Trong xâydựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương, nguồn nhân lực trẻ:luôn xung kích trong phát triển kinh tế - xã hội; tích cực giữ gìn, phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta xácđịnh: “Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, làsức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc” Xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn là chủ trương lớncủa Đảng và Nhà nước, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống vàhoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng,từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo
ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa họcphát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bước vữngchắc lên chủ nghĩa xã hội Trong xây dựng đời sống văn hoá, yếu tố conngười giữ vai trò quyết định Theo đó, phát huy tinh thần tự nguyện, tự quản
và năng lực sáng tạo, làm chủ của nhân dân, nhất là vai trò chủ động, tíchcực, sáng tạo của nguồn nhân lực trẻ là động lực to lớn, góp phần nâng caochất lượng và hiệu quả xây dựng đời sống văn hoá
Nguồn nhân lực trẻ có vị thế quan trọng trong cơ cấu nguồn nhân lực xãhội, đã và đang khẳng định vai trò to lớn trong các lĩnh vực hoạt động chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện ở tính tích cực chính trị, tinh thần xungkích, năng động, sáng tạo trong xây dựng và phát triển đất nước Xây dựngđời sống văn hoá ở nông thôn là quá trình lâu dài, phải giải quyết đồng bộ,toàn diện trên nhiều nội dung, đòi hỏi có quyết tâm, thời gian và phát huy hiệuquả sức mạnh tổng hợp các nguồn lực, trong đó, nguồn nhân lực giữ vai tròđặc biệt quan trọng, mà cốt lõi là nguồn nhân lực trẻ để thực hiện Trong xâydựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương, nguồn nhân lực trẻ:luôn xung kích trong phát triển kinh tế - xã hội; tích cực giữ gìn, phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc, tạo lập những giá trị văn hóa mới; lực lượng chủ chốttham gia hoạt động, sinh hoạt văn hóa, xây dựng thiết chế của đời sống vănhoá; nòng cốt đấu tranh ngăn chặn các tư tưởng sai trái, phản văn hóa, bảo vệ
sự trong sạch, lành mạnh đời sống văn hoá ở nông thôn
Bình Dương là tỉnh có truyền thống kiên cường, bất khuất, một trongnhững trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc độ phát triển nhanh vànăng động, thuộc nhóm các tỉnh đứng đầu phát triển công nghiệp, dịch vụ,
đô thị hoá, xây dựng đời sống văn hoá và nông thôn mới Những năm qua,nguồn nhân lực trẻ Bình Dương đã phát huy được vai trò nòng cốt, xungkích, sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo tồn, gìn giữ vàlàm phong phú các giá trị văn hóa dân tộc, đấu tranh chống sự xâm nhập
Trang 2của các trào lưu văn hoá ngoại lai không phù hợp với thuần phong, mỹ tụccon người Việt Nam, xây dựng và bảo vệ sự trong sạch, lành mạnh đời sốngvăn hoá ở nông thôn của tỉnh Tuy nhiên, nguồn nhân lực trẻ là chủ thể, hạtnhân để xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn vẫn còn tồn tại một số bấtcập, hạn chế nhất định, đặc biệt là việc khai thác, sử dụng và phát huy vai trònguồn nhân lực này Đây là vấn đề cần được quan tâm cả lý luận và thựctiễn, cần nhận thức và giải quyết tốt, tạo điều kiện tiên quyết bảo đảm thànhcông xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn
Thời gian qua, nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ, phát huy vai trò nguồnnhân lực trẻ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế đã được các nhà khoa học quan tâm Song, nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ
và phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ởnông thôn là vấn đề mới, phức tạp, cần thiết có những nghiên cứu xác đáng
Từ những lý do trên, tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay” là mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Làm rõ một số vấn đề lý luận về phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻtrong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương
Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nhân tố tác động và yêu cầu phát huy vai trònguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh BìnhDương hiện nay
Đề xuất giải pháp cơ bản phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xâydựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề thực chất và tính quy luật phát huy vai trò nguồnnhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ở góc độ triết học và điều tra, khảo sátnhững vấn đề về phát huy vai trò của nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đờisống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay; số liệu điều tra, khảo
Trang 3sát ở một số xã nông thôn tỉnh Bình Dương, từ năm 2010 đến nay.
