1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả xóa đói giảm nghèo của Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015 ở tỉnh Sơn La

99 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài MỞ ĐẦU Nghèo đói là một hiện tượng KT-XH phổ biến và là một phạm trù lịch sử, tồn tại ở tất cả các quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị xã hội, điều kiện kinh tế. Nghèo đói gây ra rất nhiều hệ lụy xấu cho xã hội và tạo áp lực cho nền kinh tế quốc dân. Điều này càng đặc biệt thấy rõ ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nơi mà ở đó hầu hết những người nghèo đều tập trung ở các khu vực nông thôn, miền núi hoặc vùng DTTS vốn không thuận lợi về giao thông, khó khăn thiếu thốn mọi mặt về y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe... Chính vì vậy, XĐGN luôn là mối quan tâm nhưng cũng là một trong những thách thức đặt ra đối với mỗi khu vực, mỗi quốc gia. Năm 2013, Gabriel Demombynes - Kinh tế gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới sau khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở Việt Nam đã đưa ra danh sách 5 yếu tố tương quan là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao của người DTTS ở Việt Nam. Trong 5 yếu tố kể trên, chúng ta dễ dàng nhận diện ra 4 yếu tố hiện đang tồn tại ở khu vực Sơn La hiện nay, đó là: 1/Bị cách biệt về địa lý và hạn chế trong tiếp cận thị trường; 2/Bị cô lập về mặt xã hội, yếu tố văn hóa và ngôn ngữ; 3/Hạn chế trong tiếp cận đất đai có chất lượng; 4/Trình độ học vấn thấp. Điều này một lần nữa giải thích tại sao đói nghèo luôn là vấn đề tồn tại “dai dẳng” ở Sơn La trong thời gian qua. Sơn La được biết đến là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước - địa bàn cư trú của hơn 12 dân tộc anh em (phần lớn trong số đó là đồng bào các DTTS - người Kinh chỉ chiếm khoảng 16%). Bên cạnh đó, Sơn La cũng là tỉnh có đường biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, do đó Sơn La có vị trí chiến lược hết sức quan trọng cả trên phương diện chính trị lẫn an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động, đến nay Sơn La vẫn có tới 5/12 huyện nghèo; 102/204 xã và 1.708 bản có điều kiện kinh tế - xã hội hết sức khó khăn [22], đời sống của một bộ phận lớn đồng bào DTTS của tỉnh nhìn chung vẫn còn nhiều thiếu thốn, cùng với đó, khoảng cách về điều kiện sống và tỷ lệ hộ nghèo giữa các dân tộc khác nhau cũng ngày càng lớn và có xu hướng phân hóa rõ nét. Vấn đề này nếu không được giải quyết một cách thấu đáo chắc chắc sẽ kéo theo nhiều hệ lụy không mong muốn như: vấn đề dân tộc - tôn giáo, vấn đề biên giới lãnh thổ... Ngoài ra, nó còn gây xói mòn lòng tin của nhân dân các dân tộc nơi đây tới chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách đúng đắn về xóa đói và giảm nghèo cho người dân các DTTS khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới như ở khu vực Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giữa đồng bào miền núi với đồng bào miền xuôi, và một trong số những chính sách trong thời gian qua mang lại hiệu quả cao là Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay còn gọi là “Chương trình 135”), và đây cũng là CTMTQG về XĐGN. Bắt đầu từ năm 1998, sau gần 20 năm triển khai thực hiện, chúng ta không thể phủ nhận những kết quả tích cực đối với vấn đề XĐGN mà Chương trình 135 đã đem lại cho người dân thuộc vùng DTTS và miền núi trên địa bản tỉnh Sơn La, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn và tạo ra những biến chuyển tích cực về cơ cấu KT-XH tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng DTTS và miền núi trong tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, cũng giống như nhiều Chương trình/Dự án trước đây, nhiều vấn đề bất cập và những hệ lụy không mong muốn từ quá trình triển khai thực hiện Chương trình thời gian qua cũng đã và đang được đặt ra. Đặc biệt, bối cảnh trong nước hiện nay có nhiều thay đổi: nguồn vốn viện trợ phát triển từ bên ngoài cho Việt Nam ngày càng bị cắt giảm, cùng với đó các nguồn lực trong nước phục vụ cho công tác XĐGN vốn đã eo hẹp lại thêm việc đầu tư, sử dụng nguồn vốn một cách dàn trải, thất thoát dẫn đến hiệu quả mang lại không như mong đợi. Chính vì vậy để đạt được các MTQG về XĐGN và PTBV thì tăng cường

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2018

Tác giả

Khổng Thiêm

Trang 3

Chương 2 Hiệu quả từ công tác xóa đói giảm nghèo của Chương trình

2.2 Thực trạng vấn đề nghèo đói trên địa bản tỉnh Sơn La trước khi triển khai

2.3 Một số kết quả của Chương trình 135 (giai đoạn 2011 - 2015) ở tỉnh Sơn La 44

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo

3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước và của địa phương về công tác xóa đói

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo đói là một hiện tượng KT-XH phổ biến và là một phạm trù lịch sử, tồn tại ở tất cả các quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị xã hội, điều kiện kinh

tế Nghèo đói gây ra rất nhiều hệ lụy xấu cho xã hội và tạo áp lực cho nền kinh tế quốc dân Điều này càng đặc biệt thấy rõ ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nơi mà ở đó hầu hết những người nghèo đều tập trung ở các khu vực nông thôn, miền núi hoặc vùng DTTS vốn không thuận lợi về giao thông, khó khăn thiếu thốn mọi mặt về y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe Chính vì vậy, XĐGN luôn là mối quan tâm nhưng cũng là một trong những thách thức đặt ra đối với mỗi khu vực, mỗi quốc gia

Năm 2013, Gabriel Demombynes - Kinh tế gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới sau khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở Việt Nam đã đưa ra danh sách 5 yếu

tố tương quan là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao của người DTTS ở Việt Nam Trong 5 yếu tố kể trên, chúng ta dễ dàng nhận diện ra 4 yếu tố hiện đang tồn tại

ở khu vực Sơn La hiện nay, đó là: 1/Bị cách biệt về địa lý và hạn chế trong tiếp cận thị trường; 2/Bị cô lập về mặt xã hội, yếu tố văn hóa và ngôn ngữ; 3/Hạn chế trong tiếp cận đất đai có chất lượng; 4/Trình độ học vấn thấp Điều này một lần nữa giải thích tại sao đói nghèo luôn là vấn đề tồn tại “dai dẳng” ở Sơn La trong thời gian qua

Sơn La được biết đến là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước - địa bàn

cư trú của hơn 12 dân tộc anh em (phần lớn trong số đó là đồng bào các DTTS - người Kinh chỉ chiếm khoảng 16%) Bên cạnh đó, Sơn La cũng là tỉnh có đường biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, do đó Sơn La có vị trí chiến lược hết sức quan trọng cả trên phương diện chính trị lẫn an ninh quốc phòng Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động, đến nay Sơn La vẫn có tới 5/12 huyện nghèo; 102/204 xã và 1.708 bản có điều kiện kinh tế - xã hội hết sức khó khăn [22], đời sống của một bộ phận lớn đồng bào DTTS của tỉnh nhìn chung vẫn còn nhiều thiếu

Trang 6

thốn, cùng với đó, khoảng cách về điều kiện sống và tỷ lệ hộ nghèo giữa các dân tộc khác nhau cũng ngày càng lớn và có xu hướng phân hóa rõ nét Vấn đề này nếu không được giải quyết một cách thấu đáo chắc chắc sẽ kéo theo nhiều hệ lụy không mong muốn như: vấn đề dân tộc - tôn giáo, vấn đề biên giới lãnh thổ Ngoài ra, nó còn gây xói mòn lòng tin của nhân dân các dân tộc nơi đây tới chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách đúng đắn về xóa đói và giảm nghèo cho người dân các DTTS khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới như ở khu vực Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giữa đồng bào miền núi với đồng bào miền xuôi, và một trong số những chính sách trong thời gian

qua mang lại hiệu quả cao là Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay còn gọi là “Chương trình

135”), và đây cũng là CTMTQG về XĐGN

Bắt đầu từ năm 1998, sau gần 20 năm triển khai thực hiện, chúng ta không thể phủ nhận những kết quả tích cực đối với vấn đề XĐGN mà Chương trình 135

đã đem lại cho người dân thuộc vùng DTTS và miền núi trên địa bản tỉnh Sơn

La, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn và tạo ra những biến chuyển tích cực về cơ cấu KT-XH tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng DTTS và miền núi trong tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, cũng giống như nhiều Chương trình/Dự án trước đây, nhiều vấn đề bất cập và những hệ lụy không mong muốn từ quá trình triển khai thực hiện Chương trình thời gian qua cũng đã

và đang được đặt ra

Đặc biệt, bối cảnh trong nước hiện nay có nhiều thay đổi: nguồn vốn viện trợ phát triển từ bên ngoài cho Việt Nam ngày càng bị cắt giảm, cùng với đó các nguồn lực trong nước phục vụ cho công tác XĐGN vốn đã eo hẹp lại thêm việc đầu tư, sử dụng nguồn vốn một cách dàn trải, thất thoát dẫn đến hiệu quả mang lại không như mong đợi Chính vì vậy để đạt được các MTQG về XĐGN và PTBV thì tăng cường

Trang 7

hiệu quả sử dụng các nguồn vốn hiện có là một đòi hỏi cấp thiết

Hiện nay, khi giai đoạn IV của Chương trình (2016-2020) đã và đang được

tiếp tục triển khai thực hiện, tác giả cho rằng: việc lựa chọn đề tài: “Hiệu quả xóa đói giảm nghèo của Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015 ở tỉnh Sơn La” có ý

nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đói nghèo là vấn đề chung của mọi quốc gia, và ở Việt Nam XĐGN cũng là chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả, những nhà nghiên cứu cả trong lẫn ngoài nước

