn định trật tự, an ninh chính trị, xã hội thông qua các hoạt động kinh doanh và sinh hoạt cộng đồng Tinh thần đoàn kết, tình làng nghĩa xóm, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau trong cùng một tập thể cũng được duy trì và phát huy Bởi vậy, việc phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động HTX tại mỗi địa phương trên cả nước hiện đang là một trong những việc làm quan trọng và cấp thiết hiện nay
Mèo Vạc là một huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, thuộc quần thể Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, địa đầu phía Bắc của
Tổ quốc Hiện nay, trên địa bàn toàn huyện có 38 HTX và 27 Tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp tại các thôn, bản của
Trang 8các xã trong huyện Nhìn chung, các HTX trên toàn huyện hoạt động sản xuất kinh doanh tương đối ổn định, hiệu quả trong các lĩnh vực như: chăn nuôi, trồng trọt, giao thông, thủy lợi, dịch vụ giống, vật tư, thương mại phục vụ nông nghiệp Bên cạnh đó, các HTX tham gia thực hiện các dự án, Chương trình của huyện như Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình 30a, Chương trình xây dựng Nông thôn mới Qua đó, góp phần xóa đói giảm nghèo, đặc biệt đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành các tiêu chí
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Tuy nhiên, các HTX chưa phát huy được vai trò và vị trí của KTTT trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Quy mô của HTX nhỏ; có HTX tổ chức và hoạt động chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật HTX; nhiều HTX nông nghiệp chuyển đổi còn hình thức, chưa đảm bảo đầy đủ yêu cầu của Luật HTX và đòi hỏi phát triển của HTX; xã viên tham gia HTX với
ý thức trông chờ vào sự giúp đỡ của tập thể và Nhà nước; nhiều HTX không huy động được nguồn lực từ chính xã viên, tính bền vững và ổn định trong tổ chức và hoạt động chưa cao; chưa thực hiện tốt chế độ hạch toán và báo cáo tài chính Các HTX hoạt động với quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh còn hạn chế, mức đóng góp cho ngân sách hàng năm chưa cao, số nộp ngân sách Nhà nước năm 2017 (đến thời điểm 31 tháng 7 năm 2017) chỉ đạt 1,06 tỷ đồng
Có thể nói, những đóng góp của các HTX nông nghiệp tại huyện Mèo Vạc vẫn còn ít, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, chưa phát huy được vai trò cũng như thế mạnh của địa phương Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó của các HTX nông nghiệp tại địa bàn huyện Mèo Vạc là do nhận thức về vai trò của HTX chưa đầy đủ, chưa thống nhất; ý thức trách nhiệm còn thấp, đánh giá về kinh tế tập thể chưa toàn diện, chưa thấy hết vai trò quan trọng của KTTT trong phát triển kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng; công tác quản lý Nhà nước về KTTT còn nhiều hạn chế, bất cập
Trong khi đó, huyện Mèo Vạc cơ bản vẫn là huyện thuần nông, việc phát triển các sản phẩm nông nghiệp phù hợp, sản phẩm sạch, tạo được chuỗi
Trang 9liên kết với các vùng miền khác sẽ góp phần phát huy tiềm năng, lợi thế và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Để làm được điều này, các HTX nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo
Việc nghiên cứu toàn diện về các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc để thấy rõ thực trạng, những hạn chế, yếu kém trong quá trình hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp là quan trọng và cấp bách
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiệu quả hoạt động của các HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng là vấn đề được nhiều người quan tâm, không chỉ là các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý mà còn cả những người trực tiếp tham gia HTX Trong phạm
vi của luận văn, tôi giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp:
- Nguyễn Văn Bích, Phát triển và đổi mới quản lý HTX theo Luật HTX,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Cuốn sách đã khái quát quá trình phát triển kinh tế hợp tác và quá trình đổi mới tổ chức quản lý hợp tác xã ở Việt Nam trên cơ sở đó góp phần tìm hiểu những nội dung cơ bản để phát triển cũng như phát huy hiệu quả hoạt động của HTX
- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), Đổi mới tổ chức và quản
lý các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Công trình đã nghiên cứu các quá trình phát triển hình thức tổ chức và quản lý HTX nông nghiệp qua các giai đoạn, trong đó có đề cập đến giai đoạn thực hiện Luật HTX 1996 Từ thực trạng phát triển các mô hình tổ chức quản lý các HTX ở nông thôn của một số địa phương miền Bắc tiêu biểu, các tác giả cũng đã đưa ra những phương hướng và giải pháp cụ thể để xây dựng mô hình
tổ chức và quản lý có hiệu quả các HTX
Trang 10- Chu Tiến Quang (2003), Kinh nghiệm hoạt động của một số hợp tác
xã sau sáu năm thực hiện Luật hợp tác xã ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2003 Công trình là kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tiễn quá trình thực hiện Luật HTX 1996 ở 33 HTX trong các lĩnh vực trong đó
có lĩnh vực nông nghiệp của nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương chủ trì Kết quả nghiên cứu chi tiết ở các mô hình HTX đã cho phép nhóm nghiên cứu công bố những nhận xét mang tính khách quan về thực trạng HTX chuyển đổi theo Luật HTX 1996 trên các khía cạnh: Tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản liên quan; Thực trạng xã viên là lao động trong quá trình HTX chuyển đổi theo Luật HTX 2012; Thực trạng vốn góp của xã viên và vốn điều lệ HTX; Thực trạng quá trình các HTX xây dựng điều lệ HTX phù hợp với những qui định của Luật HTX 1996; Thực trạng tổ chức quản lý HTX theo Luật 1996; Kết quả hoạt động dịch vụ và sản xuất kinh doanh của các mô hình HTX trong quá trình chuyển đổi theo Luật HTX
1996 Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất những kinh nghiệm hoạt động của từng HTX được điều tra, khảo sát sau sáu năm thực hiện Luật HTX
1996
- Nguyễn Công Bình (2007), Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của các Hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Tiền Giang đến 2015, Trường Đại học
Kinh tế TP Hồ Chí Minh Công trình này trực tiếp nghiên cứu về các HTX nông nghiệp ở tỉnh Tiền Giang, tìm hiểu thực trạng, đưa ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các HTX nông nghiệp của Tiền Giang
- Bùi Giang Long (2009), Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển hợp
tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay, Trường Đại
học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - ĐH Thái Nguyên Đây là công trình nghiên cứu có tính khái quát cao về các HTX nông nghiệp nhưng tập trung
Trang 11chủ yếu về khía cạnh phát triển HTX, trong đó đề cập đến việc nâng cao hiệu quả HTX nông nghiệp
