1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện cư mgar) ( Luận văn thạc sĩ)

115 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 512,76 KB
File đính kèm Luận văn Full.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện cư mgar) ( Luận văn thạc sĩ)Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện cư mgar) ( Luận văn thạc sĩ)Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện cư mgar) ( Luận văn thạc sĩ)Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện cư mgar) ( Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHÙNG THÁI HỘI (THÍCH TỊNH QUANG)

HOẠT ĐỘNG HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA CỦA NGƯỜI ÊĐÊ HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGƯỜI ÊĐÊ Ở HUYỆN }\ư\

Mgar)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHÙNG THÁI HỘI (THÍCH TỊNH QUANG)

HOẠT ĐỘNG HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA CỦA NGƯỜI ÊĐÊ HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGƯỜI ÊĐÊ Ở HUYỆN }\ư\

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Phùng Thái Hội (Thích Tịnh Quang), người thực hiện luận văn này Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Những trích dẫn cần thiết trong luận văn được chú thích rõ ràng và trung thực

Tác giả luận văn

Phùng Thái Hội (Thích Tịnh Quang)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Khoa Tôn giáo học, Học viện Khoa học xã hội đã tạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập

và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng gửi cảm ơn đến quý thầy, cô giáo, những người phụ trách khoa Tôn giáo học đã đem hết tâm nguyện, tâm huyết, kiến thức và kinh nghiệm truyền đạt cho tôi trong thời gian lưu học tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hồng Dương, bậc thầy khả kính đã hướng dẫn tận tình, chỉ dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức

và kinh nghiệm có giá trị để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả chư thiện tri thức, những bạn bè, những người đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, con xin tri ân đến ân sư, cha mẹ, huynh đệ và những người thân đã tạo điều kiện để con yên tâm học tập trong suốt thời gian qua

Xin cảm ơn tất cả!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018 Học viên

Phùng Thái Hội (Thích Tịnh Quang)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI ÊĐÊ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI ÊĐÊ Ở ĐẮK LẮK 19

1.1 Khái quát về người Êđê ở huyện }ư| Mgar tỉnh Đắk Lắk 19

1.2 Khái quát về sự du nhập, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, người Êđê ở Đắk Lắk nói riêng 25

Chương 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI ÊĐÊ VÀ PHƯƠNG THỨC HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM Ở HUYỆN }Ư¥ MGAR HIỆN NAY 35

2.1 Đời sống văn hóa của người Êđê và Phật giáo trong đời sống văn hóa của người Êđê ở huyện }ư| Mgar 35

2.2 Thực trạng về hoạt động hoằng pháp và Phương thức hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở huyện }ư| Mgar ảnh hưởng đến đời sống văn hóa hiện tại của tộc người Êđê 48

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 65

3.1 Một số nhận xét 65

3.2 Một số khuyến nghị giải pháp 73

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 88

Trang 6

CHÚ THÍCH

Địa danh Đắk Lắk có nhiều cách viết:

Viết theo tiếng M’nông thì viết Daklak

Trong văn bản của tiếng pháp thì Darlac

Một số nơi thì lại viết: Đắk Lắc, Đắc Lắk, Dăklăk, Đăk Lăk

Theo các công văn ban hành của chính phủ thì viết Đắk Lắk

Ở đây chúng tôi sử dụng theo cách viết theo các công văn của chính phủ là: Đắk Lắk

Địa danh huyện }ƣ\ Mgar cũng có nhiều cách viết nhƣ CƣM’gar, Chƣ Mga,

Cƣ mga Luận văn dùng theo tiếng Êđê là: }ƣ\ Mgar, Su\t Mdrang, Su\t Mdrƣng, }ƣ\ Sƣê