Năm 2001, trong khuôn khổ Dự án hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Canada

về giảm nghèo cho các địa phương Việt Nam, bằng kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu thực tế vấn đề giảm nghèo ở vùng dân tộc ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu Việt Nam thuộc Trung tâm điều phối giảm nghèo với sự tư vấn và chia sẻ chuyên môn của các chuyên gia Canada đã cho ra mắt công trình nghiên cứu “Giảm nghèo ở các DTTS Việt Nam” với mục đích trang bị những kiến thức, kinh nghiệm

và phương pháp nghiên cứu cùng tham gia cho những người làm công tác giảm nghèo ở vùng DTTS Công trình được đánh giá có tính khái quát và có giá trị thực tiễn về nghèo đói ở các DTTS ở nước ta

Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu cụ thể về đói nghèo ở những khía cạnh

và góc độ khác nhau như: Đô thị và đô thị hóa (Mạc Đường, 2000, 2004a, 2004b); Chính sách đói nghèo (Trần Thị Tường Vân, 2006); Biến đổi nhận thức về đời sống dưới tác động của các chính sách đói nghèo (Lê Văn Cảnh, 2015) và gần đây là

công trình: Một số lý thuyết về tộc người và tiếp cận ở Việt Nam do Viện Dân

tộc học chủ trì thực hiện cũng đã khái quát một số vấn đề về khung lý thuyết

về nhân học kinh tế trên cơ sở tiếp cận nghiên cứu đói nghèo ở nước ta Đáng

chú ý có công trình Thực trạng đói nghèo và giải pháp XĐGN ở các tộc người thiểu

số tại chỗ Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo và Bùi Bích Lan (2005) Đây là nghiên

cứu đề cập khá toàn diện và chuyên sâu về thực trạng, nguyên nhân đói nghèo của

Trang 8

12 DTTS tại chỗ khu vực Tây Nguyên Trên cơ sở phân tích cụ thể các mặt thuận lợi và những trở ngại cho việc thực hiện công tác XĐGN, các tác giả đã đề xuất một

số giải pháp nhằm góp phần XĐGN cho các DTTS tại chỗ khu vực này

Mặc dù vậy, đi sâu vào xem xét, đánh giá hiệu quả của một Chương trình cụ thể và tại một địa phương cụ thể như tỉnh Sơn La thì đến nay vẫn chưa có công trình

nào thực hiện, và đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Hiệu quả xóa đói giảm

nghèo của Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015 ở tỉnh Sơn La”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Xem xét đánh giá hiệu quả của Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015

triển khai trên địa bàn tỉnh Sơn La

- Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao hiệu quả Chương trình trong giai đoạn tiếp theo, qua đó góp phần XĐGN một cách bền vững cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Sơn La

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng hợp, thu thập các nguồn tư liệu về thực trạng KT-XH tỉnh Sơn La nhất

là giai đoạn trước và sau thời điểm triển khai đến khi kết thúc Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015

Phân tích và đánh giá hiệu quả Chương trình tới công tác XĐGN trên địa bàn tỉnh Sơn La và những biến chuyển trong đời sống của đồng bào thuộc đối tượng hướng tới của Chương trình

Đề xuất một số giải pháp cụ thể giúp nâng cao hiệu quả Chương trình trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả Chương trình 135 với vấn đề XĐGN tại

các xã đặc biệt khó khăn, vùng DTTS và miền núi thuộc tỉnh Sơn La

Trang 9

* Phạm vi nghiên cứu: các vấn đề về XĐGN tại các xã thuộc khuôn khổ

Chương trình 135 giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn tại tỉnh Sơn La

- Phạm vi thời gian: xem xét đánh giá hiệu quả của Chương trình 135 trên

địa bàn tỉnh Sơn La, trong đó tập trung chủ yếu vào giai đoạn III (2011-2015) của Chương trình

- Phạm vi không gian: các khu vực đặc biệt khó khăn, vùng DTTS và miền

núi thuộc Chương trình 135 trên địa bàn tỉnh Sơn La

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin để làm rõ sự vận động và biến đổi của các quy luật phát triển, luận văn cũng sử dụng thêm một số lý thuyết của kinh tế học trong đánh giá

và dự báo về xu thế nghèo đói nói riêng, những biến chuyển về KT-XH địa phương nói chung trong thời gian tới

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Tiếp cận bền vững và phát triển hệ sinh thái xã hội: đói nghèo đã và đang

là một hiện tượng hiện tồn và phổ biến trên khắp thế giới, nguy cơ tái nghèo đặc

Trang 10

điểm bền vững, hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ tái nghèo trên cơ sở bảo tồn, giữ gìn, phát huy văn hóa truyền thống, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh để tìm ra những sự khác biệt về kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện việc làm và thu nhập giữa địa phương Sơn La với các khu vực lân cận trong vùng, và với mức chung của cả nước Ngoài ra, đề tài cũng sẽ sử dụng thêm các phương pháp phân tích - tổng hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những nghiên cứu của đề tài hy vọng sẽ cung cấp thêm một số luận điểm và

đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách từ đó giúp vận dụng và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác XĐGN nói chung, nhất là trong bối cảnh giai đoạn

IV (2016-2020) của Chương trình đã và đang được tiếp tục triển khai thực hiện

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về XĐGN và Chương trình 135 giai đoạn

2011 - 2015

Chương 2: Hiệu quả từ công tác xóa đói giảm nghèo của Chương trình 135

giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn tỉnh Sơn La

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả Chương trình 135 về vấn đề

XĐGN trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian tới

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

VÀ CHƯƠNG TRÌNH 135

1.1 Những vấn đề chung về xóa đói giảm nghèo

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về nghèo đói

Nghèo đói là một hiện tượng KT-XH phổ biến và là một phạm trù lịch sử tồn tại ở tất cả các quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị xã hội, điều kiện kinh tế Điểm qua một số nguồn tài liệu mang tính phố biến hiện nay có thể cho ta một cái nhìn tổng quan về “Nghèo đói”:

* Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” Khái niệm nghèo đói này bao gồm 3 khía cạnh:

- Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn

hóa, đi lại và giao tiếp xã hội;

- Nghèo thay đổi theo thời gian: thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời

gian; khi kinh tế càng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo xu hướng ngày một cao hơn;

- Nghèo thay đổi theo không gian: thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho

chúng ta thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển KT-XH và các yếu tố văn hóa của từng quốc gia, từng khu vực

Trên cơ sở đó, nghèo đói sẽ được chia ra bao gồm: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối:

+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng

Trang 12

được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương

+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng

* Theo VOER (Thư viện học liệu mở Việt Nam) thì hiện nay ở Việt Nam có

nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: nghèo đói là 2 khái niệm riêng biệt, trong đó: 1/Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiếu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện; 2/Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó

là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng[41]

Như vậy có thể thấy rằng, từ trước đến nay, đã có rất nhiều quan niệm về đói nghèo được đưa ra, và tùy theo cách tiếp cận khác nhau sẽ có những kiến giải khác nhau về nghèo đói, và theo thời gian, quan niệm về nghèo đói cũng càng được mở rộng và bao trùm hơn (cả về mặt lượng và chất) cùng với những tiến bộ xã hội "nhu cầu" của con người cũng ngày càng cao hơn Điều đó cho thấy, nghèo đói là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi, tính biến đổi ở đây thể hiện ở trên cả phương diện không gian cũng như thời gian: ví dụ, chúng ta không thể sử dụng chỉ số xác định giới hạn nghèo đói của Mỹ để đánh giá mức độ đói nghèo của Việt Nam, hay của Hà Nội để đánh giá Sơn La; hoặc không thể áp dụng khái niệm nghèo đói giai đoạn trước

để đánh giá cho giai đoạn sau Hay nói cách khác, các chỉ số xác định giới hạn nghèo đói không phải là cứng nhắc, bất biến, mà nó luôn biến đổi và phụ thuộc rất nhiều yếu

tố như: sự chênh lệch về phát triển giữa các dân tộc, các quốc gia, giữa các vùng miền, sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán, thậm chí thể chế chính trị xã hội

Gần đây, Liên Hợp Quốc đã đưa ra một khái niệm có nội hàm phản ánh khá rõ tính đa chiều của đói nghèo: Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi

Trang 13

học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh Trên cơ sở đó, vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập

Sự thiếu hụt cơ hội đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các

cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng những lợi ích phát triển KT-XH, do vậy họ bị tước đi các quyền con người cơ bản Có rất nhiều biểu hiện, khía cạnh, nguyên nhân của đói nghèo, với các mức độ khác nhau, tùy theo đối tượng và hoàn cảnh, bao gồm: nghèo về vật chất, do địa bàn cư trú của người nghèo, hạn chế về tổ chức và tiếp cận tổ chức, thiếu sự ảnh hưởng chính trị, thiếu thời gian, sức khỏe yếu, trình độ học vấn thấp, tình trạng không an toàn, địa bàn

cư trú không thuận lợi, ít các mối quan hệ xã hội, vị trí thấp kém do bị quy kết hay do pháp luật, thiếu thông tin, và nghèo đói tính mùa vụ…[2, tr 5-6]

Ở Việt Nam, theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, khái niệm nghèo đa chiều mới được triển khai và được áp dụng chính thức cho giai đoạn 2016 - 2020 Theo đó, ngoài các tiêu chí về thu nhập như trước đây, tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cũng đã được áp dụng, bao gồm: 05 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin); 10 chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp

vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin)