Các công trình khoa học nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về Hợp tác xã nói chung và Hợp tác xã nông nghiệp nói riêng; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp Những quan niệm, định hướng đó đã giúp cho tác giả luận văn có những cơ sở khoa học, lý luận cũng như thực tiễn khi triển khai nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa nghiên cứu có hệ thống về hiệu quả và nâng cao hiệu quả của HTX nông nghiệp Cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về thực trạng và việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Những công trình nghiên cứu trên đây đã cho những kiến thức vô cùng quý giá để tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
“Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn
huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về HTX nông nghiệp và hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp, làm rõ hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động HTX nông nghiệp; kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp tại một số địa phương
- Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; chỉ ra được những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế
Trang 12- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp phù hợp với đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mèo Vạc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp tại địa bàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng
và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các HTX nông nghiệp, thực chất là hiệu quả sản xuất kinh doanh Đề tài không nghiên cứu hiệu quả
xã hội và hiệu quả môi trường của HTX nông nghiệp
- Giới hạn không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang
- Giới hạn thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động và hiệu quả của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc từ năm 2012 khi sửa đổi Luật HTX đến năm 2017 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp giai đoạn 2018 - 2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng Ngoài ra, luận văn còn chú ý sử dụng các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Tính đến thời điểm hiện tại, trên toàn huyện Mèo Vạc có 38 HTX nông nghiệp Huyện Mèo Vạc được chia làm 03 tiểu vùng kinh tế với các đặc điểm
Trang 13khác nhau: (1) Vùng 1: gồm 03 xã biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, đây là vùng có địa hình hiểm trở, sương mù che phủ, được chia cắt bởi dòng sông Nho Quế, về nông nghiệp chủ yếu phát triển trồng ngô, lúa, đậu tương và phát triển chăn nuôi gia súc (bò, dê); (2) Vùng 2: gồm 9 xã và 01 thị trấn, đây là vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn nhất, là vùng thường xuyên thiếu nước sinh hoạt và sản xuất với 100% diện tích là núi đá, nông nghiệp chủ yếu là trồng ngô, chăn nuôi bò, lợn, dê, nuôi ong; (3) Vùng 3: gồm 05 xã núi đất, đây là vùng kinh tế trọng điểm của huyện với thế mạnh là thâm canh lúa nước (diện tích lúa nước của huyện trập trung chủ yếu ở vùng này), trồng và khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng, trồng cây ăn quả, phát triển chăn nuôi trâu,
bò, dê Vì vậy, tác giả chọn mỗi vùng 02 HTX nông nghiệp làm mẫu để nghiên cứu chính
Tác giả đã điều tra, khảo sát để có được những số liệu quan trọng liên quan đến hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Tìm ra được những hạn chế, yếu kém để từ đó đề ra các phương án nâng cao hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc
5.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập tài liệu thứ cấp:
- Đề tài thu thập những tài liệu liên quan trực tiếp đến tình hình phát triển của các HTX nông nghiệp tại địa bàn huyện Mèo Vạc từ các phòng ban chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện Mèo Vạc
- Thu thập tài liệu từ các nguồn, các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến HTX nông nghiệp
Thu thập tài liệu sơ cấp:
- Tác giả chọn 6 HTX nông nghiệp làm mẫu, gồm: HTX Tuấn Dũng, HTX DVNN tổng hợp Đại Dương, HTX chế biến chè Tát Ngà, HTX Sủng Cáng, HTX Tam Giác Mạch, HTX DVNN Tả Lủng, HTX rau quả Bản Tồng Đồng thời tiến hành lấy phiếu khảo sát tại tất cả 38 HTX
Trang 14- Số liệu sơ cấp là số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức, phản ánh kết quả hoạt động của các HTX, các vấn đề khác có liên quan
- Số liệu thu thập từ các HTX trong huyện
- Để thu thập được số liệu sơ cấp, tác giả sử dụng những phương pháp sau:
+ Gửi phiếu điều tra đến các HTX trên địa bàn huyện
+ Gửi phiếu điều tra đến từng HTX thông qua các buổi bồi dưỡng kiến thức cho cac cán bộ quản lý HTX do Chi cục Phát triển nông thôn tổ chức
+ Điều tra, phỏng vấn trực tiếp tại các HTX nông nghiệp
5.2.3 Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê kinh tế: Phân tích số liệu kết hợp với phương pháp so sánh để thấy được tình hình biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Thông qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển nhằm đưa ra những kết luận
và giải pháp có căn cứ khoa học
- Phương pháp so sánh: So sánh kết quả của mỗi thời kì, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các HTX trước và sau khi đổi mới
- Phương pháp chuyên khảo: Dùng để phân tích, đánh giá 6 HTX nông nghiệp điển hình Tìm hiểu chung hoạt động sản xuất kinh doanh của 38 HTX nông nghiệp trên phạm vi toàn huyện thông qua các chỉ tiêu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các HTX, trình độ của cán bộ chủ chốt, vốn quỹ của HTX, các hoạt động dịch vụ và kết quả kinh doanh của HTX nông nghiệp
- Tác giả sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp tài liệu, phân chia theo các nội dung, chỉ tiêu nhằm phù hợp với việc nghiên cứu; sử dụng các công cụ và kĩ thuật tính toán trong nghiên cứu là chương trình Excel của Microsoft Window trên máy tính
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 15- Đề tài góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển HTX nông nghiệp
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu khoa học để các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, giáo viên và sinh viên các trường đại học tham khảo
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho các HTX trong huyện Mèo Vạc tham khảo để đưa ra những giải pháp phát triển HTX của mình trong thời gian tới Đồng thời giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp có luận cứ khoa học trong việc xây dựng cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn
- Đưa ra những nhận định và đề xuất về cơ chế, chính sách nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế xã hội khu vực nông thôn, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, phát huy lợi thế, tiềm năng sản phẩm nông nghiệp của địa phương trên thị trường trong và ngoài nước
- Đề tài góp phần làm thay đổi nhận thức của cán bộ và nhân dân về HTX trên địa bàn huyện Mèo Vạc, về phát triển HTX nông nghiệp
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần Mục lục, Phụ lục, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp
Chương 2: Hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp huyện Mèo Vạc
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Kinh tế hợp tác
Trong quá trình phát triển của các hình thức hợp tác, từ hình thức hợp tác mang tính ngẫu nhiên, thời vụ đến việc hình thành sự liên kết giữa người sản xuất với người phân phối, hay dựa trên cơ sở chuyên môn hóa và phân công lao động ngày càng cao mà có sự liên kết, hợp tác giữa các khâu của quá trình sản xuất Cho đến ngày nay sự hợp tác không chỉ được thực hiện giữa các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các địa phương mà nó còn được thực hiện trên phạm vi thế giới giữa các quốc gia với nhau gắn với quá trình toàn cầu hóa về kinh tế Hợp tác trong sản xuất cũng như trong phân phối lưu thông làm cho năng suất lao động ngày càng tăng lên, thúc đẩy và mở rộng sản xuất, làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới và tăng cường sự giao lưu giữa các chủ thể kinh tế
Kinh tế hợp tác (KTHT) là phương thức hoạt động kinh tế, tồn tại khách quan và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, có thể
hiểu: “Kinh tế hợp tác là hình thức tự nguyện của những người lao động,
những người sản xuất nhỏ dưới các hình thức đa dạng, để kết hợp sức mạnh của các thành viên tạo nên sức mạnh tập thể để giải quyết các vấn đề sản xuất kinh doanh và đời sống tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, bền vững”
Ở nước ta trong những năm gần đây có nhiều quan niệm mới về KTHT,
đó là:
- Kinh tế hợp tác là sự liên kết tự nguyện của những chủ thể độc lập trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Trang 17- Các chủ thể này hợp tác với nhau dưới nhiều cấp độ khác nhau như: hợp tác trong từng công đoạn của quá trình sản xuất, liên kết nhau lại thành tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm hoặc hợp tác với nhau ở một số khâu dịch vụ phục vụ sản xuất
Với điều kiện nước ta hiện nay, hộ nông nghiệp ở nước ta nhỏ bé, sản xuất tự cung tự cấp và hoạt động sản xuất chịu nhiều thiên tai Trong điều kiện hội nhập, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, do đó kinh tế hộ nông dân muốn tồn tại thì cần thiết phải có sự hợp tác để cùng phát triển Bên cạnh
đó, sự hợp tác này còn giúp giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư và tiềm lực kinh tế của địa phương
1.1.2 Hợp tác xã và Hợp tác xã nông nghiệp
HTX là một trong những biểu hiện liên kết giữa các chủ thể được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia của các thành viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần Đối với công việc chung thì mỗi
xã viên có quyền như nhau HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc, quy định bởi quá trình xã hội hóa của hoạt động kinh tế của con người
và phải thích ứng với tiến trình phát triển kinh tế đó
Định nghĩa HTX có sự thay đổi phù hợp với nhận thức và sự phát triển của nền kinh tế thị trường Dù định nghĩa có sự thay đổi trong các thời kỳ, nhưng trong suốt từ lúc đó đến nay, HTX luôn được xác định là thành tố chính của KTTT, dù tính tập thể trong mỗi thời kỳ có khác nhau
HTX là loại hình KTHT phát triển ở trình độ cao hơn loại hình KTHT giản đơn Ở nhiều nước trên thế giới, HTX đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm HTX đầu tiên trên thế giới bắt đầu từ thế kỉ XII ở vùng núi phía đông nam nước Pháp
Trong luật HTX của nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế đều
có định nghĩa về HTX Liên minh HTX quốc tế đã định nghĩa HTX như sau:
Trang 18“HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp
ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Năm 1995
định nghĩa này đã được hoàn thiện: “HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình,
tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “HTX là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi, nghĩa vụ sử dụng tài sản mà
họ đã chuyển giao vào HTX, phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”
Nhằm tạo hành lang pháp lý cho hệ thống HTX phát triển, ngày 20/3/1996, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ IX đã thông qua Luật HTX Theo điều 1 của Luật HTX thì HTX là:
“Tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung,
tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”
Đến năm 2003, Luật HTX mới ra đời đã kế thừa quy định của Luật HTX năm 1996, tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế HTX, là một tổ chức kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc
Luật HTX 2012 cũng đã khẳng định rõ HTX không phải là Doanh nghiệp, điều này cũng đã có những tranh luận gay gắt giữa các nhà làm Luật Việt Nam với các chuyên gia trong và ngoài nước trước khi Luật được thông
Trang 19qua: HTX và doanh nghiệp đều là tổ chức tự nguyện, có tư cách pháp nhân, Luật HTX đã quy định đầy đủ đặc điểm riêng của HTX và đặc điểm chung của tổ chức kinh tế Trong đó có một số nội dung về quyền, nghĩa vụ, cơ cấu
tổ chức tương đối giống doanh nghiệp, hoàn toàn đầy đủ cho HTX hoạt động hiệu quả Bên cạnh đó HTX có những đặc điểm riêng khác với doanh nghiệp
về bản chất Đối với doanh nghiệp người tham gia thành lập doanh nghiệp chỉ
có tư cách duy nhất là nhà đầu tư, thì HTX luôn có hai tư cách vừa là người chủ của Hợp tác xã, lại vừa là khách hàng của HTX (sử dụng sản phẩm, dịch
vụ của HTX) mục đích của HTX là tối đa hóa lợi ích cho thành viên bản chất
là “đối nhân” mọi lợi ích thuộc về thành viên Thông qua đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về sản phẩm, dịch vụ, việc làm, nâng cao thu nhập một cách hiệu quả hơn so với từng thành viên hoạt động riêng lẻ Bên cạnh nguyên tắc HTX phải hoạt động có hiệu quả như doanh nghiệp, HTX vẫn phải có lãi để đổi mới và tiếp tục phát triển đem lại lợi nhuận cho thành viên, còn có mục đích cao cả khác mà doanh nghiệp không có được là sự tương trợ, giúp đỡ nhau, giữa các thành viên đáp ứng nhu cầu chung, về kinh tế, văn hóa, xã hội cho các thành viên HTX không chỉ lấy lợi ích kinh tế mà cả lợi ích xã hội, lợi ích văn hóa của các thành viên làm mục tiêu hoạt động Còn doanh nghiệp là tổ chức kinh tế thành viên chỉ là người góp vốn cho DN và chia lãi theo vốn góp, mọi lợi ích trước hết là của chủ doanh nghiệp Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế “đối vốn” mục tiêu của doanh nghiệp là hoạt động chỉ đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho thị trường, không phải là cho nhu cầu của người góp vốn
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về HTX nông nghiệp như sau:
“HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách
pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở tự chủ, tự chịu
Trang 20trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX” Định nghĩa này dựa
trên cơ sở định nghĩa HTX trong Luật HTX năm 2012 [27]
“HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự chủ được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động sản xuất hoặc cung ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm nông, lâm, thủy sản để đáp ứng nhu cầu xã hội”