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn nhân lực, đờisống văn hoá và phát huy vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp đổi mới ởViệt Nam Đồng thời, luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài
Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên báo cáo tổng kết, thống kê của các cơ quan chức năngtỉnh Bình Dương về vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn, vai tròcủa nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnhBình Dương; kết quả điều tra, khảo sát của tác giả
Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng các phương pháp nhận thức khoahọc như: phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; hệ thống và cấu trúc;khái quát hoá và trừu tượng hoá; tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học, điềndã; phương pháp chuyên gia để làm rõ vấn đề dưới góc độ triết học
5 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã làm rõ nội dung và tính quy luật phát huy vai trò nguồn nhânlực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương Luận án đã đưa ra những giải pháp cơ bản phát huy vai trò nguồn nhân lựctrẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung, phát triển thêm một số vấn đề lý luận vềnguồn nhân lực trẻ và phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựngđời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu giúp cho các cấp uỷ đảng, chínhquyền tỉnh Bình Dương tham khảo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo pháthuy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôntỉnh Bình Dương hiện nay; ngoài ra có thể sử dụng làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập ở các học viện, nhà trườngtrong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Gồm: mở đầu; 4 chương (10 tiết); kết luận; danh mục các công trình củatác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nông thôn trong
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Phạm Minh Hạc chủ biên công trình Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và Đoàn Văn Khái, trong công trình Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam Các tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn để thực
hiện chiến lược con người, coi nhân tố con người là nguồn lực của mọinguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên, giữ vị trí trung tâm của sựphát triển; khái quát, đưa ra quan niệm phát triển nguồn lực con người,cấu trúc nguồn lực con người “là số dân và chất lượng con người, bao gồm
cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”
Trong công trình Một số vấn đề triết học trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng, có bài “Vấn đề phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện
nay” của Nguyễn Thế Kiệt, cho rằng: ““Nguồn lực con người” là tổng hợptoàn bộ các yếu tố thể chất và tinh thần của con người, các hoạt động vậtchất và tinh thần của họ đã, đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy
sự phát triển xã hội”
Nguyễn Đình Hoà với công trình Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lựcvà đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Dương Anh Hoàng trong công trình Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng; Nguyễn Hồng Quang chủ biên công trình nguồn nhân lực với phát triển bền vững vùng Bắc bộ giai đoạn 2011 - 2020;
Lê Thị Hồng Điệp với công trình Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn); Nguyễn Văn Lưu với công trình Phát triển nguồn nhân lực - Yếu tố quyết định sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam; Huỳnh Thị Gấm với công trình Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế vùng Nam bộ.
Các tác giả đã tập trung bàn về những vấn đề lý luận chung, xu hướng, yêucầu, nội dung và tiêu chí phát triển nguồn nhân lực; những yếu tố tác độngtrực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm trong nước và quốc tếvề phát triển nguồn nhân lực
Gần đây có các công trình: Nguyễn Thị Luyến Phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật khí tượng thủy văn Việt Nam hiện nay; Lê Tuấn Ngọc
Trang 5Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay; Lê Thị Hạnh Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay, đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, đề xuất một số giải
pháp cơ bản về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, đáp ứng yêucầu phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, thảm họa và công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, phát triển kinh tế tri thức, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảovệ Tổ quốc trong tình hình mới
1.1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới
Nguyễn Ngọc Sơn trong công trình nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta - đặc điểm và xu hướng phát triển cho rằng: “nguồn nhân lực nông thôn là nguồn nhân lực
cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, đồng thời cung cấp nhân lựccho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung” Trên cơ sở khung lý thuyết
đã xác định, công trình này đi sâu đánh giá thực trạng của nguồn nhân lựcở nông thôn, tập trung nghiên cứu những đặc điểm, xu hướng phát triểnnguồn nhân lực ở nông thôn nước ta và đề xuất các nhóm giải pháp
Trong công trình Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, có bài “Một số vấn đề cần giải
quyết để nâng cao hiệu quả đào tạo lao động nông thôn” của Nguyễn Từ vàbài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nôngthôn hiện nay” của Nguyễn Thanh Tuấn nhấn mạnh nông dân và lao độngnông thôn nói chung không thể trở thành chủ thể thực sự của phát triển nôngnghiệp, nông thôn nếu như chất lượng yếu kém; chất lượng thấp của nhân
lực đang là một trong những điểm nghẽn của nền kinh tế nước ta; “khu vực
nông nghiệp, nông thôn, sự yếu kém của chất lượng nguồn lực nông thônnước ta thể hiện không chỉ ở thể chất, trình độ văn hoá, chuyên môn mà ởthói quen, ý thức chấp hành hợp đồng, quy trình công nghiệp”
Nguyễn Tiến Dũng chủ biên, công trình Mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đã khẳng định: Đào tạo nghề cho lao động
nông thôn là thành tố quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhânlực ở khu vực nông thôn
Nguyễn Thị Hảo với công trình Vai trò của phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong xây dựng gia đình văn hoá hiện nay, đã
trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất quan điểm và cácgiải pháp chủ yếu phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đìnhvăn hoá ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Trang 61.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến xây dựng
đời sống văn hoá, phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng
đời sống văn hoá ở nông thôn Việt Nam và tỉnh Bình Dương
1.2.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn Việt Nam
Trong công trình Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thể kỷ XXI, Phạm Minh Hạc khẳng định: “Nói đến văn hoá là nói đến con
người vừa là chủ thể sáng tạo văn hoá vừa là sản phẩm của văn hoá Vấn đềbản sắc văn hoá, đa dạng văn hoá đi liền với vấn đề bản sắc cá thể, đa dạng
cá thể Cùng với văn hoá, con người nổi lên là vấn đề của thiên niên kỷmới” Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Nói đến văn hoá tức là nói đến conngười; nói đến phát triển con người tức là phải nhằm tới mục tiêu xây dựngnguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội” Xem xét mối quan hệ nhân quảphức tạp giữa văn hoá - con người - nguồn nhân lực, Lê Thi cho rằng::
“Chính yếu tố con người là khâu mấu chốt, là yếu tố quyết định sự phát
triển của văn hoá và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”
Theo Hoàng Vinh trong Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta và Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay: “Đời sống văn hoá là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các
yếu tố văn hoá tĩnh tại cũng như các yếu tố văn hoá động thái Xét về mộtphương diện khác, đời sống văn hoá bao gồm các hình thức văn hoá hiệnthực và cả các hình thức sinh hoạt văn hoá tâm linh” Quan niệm này, phảnánh cấu trúc của đời sống văn hoá, bao gồm các yếu tố tĩnh và động, vật thể
và phi vật thể, chủ thể và sản phẩm văn hoá
Nguyễn Hữu Thức trong công trình Về văn hoá và xây dựng đời sống văn hoá và Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hoá,