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nói Phật giáo là một trong những tôn giáo để lại dấu ấn khá đậm nét lên đời sống văn hóa người Việt từ tư tưởng, quan điểm đến nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng Tư tưởng Phật giáo thấm sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của người Việt, thành lời nhắc nhở của tổ tiên truyền đến con cháu, rằng phải ăn hiền ở lành, rằng dù sao đi nữa, cũng cứ tin “gieo gió gặt bão” Quan điểm Phật giáo đã đi từ hệ thống giáo lý của một tôn giáo vào cuộc đời, hình thành nên những tâm hồn Việt luôn biết tự nhắc thức nhau: hãy bao dung với người, hãy biết “tùy duyên” mà hành xử, bình tâm mà đón gió cuộc đời, bởi đó là tặng phẩm, là thử thách thú vị mà đời dành cho ta Nghi lễ Phật giáo dạy con người biết cúi đầu tôn trọng, tri ân các bậc Thánh nhân, tiền hiền, những người có công với làng xã, dân tộc Trong sinh hoạt cộng đồng, Phật giáo trao cho những tín đồ dân dã của mình niềm tin yêu hồn nhiên nhưng hết mực nhân văn rằng người chết

và cả người sống đều có thể sẻ chia cùng nhau ước vọng bình an giữa sóng gió luân hồi chỉ bằng sự thành tâm, lòng yêu thương dành cho đồng loại trong từng cuộc lễ cầu an, cầu siêu…

Điều gì đã khiến Phật giáo trở nên gần gũi, thiết thân trong lòng dân tộc Việt đến vậy? Có rất nhiều lý do được đưa ra Một trong những lý do ấy chính là sự cộng hưởng, hòa nhập rất tự nhiên nhưng không kém phần thú vị giữa tư tưởng, quan điểm của Phật giáo và lối sống, tâm hồn của dân tộc Việt nói chung Vì vậy, nghiên cứu, khảo sát về ảnh hưởng, mối tương quan giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam luôn thu hút được không ít sự quan tâm của khoa học và cả tôn giáo Tuy nhiên, diện mạo văn hóa Việt Nam không chỉ được tạo nên từ văn hóa của tộc người Việt

Do đó, nghiên cứu tương quan giữa Phật giáo và đời sống văn hóa Việt Nam, không thể bỏ qua mối tương quan dấu ấn Phật giáo trong đời sống văn hóa của các đồng bào dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam Xuất phát từ suy nghĩ ấy, chúng tôi

chọn đề tài: Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk

Lắk và đời sống văn hóa của người Êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp

Trang 9

2

người Êđê ở huyện }ư\ Mgar) Với đề tài trên, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu

hơn mối tương quan cũng như những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của cộng đồng người Êđê Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, luận văn hy vọng

sẽ mang lại cho mọi người thêm một điểm nhìn, cách nhìn về Phật giáo trong đời sống văn hóa của tộc người Êđê ở Đắk Lắk nói riêng, và tộc người Êđê ở Việt Nam nói chung Thông qua đó, có thể có hướng hoằng pháp, giải pháp tích cực, phù hợp nhất để bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, đồng thời khắc phục, hạn chế những cách nghĩ, cách sống chưa phù hợp, lệch lạc (nếu có) của tộc người Êđê

ở Đắk Lắk hiện nay, để văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo trở thành một dòng chảy liền mạch, thông suốt, dung hòa một cách trọn vẹn trong dòng chủ lưu của văn hóa và Phật giáoViệt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Những công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa của tộc người Êđê

Trong số 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, tộc người Êđê được xem như là một trong số những tộc người thiểu số ở Tây Nguyên

có dân số đông nhất Theo ước tính, có hơn 331.000 người Êđê cư trú ở các tỉnh Đắk Lắk, phía nam của tỉnh Gia Lai và miền tây của hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên Người Êđê vốn thuộc ngữ hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo (Malayo – Polynesia) cũng gọi là Austonesia, tức là Nam Đảo, có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển đảo Mặc dù đã chuyển cư vào miền Trung Việt Nam, rồi di dân lên vùng đất cao nguyên Tây Nguyên khoảng cuối thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ XV, song trong tâm thức tộc người Êđê, bến nước và con thuyền vẫn là những hình ảnh chưa hề phai nhạt Điều này giúp cho người Êđê tạo nên dấu ấn văn hóa riêng cho chính mình giữa vô vàn sắc màu văn hóa của 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam từ bao đời qua Có thể nói, chính nhờ những đặc trưng riêng

về văn hóa, cách sinh hoạt cộng đồng, người Êđê đã thu hút được không ít sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều người

Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu này thường chỉ khảo sát chủ yếu về đặc trưng văn hóa, cách thức sinh hoạt cộng đồng của người Êđê đặt trong

Trang 10

3

tổng thể của văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên, còn khá ít những công trình, tài liệu đề cập một cách đầy đủ, chuyên sâu về tộc người Êđê Có thể tạm chia các

tài liệu, công trình nghiên cứu đó thành hai nhóm: Nhóm nghiên cứu đời sống

văn hóa của người Êđê như một bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên và nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một nền văn hóa đặc trưng, riêng biệt

Ở nhóm thứ nhất, nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một

bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, có thể kể đến“Văn hóa dân gian Tây Nguyên, một cách nhìn” Trong công trình này, Linh Nga Niê Kdam đưa ra nhận

xét khái quát về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên (có người Êđê): “Có thể thấy, văn

hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có bản sắc riêng, độc đáo nhưng không hề tách rời và có tính thống nhất trong bản sắc văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [42, tr 23-24] Tuy nhận xét còn chung chung, chưa chỉ rõ những

biểu hiện cụ thể của “bản sắc riêng, độc đáo” của văn hóa Tây Nguyên, song, tác giả đã bước đầu gợi mở cho người đọc những ấn tượng ban đầu để đi sâu vào tìm hiểu văn hóa của đồng bào các dân tộc, trong đó có người Êđê

Trong “Trang phục truyền thống của người Ê Đê Bih” tác giả Lương Thanh

Sơn đề cập đến dân tộc Êđê và các nhóm tộc người ở tỉnh Đắk Lắk, tác giả cho rằng: “

Người Bih là một nhóm của dân tộc Ê đê, có cùng nguồn gốc ngôn ngữ Austronesian( Malayô-Poolinêdi) lục địa Cư dân Bih có quan hệ nguồn gốc với người Chăm, Jarai, Chu ru, Raglai và có quan hệ cộng cư với các dân tộc khác trong khu vực như M’nông

và các nhóm của M’nông…tập sách Trang phục truyền thống người Bih sẽ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ đó, đồng thời với việc tìm hiểu trang phục người Bih thông qua những đặc trưng và ứng xử tộc người sẽ giúp các nhà khoa học trong việc đánh giá trình độ phát triển kinh tế- xã hội-văn hóa của cư dân Bih Từ đó có những định hướng đúng đắn cho họ trong việc lựa chọn những ứng xử thích hợp của dân tộc mình trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai.” [48, tr 8]

Trong cuốn “Sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các

dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa

Trang 11

Đến “Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên”, Linh Nga

Niê Kdam đi sâu vào nghiên cứu về các nghi lễ, sinh hoạt truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào Tây Nguyên, cụ thể là ở người Êđê Công trình nghiên cứu gồm 3 chương.Trong đó, chương I – giới thiệu khái quát về địa bàn cư trú; các tộc người Jrai, Êđê, Sê đăng, Bahnar, M'nông, K'ho; đời sống văn hóa, kinh tế, sinh hoạt cộng đồng của các tộc người Chương II, đi vào tìm hiểu một số nghề truyền thống của các tộc người Chương III, đánh giá về vai trò của nghề thủ công trong đời sống cộng đồng quá khứ và hiện tại Từ đây, tác giả đưa ra một số nhận xét về

tộc người Êđê: “Tùy theo các lễ cúng lớn hay nhỏ, điều cầu xin quan trọng đến đâu

đối với gia đình hoặc cộng đồng, mà dùng lễ vật hiến sinh là gà, heo, hay bò Tuy nhiên, các lễ cúng lớn bao giờ cũng phải có trâu Các nhóm thuộc ngữ hệ Mã Lai –

Đa Đảo đều có ăn trâu (hiến sinh) nhưng tộc người ÊĐê không có nghi lễ và hình thức đâm trâu” [43, tr 73] Với nhận xét này, có thể thấy, tộc người Êđê cũng có

những đặc trưng riêng biệt về văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, không hoàn toàn “đồng nhất” với văn hóa của các tộc người ở địa bàn Tây Nguyên Bên cạnh đó, khi bàn về sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng người Êđê, Jrai, Linh Nga Niê Kdam thấy rằng:

“Hôn nhân Ê Đê, Jrai mang nhiều tính nhân văn: từ tục “ở dâu” để báo hiếu cha

mẹ chồng, đến việc không ép buộc, cũng không áp đặt nặng nề về lễ vật dẫn cưới, thậm chí nếu chưa đủ lễ vật hai họ sẽ cho nợ và tổ chức cưới lớn sau Đặc biệt việc trao vòng bao giờ cũng được tổ chức trang trọng, tuy hình thức nhìn vào là đơn giản, nhưng lại được đảm bảo như một lời đính ước bền vững Sau này bên nào vi phạm sẽ bị phạt đền bù cho cả phía bên kia lẫn cộng đồng” [43, tr 90]

Đi xa hơn nữa, khi bàn về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc, tác giả

cho rằng: “Tính cho đến những năm đầu thế kỉ XXI đã có đến 90% các dân tộc bản

địa Tây Nguyên từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo

Trang 12

5

và Tin Lành Nhưng có một điều lạ là: số người theo đạo Phật (gần như “quốc đạo” của Việt Nam) lại hầu như rất ít Do đồng bào theo tập quán bầy đàn, nên cùng đồng tâm theo các tôn giáo du nhập từ phương Tây? Hay các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không phải là đối tượng tuyên truyền được lựa chọn của Phật giáo? Điều này chưa có cuộc khảo sát nào để đưa ra kết luận chính thức” [43 tr 82] Ý

kiến này đã gợi mở cho luận văn một hướng nghiên cứu mới, đó là thử đi vào tìm hiểu, lý giải vì sao Phật giáo chưa có được ảnh hưởng thật sự tích cực, mạnh mẽ trong lòng đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên nói chung, người Êđê nói riêng Vì sao một tôn giáo từng được xem là “quốc đạo”, từng có thời hoàng kim trong lịch sử Việt Nam lại có một “chỗ đứng” khá khiêm tốn ở Tây Nguyên, giữa dòng chảy văn hóa của người Êđê?

Như vậy, có thể thấy, dù vốn tài liệu nghiên cứu còn khá ít ỏi, song, những đánh giá trên đã phác thảo, gợi mở cho những ai mong muốn tìm hiểu về đời sống văn hóa của người Êđê có được cái nhìn mang tính định hướng, khơi dậy niềm hứng thú để bước vào thế giới văn hóa của tộc người Êđê

Ở nhóm thứ hai, nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một

nền văn hóa đặc trưng, riêng biệt có thể nhắc đến tác giả Trương Bi – Bùi Minh Vũ

với tác phẩm“Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Ê Đê, M’nông”.Tác

giả đã nói lên thực trạng văn hóa truyền thống các tộc người Êđê, M’nông và một số kết quả đạt được về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Êđê, M’nông, đưa ra những giải pháp cơ bản về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Êđê, M’nông Từ những kết quả nghiên cứu này, người đọc có thể phần nào hình dung được đặc trưng, những chuyển biến của đời sống văn hóa tộc người Êđê trong dòng chảy văn hóa Việt Nam đương đại

Ngoài ra, trong “Nghi lễ - lễ hội Ê Đê”, tác giả Trương Bi cũng đã đề cập

khá chi tiết đến tộc người Êđê ở Tây Nguyên Ở đây, người đọc có thể tìm thấy đặc trưng về không gian văn hóa Êđê thông qua đời sống sinh hoạt cộng đồng Tác giả

đã miêu tả khá cụ thể, chi tiết về những nghi lễ - lễ hội đặc trưng của người Êđê như nghi lễ - lễ hội vòng đời, lễ cúng cho người mẹ mang thai, lễ đặt tên thổi tai, lễ

Trang 13

6

trưởng thành, lễ cưới, lễ cầu an - cầu sức khỏe, lễ cúng sức khỏe, lễ tang, lễ ăn trâu

bỏ mả, và nghi lễ - lễ hội nông nghiệp như: lễ cúng rẫy, lễ cầu mưa - cầu được mùa,

lễ mừng trận mưa đầu mùa, lễ cúng thần gió, lễ tuốt lúa, lễ rước thần lúa vào kho, lễ