Do vậy, sự liên kết để hình thành lên HTX là các thành viên đó là các
hộ gia đình nông nghiệp hoặc các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Do sự khó khăn vì hoạt động đơn lẻ đã tự nguyện tiến hành hợp tác để
có sức mạnh tổng hợp và mong muốn đạt được lợi ích lớn hơn
HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan Đó là con đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân Bởi lẽ, do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, cây trồng vật nuôi đều là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngoại cảnh như thời tiết thuỷ văn, khí hậu và các sinh vật khác Cùng với các điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại do tác động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bệnh, thú dữ phá hoại
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xuất phát từ mục tiêu kinh tế nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu hợp tác ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn
Trang 211.2 Hiệu quả hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Khái niệm hiệu quả
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định” [19, tr.408]
Như vậy, hiệu quả kinh tế phản ảnh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Khái niệm hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Trong cơ chế thị trường, mục tiêu lâu dài bao trùm của các HTX nông nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi HTX phải có chiến lược kinh doanh thích hợp Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như trên ta có thể hiểu: Hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của HTX và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường
1.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Như trên thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Vì vậy, tác giả cho rằng hiệu quả hoạt động dịch vụ nông
Trang 22nghiệp và kinh doanh của HTX nông nghiệp cần được thể hiện bằng các tiêu chí sau:
- Số lượng dịch vụ nông nghiệp trực tiếp mà mỗi HTX thực hiện được, bao gồm các mặt như: Số lượng các dịch vụ so với nhu cầu, mong muốn của các thành viên; chất lượng và giá cả các dịch vụ: chất lượng và giá cả các dịch
vụ cho biết hoạt động dịch vụ của HTX có làm tiết kiệm được chi phí dịch vụ cho các thành viên và chất lượng dịch vụ có đảm bảo hay không vì thực tế, HTX có thể không giảm giá dịch vụ nhưng đã nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp với yêu cầu của các thành viên; thời gian cung cấp các dịch vụ: một trong những đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ cao, đặc biệt là sản xuất trồng trọt, do vậy, việc đáp ứng kịp thời các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất của các thành viên, nông dân có ý nghĩa quan trọng, có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị của các sản phẩm nông sản, đồng thời giúp cho các hộ nông dân tiết kiệm được chi phí sản xuất
và tiêu thụ kịp thời sản phẩm với giá cả đảm bảo, qua đó góp phần nâng cao thu nhập của các thành viên
- Mức độ đáp ứng nhu cầu của xã viên: Thể hiện bằng số % giữa mức dịch vụ thực hiện được của HTX với tổng nhu cầu của xã viên tương ứng theo từng hoạt động dịch vụ Tiêu chí này thể hiện trình độ phục vụ đối với nhu cầu của xã viên
- Số lãi được chia: Tính bằng cách lấy số lãi giành để phân phối theo vốn góp chia cho tổng số vốn góp của xã viên
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn bình quân: Thể hiện bằng số % giữa tổng
số lợi nhuận với vốn bình quân trong năm của HTX nông nghiệp
- Lợi nhuận/chi phí: Thể hiện bằng số % giữa tổng số lợi nhuận với chi phí sản xuất trong năm của HTX nông nghiệp
Trên đây là một số tiêu chí chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp Một số điểm cần lưu ý: khi đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp là ngoài những chỉ tiêu kinh tế trực tiếp trên đây, hoạt
Trang 23động của HTX với vai trò trước hết là phục vụ, hỗ trợ kinh tế hộ xã viên Vì vậy, cần tính tới những đóng góp của HTX cho sự phát triển kinh tế hộ xã viên như việc hướng dẫn, tổ chức xã viên, nông dân sản xuất; đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ Ngoài ra, hoạt động của HTX nông nghiệp không phải chỉ vì mục tiêu kinh tế mà còn có những mục tiêu khác mang tính cộng đồng, xã hội; đây là nét đặc thù của HTX nông nghiệp so với các loại hình kinh tế khác
1.2.3 Khái niệm, nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác
xã nông nghiệp
HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ ra đời và phát triển xuất phát từ nhu cầu phát triển của kinh tế hộ nông dân Mỗi HTX nông nghiệp thường tham gia hai lĩnh vực hoạt động chính: lĩnh vực hoạt động dịch vụ cho
xã viên vì sự phát triển của kinh tế hộ và lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngành nghề (kể cả kinh doanh dịch vụ và kinh doanh sản xuất ngành nghề) vì lợi nhuận cho chính HTX và cho xã viên Điều đó cũng có nghĩa nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp không chỉ là nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn phải nâng cao hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, trong
đó, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của HTX Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế của HTX nông nghiệp
Nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Từ các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp đã trình bày ở mục 1.2.2 và khái niệm hoạt động của HTX nông nghiệp, theo tác giả, nội dung nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp là:
- Tăng số lượng dịch vụ nông nghiệp trực tiếp của mỗi HTX
- Tăng mức độ đáp ứng nhu cầu của xã viên
- Nâng cao tỷ suất lợi nhuận của xã viên theo tỷ lệ góp vốn
- Giảm thiểu chi phí sản xuất kinh doanh, đồng thời nâng cao lợi nhuận thu được
Trang 241.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội ở nhiều nước, sự phát triển của HTX nông nghiệp đã chứng minh một chân lý là HTX nông nghiệp không phải là lĩnh vực tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế mà là lĩnh vực
có vị trí quan trọng trong giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động, nhất là ở các nước đang phát triển, tạo sự ổn định về chính trị
xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn của mỗi quốc gia HTX nông nghiệp là hình thức tổ chức mà thông qua đó có thể tiếp nhận
có hiệu quả sự trợ giúp của Nhà nước đối với kinh tế hộ và người lao động riêng lẻ, là mô hình thích hợp để chuyển giao có hiệu quả các tiến bộ khoa học công nghệ và tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân Ở nước ta, phát triển HTX nông nghiệp là nhu cầu thực tế khách quan, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; là tất yếu của nền kinh tế hàng hóa khi xét cả về mặt lý luận và thực tiễn Phát triển các HTX nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu phát triển của kinh tế hộ, nhất là đi vào sản xuất hàng hóa Nhu cầu hợp tác thực tế không chỉ phát sinh từ phía người sản xuất, mà còn phát sinh cả từ phía các nhà chế biến và tiêu thụ