Trong luận văn này, xuất phát từ địa bàn nghiên cứu trên cơ sở quan điểm XĐGN một cách bền vững, tác giả cho rằng, đói nghèo cần phải được xem xét trong một hệ thống tổng thể với cách tiếp cận đa chiều, trong đó phát triển hệ sinh thái chính sách cần được chú trọng Bởi như chúng ta đã biết, khác với các địa phương khác - nơi dân tộc Kinh (những người có trình độ phát triển cao hơn - đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ hơn) thường chiếm đa số trong cơ cấu dân số, Sơn La

Trang 14

với dân số hơn 1,17 triệu người (tính đến năm 2015), lại chủ yếu là các DTTS (đại

diện cho trình độ phát triển thấp và không đồng đều) như: người Thái (chiếm 54%), người Tày, Nùng, Dao… trong khi người Kinh chỉ chiếm 16% dân số toàn tỉnh

(xem Bảng 2.19) Cùng với đó, đặc điểm phân bố dân cư khá phức tạp, đồng bào ở

đây thường tập trung chủ yếu ở các khu vực nông thôn, khu vực miền núi và vùng sâu vùng xa - là khu vực hết sức khó khăn và là trọng điểm của công tác XĐGN Cùng với đó, ở những khu vực này hiện vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục cổ hủ, lạc hậu cũng gây ra tình trạng bất bình đẳng về giới

Một vấn đề cần lưu ý nữa là ở Việt Nam, đói nghèo mang tính chất vùng miền khá rõ rệt, trong khi ở đồng bằng tỷ lệ đói nghèo thấp thì ở các vùng núi cao, vùng sâu vùng xa - nơi tập trung đông đồng DTTS, tỷ lệ đói nghèo thường rất cao Đây là những vùng có điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất, dịch vụ còn nhiều hạn chế, CSHT rất kém phát triển, điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt và thiên tai xảy ra thường xuyên Và Sơn La, với diện tích 14.174,44km2 (lớn thứ ba và chiếm 4,28% tổng diện tích cả nước và 37,88% diện tích vùng Tây Bắc) là tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn, trong đó chủ yếu là đồi núi cao, địa hình phức tạp - không thuận lợi cho hoạt động sản xuất và giao thương trao đổi sản phẩm với các khu vực khác, điều này giải thích vì sao Sơn La hiện nay vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước và là địa bàn trọng điểm của Chương trình 135

1.1.1.2 Xóa đói giảm nghèo

Ngay từ khi giành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta đã xem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm Vì vậy, XĐGN là một trong những nhiệm vụ cấp bách và là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay, thể hiện trên các phương diện sau: 1/Xóa đói giảm nghèo được coi là sự nghiệp của toàn dân, là một chính sách xã hội cơ bản,

là hướng ưu tiên trong toàn bộ chính sách KT-XH; 2/Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện XĐGN bền vững, gắn XĐGN với các CTMTQG và an sinh xã hội Xác định rõ các vùng trọng điểm, các hoạt động ưu tiên để tập trung nguồn lực đầu tư có hiệu

Trang 15

quả; 3/Gắn XĐGN và giải quyết việc làm với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tạo

cơ hội và điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản; Phát huy nội lực chủ yếu, đồng thời tăng cường sự hợp tác quốc tế Trên

cơ sở đó, hàng loạt các chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ta ban hành, tiền đề cho các chương trình dự án XĐGN triển khai thực hiện, trong đó đối tượng hướng đến là đồng bào nghèo ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng đồng bào các DTTS, ví dụ: Nghị quyết 120/HĐBT, ban hành ngày 11/4/1992, tập trung xúc tiến đào tạo và giải quyết việc làm cho người nghèo; Quyết định 135/1998/QĐ-TTg (ban hành ngày 31/7/1998), Chương trình phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó khăn vùng DTTS và miền núi (Chương trình 135) được thực hiện từ năm 1998 đến nay; gần đây là các Chương trình 30A, Chương trình Mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, Chương trình xây dựng NTM… cũng đã và đang tiếp tục được triển khai Các chính sách này có tính quyết định và tác động to lớn đến công cuộc XĐGN ở nước ta trước đây cũng như hiện nay

Đối với Sơn La - một trong mười tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao nhất cả nước, XĐGN không chỉ là nhiệm vụ kiên quyết mà còn là thách thức đặt ra đối với quá trình phát triển KT-XH của địa phương Trong thời gian qua, nhờ có các cơ chế và chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước cùng với quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh, công cuộc XĐGN trên địa bàn tỉnh đã thu được một

số thành tựu nhất định, tuy nhiên tỷ lệ nghèo đói của Sơn La vẫn còn ở mức rất cao, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào DTTS Và trên bình diện tổng thể, Sơn La vẫn là một tỉnh nghèo, chậm phát triển so với các khu vực khác trên cả nước Do đó, trong thời gian tới, XĐGN vẫn là một trọng những nhiệm vụ trọng tâm đối với Đảng bộ và nhân dân nơi đây

1.1.2 Chuẩn nghèo và các tiêu chí đánh giá đói nghèo

1.1.2.1 Chuẩn nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo hoặc tiêu chuẩn nghèo)

là một chỉ tiêu tổng hợp tiêu dùng được xem là đầy đủ cho các nhu cầu tiêu dùng cơ bản và từ đó ước tính chi phí cho những nhu cầu cơ bản này Đây là công cụ để phân biệt người nghèo với người không nghèo Hầu hết các chuẩn nghèo đều dựa

Trang 16

trên thu nhập hoặc chi tiêu Những người được coi là người nghèo khi mức sống của họ được đo qua thu nhập ( hoặc chi tiêu) thấp hơn một mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo):

- Chuẩn nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu

cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh Phương pháp luận xây dựng chuẩn nghèo tuyệt đối đã được thế giới hình thành và phát triển tương đối hoàn chỉnh Chuẩn nghèo tuyệt đối của thế giới do Ngân hàng Thế giới (Word Bank) xác định là 1,25USD/người/ngày (tương đương với 600.000 đồng/người/tháng) và chuẩn nghèo của Châu Á là 1,35USD mỗi ngày mỗi người tính theo ngang giá sức mua (PPP) (650.000 đồng/người/tháng) Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới với chuẩn nghèo 1,25USD/người/ngày thì năm 2005 trên thế giới có khoảng 1,4 tỉ người (nghĩa là trên 20% dân số thế giới sống ở mức nghèo khổ), con số này lớn hơn hẳn ước tính 985 triệu người nghèo công bố năm 2004

- Chuẩn nghèo tương đối: đôi khi chúng ta tập trung vào phần dân số nghèo

nhất (1/5 hay 2/5) vì vậy ta có khái niệm ngưỡng nghèo tương đối được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một

bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng Chuẩn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội Một ngưỡng hay được sử dụng để đo lường nghèo tương đối đó là 50% hay 60% mức thu nhập bình quân đầu người trong một nền kinh tế bền vững Tuy nhiên trên thực tế chuẩn nghèo tương đối với cách xác định như vậy sẽ không phản ánh chính xác về mức sống của con người vì khi thu nhập đồng loạt tăng hoặc giảm thì tỷ lệ người nghèo vẫn không thay đổi trong khi thu nhập thực tế của họ có thay đổi

Để đánh giá đói nghèo người ta thường sử dụng ngưỡng nghèo tuyệt đối vì nó cho phép thực hiện các phân tích có tính so sánh, trong khi đó do có sự pha trộn cả vấn

đề phân phối thu nhập nên nghèo đói tương đối được coi là tiêu chuẩn đánh giá sự công bằng của chính phủ đối với một bộ phận dân cư có thu nhập thấp

Trang 17

1.1.2.2 Tiêu chí đánh giá đói nghèo

a Chỉ tiêu thu nhập

Thu nhập bình quân theo đầu người là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh được quy mô, trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân trong một nước Hiện nay trên thế giới tồn tại hai phương pháp tính toán chủ yếu của Ngân hàng Thế giới:

- Phương pháp Atlas (phương pháp theo tỉ giá hối đoái): Ngân hàng Thế giới

phân ra làm 6 loại nước (là mức thu nhập năm 1990): Nước cực giàu: > 25.000 USD/năm; Nước giàu: 20.000 ≤ 25.000 USD/năm; Nước khá giàu: 10.000 ≤ 20.000 USD/năm; Nước trung bình: 2.500 ≤ 10.000 USD/năm; Nước nghèo: 500 ≤ 2.500 USD/năm và Nước cực nghèo: < 500 USD/năm Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang giá của sức mua Do đó từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP)

- Phương pháp sức mua tương đương (PPP): đây là phương pháp được sử

dụng rộng rãi so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, nhằm đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất đồng USD Ngân hàng Thế giới sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP) Đối với các nước thu nhập thấp: < 1 USD/người/ngày và các nước thu nhập trung bình thấp là: < 2 USD/người/ngày

b Chỉ tiêu dinh dưỡng

Nhu cầu về dinh dưỡng là nhu cầu tối thiểu và cơ bản của con người để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động Chỉ tiêu cơ bản nhất về lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calo tiêu dùng hàng ngày Để xây dựng một ngưỡng nghèo cần

phải xác định nhu cầu tiêu dùng của toàn bộ dân số Lượng dinh dưỡng 2.100 kcalo

mà tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra dựa trên nhiều lần đánh giá, kiểm nghiệm

- Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định

như tổng số tiền chi cho giỏ tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực, thực phẩm và đồ dùng cá nhân cần thiết bảo đảm

Trang 18

cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành và các khoản chi bắt buộc khác Ngân hàng Thế giới xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người Cụ thể:

+ Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua số lượng lương thực

Lượng lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2.100 kcalo cho mỗi

người một ngày (gồm 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực

+ Ngưỡng nghèo thứ hai: bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và phi lương thực gọi là ngưỡng nghèo chung

Ngoài ra, hiện nay Hệ số GINI là thước đo được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu bất bình đẳng về phân phối thu nhập, hệ số này lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về phân phối thu nhập, hệ số nhận giá trị biến thiên từ 0 đến 1 Chỉ số này càng lớn mức độ bất bình đẳng càng cao

1.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam

a Tiêu chí đánh giá đói nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều (Ban hành kèm

theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ) Theo cách đánh giá này, chuẩn nghèo đa chiều được áp dụng cho giai đoạn 2016 -

2020 Trong các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, ngoài những tiêu chí thu nhập (tiêu chí duy nhất áp dụng cho các giai đoạn trước), những tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin), cụ thể: tiếp cận những dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình

độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

b Tiêu chí của Bộ lao động - Thương binh và xã hội

Theo cách đánh giá của Bộ LĐTBXH phạm vi đói nghèo có từng cấp khác nhau Mỗi cấp thể hiện những đặc điểm riêng biệt về mức độ nghèo

- Hộ nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn

nghèo Trong hộ nghèo, lại có hộ DTTS đặc biệt khó khăn, đây là các hộ gia đình dân tộc sống trong vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập thấp

Trang 19

hơn chuẩn nghèo Các hộ này còn tồn tại phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên như hái lượm và canh tác nương rẫy, tổng giá trị tài sản bình quân đầu người dưới 1 triệu đồng/người/tháng

- Xã nghèo: là xã có tỉ lệ hộ nghèo cao (> 25%), chưa đủ từ 3 trong 6 hạng

mục CSHT thiết yếu (bao gồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm, số phòng học chỉ đáp ứng dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh tre, nứa lá, chưa có trạm y tế hoặc có nhưng là nhà tạm, dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50% hộ sử dụng điện sinh hoạt ) Trong các xã nghèo, có các xã ĐBKK - Đây là các xã được công nhận theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Xã đặc biệt khó khăn: là xã đáp ứng 5 tiêu chí sau: 1/Vị trí địa lý của xã ở

xa trung tâm KT-XH, xa đường quốc lộ, giao thông đi lại khó khăn; 2/Môi trường

xã hội chưa phát triển, trình độ dân chí thấp, còn nhiều tập tục lạc hậu; 3/Trình độ sản xuất thấp, chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, công cụ thô sơ; 4/Hạ tầng cơ sở chưa phát triển, chưa đủ các công trình thiết yếu như: điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, chợ xã; 5/Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn,

thiếu thốn, mức sống thấp

- Huyện nghèo: là huyện có tỉ lệ hộ nghèo >50% Thống kê huyện nghèo là

cơ sở để Chính phủ có chính sách giảm nghèo thích hợp nhằm đưa các huyện nghèo

có mức thu nhập trong những năm tới ngang bằng mức thu nhập của cả nước

Cho đến nay, Bộ LĐTBXH đã 6 lần công bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo căn cứ vào mức sống thực tế và trình độ phát triển KT-XH các địa phương Dưới đây là 3 lần công bố gần đây nhất:

* Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 (theo Quyết định số

170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ)

+ Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng

+ Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000 đồng/người/tháng

* Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 (theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg

Trang 20

* Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 (theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg

ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ)

a Hộ nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Một là, có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Hai là, có thu nhập

bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ

03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Một là, có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Hai là, có thu nhập

bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ

03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

b Hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 21

1.2 Chương trình 135 và nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo

1.2.1 Tổng quan chung

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII xác định mục tiêu đến hết năm 2000, tỷ lệ hộ đói nghèo bình quân trong cả nước giảm xuống còn 10%, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, đến năm 1998 tỷ lệ hộ đói nghèo bình quân trong cả nước vẫn còn ở mức 17% Một trong những nguyên nhân chính được chỉ ra đó là công tác XĐGN còn bộc lộ nhiều bất cập đó là: trong khi nguồn lực hạn chế thì diện đối tượng thụ hưởng lại tương đối rộng dẫn đến phân tán nguồn lực Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng khác cũng được chỉ ra đó là chúng ta chưa có chương trình quốc gia về XĐGN, cùng với đó là những cơ chế chính sách đặc biệt đối với các khu vực ĐBKK như khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào DTTS - nơi

có tỷ lệ nghèo đói cao cao nhất Chính vì vậy, để giải quyết yêu cầu bức thiết đó, ngày 31/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (sau này gọi là chương trình 135) Chương trình 135 là một trong những chính sách lớn, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các DTTS vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, với mục tiêu của Chương trình là sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trong đó chủ yếu là nguồn NSNN, bên cạnh đó còn tận dụng cũng như huy động các nguồn vốn khác phục vụ cho công tác XĐGN Chương trình bên cạnh hỗ trợ phát triển kinh tế còn từng bước xóa bỏ các tập tục lạc hậu trong đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao trình độ văn hóa cho đồng bào, giúp họ tiếp cận với phương thức sản xuất tiến bộ hơn tạo điều kiện để phát triển tốt hơn

Chương trình 135 giúp các khu vực ĐBKK miền núi, vùng sâu vùng xa và vùng DTTS được đầu tư hỗ trợ PTSX, tạo chuyển biến khá căn bản trong tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và phát triển xã hội từ đó tạo ra sự phát triển cân đối kinh tế giữa các vùng, các ngành, các địa phương

Trang 22

1.2.2 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Xuất phát từ mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển đất nước đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng là đảm bảo phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, từ đó hệ thống chính sách phát triển đã được hoạch định trên những quan điểm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình Tạo điều kiện cho tất cả các vùng đều phát triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý và liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển KT-XH mạnh mẽ của cả nước Kết hợp phát triển có trọng điểm với phát triển toàn diện các vùng lãnh thổ, giảm bớt sự chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng, điều tiết một phần tích luỹ từ nền kinh tế để hỗ trợ cho vùng khó khăn Vùng miền núi, vùng đồng bào DTTS, khu căn cứ Cách mạng được xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn nhất cần được hỗ trợ, nhằm tạo điều kiện ban đầu để các vùng đó từng bước vươn lên, hòa nhập với cả nước cùng phát triển

Thực hiện công bằng xã hội được thể hiện trên mọi phương diện, trong đó việc tạo cơ hội cho mọi tầng lớp dân cư thuộc mọi dân tộc có điều kiện tham gia vào quá trình phát triển là hết sức cần thiết, thể hiện trên các mặt: được bình đẳng trong việc đầu tư phát triển hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, giải quyết vấn đề

xã hội, cải thiện cuộc sống của đồng bào các dân tộc…, được trực tiếp đóng góp công sức, vật lực của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng thôn xóm cho xây dựng quên hương mình; được đào tạo nâng cao kiến thức sản xuất, tổ chức cuộc sống, NCNL mọi mặt cho cán bộ và người dân trong vùng; giúp họ tham gia sản xuất hàng hóa để trao đổi với bên ngoài; được cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh; được tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác

Vùng ĐBKK miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ Cách mạng, vùng đồng bào DTTS có vai trò quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Từ xa xưa, các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm đều lấy vùng sâu, vùng

Trang 23

xa làm căn cứ; trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng này tiếp tục được dùng làm căn cứ, làm an toàn khu, đồng bào các dân tộc trong vùng đã hết lòng ủng hộ Cách mạng, ủng hộ kháng chiến, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước rơi vào khó khăn mới nên chưa có điều kiện hỗ trợ cho các vùng này, nay cần được đền đáp lại một cách xứng đáng

Vì vậy, đây là đối tượng và phạm vi đầu tư của Chương trình 135

1.2.3 Mục tiêu của Chương trình

* Mục tiêu phát triển của các vùng lãnh thổ

Dựa trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển KT-XH của cả nước trong các kỳ Đại hội Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định về quy hoạch, kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm đối với các vùng đô thị, vùng kinh tế trọng điểm, vùng công nghiệp và vùng nông nghiệp hàng hóa Nhìn chung các vùng trên có nhiều điều kiện thuận lợi và có định hướng rõ ràng, vấn đề đặt ra là tạo điều kiện thu hút nguồn lực để đảm bảo chất lượng và tốc độ phát triển Riêng vùng miền núi, vùng đồng bào DTTS

là địa bàn có nhiều khó khăn, là vùng ít có cơ hội thuận lợi, khó huy động nguồn lực nên cần được Nhà nước ưu tiên đầu tư, tạo điều kiện hỗ trợ ban đầu, để: 1/Trước mắt thực hiện chương trình XĐGN, tạo việc làm và tạo sinh kế nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng; 2/Từng bước tăng khả năng khai thác các lợi thế và nguồn lực tại chỗ giải quyết việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách; 3/Tạo bước đi ban đầu để tăng tính hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư Ngoài ra, việc lựa chọn những địa bàn xung yếu, những lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ phát triển là nhiệm vụ bức thiết có

ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển KT-XH khu vực này Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-1997), tình hình KT-XH miền núi và vùng DTTS ở nước ta đã đạt được những tiến bộ đáng kể, đến cuối năm 1996 đã hình thành 3 khu vực phát triển với trình độ khác nhau: 1/Khu vực I: gồm các khu trung tâm đô thị, các thị trấn, các khu công nghiệp; 2/Khu vực II: là khu vực đệm giữa khu vực I (đô thị…) với khu vực III (vùng sâu, vùng xa…) và 3/Khu vực III: gồm các xã vùng cao, vùng sâu vùng xa, vùng giáp biên và vùng căn cứ kháng chiến

Trang 24

1.2.4 Những nhiệm vụ cơ bản của Chương trình

* Bố trí lại sản xuất: là một trong những nhiệm vụ cơ bản thúc đẩy sản

xuất, cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc Để thực hiện nhiệm vụ này phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương, phải lấy hiệu quả kinh tế làm trọng tâm, phải phát huy mọi nguồn lực trong dân cư để bố trí lại sản xuất, sắp xếp quy mô và cơ cấu sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của những vùng khó khăn một cách hợp lý Trên thực tế, việc ổn định đời sống đồng bào các

xã khu vực III và các thôn bản ĐBKK của xã khu vực II chủ yếu dựa vào phát triển nông nghiệp, nhằm tăng thu nhập cho người lao động thông qua biện pháp tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng biện pháp kỹ thuật, kể cả khâu bảo quản sau thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân Vì vậy ở vùng ĐBKK đòi hỏi từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa từ cây trồng, vật nuôi, gắn với chế biến và tiêu thụ Để hỗ trợ phát triển cho các ngành nông lâm nghiệp

và từng bước tiến hành công nghiệp hóa nông thôn, tập trung nghiên cứu phát triển các cơ sở công nghiệp sơ chế quy mô vừa và nhỏ, khai thác các mỏ nhỏ, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp kết hợp tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa cho mọi người dân Nguồn vốn đầu tư vào khu vực này chủ yếu từ ngân sách, tín dụng ưu đãi và vốn dân cư; ở những địa phương quá khó khăn, Trung ương xem xét hỗ trợ vốn ngân sách để đầu tư hạ tầng KT-XH; vốn tín dụng hỗ trợ PTSX nông - lâm nghiệp, XĐGN Nhà nước phải có biện pháp tập trung vốn ngân sách đầu tư theo chương trình tổng hợp và có sự chỉ đạo chặt chẽ giúp cho khu vực này phát triển mới có thể đem lại hiệu quả

* Quy hoạch bố trí lại dân cư thôn bản ở xã ĐBKK

Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thời kỳ 1996 - 2010 của từng địa phương, điều kiện tự nhiên, tính chất đặc điểm của từng vùng, khả năng đất đai, tập quá từng dân tộc để bố trí lại các cụm dân cư theo phương châm không gây

ra những biến động lớn trong đời sống nhân dân, điều chỉnh dân cư từng bước để đạt mục đích, yêu cầu tổng thể về sắp xếp lại sản xuất, ổn định xã hội và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc

* Xây dựng CSHT đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH

Nâng cấp và xây dựng mới các tuyến đường giao thông là nhiệm vụ hàng đầu

trong việc xây dựng CSHT ở miền núi Nguồn vốn đầu tư làm đường giao thông do

Trang 25

NSNN cấp và dựa vào sự đóng góp của nhân dân Ưu tiên đầu tư nâng cấp và xây dựng các tuyến đường dọc biên giới và đường đến các huyện vùng sâu, vùng xa Đường giao thông từ tỉnh đến huyện và trung tâm cụm xã do Nhà nước đảm nhận và đảm bảo thông suốt bốn mùa

Điện lưới quốc gia thông suốt đến các tỉnh lỵ, các huyện lỵ, các TTCX Đối

với những nơi xa xôi hẻo lánh không kéo được điện lưới thì phát triển thủy điện nhỏ, cực nhỏ và các nguồn năng lượng khác để đồng bào vùng dân tộc và miền núi được dùng điện trong sản xuất và sinh hoạt

Về thủy lợi, trên phạm vi vùng miền núi, tập trung xây dựng các công trình

thủy lợi lớn, các hồ chứa nước để tưới tiêu cho các vùng cây công nghiệp; xây dựng một số công trình thủy điện gắn với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, cân bằng nguồn nước và chống lũ Xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ phục vụ PTSX của từng vùng sinh thái Ở các xã ĐBKK chủ yếu cải tạo, nâng cấp, kiên cố hóa và xây dựng mới các công trình thủy lợi quy mô nhỏ cấp nước tưới và sinh hoạt cho dân cư

Tiếp tục đưa chương trình nước sạch vào phục vụ sản xuất cho đồng bào vùng dân tộc và miền núi, ưu tiên giải quyết nước sạch ở khu vực III và phần khó khăn của khu vực II

Về CSHT xã hội: mục tiêu cơ bản là tạo điều kiện thuận lợi ở mức tương

đối về giáo dục cơ sở, nhiệm vụ cơ bản là hoàn thành việc xây dựng các trường phổ thông nội trú ở TTCX, trường bán trú ở xã Mục tiêu chăm sóc sức khoẻ trong những năm trước mắt là các trung tâm cụm xã đều có trạm y tế/phòng khám đa khoa; ở thôn, bản, xã có phát thanh và truyền hình, các đồn biên phòng

có thể liên lạc bằng điện thoại… để đồng bào được hưởng các dịch vụ văn hóa

và phúc lợi xã hội

1.2.5 Tiêu chí phân định khu vực để đầu tư

Ngày 14/12/1995, Thủ tướng Chính phủ có văn bản số 7189/ĐP1 về việc công bố tiêu chí 3 khu vực miền núi, vùng cao Tiếp đó, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi có thông tư số 41/UB-TT ngày 08/01/1996 quy định và hướng dẫn thực hiện tiêu chí từng khu vực ở vùng dân tộc - miền núi theo trình độ phát triển của từng vùng nói trên Cơ sở để phân định khu vực là dựa theo trình độ phát triển cụ thể của từng xã theo 5 tiêu chí sau:

Trang 26

a Dựa theo điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú, được chia thành 3 vùng:

- Vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới;

- Vùng ảnh hưởng của các trung tâm phát triển: thị xã, thị trấn, thị tứ;

- Vùng kinh tế hàng hóa phát triển, ven các quốc lộ, tỉnh lộ, đường ô tô liên huyện, liên xã… hoặc ở vùng đệm giữa các trung tâm phát triển và vùng cao, vùng sâu, vùng xa

b Cơ sở hạ tầng hiện có

Đường giao thông, điện và các nguồn năng lượng khác, thủy lợi phục vụ sản xuất và cấp nước sinh hoạt dân cư

Các điều kiện hạ tầng được đánh giá và xem xét trên cơ sở quy mô, cấp hạng

kỹ thuật, năng lực của các công trình so với đòi hỏi của yêu cầu sản xuất và đời sống của đồng bào trong khu vực

cơ bản về xã hội của dân cư

d Điều kiện sản xuất

Diện tích đất cho sản xuất nông - lâm nghiệp tính bình quân cho hộ gia đình hoặc cho đầu người Công cụ phục vụ sản xuất; trình độ sản xuất; cơ cấu ngành nghề; kết quả sản xuất và hoạt động kinh doanh trao đổi hàng hóa

Diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đại gia súc, gia cầm, tính bình quân cho một hộ, một người, công cụ sản xuất thô sơ hay mức độ cơ giới hóa còn hạn chế…

Trình độ thâm canh cây trồng vật nuôi; mức độ áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, cơ cấu sản xuất: lâm nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ

Trình độ sản xuất hàng hóa, hình thành vùng hàng hóa với những sản phẩm hàng hóa chủ yếu; hình thành thị trường hàng hóa; trung tâm thương mại, chợ khu vực, khả năng giao lưu hàng hóa

Trang 27

e Về đời sống

Phân loại hộ đói nghèo theo “chuẩn mức đói nghèo và mức độ đói nghèo ở Việt Nam” do Bộ LĐTB&XH quy định Đơn vị chuẩn để xác định đói nghèo là mức thu nhập của hộ gia đình được quy đổi ra gạo tính bình quân đầu người hàng tháng Dựa theo 5 tiêu chí trên, phân các xã thuộc khu vực miền núi, vùng cao của cả nước theo 3 khu vực: 1/Khu vực I: khu vực bước đầu phát triển; 2/Khu vực II: khu vực tạm ổn định; 3/Khu vực III: khu vực khó khăn

- Những căn cứ cụ thể để xác định khu vực khó khăn, bao gồm: 1/Địa bàn cư

trú; 2/Cơ sở hạ tầng; 3/Các yếu tố xã hội; 4/Điều kiện sản xuất và 5/Về đời sống

- Phương pháp phân định các xã thuộc khu vực khó khăn

Đơn vị để xác định khu vực là xã, xã nào có 4/5 tiêu chí nói trên thì xếp vào khu vực khó khăn, từng xã căn cứ vào các tiêu chí nêu trên để tự bình chọn và đề nghị lên các cấp xét duyệt

Các cấp huyện, tỉnh, Trung ương thành lập hội đồng xét duyệt và thực hiện xét duyệt từ huyện lên Trung ương

1.2.6 Tiêu chí đánh giá về XĐGN của Chương trình 135

*Giai đoạn 1998-2005 (theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg)

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống còn 25% vào năm

2005

- Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt;

- Trên 70% trẻ em trong độ tuổi đến trường;

- Đại bộ phận đồng bào được bồi dưỡng, tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, chủ động vận dụng vào sản xuất và đời sống;

- Kiểm soát được phần lớn các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo;

- Có đường giao thông cho xe cơ giới và đường dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụm xã;

- Phát triển thị trường nông thôn

Trang 28

*Giai đoạn 2006-2010 (theo Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg)

- Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất

mới cho đồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững, chỉ tiêu cụ thể: trên 70% số hộ đạt được mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm vào năm 2010

- Về phát triển cơ sở hạ tầng: các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp

quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả nâng cao đời sống và phát triển sản xuất tăng thu nhập, theo đó:

+ Trên 80% xã có đường giao thông cho xe cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến tất cả thôn, bản;

+ Trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích đất trồng lúa nước;

+ 100% xã có đủ trường, lớp học kiên cố, có lớp bán trú ở nơi cần thiết; + 80% số thôn, bản có điện ở cụm dân cư; giải quyết và đáp ứng yêu cầu cơ bản về nhà sinh hoạt cộng đồng;

+ 100% xã có trạm y tế kiên cố đúng tiêu chuẩn

- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn:

+ Trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh;

+ Trên 80% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy hiểm;

+ Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%;

+ Trên 95% số học sinh tiểu học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường;

+ Trên 95% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí

Trang 29

- Về phát triển nâng cao năng lực: trang bị, bổ sung những kiến thức về

chuyên môn nghiệp vụ, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao nhận thức pháp luật, nâng cao kiến thức quản lý đầu tư và kỹ năng quản lý điều hành để hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ, công chức cấp xã và trưởng thôn, bản Nâng cao năng lực của cộng đồng, tạo điều kiện cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động về đầu tư và các hoạt động khác trên địa bàn

