1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan triet dongtriet tay

16 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 37,36 KB
File đính kèm tieu luan triet Dongtriet Tay.zip (34 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng. Triết học phương Tây và phương Đông cổ đại giữ một vị trí hết sức quan trọng. Việc nhận thức đầy đủ những giá trị của hai nền triết học này là một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc. Dù triết học phương Tây và phương Đông ra đời gần như cùng thời điểm (khoảng thế kỉ VIII – VI trước Công nguyên) nhưng giữa chúng cũng có những điểm tương đồng và những điểm khác biệt căn bản. Những sự tương đồng và khác biệt này bắt nguồn từ sự giống và khác nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội,…về quan niệm sống, cách sống của người phương Tây và người phương Đông...

Trang 1

MỤC LỤC

I. MỞ ĐẦU……… 2

II. NỘI DUNG……… 3

1. Triết học là gì?

2. Phương Tây và phương Đông……… 4

3. So sánh những điểm khác biệt cơ bản giữa triết học phương Tây và phương Đông cổ đại……… 7

4. Những điểm tương đồng giữa triết học phương Tây và phương Đông cổ đại……… 13

5. Liên hệ thực tế……….14

III. KẾT LUẬN………15

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 16

MỞ ĐẦU

Triết học đã trải qua hang nghìn năm phát triển và đã đạt được những thành tựu to lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người Ph.Ănghen viết : “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lí luận” Nhưng tư duy lí luận chỉ

là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của con người Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện và muốn hoàn thiện được thì cần

Trang 2

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng Triết học phương Tây và phương Đông cổ đại giữ một vị trí hết sức quan trọng Việc nhận thức đầy đủ những giá trị của hai nền triết học này

là một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc Dù triết học phương Tây và phương Đông ra đời gần như cùng thời điểm (khoảng thế kỉ VIII –

VI trước Công nguyên) nhưng giữa chúng cũng có những điểm tương đồng và những điểm khác biệt căn bản Những sự tương đồng và khác biệt này bắt nguồn từ sự giống và khác nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội,…về quan niệm sống, cách sống của người phương Tây và người phương Đông

Triết học phương Tây và phương Đông đều giải quyết hai mặt của vấn

đề cơ bản của Triết học, tuy nhiên lại có sự khác nhau trong cách giải quyết cũng như sự tâp trung giải quyết mặt thứ nhất hay mặt thứ hai Nghiên cứu sự tương đồng và sự khác biệt giữa triết học phương Tây và triết học phương Đông sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về Triết học cũng như nắm bắt được rõ hơn vấn đề cơ bản của triết học

NỘI DUNG

1. Triết học là gì?

Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ,

Hy Lạp

Ở Trung Quốc, thuật ngữ Triết học có nguồn gốc ngôn ngữ là chữ

triết; người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự

Trang 3

truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết

sâu sắc của con người

Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sân (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để

dẫn dắt con người đến với lẽ phải

Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái Với Hy Lạp, Philosophia vừa mang tính định

hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người Như vậy, cho dù phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học

đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con

người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về Triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với

tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loại người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý

Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung

nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy

2. Phương Tây và phương Đông

Phương Đông để chỉ các nước Châu Á, các nền văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà ; chủ yếu là Ai Cập,

Ả Rập, Ấn Độ và Trung Hoa Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây

Phương Tây chủ yếu là các nước Tây Âu như: Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Tuy nhiên, triết học phương Tây cổ đại thì chủ yếu là

Trang 4

thành bang ở phía Nam bán đảo Ban Căn, nhiều đảo trên biển Êgiê và vùng Tiểu Á

Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của phương Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận…từ đó xây dựng nhân sinh quan con người) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…) Đó là hai nét chính của hai nền triết học Đông – Tây

Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn liền với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị xã hội Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách, còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định

xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hòa đồng với thiên nhiên

Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước

và thúc đẩy sự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ

sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc

Phương Đông Phương Tây

Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm

nhận các mối quan hệ Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyếtliệt, xúc động, quan tâm thực thể độc lập Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ

Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức –

Con người, đạo học

Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng – Vũ trụ, học thuyết Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh

những lối cũ, bề ngoài Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càngphong phú, cụ thể Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan,

cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bảnthể luận, nhận thức luận Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện

cá nhân, ổn định xã hội

Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

Trang 5

Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông - Tây

Đối tượng nghiên cứu của triết học phương Tây rất rộng, bao gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật

Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh Do đó, đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là

xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh, do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài Đa số trường phái thiên về duy tâm

Về phương pháp nhận thức của hai nền triết học

Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ, còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác

Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hang loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàn thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn, cũng do vậy họ có xu hương

cô lập hóa, cách ly hóa, làm mất đi tính tổng thể

Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được Trực giác mỗi người mỗi khác và không phải trực giác lúc nào cũng đúng Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan, còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhân thức và đối tượng nhận thức cùng hòa hợp vào nhau (đặt cùng trong một

hệ quy chiếu) thì nhận thức sẽ dễ dàng

Trang 6

Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh

đề, biểu thức logic để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn…để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau

Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữ lấy phần gốc, phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có

Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hóa càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu, thậm trí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước

Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn Phương Tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên

Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiên về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể… còn khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác, huyền bí, hòa hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy cơ hữu, chú ý nhiều tới quan hệ…

3. So sánh những điểm khác biệt cơ bản giữa triết học phương Tây và phương Đông cổ đại

Thứ nhất, Triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối

quan hệ giữa con người và vũ trụ với công thức thiên – địa – nhân là một nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất” Cụ thể là:

Trang 7

Triết học Trung Hoa là nền triết học có truyền thống lịch sử lâu đời nhất, hình thành cuối thiên niên kỷ thứ II đầu thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên Đó là những kho tàng tư tưởng phản ánh lịch sử phát triển của những quan điểm của nhân dân Trung Hoa về tự nhiên, xã hội và quan hệ con người với thế giới xung quanh, họ coi con người là tiểu vũ trụ trong hệ thống lớn… trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một Như vậy con người cũng chứa đựng tất cả những tính chất, những điều huyền bí của vũ trụ bao la Từ điều này cho ta thấy hình thành ra các khuynh hướng như: khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thức chủ quan và trong ý niệm đạo đức Trời phú cho con người Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đều có đầy đủ trong ta” Ta tự xét mình mà thành thực, thì có cái thú vui nào lớn hơn nữa Ông dạy mọi người phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan

mà chỉ cần suy xét ở trong tâm, “tận tâm” của mình mà thôi Như vậy theo ông chỉ cần tĩnh tâm quay lại với chính mình thì mọi sự vật đều yên

ổn, không có gì vui thú hơn Còn theo Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ trong lòng ta, lòng ta là vũ trụ Đối với khuynh hướng duy vật thô sơ -kinh dịch thì biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật, trời đất: trời có chín phương, con người có chín khiếu Ở phương Đông khuynh hướng duy vật chưa rõ ràng đôi khi còn đan xen với duy tâm, mặc dù nó là kết quả của quá trình khái quát những kinh nghiệm thực tiến lâu dài của nhân dân Trung Hoa thời cổ đại Quan điểm duy vật được thể hiện rõ ở học thuyết Âm dương, tuy nó còn mang tính chất trực quan, chất phác, ngây thơ và có những quan điểm duy tâm, thần bí về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học này đã lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm

về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của sự vật hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội

Trang 8

Ở Ấn Độ cổ đại tư tưởng triết học được hình thành từ cuối thiên niên

kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, bắt nguồn từ thế giới quan thần thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính chất tự nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân loại Ở Ấn Độ nguyên tắc “thiên nhiên hợp nhất” lại có màu sắc riêng như:

Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm, tôn giáo trong kinh Vêđa về cái gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao” sáng tạo và chi phối thế giới này Để trả lời câu hỏi cái gì là thực tại cao nhất, là căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát được linh hồn khỏi sự lo âu khổ nào của đời sống trần tục và ràng buộc của thế giới này là “tinh thần

vũ trụ tối cao” Brahman, là thực thể duy nhất, có trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về với nó sau khi chết Tóm lại Brahman là tinh thần vũ trụ, là đấng sáng tạo duy nhất, là đại ngã, đại đinh, là vũ trụ xung quanh cái tồn tại thực sự, là khách thể Còn Atman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hoá, là chủ thể và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ trụ cư trú trong con người mà thôi Linh hồn con người (Atman) chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “tinh thần tối cao” Vì Atman “linh hồn” là cái tồn tại trong thể xác con người ở đời sống trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng linh hồn, “cái ngã” là cái khác với “linh hồn vũ trụ”, khác với nguồn sống không có sinh, không có diệt vong của vũ trụ Vậy nên kinh Vêđa nối con người với vũ trụ bằng cầu khẩn, cúng tế bắt chước hoà điệu của vũ trụ bằng lễ nghi, hành lễ ở hình thức bên ngoài Còn kinh Upanishad quay vào hướng nội để đi từ trong ra, đồng nhất cá nhân với vũ trụ bằng tri thức thuần tuý kinh nghiệm

Đối với phương Tây lại nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể, chúa tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ – thế giới

Trang 9

khách quan Và cũng chính từ thế giới khách quan khác nhau nên dẫn đến hướng nghiên cứu tiếp cận cũng khác nhau:

Từ thế giới quan triết học “thiên nhân hợp nhất” là cơ sở quyết định nhiều đặc điểm khác của triết học phương Đông như: lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – tính chất hướng nội; hay như nghiên cứu thế giới cũng là để làm rõ con người và vấn đề bản thảo luận trong triết học phương Đông bị mờ nhạt Nhưng ngược lại triết học phương Tây lại đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi Cho nên phương Tây bàn đậm nét về bản thể luận của vũ trụ

Cái khác biệt nữa là ngay trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệm khác phương Tây:

Ở Phương Đông người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp trống trị cho nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị con người, không thấy quan hệ giữa người với người trong lao động sản xuất

Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người

về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc

để giải phóng con người

Thứ hai, ở phương Đông những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới

dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác Cái nọ lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có những triết gia với những tác phẩm triết học độc lập Và có những thời kỳ người ta đã lầm tưởng triết học là khoa học của khoa học như triết học Trung Hoa đan xen với chính trị lý luận, còn triết học Ấn Độ

Trang 10

lại đan xen tôn giáo với nghệ thuật Nói chung ở phương Đông thì triết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học

Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học học độc lập với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau triết học Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học muốn tồn tại phải khoác áo tôn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội

Thứ ba, Lịch sử triết học phương Đông ít thấy có những bước nhảy

vọt về chất có tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục bộ,

kế tiếp xen kẽ Ở Ấn Độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời

cổ đại vẫn giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước công nguyên đến thế kỷ 19)

Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay

đi sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền Tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên

cơ sở nhân – lễ – chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào

đó, ví như Lễ thời tiền Tần là cung kính, lễ phép, văn hoá; thời Hán biến thành Tam cương ngũ thường, đời Tống biến thành chữ Lý

Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng

hộ, bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển

nó hơn là vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thức triết học mới Do vậy nó không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không gay gắt và cũng không triệt để Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến quá kéo dài và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen cộng sinh bên nhau

Ngược lại, phương Tây lại có điểm khác biệt ở mỗi giai đoạn, mỗi thời

kỳ, bên cạnh các trường phái cũ lại có những trường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường phái Talét, Hêraclit đến Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ở Anh, Hà

Ngày đăng: 26/06/2018, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w