Bên cạnh đó, vị thế của HTX nông nghiệp về mặt kinh tế mặc dù còn yếu nhưng đã có vai trò quan trọng trong hỗ trợ một phần cho kinh tế hộ phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho xã viên, góp phần xây dựng và cũng cố quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự tồn tại của HTX nông nghiệp kể cả số HTX chỉ tồn tại một cách hình thức vẫn đảm bảo giữ được ổn định ruộng đất trong nông nghiệp sau khoán hộ và triển khai Luật Đất đai, góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, xã hội nông thôn Nhiều HTX nông nghiệp có đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển các công trình kết cấu hạ tầng, phúc lợi công cộng như đường giao thông, hệ thống đường điện, kênh mương thủy lợi, trường học, trạm y tế, nhà trẻ, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội, đề cao tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn
Trang 25nhau trong đời sống, giúp đỡ các gia đình khó khăn, xây dựng và phát triển công đồng HTX nông nghiệp hỗ trợ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển Hơn nữa nó làm điểm tựa để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới, đồng thời mở mang ngành nghề, phân công lại lao động, tiến tới xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác, các HTX nông nghiệp phải
tự đưa ra chiến lược kinh doanh và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng mang tính chất quyết định Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là tất yếu đối với mọi HTX, trong đó
có HTX nông nghiệp Mặt khác, HTX nông nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển được, bắt buộc các HTX nông nghiệp phải luôn không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Thực tế cho thấy, sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia hoặc trong từng vùng, từng ngành cụ thể HTX nông nghiệp có những đặc điểm riêng về vai trò, vị trí, mục tiêu, phương thức hoạt động cũng như quá trình hình thành và phát triển Sự khác biệt đó được quy định bởi điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Đó chính là những nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp
Trong Luận văn này, người viết chia các nhân tố ảnh hưởng việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp thành hai nhóm chính: Nhóm các yếu tố khách quan và nhóm các yếu tố chủ quan Trong quá trình nghiên
Trang 26cứu, các yếu tố này được đặt trong tính chỉnh thể, thống nhất, tương tác biện chứng với nhau
1.2.5.1 Nhân tố khách quan
- Quản lý Nhà nước đối với HTX
Quản lý nhà nước có vai trò ảnh hưởng rất lớn tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp Sự tác động của nhân tố này được thực hiện thông qua khuôn khổ pháp lý, hệ thống chính sách vĩ mô và quá trình hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với HTX từ trung ương đến cơ sở, cũng như quá trình tổ chức, triển khai trong thực tiễn của bộ máy này Hiện nay, chủ trương, chính sách về chiến lược phát triển kinh tế, xã hội có ảnh hưởng mạnh nhất đến yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp, trong đó có: Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình giảm nghèo bền vững Đặc biệt, chủ trương xây dựng nông thôn mới đã đặt ra yêu cầu bức thiết cho chính quyền cơ sở trong việc phải phát triển ít nhất mỗi
xã có 01 HTX hoạt động có hiệu quả để đạt tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
- Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế
Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế là những vấn đề liên quan đến biến động giá cả, dòng vốn, khủng hoảng tài chính, thị trường hiện nay bị đánh giá là kém cạnh tranh so với các thị trường trong khu vực Từ những yếu tố như vậy, việc hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp của các địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất - kinh doanh, do chưa nắm được nhiều những KHCN tiên tiến, hiện đại từ các nên kinh tế thế giới, việc thực hiện tốt chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm
từ các quốc gia khác chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập
1.2.5.2 Các nhân tố chủ quan
- Nguồn nhân lực trong HTX
Trang 27+ Trưởng ban quản trị (Chủ tịch HĐQT): Đại diện theo pháp luật đối
với HTX trong cả hai trường hợp thành lập một bộ máy vừa quản lý, vừa điều hành, hay thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành là phù hợp Theo đó, Trưởng ban quản trị có tầm ảnh hưởng, đặc trưng, yêu cầu đối với tư cách lãnh đạo HTX
+ Thành viên khác trong Ban quản trị (HĐQT): Có nhiệm vụ cùng
Trưởng Ban quản trị hoặc HĐQT thực hiện các chức năng, quyền và nhiệm
vụ của Ban quản trị Thành viên ban quản trị có đóng góp quan trọng trong vấn đề đưa ra quyết sách và triển khai thực hiện các chiến lược kinh doanh của HTX Các thành viên khác phải là những chủ thể có tầm nhìn chiến lược,
có tri thức kinh doanh Đây cũng là cơ sở cho sự chỉ đạo triệt để, quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả và phù hợp quyết sách trên thực tiễn
- Nguồn tài chính
Yếu tố tài chính ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của HTX trong quá trình phát triển Với tình hình tài chính yếu kém còn làm cho hiệu quả hoạt động thấp, chi phí phát sinh cao (do thiết bị kĩ thuật lạc hậu, công suất kém…), khả năng đáp ứng nhu cầu cho dịch vụ xã viên thấp và trong điều kiện mới khi HTX hoạt động gắn với cơ chế thị trường, thực hiện liên kết, hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác là rất khó khăn và đầu tư vào những máy móc công nghệ mới
Đây là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của HTX gồm các vấn đề về: vốn; điều phối và sử dụng vốn; thu hút, huy động vốn; cơ chế quản lý tài chính; chiến lược tài chính; quyết sách thu chi tài chính; phân phối lãi và trích lập các quỹ trong HTX
- Nguồn vật lực của HTX
Nguồn vật lực trong HTX bao gồm các yếu tố về máy móc, thiết bị, phương tiện hoạt động, nhà xưởng, Là điều kiện tiên quyết để HTX có thể tiến hành hoạt động; là điều kiện để HTX có thể mở rộng quy mô hoạt động,
Trang 28đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động từ sự dồi dào của các yếu tố vật lực; là cơ sở
để tìm kiếm đối tác, thu hút khách hàng; là điều kiện để thu hút lao động,
- Tổ chức, quản lý của HTX:
Đảm bảo đủ bộ phận đáp ứng các yêu cầu quản lý, hoạt động, xây dựng
và thực thi các chiến lược của HTX; phối hợp và phát huy mọi nguồn lực để phát triển HTX; đảm bảo cung cấp thông tin, truyền bá thông tin kịp thời cho
tổ chức và hoạt động của HTX
Để vấn đề quản lý được giải quyết hài hòa, HTX cần phát huy tinh thần
đoàn kết, đồng sức đồng lòng; kiểm tra, giám sát; phát huy tinh thần dân chủ đoàn kết trong thành viên Ngoài ra, cũng cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, quy định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan, chủ thể trong HTX