*Giai đoạn 2011-2015 (theo Quyết định số 1489/2012/QĐ-TTg)

- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh và dân sinh phù hợp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất, kinh doanh:

+ 85% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa theo tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Giao thông - Vận tải;

+ 60% thôn, bản có đường trục giao thông được cứng hóa theo tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Giao thông - Vận tải;

+ 100% trung tâm xã có điện; trên 90% thôn, bản có điện phục vụ sinh hoạt

và sản xuất, kinh doanh;

+ Các công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư đáp ứng 80% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây trồng hằng năm

- Thu nhập của hộ nghèo tham gia mô hình tăng 15 - 20%/năm; bình quân mỗi năm có 10% hộ tham gia mô hình thoát nghèo

- 100% cán bộ, công chức xã, trưởng thôn, bản và cán bộ đoàn thể được tập huấn về: kiến thức, kỹ năng quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách, dự án; lập kế hoạch có sự tham gia của người dân; phát triển cộng đồng

Trang 30

Chương 2 HIỆU QUẢ TỪ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

CỦA CHƯƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA

2.1 Đặc điểm chung và những đặc trưng về kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Địa giới hành chính, Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam,

có toạ độ địa lý: 20039’ - 22002’ vĩ Bắc, 103011’ - 105002’ kinh Đông Sơn La có diện tích lớn thứ 3 Việt Nam, với 14.125km² (chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước)

Về địa giới, Sơn La tiếp giáp các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu về phía bắc; phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình; phía tây giáp với tỉnh Điện Biên; phía nam giáp với tỉnh Thanh Hóa Ngoài ra, phía tây và tây nam của tỉnh giáp với các tỉnh Huaphanh và Luangprabang của nước bạn Lào với tổng chiều dài đường biên là 250km Về đơn vị hành chính, Sơn La có tất cả 12 đơn vị hành chính, bao gồm: 1 thành phố (thành phố Sơn La) và 11 huyện (Bắc Yên, Mai Sơn, Mộc Châu, Mường

La, Phù Yên, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Sốp Cộp, Thuận Châu, Vân Hồ, Yên Châu)

- Điều kiện tự nhiên

+ Về địa hình, Sơn La có đặc điểm địa hình tương đối phức tạp, với 3/5 diện

tích đất tự nhiên là đồi núi, độ cao trung bình từ 600m đến 1.000m (so với mực nước biển), độ cao chênh lệch và độ dốc giữa các vùng rất lớn (trên 80% diện tích đất tự nhiên có độ dốc trên 250

trở lên), cộng với độ chia cắt mạnh đã tạo ra các dãy núi với độ cao lớn

Trên địa bàn tỉnh Sơn La có 2 con sông lớn chảy qua là sông Đà và sông Mã Nếu sông Mã bắt nguồn từ vùng núi PhoueiLong (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) chảy qua địa phận tỉnh Sơn La có độ dài 93km thì sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua tỉnh Sơn La có chiều dài lên đến 239km Bên

Trang 31

cạnh 2 con sông kể trên, trên địa bàn tỉnh còn có một mạng lưới sông suối nhỏ dày đặc cùng một số hồ tự nhiên lớn được kiến tạo nên từ các thung lũng khi được bao bọc bởi các dãy núi cao bao quanh Và đây cũng là điều kiện rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa với dung tích lớn phục vụ công tác thủy lợi và tiềm năng rất lớn để phát triển thủy điện, nhất là thủy điện vừa và nhỏ

+ Về khí hậu, Sơn La nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm

mưa nhiều), thời tiết ở đây có sự phân chia 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô: trong khi mùa mưa thường kéo dài trong khoảng 4 tháng: từ tháng 6 đến tháng 9 thì mùa khô kéo dài hết khoảng thời gian còn lại trong năm (từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau) Cũng phải nói thêm rằng, mùa mưa ở đây tuy ngắn ngủi nhưng lại cung cấp đến hơn 90% lượng nước mưa cả năm, với lượng mưa trung bình hằng năm lên đến 1.200mm - 1.600mm, cộng với sự phân bố không đều về lượng giữa các khu vực trong tỉnh nên mùa mưa ở đây thường kéo theo những hiện tượng tự nhiên tiêu cực như: lũ lụt, mưa đá và sạt lở đất… ảnh hưởng đến cuộc sống và sản xuất của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế

Về tổng thể, bức tranh kinh tế tỉnh Sơn La trong những năm gần đây, nhất là giai đoạn (2010-2015) mang nhiều gam màu sáng, tổng giá trị sản lượng hằng năm tăng lên, năm sau luôn cao hơn năm trước; một số ngành có mức tăng trưởng khá và

ổn định như: Nông nghiệp, Thủy điện, Thương mại, Giao thông vận tải Tuy nhiên, nếu xem xét trên khía cạnh cơ cấu kinh tế và mức đóng góp của các ngành đối với mức sản lượng chung của toàn bộ nền kinh tế Sơn La có thể nhận ra những điểm hạn chế và bất hợp lý vốn đã tồn tại từ lâu nay Trước hết, đó là về cơ cấu ngành, khi Nông nghiệp vẫn là ngành mang lại giá trị lớn nhất, mặc dù chịu nhiều bất lợi

về điều kiện tự nhiên, song do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, sản xuất chủ yếu vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp là chính, do đó Nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo cũng là điều dễ hiểu Ngược lại, Công nghiệp, Du lịch, Thủy điện

Trang 32

với rất nhiều thế mạnh so với các địa phương khác trong vùng, nhưng dường như chưa có sự phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Và để hiểu rõ hơn về những bất cập này, sau đây xin đi sâu vào xem xét một số lĩnh vực cụ thể:

a Sản xuất Nông - Lâm nghiệp

- Nông nghiệp, là lĩnh vực giữ vai trò chủ đạo, đóng góp lớn về giá trị sản

lượng chung cho toàn bộ nền kinh tế với mức bình quân gần 30% trong giai đoạn

2010 - 2015 (xem thêm Bảng 2.1) Xét về giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh Sơn

La có thể thấy, tổng giá trị sản lượng của cả ba ngành Trồng trọt, Chăn nuôi và Dịch

vụ nông nghiệp tăng đều qua các năm, nhưng với mức tăng có xu hướng chậm dần Nếu xét trong từng lĩnh vực cụ thể thì những đóng góp về tổng sản lượng của toàn ngành Nông nghiệp Sơn La chủ yếu đến từ lĩnh vực Trồng trọt và Chăn nuôi, ngành Dịch vụ nông nghiệp tuy cũng có đóng góp vào sự tăng trưởng chung của toàn ngành, nhưng xét về mặt giá trị thì rõ ràng mức tăng trên là không đáng kể và cũng không vững chắc (điển hình như năm 2012 giá trị chỉ đạt 94% so với năm 2011

trước đó) (xem Bảng 2.2)

Trong cơ cấu giá trị sản xuất Nông nghiệp của Sơn La, Trồng trọt là ngành chiếm tỷ trọng cao, với nhiều loại cây trồng phong phú và đa dạng, tuy nhiên cây lương thực vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu diện tích với khoảng trên dưới 70% diện tích gieo trồng toàn tỉnh, với các loại cây trồng phổ biến như: lúa, ngô, khoai, sắn… Tuy nhiên, do điều kiện tư nhiên không thuận lợi nên năng suất cây trồng ở đây tương đối thấp so với mặt bằng chung của cả nước, cụ thể: năng suất lúa trung bình giai đoạn 2010 - 2014 khoảng: 32 - 33,7 tạ/ha (cả nước là 53,4 đến 57,5 tạ/ha);

năng suất ngô năm 2014: 40,47 tạ/ha (cả nước là 44,1 tạ/ha)…(xem Bảng 2.4, 2.5)

Bên cạnh đó, một số cây công nghiệp là thế mạnh và đặc sản riêng có của tỉnh như: chè, mía đường và một số loại cây có múi như cam, quýt… Song do diện tích không lớn nên sản lượng và giá trị mang lại chưa cao như: diện tích chè năm

2014 là 4.003ha, cho mức sản lượng: 33.138 tấn; diện tích mía đường năm 2014 là 5.213ha, cho mức sản lượng 350.504 tấn; diện tích xoài năm 2014 là 3.440ha, cho

Trang 33

mức sản lượng 10.950 tấn; diện tích mận hậu năm 2014 là 2.784ha, cho mức sản lượng 24.036 tấn Ngoài ra, một số loại cây công nghiệp mới như: cà phê, cao su… được trồng thử nghiệm hoặc đang được nhân rộng tại một số khu vực như: Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu, thành phố Sơn La với diện tích ngày càng được mở rộng (diện tích trồng cà phê của toàn tỉnh năm 2015 là 11.706ha; cao su: 6.459ha)…[7, tr 28, 32, 36], bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần tích cực vào công cuộc XĐGN

Ngược lại, lĩnh vực Chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc, mặc dù chiếm tỷ trọng thấp hơn so với Trồng trọt (chỉ chiếm 20% giá trị sản lượng toàn ngành), tuy nhiên đây cũng có thể được coi là một trong những lợi thế so sánh của tỉnh so với các địa phương khác trong cả nước với mức tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước, cá biệt trong năm 2011 tăng trưởng trên 148% so với năm trước

đó (xem Bảng 2.2) Điều này được lý giải bởi một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, do

tập quán của đồng bào các dân tộc nơi đây, việc nuôi trâu bò để tận dụng sức kéo phục vụ nông nghiệp và để giết thịt, đặc biệt đối với đồng bào người Thái (dân tộc chiếm trên 54% dân số toàn tỉnh) thì trâu còn là vật hiến tế trong các nghi thức tôn giáo - tín ngưỡng nên số lượng trâu bò được nuôi ở đây rất lớn, tính đến năm 2014 tổng đàn trâu toàn tỉnh khoảng 153.000 con; bò là 214.000 con, và số lượng đàn trâu bò cũng không ngừng tăng lên trong các năm tiếp theo Tuy nhiên, bài toán đặt

ra là việc chăn nuôi hiện nay vẫn chủ yếu mang tính chất nhỏ lẻ trong dân là chính;

Thứ hai, nhờ áp dụng các tiến bộ trong việc cải tạo và nâng cao chất lượng giống,

bước đầu đã có sự thay đổi trong tập quán chăn nuôi của đồng bào theo hướng sản

xuất hàng hóa; Thứ ba, với chủ trương phát triển đàn bò sữa của tỉnh nhằm tận dụng

lợi thế của các khu vực cao nguyên như Mộc Châu và Nà Sản, kết quả là tổng đàn

bò sữa của Sơn La năm 2014 là 16.460 nghìn con (trong đó riêng Mộc Châu là 15.130 nghìn con) Nếu tận dụng tốt các yếu tố kể trên, chắc chắn tổng đàn gia súc của tỉnh sẽ ngày một tăng nhanh cả về lượng lẫn giá trị, qua đó góp phần không nhỏ vào công cuộc XĐGN cho đồng bào các DTTS tại địa phương Ngoài ra, một số

Trang 34

nhỏ lẻ như: ngựa, dê và các loại gia cầm và một số loài thủy sản như tôm, cá… song chủ yếu để phục vụ nhu cầu tại chỗ nên sản lượng không đáng kể

Và sẽ là một thiếu sót nếu bỏ qua lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng đối với

sự phát triển của ngành Nông nghiệp nói chung, đó chính là lĩnh vực Dịch vụ trong nông nghiệp Bởi chỉ khi lĩnh vực Dịch vụ phát triển mới có thể cung cấp đủ các yếu

tố đầu vào cần thiết để PTSX như: giống, phân, và khi sản xuất ra hàng hóa thì một lần nữa Dịch vụ tiếp tục đóng vai trò quan trọng là tìm đầu ra cho sản phẩm… Chính

vì vậy có thể nói: nếu coi Trồng trọt và Chăn nuôi là cơ thể thì Dịch vụ trong nông nghiệp chính là nguồn máu nuôi sống cơ thể ấy Tuy nhiên, nếu nhìn vào giá trị sản xuất nông nghiệp có thể thấy mức đóng góp của lĩnh vực này trong sản lượng chung của toàn ngành nông nghiệp ở đây là rất khiêm tốn (chưa đến 1%) và gần như ít có sự tăng trưởng Điều đó một lần nữa giải thích vì sao Nông nghiệp Sơn La tuy có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Sơn La, song chủ yếu vẫn

mang tính nhỏ lẻ với phương thức tự sản tự tiêu là chính (xem Bảng 2.2)

Nhìn chung, với những đặc điểm chung về KT-XH ở Sơn La, có thể khẳng định: thời gian qua, cũng như trong giai đoạn 10 đến 15 năm tới, Nông nghiệp cũng vẫn sẽ là ngành kinh tế giữ vai trò then chốt trong cuộc chiến chống đói nghèo ở Sơn La

Trang 35

trong thời gian qua, do tăng cường công tác bảo vệ kết hợp trồng rừng, việc khai thác rừng ở Sơn La từng bước đi vào kế hoạch, chặt chẽ hơn, việc trồng rừng kết hợp với khai thác lâm sản theo hướng đa canh và sản xuất hàng hóa và chú trọng các hoạt động dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp khác nên giá trị sản xuất lâm nghiệp ở Sơn La ngày một tăng và mang tính bền vững hơn Chính vì vậy, giai đoạn

từ năm 2010 đến 2015, giá trị sản xuất lâm nghiệp đóng góp trung bình khoảng hơn

900 tỷ đồng/năm vào giá trị sản lượng toàn ngành kinh tế Sơn La Trong đó tập

trung cao vào một số huyện như: Mai Sơn, Phù Yên, Mường La (xem Bảng 2.7)

b Sản xuất Công nghiệp

Thực tế cho thấy, sản xuất công nghiệp ở Sơn La hiện nay tập trung vào 3 mảng lớn là: công nghiệp chế biến nông - lâm sản; công nghiệp sản xuất và phân phối điện - nước; Công nghiệp khai khoáng Giá trị sản xuất công nghiệp có sự gia tăng đều đặn qua các năm (giai đoạn 2010 - 2014, mức tăng bình quân là

124%/năm, cá biệt trong năm 2014 giá trị sản lượng tăng gần 127%) (xem thêm Bảng 2.10) Trong cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Sơn La, loại hình kinh tế Nhà

nước (chủ yếu do Trung ương quản lý) vẫn đóng vai trò chủ đạo khi đóng góp bình quân trên 55% tổng giá trị sản lượng (giai đoạn 2010 - 2014) Tuy nhiên xu hướng này có chiều hướng giảm mạnh, đặc biệt trong năm 2014 loại hình kinh tế này chỉ còn đóng góp trên 40% giá trị sản lượng toàn ngành Ngược lại, loại hình kinh tế Đầu tư nước ngoài có sự gia tăng đột biến trong năm 2014 khi có mức tăng trên

20% (so với mức chưa đến 1% trong các năm trước đó) (xem Bảng 2.10) Trong khi

loại hình kinh tế Ngoài nhà nước với động lực từ khu vực kinh tế tư nhân và cá thể luôn duy trì đước mức tăng trưởng ổn định thì khu vực kinh tế tập thể vốn đã không

có nhiều đóng góp lại ngày càng có xu hướng giảm dần - thực tế này là phù hợp nếu đặt nó trong mối liên quan tới sự thoái trào của mô hình tổ chức sản xuất theo kiểu hợp tác xã vốn tồn tại phổ biến trong các giai đoạn trước đây?

Điều kiện từ nhiên ở Sơn La đã tạo cho tỉnh này những nguồn lợi về tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng và khá phong phú như: các mỏ vàng, mỏ đá

Trang 36

quý, đồng, Nickel, cùng với than đá, đá granit và đặc biệt là tiềm năng rất lớn về thủy điện Từ trước đến nay, việc khai thác các khu mỏ này mặc dù đã được tiến hành, tuy nhiên do những mỏ này phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán, cộng với điều kiện khai thác khó khăn và việc khai thác chủ yếu mang tính tự phát nên không mang lại hiệu quả kinh tế và gây ra những tác động xấu đến cảnh quan môi trường, thất thoát nguồn tài nguyên thiên nhiên cho đất nước, cũng như mất an ninh trật tự tại địa phương

c Thương mại và Du lịch

Nhìn vào chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hóa giai đoạn 2011 - 2014 của tỉnh Sơn La có thể thấy rõ ràng có sự gia tăng liên tục về giá trị, với mức tăng trung bình 118% năm (cao hơn mức tăng trung bình 115,7% năm của cả nước) và mức tăng này cũng có phần chậm lại theo đúng xu hướng chung của toàn ngành Thương mại

(xem Bảng 2.1) Tuy nhiên nếu xét về mặt giá trị, những đóng góp trong lĩnh vực

Thương mại của tỉnh Sơn La cho toàn Ngành thương mại nói chung thật sự rất khiêm tốn, chỉ khoảng 0,43% (12.734/2.945.200 tỷ đồng)[28]

Cũng tương tự như vậy, đối với lĩnh vực Du lịch của tỉnh giai đoạn 2010 -

2014, mặc dù cũng có sự gia tăng mạnh về giá trị, trung bình 120% năm Tuy nhiên nếu xét về mặt cơ cấu sản lượng thì rõ ràng sự gia tăng này chưa tương xứng với tiềm năng phát triển và lợi thế sẵn có của khu vực này khi chỉ chiếm chưa đến 0,3%

tổng giá trị sản lượng các ngành (xem Bảng 2.1)

d Giao thông Vận tải

- Hệ thống CSHT giao thông vận tải

Tính đến 31/10/2015, hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Sơn

La có tổng chiều dài là 9.900km, bao gồm quốc lộ 651km; đường tỉnh lộ 912km; đường cấp huyện 1.996km; đường cấp xã 5.916km; 143km đường đô thị và 282km đường chuyên dùng, ngoài ra còn có 11.487km trục thôn, ngõ xóm, bản tiểu khu, tổ dân phô và đường trục chính nội đồng Nhìn chung chất lượng khai thác các tuyến đường còn thấp, phần lớn là đường đất và chỉ khai thác được vào mùa khô; mật độ

Trang 37

đường ô tô đạt 0,68%; 100% số xã trên địa bàn tỉnh có đường ô tô đến trung tâm; đến cuối năm 2015 có 165/204 xã, phường, thị trấn có đường ô tô đi được 4 mùa (đạt 80,88%), còn 39 xã có đường ô tô chưa đi được 4 mùa; tỷ lệ đường được cứng hóa, trong đó: quốc lộ, đường tỉnh lộ đạt: 86,5%, đường giao thông nông thôn đạt 22% Có 3 xã đạt chuẩn NTM, còn 185/204 xã, phường, thị trấn chưa đạt tiêu chí về giao thông theo Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM; trong năm 2015 toàn tỉnh đã thêm được 5 bản - 55,3km có đường ô tô, xe máy đến bản, nhưng vẫn còn 4 bản chưa có đường ô tô xe máy đến bản (bao gồm: Bắc Yên: 3 bản - 41,3km; Phù Yên: 1 bản - 14km) Các tuyến Quốc lộ và tỉnh lộ cơ bản đạt tiêu chuẩn đường cấp V đến cấp III

miền núi, mặt đường láng nhựa hoặc bê tông nhựa (riêng các đoạn qua thị trấn, thành phố mở rộng theo qui hoạch đô thị hoặc được nâng lên một cấp); các tuyến

đường cấp huyện, xã chủ yếu là đường giao thông nông thôn loại A hoặc B, một số tuyến đạt cấp V miền núi, tỷ lệ mặt đường được cứng hóa đạt thấp (33,85%), tỷ lệ đường được cứng hóa, trong đó: Quốc lộ và tỉnh lộ đạt 86,5%, đường giao thông nông thôn đạt 22% chủ yếu là đường đất và chỉ khai thác được vào mùa khô, công trình thoát nước chưa được đầu tư hoàn chỉnh, phần lớn xây dựng tại những vị trí xung yếu [7, tr 271-272]

2.1.2.2 Tình hình chính trị - xã hội

a Dân số và sự phân bố dân cư

Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, với số dân gần

1,12 triệu người, phân bố trên một diện tích rộng lớn đến hơn 14.000km2, có thể

(so với mức 265 người/km2 của cả nước) (xem Bảng 2.17) Còn xét trong cả giai đoạn

từ năm 1996 đến 2014 , dân số Sơn La có sự gia tăng tương đối nhanh về quy mô - trên 137% sau 18 năm (so với mức trung bình của cả nước là 122,6%) Bên cạnh

đó, cơ cấu dân số giữa Thành thị và Nông thôn luôn giữ ở mức ổn định trong thời gian qua, tỷ lệ bình quân là 13,87: 86,13 giai đoạn 2011 - 2014 Dân số chủ yếu vẫn tập trung ở khu vực Nông thôn (chiếm hơn 86% tổng số dân) và tăng ổn định ở mức

Trang 38

1,65%/năm Ngược lại, dân số khu vực Thành thị có mức tăng đột biến trong năm

2011 (với mức tăng 3,26%/năm), tuy nhiên có sự sụt giảm nhẹ vào năm 2012 sau đó

tiếp tục xu hướng tăng nhẹ vào các năm tiếp theo (xem Bảng 2.13-2.15)

Về mật độ dân số, Sơn La có diện tích đất tự nhiên lớn song do địa hình hiểm

trở (3/5 là đồi núi) nên sau nhiều thập kỷ, mặc dù phải chịu những tác động lớn từ các cuộc di dân từ miền xuôi lên, di dân tái định cư thủy điện Sơn La (2004-2014)

và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, nhưng nhìn chung, mật độ dân số tỉnh Sơn La vẫn ở mức thấp nhất cả nước, với mức 83 người/km2 năm 2014(so với mức bình quân của cả nước là 271 người/km2), cá biệt

ở một số khu vực vùng cao và biên giới như ở huyện Sốp Cộp mật độ dân số chỉ dưới 30 người/km2

(năm 2014) (xem Bảng 2.17)

b Một số vấn đề về dân tộc - tôn giáo

Ở Sơn La có sự đa dạng lớn về thành phần tộc người, với sự có mặt của trên

12 nhóm dân tộc, (trong đó 10 nhóm có dân số trên 3.000 người) Bên cạnh đó, Sơn

La cũng là một trong số ít những địa phương có dân số chủ yếu là đồng bào DTTS (trong đó người Thái luôn chiếm tỷ lệ cao nhất - trên 60% dân số toàn tỉnh), sau đó là người Kinh, Mông, Mường, Xinh Mun, Khơ Mú Tuy nhiên cùng với sự gia tăng dân số cả về cơ học và tự nhiên của nhóm người Kinh, xu hướng này ngày càng giảm dần (đến năm 2015, người Thái chỉ còn chiếm 54% tổng dân số toàn tỉnh), và nếu đi sâu vào từng địa phương cụ thể thì thấy có sự thay đổi nhất định về thứ tự xếp hạng

dân số theo dân tộc Theo Địa chí Sơn La thì giai đoạn 1960 - 1980, nhất là thời điểm

1979, Sơn La đã tiếp nhận một lượng lớn người Kinh (có nguồn gốc từ các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hà Tây (cũ)) từ dưới xuôi lên khai hoang, xây dựng kinh tế mới, đã thành lập hàng trăm thôn bản, hợp tác xã riêng hoặc sống xen cư với đồng bào địa phương ở hầu hết các huyện trong tỉnh Đặc biệt là ở những địa bản tiếp nhận các đợt

di dân tập trung, khu vực nông, lâm trường trọng điểm như: Mai Sơn, Mộc Châu (gồm cả đất Vân Hồ hiện nay); Thuận Châu, Sông Mã (gồm cả đất Sốp Cộp hiện nay) những nơi có điều kiện tương đối thuận lợi để PTSX

Trang 39

Phân tích các hoạt động kinh tế của các nhóm dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh Sơn La có thể thấy rằng: do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, tập quán sản xuất truyền thống chi phối, cùng với đó là sự phân tán trong phân bố dân cư giữa các cộng đồng dân tộc mà mỗi nhóm dân tộc khác nhau lại có phương thức sản xuất khác nhau, ví dụ: trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, chúng ta

có thể nhận thấy sự phân hóa tương đối rõ nét: với đồng bào các dân tộc cư trú ở những khu vực núi cao như: Mông, Dao, Khơ Mú - nơi điều kiện sản xuất và giao thông không thuận lợi thì phương thức canh tác chính trong nông nghiệp của đồng bào là làm nương rẫy và chăn nuôi gia súc theo hướng nhỏ lẻ; sản xuất thủ công nghiệp tương đối phát triển nhưng chủ yếu hướng tới các sản phẩm thiết yếu phục

vụ nhu cầu hằng ngày, một số ít phục vụ việc trao đổi Ngược lại, đối với những dân tộc cư trú ở những khu vực thấp hơn như: Thái, Kinh, Mường - nơi có điều kiện sản xuất và giao thông tương đối thuận tiện thì đồng bào thường canh tác ruộng nước và chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa tập trung, các sản phẩn thủ công nghiệp thường tập trung vào những mặt hàng mang lại giá trị cao Song nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh Sơn La chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tự nhiên và mang tính tự túc, tự cấp là chính (trừ bộ phận người Kinh từ dưới xuôi lên làm ăn và lập nghiệp tại đây), hoạt động buôn bán

và trao đổi hàng hóa trong cộng đồng các dân tộc ở đây vì thế cũng rất kém phát triển và nông nghiệp vẫn là hướng sản xuất chính và là ngành giữ vai trò chủ đạo

(xem Bảng 2.18)

Hầu hết đồng bào các dân tộc ở Sơn La (chiếm trên 99,5%) không theo tôn giáo nào, một bộ phận nhỏ theo đạo thì chủ yếu tập trung vào 4 tôn giáo chính là: Tin Lành, Công giáo, Phật giáo và Hồi giáo Đặc biệt, trong số đồng bào theo đạo trên, chúng ta không thấy sự xuất hiện của cộng đồng người Thái vốn chiếm số lượng đông đảo nhất ở Sơn La, số đồng bào theo đạo cũng chỉ tập trung ở một số nhóm người nhất định như nhóm người Kinh chủ yếu theo Công giáo và Phật giáo

là chính, trong khi Tin Lành, Công giáo và một số lượng rất ít Hồi giáo lại chủ yếu

thuộc nhóm người Mông (xem Bảng 2.19)

Trang 40

Mặc dù số lượng người theo đạo chỉ chiếm một phần rất nhỏ, song vấn đề tôn giáo trong các dân tộc ở Sơn La những năm qua lại tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ

bất ổn, điều này bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, xuất phát từ vấn

đề nội tại, do đời sống của nhân dân nhất là đồng bào các DTTS còn rất nhiều khó khăn, cá biệt vẫn còn có những dân tộc mà tỷ lệ nghèo đói chiếm trên 40% như: Mông, Kháng , trong khi khoảng cách về điều kiện sống và tỷ lệ hộ nghèo giữa các

dân tộc ngày càng lớn; Thứ hai, diện tích đất ở, đất sản xuất và phục vụ cộng đồng

ở các vùng DTTS ngày càng thu hẹp; xuất hiện một bộ phận không nhỏ đồng bào thiếu đất đai cho sản xuất dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân Cùng với đó, việc quản lý nhà nước về đất đai và an ninh trật tự ở các vùng trên địa bàn tỉnh có lúc, có nơi còn hạn chế, bất cập và bộc lộ nhiều yếu kém, dẫn đến mất

lòng tin của nhân dân với chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; Thứ ba, do trình

độ nhận thức của một bộ phận đồng bào, nhất là đồng bào các DTTS còn hạn chế, đây là điều kiện để các hiện tượng tôn giáo phát triển, ngoài đạo Tin lành ở dân tộc Mông thì hoạt động của các tôn giáo mới, đạo lạ vẫn tái diễn càng làm phức tạp thêm tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn

Xuất phát từ những nguyên nhân kể trên, vấn đề dân tộc, tôn giáo ở khu vực Tây Bắc nói chung, ở Sơn La nói riêng từ lâu nay luôn được các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách lợi dụng để can thiệp và gây sức ép nhằm chống phá, gây mất ổn định ở vùng cao biên giới với chiêu bài bảo vệ nhân quyền, quyền của các DTTS; kèm với đó chúng còn tuyên truyền về xây dựng nhà nước Mông tự trị với mục đích lôi kéo một số người nhẹ dạ cả tin đi theo; tuyên truyền theo đạo trái phép để chống lại chính sách dân tộc của Đảng

c Đời sống dân cư

Những năm qua đời sống dân cư trong tỉnh ổn định và từng bước được nâng lên, số hộ nghèo giảm, tình trạng đói giáp hạt hàng năm vẫn xảy ra nhưng ở diện hẹp cả về phạm vi và thời gian Theo kết quả điều tra khảo sát mức sống dân cư và

số liệu hộ nghèo của Tổng cục Thống kê hàng năm đến cấp tỉnh cho các tỉnh, thành

Ngày đăng: 26/06/2018, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w