MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hoạt động giáo dục và đào tạo, Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho việc duy trì các chuẩn mực và hướng tới mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời, đó cũng là sự thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới quản lý giáo dục hiện nay: Phải thay đổi căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục của quốc gia theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục đại học đang ngày ngày càng phát triển, trở thành một trong những từ khóa vô cùng nóng bỏng, nhận được sự quan tâm đặc biệt từ xã hội. Những năm gần đây, số lượng các trường đại học dân lập được thành lập rất nhiều, trong đó có trường đại học Thành Tây. Thành lập từ năm 2007, cho đến nay, ĐH Thành Tây đã hoạt động được hơn 10 năm, trung bình mỗi năm trường đào tạo khoảng 1000 sinh viên. Thực tế, rất nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm. Chất lượng đào tạo của nhiều trường, trong đó có Đại học Thành Tây vẫn còn nhiều hạn chế, rất nhiều sinh viên ra trường vẫn chưa bắt kịp và làm quen với kỹ thuật mới của các doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên làm được việc về kiến thức chuyên môn kém đa số vừa làm vừa học kinh nghiệm của các đồng nghiệp. Điều này đặt ra cho trường cần có sự nhìn nhận lại về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tương lai của đất nước, cũng theo đó, cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: " Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học Thành Tây " làm đề tài cho luận văn của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ PHƯỚC MINH
HÀ NỘI, 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1 1.1 Nguồn nhân lực 1 1.2 Chất lượng giáo dục đại học và quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường đại học 5 1.3 Quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học 11 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo đại học 22 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH TÂY THỜI GIAN QUA 33 2.1 Giới thiệu trường đại học Thành Tây 33 2.2 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học Thành Tây thời gian qua 37 2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học Thành Tây thời gian qua 56 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH TÂY THỜI GIAN TỚI 62 3.1 Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội thời gian tới 62 3.2 Định hướng đào tạo của trường đại học Thành Tây thời gian tới 64 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học Thành Tây thời gian tới 65 KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Sơ đồ quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường đại
học 17
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường đại học Thành Tây 34
Bảng 2.1 Các ngành đào tạo của trường đại học Thành Tây 40
Bảng 2.2 Chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo của trường đại học Thành Tây 43
Bảng 2.3 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo tại trường 51
Bảng 2.4 Cơ sở vật chất ký túc xá tại trường 53
Bảng 2.5 Tình hình máy móc, phương tiện đào tại trường 54
Bảng 2.7 Kết quả đào tạo sinh viên tại trường 55
Bảng 3.1 Dự báo nhu cầu nhân lực của xã hội đến 2020 62
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động giáo dục và đào tạo, Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho việc duy trì các chuẩn mực và hướng tới mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời, đó cũng là sự thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới quản lý giáo dục hiện nay: Phải thay đổi căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục của quốc gia theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục đại học đang ngày ngày càng phát triển, trở thành một trong những từ khóa vô cùng nóng bỏng, nhận được sự quan tâm đặc biệt từ xã hội Những năm gần đây, số lượng các trường đại học dân lập được thành lập rất nhiều, trong đó có trường đại học Thành Tây Thành lập từ năm 2007, cho đến nay, ĐH Thành Tây đã hoạt động được hơn
10 năm, trung bình mỗi năm trường đào tạo khoảng 1000 sinh viên Thực tế, rất nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm Chất lượng đào tạo của nhiều trường, trong đó có Đại học Thành Tây vẫn còn nhiều hạn chế, rất nhiều sinh viên ra trường vẫn chưa bắt kịp và làm quen với kỹ thuật mới của các doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên làm được việc về kiến thức chuyên môn kém
đa số vừa làm vừa học kinh nghiệm của các đồng nghiệp Điều này đặt ra cho trường cần có sự nhìn nhận lại về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tương lai của đất nước, cũng theo đó, cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: " Quản lý Nhà nước
đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học Thành Tây "
làm đề tài cho luận văn của mình
Trang 52
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
- Lê Ngọc Linh (2015), "Nâng cao công tác quản lý chất lượng đào tạo
tại trường Cao đẳng kinh tế Kỹ thuật – Thương mại" – Luận văn thạc sỹ trường đại học Vinh
Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý chất lượng đào tạo tại các trường Cao đẳng đại học đồng thời phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng đào tạo Cao đẳng kinh tế Kỹ thuật – Thương mại trong giai đoạn 2013-2015
- Nguyễn Thái Ngọc (2015), " Quản lý Nhà nước trong giáo dục đại học – từ góc nhìn kinh tế" – Tạp chí tài chính tháng 3 năm 2015
Bài viết tiếp cận quản lý Nhà nước trong giáo dục đại học dưới ngòi bút kinh tế, quan tâm nhiều đến các vấn đề đảm bảo các điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo để thu hút sinh viên, tăng doanh thu, lợi nhuận cho trường
- Ngô Bích Vân (2014), "Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước tại trường đại học Bách Khoa trong bối cảnh hội nhập" – Luận văn ngành quản
lý Nhà nước
Đề tài đã hệ thống hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục, đại học và phân tích thực trạng quản lý Nhà nước tại trường đại học Bách Khoa,
từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tại nhà trường
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu: Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao quản
lý đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học Thành Tây
*Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong đào tạo trong giáo dục đại học
- Đánh giá thực trạng quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường
Trang 63
đại học Thành Tây
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường đại học Thành Tây
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước (tiếp cận từ góc độ quản lý kinh tế) trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực (sinh viên) tại trường
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: trường đại học Thành Tây
- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015-2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Là những ghi chú do cá nhân tác giả ghi chép lại trong quá trình nghiên cứu tại trường đại học Thành Tây
+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp từ các đề tài nghiên cứu có liên quan, các báo cáo của trường trong hoạt động đào tạo
- Phương pháp phân tích: Để phân tích và đánh giá được thực trạng
quản lý chất lượng đào tạo tại trường, tác giả sử dụng các phương pháp như diễn giải - quy nạp, so sánh, phân tích tổng hợp, thống kê…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Luận văn tổng hợp và hệ thống lại được cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong các trường đại học, làm tăng thêm nguồn tài liệu tham khảo
Về thực tiễn: Luận văn phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đảm bảo
Trang 74
chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong phạm vi trường đại học Thành Tây, đưa ra được những hạn chế và những giải pháp khả thi, do vậy luận văn có tính thực tiễn cao, là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho BGH nhà trường trong công tác quản lý tại trường sau khi chuyển đổi sở hữu
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong các trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học Thành Tây thời gian qua
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học Thành Tây thời gian tới
Trang 8Theo nghĩa rộng , NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho toàn XH, bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường; là một yếu tố của sự phát triển KTXH, là khả năng LĐ của XH theo nghĩa hẹp, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng LĐ; là tổng hợp những con người cụ thể tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình LĐ (Trần Văn Tùng, 2015)
Theo nghĩa hẹp, NNL bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức Nó được coi là nguồn tài nguyên quý báu nhất của tổ chức Trong quá trình hoạt động của mình mọi tổ chức đều biết tận dụng một cách tối đa khai thác tiềm năng thể lực của con người, trong đó việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực của con người còn rất mới mẻ và trong giai đoạn đầu (Trần Văn Tùng, 2005)
NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng
LĐ, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm
Trang 92
đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai.( Phạm Minh Hạc, 2012)
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, xem xét NNL dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét NNL dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của NNL thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó, phải chuyển NNL sang trạng thái động, thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn Vì vậy, NNL được hiểu là “tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người(thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người
Như vậy, LLLĐ và NNL là hai thuật ngữ có chung những đặc điểm và đều chỉ về nguồn lực con người trong XH Chỉ có những điểm khác nhau khi các tác giả giới hạn nguồn lực con người đó trong một độ tuổi nhất định và trong phạm vi một vùng, một ngành hay một tổ chức mà thôi Nếu chỉ có như thế chúng ta có thể sử dụng lẫn cả hai thuật ngữ này Tuy nhiên theo cách hiểu của tác giả, cần phân biệt NNL của XH và NNL trong một tổ chức để có
Trang 103
một giới hạn và phạm vi chính xác khi sử dụng thuật ngữ khoa học này trong từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể (Trần Văn Tùng, 2015)
Từ các quan niệm trên, NNL được hiểu theo hai nghĩa:
+ NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho SXXH, cung cấp nguồn lực cho
sự phát triển Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường
+ NNL là khả năng LĐ của XH, là nguồn lực cho sự phát triển KTXH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi LĐ, có khả năng tham gia vào LĐ, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp của họ được huy động vào quá trình LĐ
1.1.2 Sự cần thiết phải đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là điều cần thiết, điều này xuất phát từ vai trò của nguồn nhân lực Bởi xét đến cùng yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu Ph Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng không đủ mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó Như vậy vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát
triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội
- Con người là động lực của sự phát triển
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí địa lý…là những khách thể, chịu sự khai thác cải tạo của của con người Các nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác dụng phải có sự kết hợp với nguồn lực con người ,thông qua hoạt động có ý thức của con người Con người với tất cả những năng lực, phẩm chất tích cực
Trang 114
của mình, bao gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động, sáng tạo…tác động vào các nguồn lực khác và gắn kết chúng lai để tạo ra hoạt động lao động phục vụ cho nhu cầu của xã hội Chính con người là nhân tố làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí
và lao động trí tuệ Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học và công nghệ đã trở thành bộ phận trực tiếp của lượng sản xuất thì con người lai là nhân tố tạo ra các tư liệu lao động hiện đại, sử dụng, khai thác đưa chúng vào hoạt động lao động nếu không những nguồn lực khác đó chỉ là những vật chất
vô tri vô giác Như vậy để xã hội thực sự phát triển thì động lực lớn nhất, quan trọng nhất đó chính là năng lực của con người Chính vì vậy cần phải sử dụng và khai thác hợp lý sao cho nguồn nhân lực thực sự là động lực to lớn, hữu ích cho sự phát triển (Nguyễn Văn Tài, 2010)
- Con người là mục tiêu của sự phát triển
Con người luôn hướng tới sự Chân-Thiện-Mỹ, chính vì vậy bất kể một hoạt động nào của con người đều có mục đích cụ thể, rõ ràng Mọi hoạt động sản xuất hàng hoá đang diễn ra cũng nhằm mục đích cuối cùng là thoã mãn tối
ưu lợi ích của người tiêu dùng, làm cho cuộc sống của con người không những đầy đủ về vật chất mà còn thỏa mãn cả về tinh thần Như vậy nhu cầu tiêu dùng tức là lượng tiêu dùng của cải vật chất, tinh thần của con người có tác động quyết định tới việc cung hàng hoá trên thị trường Việc sản xuất cung ứng nhiều hay ít hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu của con người, mà theo thời gian nhu cầu của con người lại vô cùng phong phú, đa dạng nên đặt
ra yêu cầu hàng hoá sản xuất phải phong phú về số lượng cũng như chủng loại Do vậy phát triển kinh tế xã hội suy cho cùng là vì con người (Nguyễn Văn Tài, 2010)
- Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội
Trang 12xã hội thì bản thân con người cũng phát triển theo chiều hướng tích cực
Như vậy có thể nói nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan trọng quyết định tới sự phát triển của kinh tế xã hội Đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững nhất