1.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp của một số địa phương
1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai
Lào Cai hiện có 336 HTX, trong đó 189 HTX đang hoạt động, 147 HTX ngừng hoạt động và không hoạt động, chờ giải thể Tổng số vốn hoạt động của các HTX gần 341 tỷ đồng, tổng thu nhập ước đạt hơn 107 tỷ đồng/năm, tổng lợi nhuận ước đạt hơn 16 tỷ đồng, thu nhập bình quân của thành viên và lao động trong hợp tác xã ước đạt 40 triệu đồng/năm Riêng đối với HTX nông, lâm nghiệp, toàn tỉnh có 141/336 hợp tác xã (chiếm 42%), trong đó có 97 HTX đang hoạt động, 44 HTX ngừng hoạt động Các HTX nông, lâm nghiệp tạo việc làm cho hơn 1.600 lao động; thu nhập của thành viên, lao động của hợp tác xã khoảng 15 triệu đồng/năm
Hoạt động của 7 HTX nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh gồm: Quyết Tiến, Hòa Hợp Nhất, Thịnh Phú (Bảo Yên); Mai Anh (Sa Pa), Nông nghiệp Tiên Phong (Bát Xát), Nông nghiệp và Dịch vụ Bình Phú (Văn Bàn), cho thấy
có 3 HTX hoạt động hiệu quả, 3 HTX hoạt động ở mức trung bình, 1 HTX hoạt động kém hiệu quả Các HTX đều có quy chế hoạt động, phương án sản
Trang 29xuất, kinh doanh Tuy nhiên, hoạt động sản xuất chưa tuân thủ đúng phương
án và không được rà soát, điều chỉnh hằng năm; sự tham gia xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh của các thành viên HTX mờ nhạt; đặc biệt, trình độ của thành viên ban quản trị không cao và việc điều hành HTX dựa vào kinh nghiệm của giám đốc; các hộ chủ tịch hội đồng quản trị/giám đốc thường giữ vai trò như một đại lý cung cấp vật tư là chủ yếu, việc liên kết, hợp đồng sản xuất với các hộ thành viên còn thiếu và lỏng lẻo…
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của các HTX nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, tỉnh Lào Cai đã đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX gồm:
- Việc thành lập HTX phải được tiến hành đúng Luật HTX năm 2012
và xuất phát từ nhu cầu thực tế; các tổ chức phải có giải pháp nhằm tuyên truyền sâu rộng về Luật HTX để người dân nắm được
- Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của HTX
- Chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi hơn để các HTX phát triển, nhất là trong việc cho thuê đất, tiếp cận với các chính sách, khoa học công nghệ
- Kêu gọi nguồn đầu tư từ nhà nước, hỗ trợ từ các chương trình, dự án, huy động vốn từ các thành viên và các nguồn lực khác để mở rộng quy mô sản xuất cho các HTX nông nghiệp
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Đến tháng 6/2015, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 290 HTX nông nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực: Kinh doanh dịch vụ tổng hợp; chăn nuôi, thú y, thủy sản; sản xuất nấm, rau sạch và lâm nghiệp Các HTX nông nghiệp của tỉnh đầu mối để tổ chức sản xuất, xác lập quan hệ sản xuất mới, giải quyết vấn đề lao động việc làm cho lao động nông thôn, tiếp nhận chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Mặc dù có sự gia tăng về số lượng song thực chất, hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp hiện nay còn nhiều hạn
Trang 30chế Với các HTX làm dịch vụ tổng hợp, hoạt động dịch vụ đem lại lợi nhuận thấp, mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính, khó cạnh tranh trong cơ chế thị trường do cùng trên địa bàn có nhiều thành phần tham gia dịch vụ Mặt khác, bộ máy của các HTX này còn cồng kềnh, kém năng động, hiệu quả thấp Trong khi đó, các HTX chuyên ngành về các lĩnh vực như chăn nuôi gia súc gia cầm, thủy sản, sản xuất nấm, rau sạch được xem là hoạt động khá hiệu quả, với doanh thu bình quân đạt trên 900 triệu đồng/HTX/năm Phần lớn các HTX phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm, chất lượng sản phẩm thấp, giá
cả không ổn định, chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có liên kết bền vững trong sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm Nhiều HTX chuyên ngành hình thành song lại hạn chế trong sản xuất kinh doanh; hoạt động của các HTX này chưa thực hiện đúng Luật HTX quy định như: không có sổ sách theo dõi, báo cáo tài chính hàng năm, không tổ chức Đại hội thường kỳ, thiếu công khai minh bạch trong hoạt động và sử dụng các quĩ, các khoản vay và hỗ trợ, làm mất lòng tin đối với đối tác và các thành viên trong HTX Do vậy,
dù số lượng các HTX nông nghiệp hiện nay khá đông đảo, chiếm hơn 40% số lượng HTX trong toàn tỉnh Vĩnh Phúc song hoạt động chưa thực hiệu quả
Trước những khó khăn chung của các HTX nông nghiệp, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý
và hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp, gồm:
- Tiến hành hướng dẫn giải thể hoặc chuyển sang hình thức khác đối với những HTX ngừng hoạt động, hoạt động trì trệ, yếu kém
- Nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của HTX, thu nhập của các thành viên Các HTX phát triển mạnh tiếp tục cải tiến, phát triển; những HTX có trình độ, khả năng hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu sẽ chuyển sang hình thức tổ chức khác với cơ chế quản lý, hoạt động theo hình thức tổ chức mới (tổ hợp tác, doanh nghiệp) có hiệu quả hơn
- Cụ thể hóa chính sách hỗ trợ, ưu đãi phát triển HTX theo chương trình
hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015 - 2020 Trong đó chú trọng vào việc
Trang 31tham mưu đề xuất xây dựng cơ chế chính sách đầu tư hỗ trợ cho HTX nông nghiệp theo quy định và hướng dẫn của luật HTX năm 2012
- Bồi dưỡng nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, thành lập và tổ chức lại hoạt động của HTX theo mô hình mới mang tính thiết thực và hiệu quả cao; thực hiện hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng, trang thiết bị máy móc tạo điều kiện thuận lợi để các HTX thực hiện công tác quy hoạch chỉnh trang đồng ruộng;
- Thực hiện tổ chức hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đưa khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp
- Phân công lại lao động trên địa bàn nông thôn, nâng cao thu nhập cho người nông dân, hiệu lực hiệu quả đối với HTX được nâng cao
1.3.3 Một số bài học rút ra cho huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang
Qua nghiên cứu kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả HTX nông nghiệp của tỉnh Lào Cai và tỉnh Vĩnh Phúc, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm
để huyện Mèo Vạc tham khảo như sau:
- Để các HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả phải thực sự tôn trọng
và thực hiện tốt các nguyên tắc của HTX, không nóng vội, gò ép và phải có lộ trình Các HTX phát huy tiềm năng, nội lực, tự vươn lên của chính mình, khai thác các thế mạnh của địa phương trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ Bên cạnh đó cán bộ quản lý HTX phải có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quản lý và điều hành mọi hoạt động của HTX