chỉ rõ: “Đời sống văn hoá được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinhđộng các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồngthời tái tạo sản phẩm văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần theo những giá trị
và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tựnhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống củachính con người” Từ cách tiếp cận đời sống văn hoá thuộc đời sống tinh
thần, Trần Thị Kim Cúc trong công trình Văn hoá Việt Nam một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, cho rằng: “Đời sống văn hoá là một bức tranh hiện thực
sống động các hoạt động của con người với sự hỗ trợ của các thiết chế vănhoá và sản phẩm văn hoá nhằm sáng tạo, hưởng thụ và lưu giữ, phát huycác giá trị văn hoá kết tinh trong những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vậtthể, nâng cao chất lượng của con người”
Đinh Thị Vân Chi chủ biên, công trình Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống văn hoá và môi trường văn hoá, tập trung vào hai nội
Trang 7dung chính: một là, những vấn đề lý luận về đời sống văn hoá và môi trường văn hoá; hai là, thực tiễn xây dựng đời sống văn hoá và môi
trường văn hoá ở nông thôn, đô thị, ở cơ sở Bàn sâu về khái niệm đờisống văn hoá, thiên về đời sống tinh thần, coi như là hoạt động tinh thầncủa con người, Đinh Thị Vân Chi cho rằng: “Đời sống văn hoá là tổng thểnhững hoạt động tinh thần của con người” Trong công trình này, NguyễnThị Thanh Xuân, Trần Thị Tuyết Mai tập trung luận giải những vấn đềxây dựng đời sống văn hoá trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiệnnay
Bàn về cấu trúc của đời sống văn hoá, theo Nguyễn Hữu Thức, từ năm
2000, khi phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đượcphát động, vấn đề xây dựng đời sống văn hoá có sự mở rộng về cấu trúc,các thành tố được nới rộng về phạm vi và mang tính tổng thể, toàn diện hơn:không chỉ lĩnh vực văn hoá, mà có cả kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật,môi trường sinh thái; bên cạnh các thiết chế văn hoá, còn lồng ghép các thiếtchế thể thao nhằm nâng cao thể lực con người, có nếp sống văn hoá, hoạt
động văn hoá Phan Trung Tá trong công trình Về khái niệm đời sống văn hoá ở nông thôn, cho rằng xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn bao
gồm 3 thành tố chính: môi trường chính trị, kinh tế, xã hội; môi trườngvăn hoá; chủ thể văn hoá
1.2.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn Việt Nam
Quan niệm về “phát huy nhân tố con người”, Trần Thị Thuỷ trong công
trình Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong điều kiện mới
ở Việt Nam hiện nay, cho rằng: “Phát huy nhân tố con người, về thực chất,
là quá trình nâng cao không ngừng vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạocủa con người, tạo ra động lực phát triển xã hội và sự hoàn thiện chính bản
thân mình” Phạm Công Nhất với công trình Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, đã tiến hành
nghiên cứu về nhân tố con người và vai trò của nhân tố con người trongphát triển lực lượng sản xuất thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Nguyễn Thị Tú Oanh trong công trình Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, đi sâu
nghiên cứu nguồn lực thanh niên và vai trò của nó trong phát triển kinh tế
-xã hội; vai trò và mối quan hệ giữa nguồn lực thanh niên với công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước; cho rằng: “Nguồn lực thanh niên là một bộ phậnquan trọng của nguồn lực con người nói chung Đó là nguồn tài sản vô giácủa đất nước hôm nay và mai sau Sinh lực của một dân tộc, một quốc gia
Trang 8thể hiện ở thanh niên, lực lượng có khả năng làm những việc “dời non lấpbiển”, là “rường cột của nước nhà”, là “mùa xuân của nhân loại””.
Bàn về phát triển nguồn nhân lực trẻ, Nguyễn Văn Trung trong công
trình Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp nước ta, khẳng định: “Phát triển nguồn
nhân lực trẻ, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọimặt cho thanh niên nông thôn và giải quyết tốt các vấn đề xã hội ở nôngthôn nước ta hiện nay là một nhiệm vụ và yêu cầu cấp thiết trong chiếnlược phát huy nhân tố con người của công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
Từ góc độ xã hội học, Đặng Cảnh Khanh có các công trình: Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá; Điều tra thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học Tác giả cho rằng tuổi trẻ là tập hợp những
thanh niên có độ tuổi từ 15 đến 34, sinh sống, học tập, lao động trong cộngđồng các dân tộc và các địa phương Còn nguồn nhân lực trẻ, cũng là tậphợp những người trong độ tuổi từ 15 đến 34, nhưng số người được đào tạo,
có tay nghề, nghiệp vụ, chuyên môn có thể tham gia vào hoạt động trongcác lĩnh vực kinh tế - xã hội, chiếm tỉ lệ cao hơn so với khái niệm tuổi trẻ
Từ góc độ quản lý hành chính công, Trần Văn Trung với đề tài Chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc Việt Nam hiện nay, phân
loại nguồn nhân lực thành 3 loại: nguồn nhân lực trẻ, từ 0 - 30 tuổi; nguồnnhân lực trung niên, từ 31 - 59 tuổi; nguồn nhân lực cao tuổi, trên 60 tuổi;
cho rằng: “Nguồn nhân lực trẻ là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia có độ tuổi từ 0 - 30, là toàn bộ thể lực, trí lực, nhân cách, đạo đức, lý tưởng mà bản thân họ và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động, sáng tạo một cách trực tiếp hoặc lâu dài vì sự phát triển và tiến bộ chung của xã hội” Quan điểm này cho rằng giai đoạn trẻ em (sơ sinh, ấu thơ, nhi
đồng, thiếu niên dưới 14 tuổi) thuộc khái niệm nguồn nhân lực trẻ Khi bànvề vai trò của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trẻ với phát triển kinh tế -
xã hội, Trần Văn Trung mới chỉ bàn về vai trò của nguồn nhân lực nóichung
1.2.3 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương
Nguyễn Chí Hải và Hạ Thị Thiều Dao trong công trình Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho rằng: “Bình Dương là một tỉnh có nguồn nhân lực
trẻ, dồi dào, là nơi hội tụ của nguồn nhân lực của các địa phương
Trang 9khác đến tham gia vào thị trường lao động, đó là một thuận lợi rấtquan trọng, mà ít địa phương khác có được”
Trong công trình Tác động của tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy, lối sống của người Bình Dương hiện nay, Đặng Ngọc
Cư đã tìm hiểu những nhân tố tác động đến tư duy, lối sống của người BìnhDương trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Chỉ ra đặc điểm tư duy,lối sống truyền thống của người Bình Dương; nghiên cứu thực trạng, đặcđiểm, dự báo xu hướng biến đổi tư duy, lối sống của người Bình Dương
Nguyễn Văn Hiệp với công trình Phát triển bền vững kinh tế, xã hội tỉnh Bình Dương, đã trình bày những chuyển biến về cơ cấu kinh tế, sự phát
triển của các ngành kinh tế, sự chuyển dịch của các thành phần kinh tế; cácvấn đề về cơ cấu dân cư, thiết chế xã hội; về hiện trạng và những vấn đề xãhội gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Bình Dương
Lưu Duẫn và Đỗ Văn Khiêm trong công trình Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Bình Dương, đưa ra khả
năng phân tích toàn diện thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
dựa vào lý thuyết vốn con người Lê Ngọc Hùng trong công trình Vấn đề thiếu hụt lao động tỉnh Bình Dương, giai đoạn 2011 - 2015, đã tiến hành
đánh giá thực trạng thiếu hụt lao động trên địa bàn tỉnh Bình Dương, phântích nguyên nhân, cơ hội, thách thức đặt ra đối với tình trạng thiếu hụt laođộng
Công trình Nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Dương, do Vũ Hải Thiên Nga làm chủ nhiệm, đã tìm hiểu những
thay đổi về chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh từ trước đến này
Bình Dương 20 năm phát triển do Huỳnh Ngọc Đáng chủ biên, nhận
định: Tuổi trẻ Bình Dương năng động, đầy sức sống với tinh thần sáng tạo,dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không chùn bước trước mọi khókhăn, đã góp phần tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh Đời sống văn hoá vật chất, tinh thần, tham gia quản lý xã hội củathanh niên cũng như nhu cầu học nghề, tạo việc làm, tiếp thu thành tựu khoahọc, công nghệ, kĩ thuật và quản lý hiện đại không ngừng tăng lên Một bộphận lớn thanh niên ngoài tỉnh có mong muốn được cống hiến, xây dựngcuộc sống lâu dài, lập thân, lập nghiệp tại Bình Dương
1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công
bố có liên quan đến đề tài luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã đề cập và luận giải quan
niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực theo những tiếpcận và phương pháp nghiên cứu khác nhau Có công trình đã khái quát,
Trang 10đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, cấu trúc của nguồn nhân lực; đềxuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bổ hợp lý và sửdụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội; vấn đềgiáo dục, đào tạo và đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở
nông thôn nước ta, đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và một số vấn đềthực tiễn, nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của nguồn nhânlực ở nông thôn; đề xuất những giải pháp có giá trị thực tiễn cao nhằmsử dụng, phát triển nguồn nhân lực nông thôn hiện nay
Thứ ba, các công trình đã đi sâu nghiên cứu lý luận về đời sống
văn hoá, phân tích cấu trúc, nội dung, các thành tố của đời sống vănhoá và khẳng định vai trò quan trọng của việc xây dựng đời sống vănhoá ở nước ta; khảo cứu đánh giá thực trạng việc xây dựng đời sốngvăn hoá ở cơ sở, đồng thời đề xuất giải pháp có giá trị thực tiễn caotrong xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta hiện nay
Thứ tư, các công trình đã phân tích vai trò nguồn nhân lực và phát
huy vai trò nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế; nguồnlực thanh niên và vai trò, mối quan hệ giữa nguồn lực thanh niên vớicông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhấn mạnh nguồn lực thanhniên là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực, là nguồn tài sản
vô giá của đất nước hôm nay và mai sau
Thứ năm, những công trình nghiên cứu về tỉnh Bình Dương tập trung
vào việc tổng kết quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh; đi sâu phântích đặc điểm và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh BìnhDương trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nghiên cứu khátoàn diện về tư duy, lối sống của con người Bình Dương
1.3.2 Những vấn đề cơ bản đặt ra luận án cần giải quyết
Làm rõ vai trò, thực chất và tính quy luật phát huy vai trò nguồnnhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh BìnhDương
Đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, nhân tố tác động, yêu cầuphát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ởnông thôn tỉnh Bình Dường hiện nay
Đề xuất giải pháp phát huy tốt hơn nữa vai trò nguồn nhân lực trẻtrong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay
Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận áncho thấy, những nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập đến vấnđề lý luận, thực tiễn về nguồn nhân lực, giải pháp phát triển và pháthuy nguồn nhân lực một cách khá toàn diện trong sự nghiệp công
Trang 11nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới;nghiên cứu về đời sống văn hoá, cấu trúc của đời sống văn hoá vàviệc xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta; một số công trình tậptrung phân tích vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò nguồnlực thanh niên, nguồn nhân lực trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước cũng như ở Bình Dương Tuy nhiên, cho đếnnay, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách có
hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề “Phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay”
Trang 12Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH
DƯƠNG 2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực trẻ và phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương
2.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực trẻ và xây dựng đời sống văn hoá
ở nông thôn tỉnh Bình Dương
* Quan niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trẻ
“Nguồn nhân lực” được nêu ra với nhiều cách hiểu, như: nguồn lựccon người, tài nguyên con người, nguồn nhân lực xã hội Song tiếp cậntheo hướng coi “nhân lực” là “nguồn lực” với yếu tố vật chất, tinh thầntạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển là cách tiếp cậnphổ biến nhất Dưới góc độ triết học, trong phạm vi nghiên cứu nguồn nhân
lực ở một vùng lãnh thổ, một quốc gia, chúng tôi cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của một cộng đồng người tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Nguồn nhân lực được thể hiện cả ở dạng khả năng và hiện thực Ởdạng khả năng, nguồn nhân lực là sức mạnh thể chất và tinh thần, sứclực và trí lực, năng lực và phẩm chất của từng người và cả cộng đồngngười chưa được bộc lộ hoặc bộc lộ chưa đầy đủ, còn đang ở trạng tháisẵn sàng và được hiện thực hóa khi có điều kiện phù hợp, những khảnăng đó sẽ trở thành hiện thực trong quá trình lao động sản xuất tạo racủa cải vật chất, tinh thần cho sự phát triển của xã hội Ở dạng hiện thực,nguồn nhân lực là sức mạnh thể chất và tinh thần, sức lực và trí lực,năng lực và phẩm chất của một cộng động người trong một thời điểmlịch sử nhất định, đang trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quá trình laođộng sản xuất tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho sự phát triển của xãhội Do vậy, khi nói đến nguồn nhân lực không chỉ là phép cộng giảnđơn của mỗi người, đó còn là sự liên kết chặt chẽ của cả cộng đồngngười; đồng thời thấy được sự liên kết giữa các yếu tố về số lượng, chấtlượng và cơ cấu của dân số
Phẩm chất là cái làm nên giá trị của con người về chính trị, tư tưởng,đạo đức, lối sống, thái độ, phong cách Năng lực là những điều kiện chủquan của con người, là toàn bộ thể chất, tâm, sinh lí và trình độ chuyênmôn tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó vớichất lượng cao Sức mạnh của nguồn nhân lực được thể hiện bằng số
Trang 13lượng, chất lượng và cơ cấu dân số đủ điều kiện huy động và sẵn sàngđược huy động vào các hoạt động của xã hội
Nguồn nhân lực bao hàm những người trong độ tuổi lao động theo khảnăng tự nhiên hoặc quy định hành chính của một quốc gia liên quan đến laođộng, việc làm; nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi lãnh thổ,mỗi tổ chức; không chỉ về mặt chất lượng, còn bao gồm toàn bộ trình độchuyên môn của con người tích lũy được, có khả năng tạo ra của cải vật chất
và tinh thần, đem lại thu nhập cho hiện tại và trong tương lai
Trên cơ sở khái niệm nguồn nhân lực, có thể quan niệm: Nguồn nhân lực trẻ là một bộ phận của nguồn nhân lực, có độ tuổi từ đủ 15 đến 30, gồm tổng thể những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của họ tham gia vào quá trình lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Nguồn nhân lực trẻ là một bộ phận không tách rời và mang đầy đủnhững nét chung của nguồn nhân lực Song, đây là lớp người có tuổi đời từđủ 15 đến 30, bao gồm trong đó độ tuổi của thanh niên Việt Nam theo quyđịnh của Luật Thanh niên và những người trong độ tuổi lao động theo quyđịnh của Bộ luật Lao động, nên nguồn nhân lực trẻ là bộ phận đặc biệt trong
cơ cấu xã hội, có những nét riêng so với nguồn nhân lực nói chung Trongquy luật sinh tồn của con người, việc trải qua các lứa tuổi là một tất yếu Ởmỗi lứa tuổi, sự phát triển về thể chất, tâm lý và nhân cách lại có những quyluật riêng Trong đó, nguồn nhân lực trẻ là một giai đoạn phát triển điểnhình về thể chất và tâm sinh lý của con người Đó là giai đoạn đang pháttriển nhanh về mặt thể chất, sinh lý, nhân cách, biểu tượng của sự trẻ trung,mạnh mẽ, hoạt động, hy vọng và ước mơ; tri thức, kinh nghiệm đang tiếptục phát triển và hoàn thiện; đó còn là quá trình tự phát triển với nhữngphẩm chất xã hội chưa chín muồi; giai đoạn tự khẳng định vai trò, vị trí vàtrách nhiệm của mình trong xã hội Tuy vậy, do tuổi trẻ nên giai đoạn đầucòn có những hạn chế nhất định, như thiếu kinh nghiệm, bồng bột, thậm chí
cả sự liều lĩnh; tiềm ẩn những khả năng to lớn, cả tích cực và tiêu cực đanxen
Nguồn nhân lực trẻ là tập hợp những người trẻ tuổi được giáo dục,đào tạo, bồi dưỡng nhất định về văn hoá, về tri thức, chuyên môn nghềnghiệp, phẩm chất, năng lực nhất định để có thể tham gia và sẵn sàngtham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội khi địa phương vàđất nước yêu cầu Gồm: công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, lựclượng vũ trang Tuỳ thuộc vào từng khu vực, quốc gia mà tỉ lệ cơ cấu
có sự khác nhau Ở Việt Nam, nguồn nhân lực trẻ có tỷ lệ cao nhất trongcác nhóm nhân lực xã hội, nhất là nguồn nhân lực trẻ nông thôn
* Quan niệm về đời sống văn hoá