Chính vì vậy, để có thể có được một nguồn nhân lực có chất lượng,
ngay từ đầu vai trò của giáo dục hết sức quan trọng và cần thiết phải đảm bảo chất lượng đào tạo sinh viên – nguồn nhân lực trong tương lai Đó là sự thay đổi rất lớn, căn bản, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang việc đào tạo những con người có phẩm chất, năng lực, tiếp cận với yêu cầu hiện hữu là nguồn nhân lực có chất lượng không chỉ phục vụ trong đổi mới trong nước
mà còn cạnh tranh với nguồn nhân lực chất lượng cao các nước khác
1.2 Chất lượng giáo dục đại học và quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường đại học
1.2.1 Khái niệm đào tạo đại học
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỳ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm giữ những tri thức, kỳ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định
Khái niệm về đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trĩnh độ nhất định
Trang 13Đào tạo đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt
Mục tiêu của đào tạo đại học là:
- Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế;
- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân
1.2.2 Khái niệm chất lượng đào tạo đại học
*Chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của minh Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở tham gia hoạt động nào
Trang 147
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa ra trong ISO 8402:1984:
“chất lượng là một tập hợp các tính chất đặc trưng của một thực thể, tạo cho
nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn” Đây
là định nghĩa có ưu điểm nhất, nó được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn; phản ánh được bản chất của sự vật và nội dung để so sánh sự vật này với sự vật khác
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, 2008)
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương tình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức ,2010)
Chất lượng đào tạo là chất lượng thực hiện các mục tiêu đào tạo (Lê Đức Phúc, 2008) Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo được xem là nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo đại học nói riêng
Sản phẩm của quá trình đào tạo là con người và các dịch vụ đào tạo (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân văn và năng lực vận hành nghề nghiệp Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan điểm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo với những điều kiện đảm bảo chất lượng như: Cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, mà còn phải tính đến mức độ phù họp và thích ứng của học sinh tốt nghiệp đối với yêu cầu công việc, yêu cầu của người sử dụng lao động và xã hội
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng: Chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người học Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ
Trang 158
thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc các yếu tố của thị trường như: Quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của Nhà nước, người sử dụng lao động Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động
*Chất lượng đào tạo trường đại học
Chất lượng đào tạo trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học trĩnh độ đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của ngành
Chất lượng đào tạo của trường đại học là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương xứng với mục tiêu chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể
Như vậy khi nói đến chất lượng đào tạo của trường đại học ta vừa nói đến chất lượng của người học đồng thời cũng phải tính đến chất lượng của hệ thống các sản phẩm trung gian cấu thành nên sản phẩm cuối cùng đó Ta vẫn khẳng định chất lượng của cơ sở vật chất, của trang thiết bị, của đội ngũ những người thầy, của phương pháp dạy học, chất lượng của mỗi bài học, mỗi hoạt động giáo dục đều tham gia cấu thành chất lượng đào tạo
Trong lĩnh vực đào tạo chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
“con người lao động" có thể là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo, với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp đối với cơ quan, các tổ chức sản xuất - dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp của bản thân họ trong tương lai
Trang 169
1.2.3 Các mô hình đảm bảo chất lượng đào tạo đại học
1.2.3.1 Mô hình kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý đã được sử dụng lâu đời nhất, được thực hiện ở khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất/đào tạo nhằm phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần của sản phẩm không đạt các chuẩn mực chất lượng (ví dụ không đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật) Đây là quá trình xảy ra sau khi sản phẩm đã được tạo ra, nên nếu phải loại bỏ sản phẩm sẽ dẫn đến lãng phí nguyên vật liệu, thời gian và công sức Trong khi kiểm soát chất lượng được xem như một khái niệm cũ của đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực sản xuất hay công nghiệp thì khái niệm này tương đối mới và ít được chấp nhận trong môi trường đại học Điều này xuất phát từ lý do, trong đào tạo đại học, khó có thể định nghĩa thế nào là chất lượng và đào tạo đại học bao giờ cũng là một quá trình hai chiều Hơn nữa, việc xác định rõ ràng chất lượng đào tạo đại học cũng gặp nhiều khó khăn vì chất lượng của quá trình giáo dục trong đại học được thể hiện qua sự đóng góp của các sinh viên sau tốt nghiệp
1.2.3.2 Đảm bảo chất lượng
Trong lĩnh vực sản xuất, bảo đảm chất lượng (Quality assurance) là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện nhằm phòng ngừa sự xuất hiện những sai sót bằng các quy trình và cơ chế nhất định, có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa người quản lý và người điều hành, giữa cấp trên và cấp dưới, phù hợp với quá trình quản lý phi tập trung, phần lớn trách nhiệm thuộc về người lao động (Nguyễn Viết Khuyến, 2011)
Trong đào tạo đại học, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng Điều quan trọng của một khung chương trình đảm bảo chất lượng đào tạo đại học là nhà nước và
Trang 1710
các cơ sở đào tạo đại học cần thiết lập một hệ thống phù hợp nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo
Đặc điểm chủ yếu của hệ thống này là tính tự chịu trách nhiệm của các
cơ sở đào tạo đại học trước cộng đồng về chất lượng đào tạo của mình Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ các sáng kiến nhằm củng cố hệ thống giáo dục đại học bằng cách tập trung vào kết quả đầu ra
Hoạt động đảm bảo chất lượng là sự phối hợp có trách nhiệm giữa cơ
sở giáo dục đại học với cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở giáo dục đại học Chất lượng chỉ có thể được duy trì và nâng cao nhờ các hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chất lượng trong nhà trường; là kết quả của sự tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cơ sở giáo dục đại học
1.2.3.3 Thanh tra chất lượng
Thanh tra chất lượng là việc của một nhóm người do các cơ quan hữu quan cử tới xem xét một cách kỹ lưỡng quá trình đảm bảo chất lượng và kiểm tra chất lượng tại một cơ sở đào tạo đại học có được thực hiện một cách hợp
lý và đúng kế hoạch hay không
Thanh tra chất lượng thường không quan tâm tới sứ mạng, mục tiêu của cơ sở đào tạo đại học hoặc những mục tiêu này đạt được như thế nào mà duy nhất chỉ quan tâm đến quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược tại một thời điểm nhất định
1.2.3.4 Kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng đào tạo đại học là thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất ở Hoa Kỳ Kiểm định có thể được áp dụng cho một cơ sở giáo dục đại học (có thể chỉ là một chương trình đào tạo đại học) dựa trên bộ tiêu chí xác định Kết quả của kiểm định chất lượng nhằm đảm bảo với cộng đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một cơ sở đào tạo đại học có những mục
Trang 1811
tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để đạt được những mục tiêu đó và có khả năng phát triển bền vững (Nguyễn Đức Chính, 2016)
Kiểm định chất lượng nhằm hai mục đích: i) đảm bảo với những đối tượng tham gia vào công tác giáo dục rằng một chương trình đào tạo hay một
cơ sở giáo dục đại học đã đạt hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất lượng; ii) hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học liên tục cải thiện chất lượng
1.2.3.5 Đánh giá chất lượng
Chất lượng đào tạo đại học như đã phân tích là một khái niệm động, đa chiều, gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người Vì vậy, không thể dùng một phép đo đơn giản để có thể đo lường chất lượng đào tạo đại học
Trong đào tạo đại học, người ta thường dùng một hệ thống thước đo gồm các tiêu chí và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các cơ sở giáo dục đại học Hệ thống thước đo này được dùng để đánh giá, đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá, đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một cơ
sở giáo dục đại học Các chỉ số đó có thể là chỉ số định lượng, đo lường, đánh giá bằng điểm số hoặc là chỉ số định tính, đánh giá thông qua các ý kiến nhận xét của người đánh giá (Nguyễn Đức Chính, 2016)
1.3 Quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học
1.3.1 Quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo
* Quản lý nhà nước
Quản lý là một khái niệm được xem xét dưới hai góc độ:
Theo góc độ chính trị xã hội: Quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lãnh đạo, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù
Trang 19Từ cơ sở lý luận trên, ta thấy Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung
và phù hợp với quy luật khách quan
Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước, là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (Lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền hành nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật
* Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của cộng đồng xã hội, của nhà nước và của các cơ sở đào tạo Chính vì vậy, trong định hướng quản lý của mình, nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học ở mỗi quốc gia có thể được thể hiện ở những phương diện, những mặt hoạt động khác nhau nhưng điểm mấu chốt trong vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục thể
Trang 2013
hiện ở vai trò chủ thể quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học Trong sự tương tác với xã hội, hệ thống giáo dục đại học, thị trường, và các chủ thể khác, nhà nước là chủ thể tạo cơ chế, chính sách bảo đảm sự phát triển hài hòa của giáo dục đại học, cân đối giữa số lượng và chất lượng Nhà nước nắm bắt tín hiệu của thị trường đặc biệt là thị trường lao động để thiết lập tầm nhìn, mục tiêu cho giáo dục đại học, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đại học để tránh sự lệch pha giữa giáo dục đại học và thị trường lao động Nhà nước tạo lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục đại học gắn với tín hiệu thị trường, thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo
Bên cạnh đó, việc thiết lập cơ chế quản lý, trao quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học nhằm thúc đẩy các cơ sở giáo dục có tiền vận động theo mục tiêu chất lượng nâng cao chất lượng Sự quản lý của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học bảo đảm sự phát triển lành mạnh của giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu giáo dục đại học của nhân dân đồng thời bảo đảm người dân không phải thụ hưởng dịch vụ đào tạo đại học chất lượng thấp, không được thị trường lao động chấp nhận
Sự can thiệp của nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học nhằm đảm bảo hệ thống giáo dục đại học đi đúng hướng, thực hiện đúng sứ mệnh, mục tiêu của mình đối với cộng đồng xã hội Sự can thiệp của nhà nước nhằm khắc phục xu hướng thương mại hóa giáo dục đại học, đào tạo chạy theo số đông
mà không quan tâm đến chất lượng, đào tạo với mục tiêu bằng cấp Sự can thiệp của nhà nước cũng nhằm bảo đảm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục đại học Sự can thiệp của nhà nước có thể được thực hiện thông qua quy hoạch mạng lưới trường đại học Sự điều chỉnh trong các nội quy hoạch về số lượng các cơ sở giáo dục đào tạo trên phạm vi quốc gia và từng vùng lãnh thổ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung của giáo
Trang 2114
dục đại học Những định hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển cho mỗi thời kỳ cũng đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực, từ đó,
có tác động đến hoạt động đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học
Mặt khác, bằng cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhà nước kịp thời
xử lý các vấn đề chưa hợp lý trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, chấn chỉnh các vi phạm của các cơ sở giáo dục đại học trong tổ chức đào tạo
để đảm bảo chất lượng đào tạo
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi
cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục (Luật giáo dục, 2010)
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước
Quản lý nhà nước về giáo dục vào đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước
Những yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo: + Chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là các cơ quan có thẩm quyền (Điều 100 Luật giáo dục)
+ Khách thể của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là hệ thống giáo dục quốc dân và quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo trong toàn xã hội
Trang 2215
Mục tiêu của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là đảm bảo trật
tự kỷ cương trong các hoạt động giáo dục và đào tạo, để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, phát triển nhân cách của công dân; ở mỗi cấp học, bậc học mục tiêu đó được cụ thể hóa trong Luật giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục, điều lệ các nhà trường
+ Công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước về giáo dục là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, do đó công tác thể chế tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
+ Phương pháp quản lý hành chính nhà nước về giáo dục và đào tạo: Quản lý nhà nước là việc thực thi 3 quyền: Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp
để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và hành vi của công dân Còn quản lý nhà nước về gáo dục và đào tạo thực chất là thực thi quyền hành pháp để tổ chức, điều hành và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội
1.3.2 Nội dung quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học
1.3.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường đại học
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đối với các trường đại học
- Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với các trường ĐH (Nghị định số 32/2007/NĐ-CP ngày 19/3/2008 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản
lý nhà nước đối với các trường ĐH theo quy định của Chính phủ
- Các Bộ có cơ sở giáo dục trực thuộc có trách nhiệm:
Trang 2316
Chỉ đạo, kiểm tra các trường ĐH trực thuộc Bộ trong việc bảo đảm các điều kiện về thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo, thực hiện quy chế tuyển sinh đào tạo, liên kết đào tạo; quản lý cấp phát văn bằng, chứng chỉ; thu, chi học phí, công khai chất lượng giáo dục, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; Công khai tài chính; xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật
Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hằng năm về tổ chức hoạt động và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về lĩnh vực giáo dục, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
Trang 2417
Hình 1.1 Sơ đồ quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường
đại học
- Ủy ban nhân dân các cấp:
Quản lý hành chính theo lãnh thổ các trường ĐH trực thuộc các Bộ đóng trên địa bàn;
Quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, chia, tách, sáp nhập, giải thể, chuyển đổi loại hình trường thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của tỉnh;
Trang 2518
Quyết định công nhận, không công nhận Hội đồng quản trị, chủ tịch Hội đồng quản trị, Hiệu trưởng trường đại học tư thục trên địa bàn theo tiêu chuẩn được quy định tại quy chế tổ chức và hoạt động của Trường đại học tư thục do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Quyết định công nhận hội đồng trường, trường đại học trực thuộc tỉnh
Chỉ đạo việc kiểm tra tuân thủ pháp luật về giáo dục trong việc đảm bảo các điều kiện về thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo, công khai chất lượng giáo dục, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục
- Trách nhiệm của Sở Giáo dục và đào tạo:
Kiểm định chất lượng, tổ chức bộ máy quản lý giáo dục
Huy động và quản lý các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục Thanh tra, kiểm tra nhằm thiết lập trật tự kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý giáo dục
1.3.2.2 Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học
Hoạt động quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đối với các trường đại học có thể khái quát trong 3 nội dung chính như sau:
Một là, Hoạch định chính sách cho giáo dục và đào tạo
Hệ thống văn bản pháp luật để quản lý các trường ĐH bao trùm các mặt
Trang 26Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển các trường ĐH; Xây dựng
và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ cho việc tổ chức và các hoạt động của các trường ĐH
Xác định chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý, thực hiện phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước đối với các trường ĐH NCL
Hai là, Tổ chức bộ máy quản lý đào tạo, kiểm định chất lượng đối với các trường ĐH:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục
và đào tạo ở địa phương;
Quản lý chuyên môn nghiệp vụ các trường ĐH theo sự phân cấp và quản lý nhà nước
Quản lý hoạt động tuyển sinh và đào tạo, bảo đảm quy chế chuyên môn thi cử, cấp phát văn bằng
Quản lý đội ngũ cán bộ giảng viên, cơ sở vật chất, tài chính theo các quy định chung
Điều hành các hoạt động của nhà trường theo điều lệ nhà trường đã được ban hành và giám sát sự tuân thủ của điều lệ đó
Tổ chức kiểm định đánh giá các trường ĐH theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo
Quản lý nguồn lực, bao gồm
Trang 2720
+ Quản lý nhà giáo , cán bộ QLGD như: Bố trí, sử dụng; Bồi dưỡng, đào tạo; Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ; Tạo môi trường làm việc và phát triển đội ngũ
+ Quản lý hoạt động dạy học: Công việc cụ thể gồm: Lập kế hoạch dạy học (TKB); Hướng dẫn những thay đổi chương trình; Tổ chức hoạt động dạy học; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình; Quản lý hoạt động dạy học của nhà giáo; Quản lý hoạt động học của sinh viên; Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học
+ Quản lý các hoạt động đào tạo gồm: Giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, môi trường, sức khoẻ, lao động, quốc phòng, quốc tế Nội dung công tác quản lý hoạt động giáo dục là: Xây dựng, phê duyệt kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động Huy động các nguồn lực, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Quản lý chất lượng: Chất lượng giáo dục (CLGD) là chất lượng đầu ra của quá trình giáo dục, là sự phù hợp trình độ phát triển của người được giáo dục với mục tiêu của quá trình giáo dục nói riêng và mục đích của xã hội nói chung Chất lượng giáo dục được phản ánh bởi 2 thành phần:
+ Kiến thức, kỹ năng, thái độ (từ 20 đến 40% CLGD)
Khi mở ngành đào tạo trình độ đại học phải có đội ngũ giảng viên cơ hữu đảm nhận dạy tối thiểu 70% khối lượng của chương trình đào tạo, trong
Trang 2821
đó có ít nhất 01 GV có trình độ TS và 03 GV có trình độ ThS đúng ngành đăng ký” (Khoản 1, Điều 2, TT số 08/2011/TT-BDGĐT)
Điều kiện về cơ sở vật chất: Có đủ Phòng học, cơ sở thí nghiệm, thực hành theo yêu cầu của ngành đào tạo; Thư viện có phòng tra cứu thông tin, có phần mền và các trang thiết bị phục vụ cho mượn, tra cứu tài liệu.; Có các công trình phục vụ hoạt động giải trí, thể thao, văn nghệ, các công trình y tế, dịch vụ Hoạt động thanh kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục đối với các trường ĐH đối với các lĩnh vực sau:
+ Thanh tra công tác chuẩn bị tuyển sinh: Thông báo tuyển sinh; Phương án tổ chức kỳ thi (ra đề thi, coi thi, chấm thi), các văn bản chỉ đạo kỳ thi; Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất cho tuyển sinh; Công tác chuẩn bị nhân
sự, bộ máy tuyển sinh; Công tác thu nhận hồ sơ tuyển sinh
+ Thanh tra thi: Thanh tra công tác coi thi; thực hiện quy chế thi (việc gọi thí sinh vào phòng thi, thực hiện quy định đối với cán bộ coi thi và thí sinh trong phòng thi, quy định về thu bài ); Thanh tra chấm thi, phúc khảo; Công tác chuẩn bị chấm thi (việc tổ chức làm phách, chuẩn bị địa điểm chấm thi, cán bộ chấm thi.); chấm thi (việc thảo luận đáp án, chấm tập thể, việc giao nhận bài thi, thực hiện quy định về chấm thi và xử lý kết quả chấm.); Công tác chấm lại (phúc khảo)
+ Thanh tra xét tuyển: Thanh tra việc thông báo xét tuyển: thu nhận hồ
sơ xét tuyển; tổ chức xét tuyển, công nhận trúng tuyển; Thanh tra việc triệu tập trúng tuyển; kiểm tra kết quả thi và hồ sơ trúng tuyển của thí sinh
+ Thanh tra việc thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh: Thanh tra việc tự xác định chỉ tiêu tuyển sinh; xác định số lượng giảng viên quy đổi; xác định diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo thuộc sở hữu của cơ sở đào tạo; xác định chỉ tiêu tuyển sinh theo hai tiêu chí (số sinh viên chính quy/01 giảng viên quy đổi và diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo thuộc sở hữu
Trang 29+ Thanh tra việc tổ chức thi học phần, đánh giá tốt nghiệp; ra đề thi; tổ chức coi thi, chấm thi; giao đề tài tốt nghiệp; hướng dẫn làm luận văn; đánh giá kết quả tốt nghiệp; Quản lý văn bằng, chứng chỉ
+ Thanh tra việc mở ngành đào tạo: Thẩm quyền mở ngành; Điều kiện
mở ngành bao gồm: Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất; chương trình đào tạo
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo đại học
1.4.1 Các nhân tố khách quan
- Phương thức, cách thức quản lý nhà nước về chất lượng đào tạo đại học
Phương thức, cách thức quản lý là nhân tố tác động đến hiệu quả quản
lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học trên nhiều phương diện Việc lựa chọn phương thức quản lý tác động đến tổ chức bộ máy, khung thể chế quản
lý nhà nước Nếu nhà nước quản lý bằng cách thức can thiệp sâu vào hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, với cách quản lý theo kiểu “cầm tay, chỉ việc” đối với các cơ sở đại học thì tổ chức bộ máy, khung thể chế sẽ có sự khác biệt khi nhà nước trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học Nếu nhà nước quản lý bằng việc can thiệp sâu vào các cơ sở giáo dục đại học bộ máy quản lý sẽ cồng kềnh và cũng khó khăn trong việc có thể bao quát toàn
bộ hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học Ngược lại, nhà nước trao quyền
tự chủ cho các cơ sở giáo dục, bộ máy quản lý nhà nước sẽ có những thay đổi,
có thể có quy mô nhỏ hơn, nhà nước có điều kiện tập trung sâu hơn vào các nhiệm vụ thuộc về chức năng bản chất của mình Điều này có thể đem đến
Trang 3023
những điều kiện thuận lợi cho nhà nước quản lý hiệu quả hơn đối với chất lượng giáo dục đại học
- Hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm
pháp luật về quản lý chất lượng đào tạo đại học
Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một mắt khâu của quá trình quản lý nhà nước Không có thanh tra, kiểm tra, giám sát đồng nghĩa quản lý nhà nước đã mất đi một công cụ quản lý quan trọng Thanh tra, kiểm tra, giám sát một mặt giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học phát hiện kịp thời những sai phạm trong vận hành của nền giáo dục đại học, mặt khác, đây cũng chính là kênh để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá hiệu quả chính sách, pháp luật, có được những thông tin xác thực để hoàn thiện khung thể chế, chính sách về giáo dục đại học Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật còn là công cụ tạo áp lực cho việc tuân thủ pháp luật, thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý chất lượng, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học
- Yêu cầu của phát triển nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi nguồn nhân lực của mỗi quốc gia cần phải được nâng tầm về chất lượng Năng lực cạnh tranh của quốc gia không thể dựa trên nguồn nhân lực số đông và giá rẻ Năng lực cạnh tranh quốc gia phải dựa trên năng suất lao động mà năng suất lao động được tạo dựng bởi nguồn nhân lực có chất lượng cao Trong nền kinh tế thế kỷ XXI, nguồn nhân lực chất lượng cao mới tạo nên lợi thế cạnh tranh, tạo nên sức bật cho mỗi quốc gia Chính vì vậy, quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học cần có cách tiếp cận từ yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực cho nền kinh tế thị trường, cho toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Sự gia tăng
về quy mô giáo dục đại học không thể bỏ quên mục tiêu về chất lượng giáo
Trang 3124
dục đại học Nhà nước cần phải tư duy lại mục tiêu của giáo dục đại học, bảo đảm nguồn nhân lực đại học có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế Đồng thời, trong quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, nhà nước cũng cần tăng cường tiếng nói, tăng cường sự tham gia của thị trường lao động, của cộng đồng xã hội, của cộng đồng đào tạo đại học để có thông tin nhu cầu thị trường lao động, kết nối giữa nhu cầu thị trường lao động với năng lực đào tạo của hệ thống giáo dục đại học
- Trách nhiệm xã hội của các cơ sở đào tạo đại học
Hoạt động quản lý nhà nước gắn liền với đối tượng quản lý là các cơ sở đào tạo đại học Quản lý là sự tương tác giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào hiệu quả tác động đến đối tượng quản lý Nhà nước thực hiện vai trò quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học, tuy nhiên, chất lượng giáo dục đại học gắn liền với mỗi cơ sở đào tạo đại học Việc các cơ sở giáo dục tuân thủ chặt chẽ các quy định của nhà nước
về cam kết chất lượng, cam kết các điều kiện bảo đảm chất lượng sẽ góp phần khẳng định hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học Ngược lại, khi các cơ sở đào tạo đại học thực hiện các quy định pháp luật của nhà nước mang tính hình thức, đối phó, thì hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học tất yếu sẽ bị tác động tiêu cực Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng đào tạo đại học, nhà nước phải thiết lập cơ chế để duy trì và nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm với người học, có trách nhiệm với xã hội, với nhà nước về chất lượng đào tạo cuối cùng
của mình
1.4.2 Các nhân tố chủ quan
- Các nguồn lực tài chính
Trang 32và thúc đẩy sự hĩnh thành và phát triển sức lao động có thể tham gia vào thị trường lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa
Quản lý chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nguồn lực tài chính Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng tới đảm bảo chất lượng đào tạo Nếu như không
có nguồn lực tài chính dồi dào thì chắc chắn không thể đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho quá trình đào tạo
Mặt khác muốn có đội ngũ giáo viên giỏi, có trình độ, có năng lực thật
sự thì nhà trường phải đưa ra mức thù lao hấp dẫn, cũng như chính sách đãi ngộ thỏa đáng Tuy nhiên thực tế hiện nay mức thù lao cho giáo viên là rất thấp, do đó không thể thu hút được đội ngũ tri thức có trình độ chuyên môn thực sự
Hơn nữa khi không đủ nguồn lực tài chính chắc chắn vật tư, trang thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình đào tạo cũng thiếu Với hiện trạng này dễ hiểu vĩ sao chất lượng đào tạo còn chưa cao
Như vậy tăng nguồn kinh phí là điều cần thiết để tăng hiệu quả quản lý chất lượng đào tạo hiện nay Nhưng tăng nguồn bằng cách nào thì không hề đơn giản Tăng mức học phí là khả năng khả thi để tăng nguồn thu nhưng mức học phí là cố định được Bộ tài chính quy định nên xem giải pháp này không thể thực hiện được
Để đa dạng nguồn lực tài chính các trường chỉ còn cách liên doanh liên kết trong đào tạo, vay mượn các tổ chức Trong tương lai gần có thể tiến hành
Trang 3326
việc cổ phần hóa các đơn vị trường học Có như vậy mới tăng được nguồn thu để
bổ sung vào việc mua sắm trang thiết vị, vật tư phục vụ cho quá trình đào tạo
- Quy mô đào tạo
Quy mô đào tạo tăng thì tuyển sinh cũng sẽ tăng theo Mặt khác do nhu cầu cầu người học cũng sẽ tăng theo dẫn tới quy mô đào tạo sẽ gia tăng Do vậy có thể thấy quy mô đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý chất lượng đào tạo Khi nhu cầu của người học tăng cao các trường sẽ tăng qui mô đào tạo Mặt khác để tăng thêm thu nhập cho đội ngũ giáo viên cũng như cải thiện nguồn thu các trường cũng sẽ tăng quu mô đào tạo Việc tăng quy mô đào tạo
sẽ làm ảnh hưởng tới quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo bởi vì khi đó số lượng học sinh của mỗi lớp sẽ rất đông điều đó làm cho người giáo viên sẽ không thể bao quát hết cũng như không thể đánh giá kết quả học tập của mỗi thành viên trong lớp một cách chính xác
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học ở một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam
1.5.1 Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học của Trung Quốc
Quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở Trung Quốc theo hướng quản
lý chất lượng được thực hiện bằng nhiều cơ chế khác nhau trong đó có cơ chế
về trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học Trung Quốc xác định, chủ thể quyết định trực tiếp chất lượng giáo dục đại học trước hết là các cơ sở giáo dục đại học.Vì vậy, chính sách quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học tiếp cận theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học bảo đảm, duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.Với cách tiếp cận này, kể từ đầu những năm 80 nhà nước bắt đầu tháo dỡ mô hình tập trung kiểm soát chi tiết hoạt động trường đại học và nhấn mạnh chế độ tự quản mà trọng tâm là tăng cường mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và trường đại học Nhà nước giữ vai trò kiểm soát vĩ mô còn các trường được tự
Trang 3427
chủ cung cấp chương trình theo nhu cầu xã hội Vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học được tư duy lại theo hướng nhà nước tạo môi trường cho giáo dục đại học phát triển và các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm xã hội cao hơn, cam kết với chất lượng đào tạo của mình Luật Giáo dục đại học năm 1998 đã xem các cơ sở giáo dục đại học như một thực thể pháp lý độc lập và hình thành cơ chế dựa trên sự tự quản Theo quy định của luật này, các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền tự chủ nhiều hơn để có thể đáp ứng yêu cầu xã hội, còn nhà nước thực hiện vai trò định hướng, tạo lập thể chế, chính sách, kiểm tra, điều phối và điều chỉnh
Với quan niệm trao quyền tự chủ là một phương thức để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, nhà nước xây dựng các văn bản hướng dẫn nhằm tạo
sự chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong việc tuyển sinh, tổ chức đào tạo Đồng thời, nhà nước cũng thiết lập cơ chế cạnh tranh nhằm thúc đẩy việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việc trao quyền tự chủ đồng thời cũng dẫn đến việc nhiều trường sáp nhập lại, kết hợp nhiều trường nhỏ thành các trường đại học lớn hơn, đa ngành
Chính sách tài chính cho giáo dục đại học cũng có những đổi mới Các
cơ sở giáo dục đại học được nhận ngân sách “cả gói” và được quyết định chi tiêu trong khi nhà nước thực hiện giám sát và kiểm toán để đảm bảo trách nhiệm của các trường về sử dụng nguồn lực công hợp lý Nhà nước cho phép các trường giữ lại và sử dụng khoản tiết kiệm để phát triển trường Nhà nước cũng trao cho các trường quyền tự chủ trong việc lập các quỹ thông qua các hoạt động đa dạng nhưng duy trì vai trò tài trợ chính
Để bảo đảm trách nhiệm xã hội đi vào cuộc sống, nhà nước tiến hành đánh giá kết quả thực hiện, các trường chủ động duy trì các tiêu chuẩn và thực hiện tự đánh giá Tuy nhiên, do các tổ chức và cá nhân đánh giá đều là của nhà nước cho nên việc đánh giá cũng còn mang tính nội bộ Để thúc đẩy chất
Trang 3528
lượng giáo dục đại học, Trung Quốc cũng thiết lập tầm nhìn đối với các trường đại học, cao đẳng hàng đầu với nhiệm vụ trở thành trường đẳng cấp thế giới của Trung Quốc
1.5.2 Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học của Singapore
Quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học ở Xinh-ga-potiếp cận theo hướng gắn chất lượng cơ sở giáo dục đại học với cơ chế phân bổ tài chính và trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học Với việc thực hiện
mô hình “phát triển kinh tế - xã hội định hướng nhà nước”, chất lượng giáo dục đại học của Xinh- ga-po được quan niệm là phát triển nguồn lực phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và thị trường lao động toàn cầu.Để quản
lý chất lượng giáo dục đại học, Quốc hộiXinh-ga-po đã ban hành luật riêng để các trường chủ động hoạt động theo pháp luật đồng thời quy định cam kết về chất lượng giáo dục đại học của hệ thống giáo dục đại học Bộ Giáo dục giữ vai trò xây dựng chính sách và đảm trách hướng dẫn tiêu chuẩn điều hành, trình độ tuyển sinh, sự chi trả của sinh viên
Nhà nước trao quyền tự chủ cho trường đại học ở mức độ khác nhau Các trường tự chủ hoạt động, tự quản, và trao văn bằng Các trường công được tự chủ quản lý công việc nội bộ nhưng tư cách pháp lý bị giới hạn Hội đồng, do Chủ tịch danh dự các trường đại học hay Bộ phụ trách kỹ thuật bổ nhiệm, quản lý và điều hành trường đại học Thành viên hội đồng có sự tham gia của cả nhà nước và khu vực tư
Nhà nước giữ vai trò tài trợ chính, chiếm tỷ lệ 75% trong tổng nguồn thu của các trường Hội đồng trợ cấp đại học có nhiệm vụ tư vấn cho Bộ trưởng về việc phân bổ ngân sách và nguồn lực Để tăng tính tự chủ và hiệu quả sử dụng tài chính, nhà nước áp dụng nguyên tắc phân bổ theo định hướng dựa trên thực tiễn Việc tài trợ nghiên cứu theo định hướng thành tích, chất lượng giáo dục và kinh phí hoạt động thì được cấp theo hình thức “cả gói”
Trang 3629
Các trường cũng được giữ lại kinh phí hoạt động còn dư Đăc biệt, từ năm 2004, nhà nước áp dụng “khung nợ-trợ cấp”, các trường được cấp tiền đối với dự án phát triển thông qua các khoản vay và tiền trợ cấp Điều này giúp giảm áp lực tài chính trực tiếp của nhà nước
Đặc biệt, nhà nước cho phép các trường đại học thuê các nhà quản lý (giám đốc, hiệu trưởng) nhưng kèm theo đó là các yêu cầu về tiêu chuẩn quốc
tế và chuyển giao công nghệ quản lý Đồng thời, cho phép và khuyến khích việc thành lập doanh nghiệp trong trường trường đại học, xây dựng bản sắc riêng của các trường để cạnh tranh Nhất là trao quyền mạnh cho một số trường để có thể hoạt động như các tập đoàn hay như các công ty phi lợi nhuận hữu hạn được đảm bảo thông qua các luật riêng từ năm 2005
Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, Singapore thực hiện giám sát
và khuyến khích trách nhiệm xã hội thông qua nhiều hình thức như quản lý chương trình; áp dụng “khung trách nhiệm” Khung trách nhiệm thì được xem như bản cam kết trách nhiệm mang tính pháp lý về hoạt động cung cấp dịch
vụ giáo dục đại học của trường đại học Khung này được cấu thành bởi ba thành phần sau đây Một là, thoả thuận chính sách được ký giữa trường và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với 2 phần chính là hướng dẫn (tầm nhìn chiến lược, kế hoạch tổng thể ) và giới hạn chính sách (chính sách mà các trường phải thực hiện nếu muốn nhận được ngân sách nhà nước Hai là, thoả thuận hành động được ký giữa trường và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (cách thức thực hiện, mục tiêu chiến lược, kết quả mong đợi) Ba
là, khung đảm bảo chất lượng của nhà nước cho các trường (báo cáo tự đánh, thẩm định các báo cáo), theo Hội đồng Quốc gia Giáo dục Singapore (2006) Nhà nước cũng thực hiện kiểm định văn bằng của các trường tư và điều kiện đảm bảo chất lượng của các trường nước ngoài hoạt động trong nước; thực hiện việc trao các chứng nhận tiêu chuẩn và thực hành quản lý chất lượng đối
Trang 37sự phù hợp của các chương trình đào tạo với thị trường lao động và mục tiêu quốc gia cũng là cách bảo đảm trách nhiệm được thực hiện
1.5.3 Kinh nghiệm quản lý chất lượng giáo dục đại học của Thái Lan
Để quản lý chất lượng giáo dục đại học, Thái Lan áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục tương đối sớm từ năm 90 của thế kỷ XX Việc đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của Thái Lan được thực hiện thông qua
hệ thống kiểm tra của nhà nước, kiểm toán chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận Chú trọng các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện các kết quả hay chỉ số học tập và cải tiến chất lượng Cơ cấu đảm bảo chất lượng gồm hai mảng độc lập nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau: Đảm bảo chất lượng bên trong
do Bộ Công tác Đại học (Ministry of University Affairs) quản lý, còn đảm bảo chất lượng bên ngoài do Cục Tiêu chuẩn giáo dục và Đánh giá chất lượng quốc gia (Office for educational standards and Quality Assessment) quản lý Chức năng của Cục Tiêu chuẩn giáo dục và Đánh giá chất lượng quốc gia là cung cấp thông tin cho trường và Bộ Công tác đại học, viết báo cáo đánh giá, giám sát chất lượng đào tạo của các đơn vị
Chức năng của Bộ Công tác đại học là đẩy mạng phong trào chất lượng trong toàn quốc như xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng hoạt động thường
Trang 3831
xuyên, hỗ trợ các trường nghiên cứu về bảo đảm chất lượng quốc tế, xã hội hóa công tác bảo đảm chất lượng, liên kết các trường, các tổ chức bảo đảm chất lượng quốc tế Bộ Công tác đại học yêu cầu các trường phải có hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong gồm: sứ mệnh, mục tiêu, kế hoạch; giảng dạy
và học tập; các hoạt động động vui chơi giải trí của sinh viên; nghiên cứu; dịch vụ giáo dục phục vụ xã hội; giữ gìn văn hóa; quản lý hành chính; ngân sách; đảm bảo và nâng cao chất lượng
Hệ thống bảo đảm chất lượng ở các trường đại học của Thái Lan dựa trên nguyên tắc là một mô hình “Đầu vào-quá trình-đầu ra” và đều phải tập trung vào việc dạy và học Điểm chủ yếu trong hệ thống bảo đảm chất lượng
ở đây là các trường phải thành lập, có dẫn chứng bằng tài liệu, thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống của mình Hệ thống đảm bảo chất lượng gồm: Đánh giá trong do các trường đại học tự chịu trách nhiệm 2 năm đánh giá một lần và đánh giá ngoài do Cục Tiêu chuẩn giáo dục và Đánh giá chất lượng quốc gia thực hiện năm năm một lần, nếu đạt sẽ được cấp giấy chứng nhận
1.5.4 Những kinh nghiệm tham khảo đối với Việt Nam
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học cần có sự chuyển hướng theo quản lý chất lượng, chuyển từ quản lý hành chính đơn thuần sang giám sát, kiến tạo điều kiện phát triển Trách nhiệm của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học thể hiện ở vai trò xác lập tầm nhìn chiến lược, định hướng, tạo lập hành lang pháp lý, xây dựng hệ thống chính sách, nâng cao trách nhiệm xã hội, bảo đảm sự vận động theo chất lượng của các cơ
sở giáo dục đại học
Thứ hai, việc đánh giá chất lượng giáo dục đại học cần có sự tham gia không chỉ của cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục đại học mà còn cần mở rộng sự tham gia của các cộng đồng xã hội mà trực tiếp là các chuyên
Trang 39là cơ sở để giải quyết có hiệu quả bài toán quy mô - chất lượng và điều kiện phát triển
Trang 4033
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH TÂY
THỜI GIAN QUA 2.1 Giới thiệu trường đại học Thành Tây
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Được thành lập ngày 10/10/2007 theo Quyết định số 1368/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Đại học Thành Tây hướng đến cung cấp một chương trình đào tạo giúp phát huy tối đa năng lực của sinh viên, dựa trên 3 trụ cột: kiến thức – kỹ năng – thái độ; nhằm trang bị cho sinh viên đầy đủ hành trang cần thiết để trưởng thành, có đóng góp tích cực và có chỗ đứng vững vàng trong xã hội
Sinh viên tại Trường sẽ được học tập với đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm và luôn cập nhật tri thức tiên tiến Trên 30% giảng viên là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ; nhiều giảng viên là các nhà quản lý thành đạt từ các doanh nghiệp có uy tín trên thị trường, cùng hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn, giúp chương trình đào tạo được đổi mới thường xuyên và mang hơi thở thời đại trong từng bài giảng tiết học Sinh viên sẽ được tiếp xúc với những kiến thức thực tế ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường, là nền tảng vững chắc cho thành công của các em sau khi ra trường
Với các mối quan hệ quốc tế rộng mở, đặc biệt là sự “đỡ đầu” của Tập đoàn Phượng Hoàng Xanh A&A – Phenikaa – một Tập đoàn kinhh tế hàng đầu Việt Nam hiện nay với đơn vị thành viên chủ lực là Công ty CP Vicostone, Top 10 doanh nghiệp niêm yết uy tín của chứng khoán Hà nội – sinh viên tốt nghiệp Đại học Thành Tây có nhiều cơ hội thực tập, làm việc và trở thành nhân viên chính thức của các đơn vị thành viên của Tập đoàn, cũng như cơ hội làm việc tại các thị trường nước ngoài như Mỹ, Canada (đơn vị