- Cần tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến những chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác, HTX nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ đảng viên và người dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách
về phát triển kinh tế hợp tác, HTX để các chính sách đó thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả cao nhất
Trang 32- Cần đề cao vai trò lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền,
sự phối kết hợp giữa các ngành, đoàn thể bởi đó là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển kinh tế hợp tác, HTX của địa phương
- Chấn chỉnh và đổi mới HTX phải hoạt động theo Luật; đổi mới cả về
tổ chức, cơ chế quản lý, phương thức phân phối và phát huy dân chủ HTX cần xem xét lại tư cách thành viên, đây là một trong những nhân tố kìm hãm sức sản xuất của HTX thời gian qua
- Cần có sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ hơn nữa của Chính phủ và địa phương về nhân lực, nguồn lực bằng những chính sách và giải pháp cụ thể, bởi kinh tế hợp tác, HTX hiện nay quy mô, tiềm lực còn nhỏ bé
- Đổi mới tư duy trong sản xuất, kinh doanh của các lĩnh vực
- Tùy điều kiện cụ thể của từng HTX mà lựa chọn phương thức sản xuất kinh doanh thích hợp
- Nghiên cứu thị trường là việc làm đầu tiên, thường xuyên và cực kỳ quan trọng đối với các HTX Vì nhu cầu của thị trường rất đa dạng nên sản xuất sản phẩm gì, chủ thể sản xuất cần phải đối chiếu, phân tích điểm mạnh điểm yếu về các nguồn lực phát triển kinh tế hiện có của mình để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao
- Để ổn định sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và ràng buộc lẫn nhau về quyền lợi, trách nhiệm trong cơ chế thị trường đầy biến động, các HTX phải
áp dụng hình thức hợp đồng sản xuất, tiêu thụ
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, lấy chất lượng an toàn thực phẩm là
sự sống còn của HTX nông nghiệp; áp dụng đa dạng hóa các kênh tiêu thụ (bán lẻ, bán buôn, giao hàng đến tận nhà )
Trang 33Chương 2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÈO VẠC
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Huyện Mèo Vạc là huyện vùng cao núi đá phía Bắc của tỉnh Hà Giang, cách thành phố Hà Giang 164km, là huyện nằm trong địa bàn Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn
Địa hình của huyện khá phức tạp, chủ yếu của là núi đá vôi, độ cao trung bình 1.150m so với mực nước biển, độ dốc trung bình là 25o
-35o Núi đá chiếm hơn 34.000ha, đất nông nghiệp chỉ chiếm gần 15.000ha, lâm nghiệp hơn 10.000ha, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở Về tổng thể, địa hình Mèo Vạc phân thành ba tiểu vùng có địa hình, địa chất và thế mạnh kinh tế khác nhau
- Điều kiện khí hậu: Là một huyện vùng cao núi đá, địa hình chia cắt mạnh, Mèo Vạc mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng có nhiều sắc thái của khí hậu á nhiệt đới, mùa lạnh thường kéo dài Mùa hè có mưa nhiều, đôi khi kéo theo giông và mưa đá Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 năm trước và kết thúc khoảng tháng 4 năm sau, vào mùa này có nhiều xã trên địa bàn huyện thiếu nước trầm trọng, gây nhiều khó khăn cho việc phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp Vì vậy, trong mùa khô các HTX nông nghiệp hoạt động rất khó khăn, hiệu quả hoạt động giảm đi rõ rệt
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Nằm ở mảnh đất địa đầu cực Bắc của tổ quốc, nơi có những ngọn núi cao lưng trời, nhiều con sông, suối, tiềm năng du lịch của Hà Giang tương đối lớn, song cho đến nay hầu như chưa được khai thác
Trang 34- Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên huyện Mèo Vạc là 56.309,42
ha, trong đó: Sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 48.522,62 ha, chiếm 86,17% Nhìn chung, Tài nguyên đất của huyện Mèo Vạc rất đa dạng tạo nên một hệ thống thực vật khá phong phú, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất tương đối khá nhưng thường ở dạng cây trồng không hấp thụ được và địa hình chủ yếu là đất dốc Đây vừa là tiềm năng, cũng là thách thức đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện để khai thác trên các lĩnh vực nông nghiệp như: dược liệu, rau, củ, quả, trồng cỏ chăn nuôi…
- Tài nguyên nước: Do địa hình phân cắt mạnh nên huyện Mèo Vạc có rất nhiều khe suối Các khe suối này hầu như có nước quanh năm nhưng do địa hình phức tạp, độ dốc lớn, lòng suối thấp nên khả năng phục vụ cho thâm canh cây trồng và sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn
Huyện Mèo Vạc có hệ thống 2 sông nhỏ là sông Nho Quế và sông Nhiệm nằm ở phía Nam huyện, chảy theo hướng Tây Nam, lưu vực nhỏ, độc dốc lớn, nhiều thác gềnh, hiệu ích phục vụ sản nông nghiệp và sinh hoạt thấp Trên địa bàn huyện, nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất chủ yếu lấy từ các mạch nước trong khe núi chảy từ rừng đầu nguồn Chí Sán, có độ cao 1.900m Tuy vậy, nguồn nước này có độc dốc lớn nên về mùa khô thường gây ra thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
- Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp có 29.891,81 ha, chiếm 53,08% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó đất rừng sản xuất 1.494,09 ha chiếm 2,65% tổng diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng phòng hộ 28.397,72 ha, chiếm 50,43 % tổng diện tích đất lâm nghiệp Diện tích rừng của huyện Mèo Vạc trong những năm qua có xu hướng tăng lên nhưng không tăng mạnh bởi điều kiện địa hình phức tạp và thiên nhiên khắc nghiệt nên gây nhiều khó khăn cho công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Cũng vì khó khăn như vậy nên đến nay vẫn chưa có HTX nào mạnh dạn đầu
tư vào lĩnh vực này
Trang 352.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Sản xuất nông lâm nghiệp:
Tổng diện tích, sản lượng gieo trồng các loại cây hàng năm như: ngô, lúa, khoai tây, đậu tương
Bảng 2.1 Diện tích các loại cây trồng
2 Các loại cây lấy củ 322,9 318,4 371,63 389,48 353,25
3 Cây công nghiệp 3588,0 3.304,5 3.297,2 3.386,8 2.866
4 Cây rau, đậu, hoa
cây cảnh 4080,6 4.575,9 5.168,5 3.973,9 4.193,3
5 Cây hàng năm
khác (cỏ chăn nuôi) 3995,7 3.060,9 3.723,0 4.453,2 3.863,47
II Cây lâu năm 503,08 575,31 386,86 418,28 424,27
1 Cây công nghiệp
2 Cây ăn quả 344,06 357,11 253,26 289,99 295,87
3 Cây lâu năm khác 22,27 78,2 71,6 68,33 68,4
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mèo Vạc năm 2016
Ngoài ra, huyện còn tập trung phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, nuôi ong lấy mật Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được triển khai thường xuyên, tổ chức tiêm phòng vắc-xin các loại cho đàn gia súc nên không có dịch bệnh lớn xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm
Trang 36- Hoạt động du lịch - dịch vụ
Nằm trong vùng lõi Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn, huyện Mèo Vạc có tiềm năng lớn về phát triển du lịch, bởi không chỉ có những danh thắng nổi tiếng mà nơi đây còn lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống đặc trưng của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên địa bàn Xác định đưa du lịch trở thành “mũi nhọn” trong phát triển kinh tế xã hội, Mèo Vạc đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm “đánh thức” ngành “công nghiệp không khói”, từng bước mở ra hướng đi thoát nghèo bền vững cho người dân địa phương Dịch vụ khách sạn, nhà hàng đã đáp ứng nhu cầu ăn uống, giải trí của du khách Các dịch vụ vận chuyển hành khách, vận chuyển hàng hóa, dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Hoạt động du lịch đã đạt được những kết quả nổi bật, mô hình du lịch “homestay” đang được xây dựng, phát triển; các làng văn hóa du lịch cộng đồng được xây dựng, bảo tồn và phát huy giá trị
Đây là một cơ hội lớn để các HTX nông nghiệp tham gia cung cấp các sản phẩm nông sản sạch, các dịch vụ đi kèm nhằm phục vụ du lịch của địa phương
- Đặc điểm dân cư, dân số, lao động: Đến tháng 4/2017, dân số huyện Mèo Vạc là 82.023 người, với 17 dân tộc, trong đó dân tộc Mông chiếm trên 78% Trước đây, cư dân sống rải rác trên các sườn núi nhưng từ khi có chương trình hỗ trợ “hạ sơn” cho các hộ dân, hiện nay, người dân sống tập trung tại các thung lũng, quần tụ theo dân tộc, dòng họ Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 51-53%; lực lượng lao động tại huyện Mèo Vạc chủ yếu ở khu vực nông thôn, nguồn lao động dồi dào, do đó, vấn đề giải quyết việc làm cho người dân, nhất là những lúc nông nhàn là một trong những vấn đề đặt ra cho cấp ủy, chính quyền địa phương
Trang 372.2 Thực trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc
2.2.1 Khái quát chung về Hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Mèo Vạc
Từ năm 2013 đến nay, Ban đại diện Liên minh hợp tác xã huyện đã hướng dẫn, phổ biến về Luật, quy trình, thủ tục đăng ký thành lập mới các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Trên cơ sở đăng ký thành lập HTX, phòng Tài chính – Kế hoạch huyện đã tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định thành lập mới 17 HTX và chuyển đổi các HTX cũ theo Luật HTX năm 2012 Hiện nay, tổng số HTX nông nghiệp trong toàn huyện
Trang 38Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mèo Vạc và số liệu điều tra của tác giả
Xem thêm trong biểu sau:
Hình 2.1: Tình hình biến động số lƣợng HTX nông nghiệp
từ năm 2013 đến 2017
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mèo Vạc và số liệu điều tra của tác giả
Số lượng HTX nông nghiệp của huyện tăng nhanh trong những năm gần đây là do chủ trương, chính sách chung của tỉnh Hà Giang và huyện Mèo Vạc Theo đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVI, nhiệm
kỳ 2015 - 2020, đã đề ra chỉ tiêu “mỗi làng một sản phẩm”; UBND tỉnh đã ban hành Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 -
2020 Vì vậy, trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của từng vùng, hiện nay trên địa bàn huyện Mèo Vạc mỗi xã ít nhất có 01 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
Trang 392.2.2 Thực trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp huyện Mèo Vạc
Những năm gần đây kinh tế tập thể của huyện Mèo Vạc đã có nhiều khởi sắc, không ngừng củng cố và phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các hợp tác xã đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế
xã hội, từ khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực, việc đổi mới mô hình hoạt động của các HTX trong giai đoạn hiện nay rất cần thiết, giúp cho các HTX vượt qua những khó khăn, khắc phục những yếu kém để HTX hoạt động đúng Luật Các HTX kiểu mới được thành lập cũng là yếu tố quan trọng nhằm đưa khu vực kinh tế tập thể có vị thế và vai trò trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Về cơ bản, các HTX cũ đã chuyển đổi xong, nhiều HTX mới được thành lập; nhiều HTX đã tham gia cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho xã viên; nhiều HTX thực hiện tốt chức năng xã hội thông qua việc tham gia các hoạt động phát triển nông thôn như xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho lao động địa phương
Các tổ hợp tác đã phát huy hiệu quả và đem lại lợi ích cho nông dân và người lao động, giúp cho người lao động giảm được chi phí sản xuất, quản lý được lịch thời vụ, tránh được sâu bệnh hại, ứng dụng và trao đổi các tiến bộ kĩ thuật cũng như kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh Các tổ hợp tác có vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ sản xuất kinh doanh của các thành viên, tạo thêm việc làm và thu nhập cho một bộ phận lao động ở nông nghiệp, nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Ở mức độ khác nhau, một số HTX nông nghiệp đã dần thể hiện được vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa và hiệu quả kinh tế
Trên địa bàn huyện, đã có không ít những HTX hoạt động và phát triển mạnh mẽ, điển hình là HTX Tuấn Dũng HTX này được xem là điểm sáng trong phát triển kinh tế tập thể của huyện HTX Tuấn Dũng được
Trang 40thành lập từ năm 2003, với mục đích sản xuất, kinh doanh mật ong bạc hà,
số vốn điều lệ ban đầu là 220 triệu đồng Thực hiện theo Luật HTX 2012, năm 2015 HTX Tuấn Dũng đã tổ chức chuyển đổi mô hình hoạt động sang
mô hình mới Anh Thèn Văn Hải, Giám đốc HTX Tuấn Dũng cho biết: Hiện HTX đang tiếp tục xây dựng dự án chế biến mật ong thành các sản phẩm như: “Mật ong ngâm lòng đỏ trứng gà địa phương” và “Mật ong ngâm trứng gà cùng bột tam thất”, để tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Song song với đó HTX cũng đang hợp tác với Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên để nghiên cứu, sản xuất và lắp đặt dây chuyền công nghệ hạ thủy phần (giảm tỷ lệ nước trong mật ong) để xử lý mật ong đảm bảo chất lượng cũng như thời gian bảo quản được lâu hơn; công nghệ đóng chai đạt tiêu chuẩn Đặc biệt, mật ong của HTX được ong hút mật từ mật nhụy hoa Bạc hà, có nguồn gốc tự nhiên
và đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Mật ong bạc hà Mèo Vạc Cùng với những giải pháp đồng bộ
để xây dựng mở rộng quy mô sản xuất, HTX luôn chú trọng vấn đề thương hiệu, nhãn hiệu mẫu mã sản phẩm, với nhiều chủng loại, mẫu mã khác nhau Từ năm 2005, HTX đã xây dựng thương hiệu có lô-gô, nhãn mác để tránh nhầm lẫn với các loại mật ong kém chất lượng khác, tạo chỗ đứng vững chắc hơn khi tung ra thị trường Ngoài ra, HTX cũng tích cực triển khai quảng bá sản phẩm mật ong hoa bạc hà để được người tiêu dùng biết nhiều hơn, sử dụng nhiều phương thức bán hàng trực tiếp và phân phối thông qua các đại lý, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, ký gửi hàng vào một số tỉnh phía Nam, qua các doanh nghiệp, cá nhân…, bước đầu cho thấy sản phẩm đã được nhiều thị trường ưa chuộng, sức mua khá lớn Với doanh thu bình quân hàng năm đạt trên 6 tỷ đồng