ăn cơm mới, lễ ăn trâu mừng được mùa - đón năm mới và một số nghi lễ - lễ hội cổ truyền khác như: lễ cúng bến nước, lễ cúng vào nhà mới, lễ đón uống rượu cần mừng năm mới, lễ đón khách quý, lễ rước k’pan…Từ những nghi lễ này, Trương Bi

nhận xét rằng: “Qua sự tiếp biến, giao thoa với văn hóa đa sắc tộc từ khắp mọi

miền đất nước đến Tây Nguyên, văn hóa Ê Đê đã hòa nhập, tiếp biến, giao thoa và chọn lọc những cái hay, cái đẹp của văn hóa của dân tộc mình trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đó là văn hóa thuộc ngữ hệ Nam Đảo, kín đáo, sâu sắc, đầy sức sống của cộng đồng” [6, tr 59] Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của nghi lễ - lễ

hội trong việc gắn kết cộng đồng người Êđê:“…bên cạnh những giá trị tâm linh

mang đậm tính nhân văn sâu sắc, thắm đượm tình người, tình làng buôn thì đây còn

là dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng khá sinh động Ở đây, các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian như diễn tấu cồng chiêng, múa tung khắc, múa trống, hát dân ca,

kể khan, ẩm thực, trang phục dân tộc, mỹ thuật dân gian… được thể hiện vô cùng độc đáo, giàu bản sắc Đây cũng là dịp để đồng bào ôn lại truyền thống, thắt chặt thêm tình đoàn kết của cộng đồng” [6, tr.96]

Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những ý kiến mang tính chất “cảnh báo” trước những biến chuyển chưa hay, chưa đẹp trong nghi lễ - lễ hội của đồng bào dân tộc

Êđê trong tình hình hiện nay: “Sự thay đổi tín ngưỡng cũng đã gây ảnh hưởng

nghiêm trọng Hầu hết các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian trước đây đều diễn ra xung quanh các nghi lễ- lễ hội nhưng giờ đây nhiều nơi không còn tổ chức các nghi lễ- lễ hội truyền thống mà được thay bằng những lễ nghi tôn giáo mới Ở những nơi này, cồng chiêng bị bọn xấu coi là những nhạc cụ của thần linh, tà giáo, không được sử dụng và cần phải xóa bỏ, hoặc đem bán gây nên tình trạng “ chảy máu” cồng chiêng, ché, thổ cẩm, tượng nhà mồ trong các buôn làng” [6, tr.164]

Tác phẩm“Văn hóa mẫu hệ qua sử thi Ê đê” của Tuyết Nhung Buôn Krông, chỉ ra rằng “Người Ê đê là một tộc người thuộc xã hội mẫu hệ khá điển hình ở Việt

Trang 14

7

Nam Những nguyên tắc mẫu hệ chi phối nhiều mặt trong tổ chức gia đình, xã hội

và in dấu rõ rệt trong đời sống văn hóa của người Ê đê”[41, tr 45] Tác giả còn đi

vào tìm hiểu về vai trò của người phụ nữ trong đời sống văn hóa của người Êđê:

“Vai trò người phụ nữ được biểu hiện sinh động trong luật tục, chuyện kể, được hình tượng hóa trong kiến trúc dân gian ( nhà mồ, cồng chiêng) Qua đó, chúng ta

có thể thấy người phụ nữ không chỉ có vai trò trực tiếp đối với gia đình, dòng họ mà còn có tác động gián tiếp đối với thiết chế tổ chức xã hội Ê đê” [41, tr 46] Từ đây,

Tuyết Nhung Buôn Krông nêu lên một nhận xét khá xác đáng: “Sự quyết đoán, chủ

động theo kiểu nữ tính của họ lại là một trong những phẩm chất cần thiết để họ hoàn thành tốt vai trò của họ trong cộng đồng mẫu hệ Mặt khác họ rất dịu dàng, khiêm nhường, nép mình bên người chồng Đó là tính cách đa diện của phụ nữ Ê đê” [41, tr 200]

Trong công trình nghiên cứu của Phó giáo sư, Tiến sĩ Hà Đình Thành với đề

tài: “Cộng đồng dân tộc Ê đê ở tỉnh Đăklăk hiện nay” đã nghiên cứu một cách toàn

diện và hệ thống về cộng đồng dân tộc Êđê, về nguồn gốc cũng như đời sống văn hóa của tộc người Êđê, trong đó tác giả có đề cập đến tôn giáo nhưng cũng chỉ dừng

lại ở hai tôn giáo đó là Công giáo và Tin lành

Riêng tác giả Trương Thị Hiền với “Luật tục Ê Đê – một nền tư pháp hòa

giải những giá trị xã hội và sự biến đổi”cho rằng: “chúng tôi cho rằng luật pháp và luật tục đều là “luật”- là những hiện tượng xã hội với những thuộc tính: (1) có những quy tắc mang tính bắt buộc, (2) những quy tắc này được áp đặt bởi một nhóm xã hội nào đó, và (3) những quy tắc này có thể thay đổi Theo đó, luật tục và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, cùng hướng đến trật tự

xã hội Có điều, nếu luật pháp hướng đến trật tự xã hội chung thì luật tục hướng đến trật tự cộng đồng Nếu như luật tục chỉ có giá trị áp dụng bắt buộc đối với các thành viên trong cộng đồng thì luật pháp lại có tính phổ biến và bắt buộc chung đối với tất cả các thành viên trong quốc gia”[ 27, tr 44] Trương Thị Hiền đã phát hiện

ra những yếu tố rất nhân văn trong luật tục của tộc người Êđê: “ luật tục Ê đê là

biểu hiện của một nền tư pháp hòa giải khi mà, cách giải quyết của người phân xử theo luật tục chủ yếu nhấn mạnh sự hòa giải, giáo dục hơn là kết tội, trừng phạt

Trang 15

so với việc giải quyết sự việc có liên quan theo luật pháp Nhưng đối với người Ê đê thì lại hợp lý khi mà “sau khi họ thi hành ngay hình phạt bồi thường cho người vi phạm, họ sẽ được dân làng bỏ qua lỗi lầm và có thể hòa nhập ngay với cộng đồng Còn xử theo luật pháp, mức bồi thường có thể thấp hơn nhưng họ thấy có gì đó không thoải mái, khó khăn hòa nhập vào cộng đồng” [27, tr 216-217]

Ngoài ra, tác giả còn nêu lên cơ sở tồn tại của luật tục Êđê: “ Sự tồn tại của

luật tục Ê đê có những cơ sở kinh tế xã hội cơ bản là: (1) định chế kinh tế nương rẫy cùng với quan niệm “đất đai là cái lưng của ông bà” khẳng định quyền sở hữu tài sản cộng đồng của người Ê đê; (2) định chế gia đình mẫu hệ Ê đê với những quan niệm về dòng họ, hôn nhân, thừa kế tài sản, mô hình nơi cư trú ;(3) định chế văn hóa của người Ê đê với lối sống cộng đồng, tín ngưỡng đa thần, lối sử dụng lời nói vần trong sinh hoạt cộng đồng” [27, tr 232]

Có thể nói, đây là một trong số ít những công trình nghiên cứu về người Êđê khá chi tiết, tinh tế, xác đáng Tài liệu này đã giúp luận văn có cái nhìn toàn diện hơn về gương mặt văn hóa Êđê, để có những định hướng nghiên cứu tiếp theo

2.2 Những công trình nghiên cứu về hoạt động hoằng pháp của Phật giáo hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số

So với những công trình nghiên cứu về người Êđê thì những công trình nghiên cứu, bài viết về hoạt động hoằng pháp của Phật giáo hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số càng có số lượng khiêm tốn hơn Trong kỷ yếu hội thảo hoằng pháp toàn quốc năm 2011, tổ chức tại Bình Dương có một số bài tham luận về hoạt động hoằng pháp hướng đến dân tộc thiểu số

Trước hết phải kể đến tham luận “Hoằng pháp và đồng bào dân tộc”của Đại

đức Thiện Minh Ủy viên Hội đồng trị sự, Ủy viên ban Hoằng pháp Trung ương, trong đó tác giả đề cập đến những yêu cầu đối với người hoằng pháp Đó là những

Trang 16

Luậ n vậ n đậ y đu ở file:Luậ n vậ n Full

Ngày đăng: 26/06/2018, 14:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm