1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh bình dương hiện nay

212 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khơi dậy tính tích cực, sáng tạo và tổ chức các hoạt động thực tiễn nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, rèn luyện nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bì

Trang 1

CAO THANH QUỲNH

Phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn

tỉnh bình dơng hiện nay

Chuyờn ngành: Chủ nghĩa duy vọ̃t biợ̀n chứng và duy vọ̃t lịch sử

Mó số : 922 90 02

LUẬN ÁN TIấ́N SĨ TRIấ́T HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.PGS TS Phan Trọng Hào

2 TS Đào Văn Tiến

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

riêng nghiên cứu sinh Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Cao Thanh Quỳnh

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực,

nguồn nhân lực nông thôn trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam 8 1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến xây dựng đời

sống văn hoá, phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời

sống văn hoá ở nông thôn Việt Nam và tỉnh Bình Dương 14 1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công bố và

những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết 24

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ

NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG

2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực trẻ và phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ

trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương 28 2.2 Tính quy luật về phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng

đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương 59

Chương 3 THỰC TRẠNG, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ YÊU CẦU

PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG

3.1 Thực trạng phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời

sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay 79 3.2 Nhân tố tác động và yêu cầu phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây

dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay 101

Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN

NHÂN LỰC TRẺ TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG

4.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể và chất lượng đào

tạo, sử dụng nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hóa ở

4.2 Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách và các điều kiện bảo đảm

phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hóa

4.3 Khơi dậy tính tích cực, sáng tạo và tổ chức các hoạt động thực tiễn nhằm

bồi dưỡng, nâng cao năng lực, rèn luyện nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta xácđịnh: “Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sứcmạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổquốc” [39, tr 126] Xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn là chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động

xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân

cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đờisống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội [38, tr 88, 89].Trong xây dựng đời sống văn hoá, yếu tố con người giữ vai trò quyết định Theo

đó, phát huy tinh thần tự nguyện, tự quản và năng lực sáng tạo, làm chủ của nhândân, nhất là vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của nguồn nhân lực trẻ là động lực

to lớn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng đời sống văn hoá

Nguồn nhân lực trẻ có vị thế quan trọng trong cơ cấu nguồn nhân lực xã hội,

đã và đang khẳng định vai trò to lớn trong các lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội, thể hiện ở tính tích cực chính trị, tinh thần xung kích, năng động,sáng tạo trong xây dựng và phát triển đất nước Xây dựng đời sống văn hoá ở nôngthôn là quá trình lâu dài, phải giải quyết đồng bộ, toàn diện trên nhiều nội dung, đòihỏi có quyết tâm, thời gian và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp các nguồn lực,trong đó, nguồn nhân lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng, mà cốt lõi là nguồn nhânlực trẻ để thực hiện Trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh BìnhDương, nguồn nhân lực trẻ: luôn xung kích trong phát triển kinh tế - xã hội; tích cựcgiữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tạo lập những giá trị văn hoá mới; lựclượng chủ chốt tham gia hoạt động, sinh hoạt văn hoá, xây dựng thiết chế của đờisống văn hoá; nòng cốt đấu tranh ngăn chặn các tư tưởng sai trái, phản văn hoá, bảo

vệ sự trong sạch, lành mạnh đời sống văn hoá ở nông thôn

Trang 6

Bình Dương là tỉnh có truyền thống kiên cường, bất khuất, một trong nhữngtrung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc độ phát triển nhanh và năng động,thuộc nhóm các tỉnh đứng đầu phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị hoá, xây dựngđời sống văn hoá và nông thôn mới Những năm qua, nguồn nhân lực trẻ BìnhDương đã phát huy được vai trò nòng cốt, xung kích, sáng tạo trong phát triển kinh

tế - xã hội, góp phần bảo tồn, gìn giữ và làm phong phú các giá trị văn hoá dân tộc,đấu tranh chống sự xâm nhập của các trào lưu văn hoá ngoại lai không phù hợp vớithuần phong, mỹ tục con người Việt Nam, xây dựng và bảo vệ sự trong sạch, lànhmạnh đời sống văn hoá ở nông thôn của tỉnh Tuy nhiên, nguồn nhân lực trẻ là chủthể, hạt nhân để xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn vẫn còn tồn tại một số bấtcập, hạn chế nhất định, đặc biệt là việc khai thác, sử dụng và phát huy vai trò nguồnnhân lực này Đây là vấn đề cần được quan tâm cả lý luận và thực tiễn, cần nhậnthức và giải quyết tốt, tạo điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công xây dựng đờisống văn hoá ở nông thôn

Thời gian qua, nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ, phát huy vai trò nguồn nhânlực trẻ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế đã đượccác nhà khoa học quan tâm Song, nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ và phát huy vaitrò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn là vấn đề mới,phức tạp, cần thiết có những nghiên cứu xác đáng

Từ những lý do trên, tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay” là mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 7

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.

Làm rõ một số vấn đề lý luận về phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trongxây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nhân tố tác động và yêu cầu phát huy vai trònguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh BìnhDương hiện nay

Đề xuất giải pháp cơ bản phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xâydựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề thực chất và tính quy luật phát huy vai trò nguồnnhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Cơ sở thực tiễn

Luận án dựa trên báo cáo tổng kết, thống kê của các cơ quan chức năng tỉnhBình Dương về vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn, vai trò của nguồn

Trang 8

nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương; kếtquả điều tra, khảo sát của tác giả

Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học như: phântích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; hệ thống và cấu trúc; khái quát hoá và trừutượng hoá; tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học, điền dã; phương pháp chuyên gia

để làm rõ vấn đề dưới góc độ triết học

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án đã làm rõ nội dung và tính quy luật phát huy vai trò nguồn nhân lựctrẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Luận án đã đưa ra những giải pháp cơ bản phát huy vai trò nguồn nhân lựctrẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (10 tiết); kết luận; danh mục các côngtrình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nông thôn trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

Nguồn nhân lực có vai trò to lớn trong phát triển bền vững, ngay từ đầu nhữngnăm 1990 đến nay, đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Ởnước ta, các nhà khoa học đã tập trung đi sâu nghiên cứu nguồn lực con người trong

sự nghiệp đổi mới đất nước, đặc biệt dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực đáp ứngyêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Trong công trình Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [43], do Phạm Minh Hạc chủ biên, đã đưa ra cơ sở lý luận và thực

tiễn để thực hiện chiến lược con người, với tư tưởng coi nhân tố con người, pháttriển nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất vàtinh thần, coi con người là trung tâm sự phát triển Công trình bước đầu khái quát,đưa ra quan niệm phát triển nguồn lực con người, cấu trúc nguồn lực con người “là

số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ,năng lực và phẩm chất” [43, tr 328]; đồng thời đã trình bày khá rõ mối quan hệgiữa đào tạo, sử dụng, việc làm với sự phát triển nguồn nhân lực; xác định tráchnhiệm quản lý của Nhà nước, ngành giáo dục, đào tạo đối với sự phát triển nguồnnhân lực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cũng theo hướng nghiên cứu này, Đoàn Văn Khái với công trình

Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam [58], cho rằng: “Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu

dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnhcủa nó trong sự phát triển xã hội” [ 58, tr 62]; đồng thời, tiếp cận và nghiêncứu vấn đề nguồn lực con người với tính cách là nguồn lực quyết định sự

Trang 10

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thể hiện trên cả phương diện chủ thểlẫn phương diện khách thể; coi con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, làtài nguyên của mọi tài nguyên, giữ vị trí trung tâm Hơn nữa, khái niệmnguồn nhân lực, ngoài nghĩa rộng là nguồn lực con người, còn được hiểu theonghĩa hẹp là nguồn lao động, thậm chí có khi còn được hiểu là lực lượng laođộng; “khái niệm “tài nguyên con người” còn được sử dụng với hàm ý nhấnmạnh phương diện khách thể của con người, coi con người như một loại tàinguyên, một loại của cải quý giá, cần được khai thác hợp lý, có hiệu quảnguồn tài nguyên này, đặc biệt là nguồn tiềm năng trí tuệ trong đó” [58, tr.66]

Trong công trình Một số vấn đề triết học trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng [48], có bài “Vấn đề phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay”

của Nguyễn Thế Kiệt, đề cập đến yếu tố thể chất và yếu tố tinh thần của con người,phản ánh thể lực, trí lực và những phẩm chất tinh thần khác (tâm lực) ở con người,nhờ đó tạo ra được sức mạnh với tư cách là một nguồn lực của sự phát triển, tác giảcho rằng: ““Nguồn lực con người” là tổng hợp toàn bộ các yếu tố thể chất và tinhthần của con người, các hoạt động vật chất và tinh thần của họ đã, đang và sẽ tạo ranăng lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội” [48, tr 122] Ở đây, con ngườixuất hiện vừa với tư cách là chủ thể, vừa với tư cách là khách thể của các quá trìnhkinh tế - xã hội Mặt khác, tác giả cũng chỉ rõ: khi xem xét nguồn lực con người, đòihỏi phải coi con người với tư cách là con người cá nhân, là thực thể sinh vật - xãhội; trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực conngười luôn đứng ở vị trí trung tâm, giữ vai trò quyết định Theo tác giả, khái niệmnguồn lực con người và nhân tố con người có nét chung nhưng không giống nhau,trong đó “nhân tố con người là cái cốt lõi, đặc trưng xã hội, là thuộc tính xã hội, giữ

vị trí trung tâm trong tiềm năng của con người” [48, tr 125] Nhấn mạnh tính chấttích cực, sáng tạo của nguồn lực con người, trong quan hệ với kinh nghiệm, thóiquen, thể lực của chủ thể Khái niệm nhân tố con người và nguồn lực con người cócùng một nghĩa như nhau khi đặt trong mối quan hệ với nhân tố khác, nguồn lực

Trang 11

khác như: kinh tế, chính trị, xã hội trong đời sống xã hội

Nguyễn Đình Hoà với công trình Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá [52], đã phân tích vai trò, thực trạng

chất lượng của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, tập trung phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực vớiđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các tác giả cho rằng: Phát triển nguồnnhân lực là để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và ngược lại đến lượt nó lạitạo điều kiện, tiền đề vật chất và môi trường cho quá trình thúc đẩy phát triển mạnh

mẽ hơn nữa nguồn nhân lực

Nghiên cứu khá hệ thống về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực,trên cơ sở quan điểm của tổ chức Liên hợp quốc về nguồn nhân lực là trình độ lànhnghề, kiến thức và năng lực hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của con người

để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng, Dương Anh Hoàng với công

trình Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng [53], cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng hợp những phẩm chất, năng

lực, sức mạnh của lực lượng người đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Đó trước hết là những người lao động có sứckhỏe, trí tuệ, đạo đức, trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, quyếttâm phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[53, tr 24]

Nguyễn Hồng Quang chủ biên công trình Nguồn nhân lực với phát triển bền vững vùng Bắc bộ giai đoạn 2011 - 2020 [88], tiếp cận nguồn nhân lực ở hai góc

độ vi mô và vĩ mô Ở góc độ vi mô, nguồn nhân lực nằm trong kiến thức, kỹ năng

và động lực của người lao động Ở góc độ vĩ mô, nguồn nhân lực được xem là trình

độ lành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực

tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng [88, tr 21, 22].Về cấu trúc nguồn nhân lực, theo tác giả có hai cách chia: Theo góc độ dân số trong

độ tuổi và có khả năng lao động, bao gồm lực lượng lao động dự trữ (15 tuổi trởlên) và lực lượng lao động có việc làm hoặc thất nghiệp; theo tính chất nghiên cứu

Trang 12

về số lượng (quy mô, tốc độ, sự phân bố) hay chất lượng (trí thức, thể lực, thái độ,quan điểm) của nguồn nhân lực

Ngoài ra, đi sâu nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực còn có: Lê Thị

Hồng Điệp với công trình Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn) [40]; Nguyễn Văn Lưu với công trình Phát triển nguồn nhân lực - Yếu tố quyết định sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam [69]; Huỳnh Thị Gấm với công trình Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế vùng Nam bộ [41] Các tác giả đã tập trung bàn về

những vấn đề lý luận chung, xu hướng, yêu cầu, nội dung và tiêu chí phát triểnnguồn nhân lực; những yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực,kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển nguồn nhân lực Trong đó, NguyễnVăn Lưu chỉ rõ: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩncủa dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinhthần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Sức mạnh và khả năng đócủa nguồn nhân lực được thể hiện bằng số lượng, chất lượng và cơ cấu dân cư, nhất

là số lượng, chất lượng và cơ cấu của nhóm dân cư cơ sở đủ điều kiện tham gia vàsẵn sàng tham gia vào hoạt động của xã hội” [69, tr 19] Trên cơ sở đánh giá thựctrạng, đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, các nhàkhoa học đều thống nhất khẳng định giáo dục, đào tạo, dạy nghề là giải pháp quantrọng trong phát triển nguồn nhân lực hiện nay; chú trọng phát triển, đồng thời thuhút nguồn nhân lực chất lượng cao; huy động mọi nguồn lực trong phát triển nguồnnhân lực

Gần đây có các công trình: Nguyễn Thị Luyến Phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật khí tượng thủy văn Việt Nam hiện nay [70]; Lê Tuấn Ngọc Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay [82]; Lê Thị Hạnh Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay [46], đã tập

trung làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, đề xuất một số giải pháp cơ bản về đào

Trang 13

tạo, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phòng, chống, giảmnhẹ thiên tai, thảm họa và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức,góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

1.1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nguồn nhân lực ở nông thôn nước ta,

Nguyễn Ngọc Sơn với công trình Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta - đặc điểm và xu hướng phát triển [93], cho

rằng: “Nguồn nhân lực nông thôn là nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xãhội ở nông thôn, đồng thời cung cấp nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội nóichung” [93, tr 47], và “Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là quá trình nâng caonăng lực của con người nông thôn về mọi mặt; đồng thời, phân bổ, sử dụng và khaithác có hiệu quả nguồn nhân lực nông thôn thông qua hệ thống phân công lao động

và giải quyết việc làm ở nông thôn” [93, tr 50] Trên cơ sở khung lý thuyết đãxác định, công trình này đi sâu đánh giá thực trạng của nguồn nhân lực ở nôngthôn, tập trung nghiên cứu những đặc điểm, xu hướng phát triển nguồn nhân lực ởnông thôn nước ta Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp: về giáo dục - đào tạo; vềkinh tế - xã hội; về chính trị - văn hoá, nhằm sử dụng, phát triển nguồn nhân lựcnông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Vũ Thị Mai với công trình Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hoá Hà Nội [73], tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, đã tập

trung trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho người lao động

bị thu hồi đất Nêu lên một số kinh nghiệm về giải quyết việc làm, như: đadạng hoá hình thức, cách thức tạo việc làm; huy động mọi nguồn lực xã hội để hìnhthành các chương trình, dự án mục tiêu giải quyết việc làm; khuyến khích người laođộng tự tạo việc làm cho mình và cho người khác theo đúng pháp luật; thực hiện tốtcông tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề cho người laođộng; chú trọng xuất khẩu lao động để giám bớt áp lực về nhu cầu việc làm của lựclượng lao động Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động bị thu

Trang 14

hồi đất, chỉ ra những định hướng chủ yếu và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm giảiquyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá và

đô thị hoá ở các vùng miền nước ta hiện nay

Trong công trình Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế [87] có bài “Một số vấn đề cần giải quyết

để nâng cao hiệu quả đào tạo lao động nông thôn” của Nguyễn Từ và bài “Một

số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay”của Nguyễn Thanh Tuấn nhấn mạnh nông dân và lao động nông thôn nói chungkhông thể trở thành chủ thể thực sự của phát triển nông nghiệp, nông thôn nếunhư chất lượng yếu kém; chất lượng thấp của nhân lực đang là một trong những

điểm nghẽn của nền kinh tế nước ta; “khu vực nông nghiệp, nông thôn, sự yếu

kém của chất lượng nguồn lực nông thôn nước ta thể hiện không chỉ ở thể chất,trình độ văn hoá, chuyên môn mà ở thói quen, ý thức chấp hành hợp đồng, quytrình công nghiệp” [87, tr 417] Các tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bảnnâng cao hiệu quả đào tạo và dạy nghề cho lao động nông thôn

Công trình Mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn [28], do

Nguyễn Tiến Dũng chủ biên, đã đề xuất một số mô hình tổng quát và khái quátkinh nghiệm việc triển khai thực hiện một số mô hình đào tạo nghề cho nôngdân và lao động nông thôn, khẳng định: đào tạo nghề cho lao động nông thôn -thành tố quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực nôngthôn; “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm có tính xã hội và nhânvăn sâu sắc, do đó đã nhận được sự đồng thuận rất cao của người dân, của cáccấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp,các phương tiện thông tin đại chúng” [28, tr 33] Tư tưởng bao trùm của chủtrương đề án là góp phần tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại trong nông nghiệp,tạo ra người lao động có kiến thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại, có khả năngthích ứng được với sự cạnh tranh quốc tế trong sản xuất nông nghiệp

Nguyễn Thị Hảo với công trình Vai trò của phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong xây dựng gia đình văn hoá hiện nay [51], đã trình bày

Trang 15

những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ nông thôn vùng đồngbằng sông Hồng trong xây dựng gia đình văn hoá Từ việc phân tích, đánh giáthực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong xâydựng gia đình văn hoá và những vấn đề đặt ra, tác giả công trình đã đề xuấtnhững quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của phụ nữtrong xây dựng gia đình văn hoá ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiệnnay Các giải pháp đó là: Nâng cao nhận thức về vị thế và vai trò của phụ nữtrong xây dựng gia đình văn hoá; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sôngHồng để tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao vị thế cho phụ nữ; phát huy tráchnhiệm của gia đình và nâng cao toàn diện năng lực của phụ nữ nông thôn vùngđồng bằng sông Hồng trong xây dựng gia đình văn hoá; phát huy vai trò của hệthống chính trị cơ sở, nhất là vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và HộiNông dân trong công tác phụ nữ và xây dựng gia đình văn hoá

1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến xây dựng đời

sống văn hoá, phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống

văn hoá ở nông thôn Việt Nam và tỉnh Bình Dương

1.2.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn Việt Nam

Tập trung bàn về văn hoá và văn hoá Việt Nam, con người và con ngườiViệt Nam, phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực Việt Nam đầu thế kỷ XXI,

trong công trình Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thể kỷ XXI

[17], Phạm Minh Hạc khẳng định: “Nói đến văn hoá là nói đến con người vừa làchủ thể sáng tạo văn hoá vừa là sản phẩm của văn hoá Vấn đề bản sắc văn hoá, đadạng văn hoá đi liền với vấn đề bản sắc cá thể, đa dạng cá thể Cùng với văn hoá,con người nổi lên là vấn đề của thiên niên kỷ mới” [17, tr 31] Cũng trong côngtrình này, Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Bước vào thế kỷ XXI, việc xây dựngcho được nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thứcđòi hỏi các nhà hoạch định chính sách và giới nghiên cứu phải chú ý tới mối quan

hệ con người - văn hoá - nguồn nhân lực với tính cách là một tổng thể có mối liên

Trang 16

hệ thống nhất, hữu cơ: Nói đến văn hoá tức là nói đến con người; nói đến phát triển con người tức là phải nhằm tới mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội” [17, tr 56] Xem xét mối quan hệ nhân quả phức tạp giữa văn hoá - con người - nguồn nhân lực, Lê Thi cho rằng: “Chính yếu tố con người là

khâu mấu chốt, là yếu tố quyết định sự phát triển của văn hoá và việc nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực Con người sáng tạo ra các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần cần thiết để cải tạo tự nhiên và xã hội, thông qua đó lại tự cải tạo bản thân, hình thành nên nguồn nhân lực mới, có chất lượng cao hơn, đủ khả năng, trình độ

để xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn, phong phú hơn, bền vững hơn” [17, tr 1022]

Những nguyên lý cơ bản về lý luận văn hoá và xây dựng văn hoá hiện nay ở

Việt Nam được Hoàng Vinh trình bày trong Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta [142] và Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay [143] Theo tác giả: “Đời sống văn hoá là bộ phận của đời sống xã

hội, bao gồm các yếu tố văn hoá tĩnh tại (các sản phẩm văn hoá vật thể, các thiếtchế văn hoá) cũng như các yếu tố văn hoá động thái (con người và các dạng hoạtđộng văn hoá của nó) Xét về một phương diện khác, đời sống văn hoá bao gồmcác hình thức văn hoá hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hoá tâm linh”[142, tr 268] Quan niệm này, về cơ bản đã phản ánh được cấu trúc của đời sốngvăn hoá, bao gồm các yếu tố tĩnh và động, vật thể và phi vật thể, chủ thể và sảnphẩm văn hoá Về mặt phạm vi, đời sống văn hoá chỉ là một bộ phận của đời sống

xã hội Song, vẫn chưa đề cập đến những giá trị văn hoá, đồng thời cách diễn đạtnày chưa làm rõ được bản chất đời sống văn hoá vì chỉ nêu các yếu tố cấu thành ởthể biệt lập Hơn nữa, xây dựng văn hoá là một công việc phức hợp, đa dạng

thường diễn ra theo hai bình diện đan kết chặt chẽ với nhau: Một là, xây dựng

chiều cao tức là xây dựng đội ngũ những người hoạt động văn hoá chuyên nghiệp;

Hai là, xây dựng chiều rộng, tức là xây dựng đời sống văn hoá cộng đồng, bằng

cách tổ chức nhân dân tham gia vào các hoạt động văn hoá nghiệp dư

Nguyễn Hữu Thức với công trình Về văn hoá và xây dựng đời sống văn hoá [116] và Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hoá [117], chỉ rõ:

Trang 17

“Đời sống văn hoá được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạtđộng của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩmvăn hoá vật chất, văn hoá tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhấtđịnh nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổimới, nâng cao chất lượng sống của chính con người” [117, tr 20] Có thể nói rằngđây là một bước tiến trong cách nhìn nhận về đời sống văn hoá của Nguyễn HữuThức Mặt khác, từ cách tiếp cận đời sống văn hoá thuộc đời sống tinh thần, Trần

Thị Kim Cúc với công trình Văn hoá Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn

[18], cho rằng: “Đời sống văn hoá là một bức tranh hiện thực sống động các hoạtđộng của con người với sự hỗ trợ của các thiết chế văn hoá và sản phẩm văn hoánhằm sáng tạo, hưởng thụ và lưu giữ, phát huy các giá trị văn hoá kết tinh trongnhững sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể, nâng cao chất lượng của con người”[18, tr 114, 115]

Trong công trình Mấy vấn đề văn hoá Việt Nam hiện nay - Thực tiễn và lý luận [25], Đinh Xuân Dũng không chỉ phân tích vai trò của văn hoá nói chung

đối với sự phát triển bền vững của xã hội hiện đại, nhấn mạnh ý nghĩa, chiều sâucủa văn hoá là các giá trị, còn dự báo rằng nếu đời sống văn hoá tinh thần củacon người vận động theo chiều hướng xấu, tiêu cực mà sự vận động đó lại cókhuynh hướng trở nên phổ biến, thì sức tác động của nó sẽ rất lớn, tinh vi vàphức tạp, hệ quả của nó sẽ phá vỡ tính bền vững của sự phát triển và nguy hạihơn, là nhân tố kéo lùi sự phát triển dẫn tới nguy cơ làm đổ vỡ cả thể chế và thiếtchế xã hội Từ đó tác giả phân tích các biểu hiện mặt xấu của đời sống văn hoátinh thần và chỉ rõ nguyên nhân của vấn đề bức xúc nảy sinh trong đời sống vănhoá tinh thần của xã hội đương đại

Đinh Thị Vân Chi chủ biên công trình Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống văn hoá và môi trường văn hoá [14], tập trung vào hai nội dung chính: một là, những vấn đề lý luận về đời sống văn hoá và môi trường văn hoá; hai là,

thực tiễn xây dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá ở nông thôn, đô thị, ở

cơ sở Bàn sâu về khái niệm đời sống văn hoá, thiên về đời sống tinh thần, coi như

Trang 18

là hoạt động tinh thần của con người, Đinh Thị Vân Chi cho rằng: “Đời sống vănhoá là tổng thể những hoạt động tinh thần của con người Đó là những hoạt độngtrong thời gian rỗi, bao gồm quá trình sáng tạo, lưu giữ, truyền bá và hưởng thụnhững sản phẩm văn hoá, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện conngười” [14, tr 68, 69] Trong khi đó, Nguyễn Thanh Tuấn khẳng định: “Đời sốngvăn hoá là tổng hoà lối sống và các điều kiện tự nhiên và đời sống xã hội của mộthình thái xã hội nhất định, là sự tổng hoà những tính chất cơ bản nhất của các mốiquan hệ giữa vật chất và tinh thần, cái riêng và cái chung (cá nhân và xã hội, dân tộc

và quốc tế ), cho nên các đặc điểm của đời sống văn hoá được thể hiện qua tất cảcác hình thức đời sống của con người phù hợp với điều kiện sống trong phạm vimột hình thái xã hội Tuy vậy, đặc trưng bản chất của đời sống văn hoá trực tiếpgắn với hệ thống giá trị tinh thần - văn hoá của con người” [14, tr 13, 14]; đời sốngvăn hoá được thể hiện ở lẽ sống, mức tiêu dùng văn hoá, khuôn mẫu ứng xử, nếpsống văn hoá, lối sống văn hoá, tiêu chuẩn văn hoá

Trong công trình trên, Nguyễn Thị Thanh Xuân với bài “Xây dựng đờisống văn hoá gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới”; Trần Thị TuyếtMai với bài “Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở gắn với xây dựng nông thônmới trong giai đoạn hiện nay”, các tác giả tập trung luận giải những vấn đềthực tiễn xây dựng nông thôn mới đang đặt ra nói chung, đặc biệt là vấn đềxây dựng đời sống văn hoá trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở nước tahiện nay, đề xuất giải pháp nhằm xây dựng thành công tiêu chí văn hoá trongxây dựng nông thôn mới hiện nay

Bàn về cấu trúc của đời sống văn hoá, do có nhiều cách hiểu khác nhau vềkhái niệm đời sống văn hoá, nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc,về các thành tố cấu thành của khái niệm này Trước đổi mới, những thành tố thenchốt được chú trọng là: Tư tưởng, đạo đức, nếp sống, lối sống, văn nghệ quầnchúng ; nếp sống, thiết chế văn hoá, các hoạt động văn hoá (thông tin, cổ động,bảo tàng, giáo dục truyền thống, văn nghệ quân chúng) Theo Nguyễn Hữu Thức[118], từ năm 2000, khi phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

Trang 19

hoá” được phát động, vấn đề xây dựng đời sống văn hoá có sự mở rộng về cấu trúc,các thành tố được nới rộng về phạm vi và mang tính tổng thể, toàn diện hơn: Khôngchỉ lĩnh vực văn hoá, mà còn bao hàm cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, phápluật, môi trường sinh thái; bên cạnh các thiết chế văn hoá, còn lồng ghép các thiếtchế thể thao nhằm nâng cao thể lực con người, có nếp sống văn hoá, hoạt động vănhoá

Phan Trung Tá với công trình Về khái niệm đời sống văn hoá ở nông thôn

[95], cho rằng xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn bao gồm 3 thành tốchính: môi trường chính trị, kinh tế, xã hội; môi trường văn hoá; chủ thể văn hoá(năng lực tiếp nhận, thực hành và sáng tạo văn hoá của các cá nhân hay của cộngđồng) Với cách hiểu này, đời sống văn hoá đã mang một ý nghĩa rất rộng, baotrùm và kết nối những môi trường quan trọng nhất của đời sống con người:chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và chủ thể văn hoá Trong khi đó, từ phươngdiện quản lý nhà nước lại tồn tại một cách hiểu khá hẹp về “đời sống văn hoá”,theo nghĩa là đời sống văn hoá cơ sở, giới hạn ở các lĩnh vực do Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch quản lý, với các mặt hoạt động: thông tin cổ động; câu lạcbộ; thư viện, đọc sách báo; bảo vệ di tích lịch sử văn hoá, giáo dục truyền thống;văn nghệ quần chúng; xây dựng nếp sống mới gắn với cuộc vận động “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”

1.2.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn Việt Nam

Quan niệm về “phát huy nhân tố con người”, Trần Thị Thuỷ với công trình

Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay [119], cho rằng: “Phát huy nhân tố con người, về thực chất, là quá trình

nâng cao không ngừng vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, tạo

ra động lực phát triển xã hội và sự hoàn thiện chính bản thân mình” [119, tr 147]

Trong khi đó, Phạm Công Nhất với công trình Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [77], đã tiến hành nghiên cứu về

Trang 20

nhân tố con người và vai trò của nhân tố con người trong phát triển lực lượng sảnxuất, tiến hành khảo cứu thực trang và đề xuất giải pháp phát huy nhân tố con ngườinhắm phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở Việt Nam hiện nay

Ở góc độ phát huy nguồn lực thanh niên, Nguyễn Thị Tú Oanh trong công

trình Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay [83], đi sâu nghiên cứu nguồn lực thanh niên và vai trò

của nó trong phát triển kinh tế - xã hội; vai trò và mối quan hệ giữa nguồn lựcthanh niên với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; khảo cứu thực trạng vàđề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của nguồn lực thanhniên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay Tác giảnhấn mạnh: “Nguồn lực thanh niên là một bộ phận quan trọng của nguồn lực conngười nói chung Đó là nguồn tài sản vô giá của đất nước hôm nay và mai sau.Sinh lực của một dân tộc, một quốc gia thể hiện ở thanh niên, lực lượng có khảnăng làm những việc “dời non lấp biển”, là “rường cột của nước nhà”, là “mùaxuân của nhân loại”” [83, tr 39]

Bàn về phát triển nguồn nhân lực trẻ, Nguyễn Văn Trung với công trình

Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp nước ta [120], chủ yếu đi vào nghiên cứu về nông thôn

và vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, thực trạng tình hình nghềnghiệp việc làm của thanh niên nông thôn và vai trò của họ trong chuyển dịch cơcấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới Từ mối quan hệ giữa nguồn nhân lực trẻvới công nghiệp hoá, hiện đại hoá, công trình này khẳng định: “Phát triển nguồnnhân lực trẻ, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt chothanh niên nông thôn và giải quyết tốt các vấn đề xã hội ở nông thôn nước tahiện nay là một nhiệm vụ và yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát huy nhân tốcon người của công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [120, tr 11] Công trình nàykhông đi vào nghiên cứu dưới góc độ nguồn nhân lực trẻ mà tập trung vào

Trang 21

nghiên cứu thanh niên nông thôn, qua đó chỉ rõ “thanh niên nông thôn là nguồnnhân lực chủ yếu, lực lượng đi tiên phong trong ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹthuật và công nghệ xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn” [120, tr 60, 61].

Xung quanh vấn đề này, từ góc độ xã hội học, Đặng Cảnh Khanh có các

công trình, như: Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá [59]; Điều tra thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá [60]; Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học [61] Tác giả cho rằng cần phân biệt rõ

ràng giữa khái niệm tuổi trẻ và nguồn nhân lực trẻ, hai khái niệm này không đồngnhất mặc dù chúng có nhiều điểm tương đồng Tuổi trẻ là tập hợp những thanh niên

có độ tuổi từ 15 đến 34, sinh sống, học tập, lao động trong cộng đồng các dân tộc vàcác địa phương Còn khái niệm nguồn nhân lực trẻ, cũng là tập hợp những ngườitrong độ tuổi từ 15 đến 34, nhưng số người được đào tạo, có tay nghề, nghiệp vụ,chuyên môn có thể tham gia vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội,chiếm tỉ lệ cao hơn so với khái niệm tuổi trẻ Đây là nội dung của khái niệm nguồnnhân lực trẻ [61, tr 21, 22] Tác giả khẳng định: “Tuổi trẻ là một tài nguyên, mộtthứ quặng tự nhiên, nhưng tài nguyên tự nhiên đó cần phải được giữ gìn, nuôidưỡng, chăm sóc, phát triển không ngừng để có “giá trị sử dụng” đối với cuộc sống.Không được nuôi dưỡng và khai thác thì tài nguyên tự nhiên vẫn chỉ là tài nguyên

tự nhiên mà thôi, chưa thể có ý nghĩa như là một nguồn lực dù đó là nguồn lực conngười” [61, tr 23] Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu mộtcách xác đáng về nguồn nhân lực trẻ

Từ góc độ tiếp cận quản lý hành chính công, Trần Văn Trung với đề tài

Chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc Việt Nam hiện nay

[121], phân loại nguồn nhân lực thành 3 loại: nguồn nhân lực trẻ, từ 0 - 30 tuổi;nguồn nhân lực trung niên, từ 31 - 59 tuổi; nguồn nhân lực cao tuổi, trên 60 tuổi

Tác giả cho rằng: “Nguồn nhân lực trẻ là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia có độ tuổi từ 0 - 30, là toàn bộ thể lực, trí lực, nhân cách, đạo đức, lý tưởng

Trang 22

mà bản thân họ và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động, sáng tạo một cách trực tiếp hoặc lâu dài vì sự phát triển và tiến bộ chung của xã hội” [121, tr.

25] Quan điểm này cho rằng giai đoạn trẻ em (sơ sinh, ấu thơ, nhi đồng, thiếuniên dưới 14 tuổi) thuộc phạm vi bao chứa của khái niệm nguồn nhân lực trẻ.Khi bàn về vai trò của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trẻ với phát triển kinh

tế - xã hội, Trần Văn Trung bàn về vai trò của nguồn nhân lực nói chung, chưalàm rõ vai trò của nguồn nhân lực trẻ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

1.2.3 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Nguyễn Chí Hải và Hạ Thị Thiều Dao với công trình Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá [45], cho rằng:

“Bình Dương là một tỉnh có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, là nơi hội tụ của nguồnnhân lực của các địa phương khác đến tham gia vào thị trường lao động, đó là mộtthuận lợi rất quan trọng, mà ít địa phương khác có được” [45, tr 68] Trên cơ sởphân tích đặc điểm nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương và những vấn đề đặt ra, cáctác giả nhấn mạnh trong thời gian tới tỉnh Bình Dương cần duy trì phát triển dân số

ở mức tăng dân số bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế ngày càng cao của tỉnh; khai thác và sử dụng nguồn nhân lực cóhiệu quả đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh, đồng thời đề xuấtmột số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu đó Đó là các giải pháp về: Quántriệt sâu sắc hơn nữa tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, yêu cầunâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả về sốlượng và chất lượng, đặc biệt là chất lượng; gắn giáo dục, đào tạo với cơ chế, chínhsách sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả; công tác thu hút và sử dụng nguồn nhânlực cần có các nhà quản lý tài năng, tâm huyết và không thể tách rời việc hình thànhmột thị trường sức lao động lành mạnh, hữu hiệu trên địa bàn tỉnh

Trong công trình Tác động của tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy, lối sống của người Bình Dương hiện nay [22], Đặng Ngọc Cư đã khái

Trang 23

quát quá trình hình thành vùng đất, con người; đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnhBình Dương Tìm hiểu những nhân tố tác động đến tư duy, lối sống của người BìnhDương trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Chỉ ra các đặc điểm tưduy, lối sống truyền thống của người Bình Dương; nghiên cứu thực trạng, đặc điểm

tư duy, lối sống của người Bình Dương hiện nay; dự báo xu hướng biến đổi tư duy,lối sống của người Bình Dương trong thời gian tới Từ đó, phân tích quan điểm vàđưa ra giải pháp về: kinh tế, chính trị, xã hội; giáo dục và đào tạo; quản lý và pháttriển nguồn nhân lực; về văn hoá - tư tưởng nhằm phát triển tư duy và hoàn thiện lốisống của người Bình Dương trước những tác động của đổi mới và hội nhập quốc tế

Nguyễn Văn Hiệp với công trình Phát triển bền vững kinh tế, xã hội tỉnh Bình Dương [50], đã trình bày những chuyển biến về cơ cấu kinh tế, sự phát

triển của các ngành kinh tế, sự chuyển dịch của các thành phần kinh tế; các vấnđề về cơ cấu dân cư, thiết chế xã hội; về hiện trạng và những vấn đề xã hội gắnliền với quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Bình Dương; về đổi mới kinh

tế, xã hội thành tựu và bài học kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương trên các lĩnhvực kinh tế, xã hội theo hướng phát triển bền vững; vấn đề bảo vệ môi trường,lịch sử, văn hoá, truyền thống tỉnh Bình Dương; vấn đề giáo dục, đào tạo, khoahọc và công nghệ tỉnh Bình Dương

Lưu Duẫn và Đỗ Văn Khiêm với công trình Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Bình Dương [23], đưa ra khảnăng phân tích toàn diện thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ dựa vào

lý thuyết vốn con người Công trình nghiên cứu về các mặt nhân lực khoa học vàcông nghệ trong các doanh nghiệp, trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh quản lý,trong các tổ chức giáo dục và đào tạo, đến phát triển nguồn nhân lực khoc học vàcông nghệ, tóm tắt một số đặc điểm nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương, dự báo nhucầu nhân lực khoa học và công nghệ, đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp về:quản trị chiến lược tổng thể; giáo dục và đào tạo; dân số, sức khoẻ và an sinh xã hộinhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Bình Dương

Trang 24

Lê Ngọc Hùng với công trình Vấn đề thiếu hụt lao động tỉnh Bình Dương, giai đoạn 2011 - 2015 [56], đã tiến hành đánh giá thực trạng thiếu hụt lao động trên

địa bàn tỉnh Bình Dương, phân tích các nguyên nhân và các cơ hội, thách thức đặt

ra đối với tình trạng thiếu hụt lao động Đánh giá thực trạng việc giải quyết vấn đềthiếu hụt lao động, phân tích các yếu tố, các cơ chế tác động và chỉ ra những mặtmạnh và mặt yếu của các giải pháp hiện hành Xác định rõ các vấn đề thiếu hụt laođộng hiện nay ở tỉnh Bình Dương, đồng thời dự báo xu hướng và đề xuất phươnghướng, khuyến nghị các giải pháp giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động ở tỉnh tronggiai đoạn 2011 - 2015, định hướng 2020

Công trình Nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Dương [78], do Vũ Hải Thiên Nga làm chủ nhiệm, đã tìm hiểu những thay

đổi về chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh từ trước đến này Trình bàykhái quát tỉnh Bình Dương về điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội, là tiềnđề quan trọng ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống của nhân dân và nâng cao chấtlượng cuộc sống của người dân So sánh, nhận xét chất lượng cuộc sống của conngười trong tỉnh; giữa tỉnh với tỉnh khác và trong vùng Từ hiện trạng trên để đưa racác giải pháp về phát triển kinh tế tăng thu nhập bình quân đầu người, như pháttriển các ngành kinh tế, nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, thị trường; giảipháp cho các vấn đề xã hội làm nâng cao chất lượng cuộc sống như phát triển giáodục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá, thể dục thể thao, bảo đảm lươngthực thực phẩm, an toàn vệ sinh; giải pháp về môi trường, về kết cấu hạ tầng…nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Bình Dương

Trong công trình Bình Dương 20 năm phát triển [30] do Huỳnh Ngọc Đáng

chủ biên, có bàn về hoạt động văn hoá, thể dục - thể thao, tác giả cho rằng: “Vănhoá, tinh thần, du lịch tỉnh Bình Dương phát triển khá toàn diện, đáp ứng nhu cầuhưởng thụ đời sống văn hoá - tinh thần của người dân Hầu hết các di tích lịch sửđều được trùng tu, tôn tạo và phát huy hiệu quả Các thiết chế văn hoá - tinh thần từcấp tỉnh đến cơ sở đều được đầu tư theo đúng quy hoạch Phong trào “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục đi vào chiều sâu và ngày càng được

Trang 25

mở rộng, khẳng định tính toàn dân, toàn diện và không ngừng được nâng cao vềchất lượng, số lượng và hiệu quả” [30, tr 15] Tuổi trẻ Bình Dương năng động, đầysức sống với tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, khôngchùn bước trước mọi khó khăn, đã góp phần tích cực vào nhiệm vụ xây dựng vàphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đời sống văn hoá vật chất, tinh thần, tham giaquản lý xã hội của thanh niên cũng như nhu cầu học nghề, tạo việc làm, tiếp thuthành tựu khoa học, công nghệ, kĩ thuật và quản lý hiện đại không ngừng tăng lên.Một bộ phận lớn thanh niên ngoài tỉnh có mong muốn được cống hiến, xây dựngcuộc sống lâu dài, lập thân, lập nghiệp tại Bình Dương [30, tr 346 - 355]

1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công bố

và những vấn đề đặt ra luận án cần giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công bố

có liên quan đến đề tài luận án

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã đề cập và luận giải quan niệm về

nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực theo những tiếp cận và phươngpháp nghiên cứu khác nhau, dưới góc độ triết học, kinh tế, quản lý… Dù tiếp cậndưới góc độ, phương pháp nào, các tác giả đều thống thống nhất khẳng định:nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực có vai trò, ý nghĩa quyết định đến đờisống xã hội; coi con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọitài nguyên, giữ vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình phát triển, quyết định sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế Trong đó, có công trình

đã khái quát, đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, cấu trúc của nguồn nhân lực;đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bổ hợp lý và sử dụng

có hiệu quả nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội; vấn đề giáo dục, đàotạo và đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở nông

thôn nước ta, đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và một số vấn đề thực tiễn, nghiêncứu đặc điểm và xu hướng phát triển của nguồn nhân lực ở nông thôn; vai tròchủ thể của nông dân; nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải

Trang 26

quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, từ đó đánh giá thực trạng và đềxuất những giải pháp có giá trị thực tiễn cao nhằm sử dụng, phát triển nguồnnhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,nông thôn và xây dựng nông thôn mới hiện nay

Thứ ba, các công trình đã đi sâu nghiên cứu lý luận về đời sống văn hoá,

phân tích cấu trúc, nội dung, các thành tố của đời sống văn hoá và khẳng định vaitrò quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta Nghiên cứu, đánh giáthực trạng một số mặt chính của văn hoá, con người và nguồn nhân lực ở nước tatrong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế; khảo cứu đánhgiá thực trạng việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, đồng thời đề xuất giải pháp

có giá trị thực tiễn cao trong xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta hiện nay

Thứ tư, các công trình đã phân tích vai trò nguồn nhân lực và phát huy vai

trò nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế; nguồn lực thanh niên và vaitrò, mối quan hệ giữa nguồn lực thanh niên với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, nhấn mạnh nguồn lực thanh niên là một bộ phận quan trọng của nguồn nhânlực, là nguồn tài sản vô giá của đất nước hôm nay và mai sau Trong đó, có côngtrình bước đầu đã đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực trẻ, chính sách phát triểnnguồn nhân lực trẻ Các công trình cũng đã khảo sát thực trạng phát huy và xuhướng phát triển của nguồn nhân lực ở nông thôn, đề xuất giải pháp nhằm phát huynguồn nhân lực, phát huy vai trò của nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

Thứ năm, những công trình nghiên cứu về tỉnh Bình Dương tập trung vào

việc tổng kết quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh; đi sâu phân tích đặc điểm

và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá; nghiên cứu khá toàn diện về tư duy, lối sống củacon người Bình Dương Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục, đàotạo, dạy nghề, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho lao độngtrẻ và thanh niên nông thôn

Trang 27

Những thành tựu cơ bản được tác giả luận án kế thừa, tiếp thu và làm sâu sắcthêm quan niệm về nguồn nhân lực trẻ, biểu hiện vai trò nguồn nhân lực trẻ trongxây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương, thực chất phát huy vai trò

và vấn đề có tính quy luật phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đờisống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

1.3.2 Những vấn đề cơ bản đặt ra luận án cần giải quyết

Về lý luận, phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn

hoá ở nông thôn, tuy có được đề cập đến dưới những góc độ khác nhau, song, vaitrò và thực chất phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống vănhoá ở nông thôn, tính quy luật của quá trình phát huy này chưa được luận giải thấuđáo Đặc biệt, ở một tỉnh có đặc thù phát triển công nghiệp như Bình Dương, việcphát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thônchưa được đề cập và phân tích Do vậy, vấn đề cần tiếp giải quyết ở đây chính làlàm rõ vai trò, thực chất phát huy và tính quy luật phát huy vai trò nguồn nhân lựctrẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Về thực tiễn, thông qua việc khái quát hoá và sử dụng các phương pháp

nghiên cứu khác nhau, cơ sở thực tiễn phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xâydựng đời sống văn hoá ở nông thôn đã có được đề cập Tuy nhiên, để làm rõ cơ sởthực tiễn ở một địa phương cụ thể, xác định là tỉnh Bình Dương, cần phải sử dụngtổng hợp các cách thức và phương pháp khác nhau, trong đó, chủ yếu là phươngpháp tổng kết thực tiễn, xử lý tài liệu từ các báo cáo, điều tra xã hội học Trên cơ

sở đó mới có căn cứ đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, đồng thời dự báonhân tố tác động, chỉ rõ một số yêu cầu đối với việc phát huy vai trò nguồn nhân lựctrẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay làm cơ

sở cho việc đề ra các giải pháp

Về giải pháp, trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực trạng, cần kế thừa,

chọn lọc có tính tích hợp cao, từ đó đề xuất giải pháp cơ bản có tính toàn diện, sâusắc, mang tính khả thi và phù hợp, giải quyết những vần đề đang đặt ra, phát huy tốt

Trang 28

hơn nữa vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôntỉnh Bình Dương hiện nay

Trang 29

Kết luận chương 1

Nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nông thôn trong sự nghiệpđổi mới ở Việt Nam thời gian vừa qua được các nhà khoa học chú ý nhiều cách tiếpcận Trong đó, nổi lên là hướng tiếp cận coi nguồn nhân lực, nhân tố con người vàphát triển nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đời sống xã hội, coi con người

là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, giữ vị trí trung tâmcủa sự phát triển Các công trình đã đề cập đến những vấn đề lý luận về nguồn nhânlực, giải pháp phát triển và phát huy nguồn nhân lực một cách khá toàn diện trong

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới

Xây dựng đời sống văn hoá và phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xâydựng đời sống văn hoá, được nhiều công trình đi sâu phân tích dưới các góc độkhác nhau về đời sống văn hoá, cấu trúc của đời sống văn hoá và việc xây dựng đờisống văn hoá ở nước ta; một số công trình tập trung phân tích vai trò và đề xuất giảipháp phát huy vai trò nguồn lực thanh niên, nguồn nhân lực trẻ trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ở Bình Dương, một số nhà khoa học tậptrung vào việc tổng kết quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; cócông trình đi sâu phân tích đặc điểm và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lựctỉnh Bình Dương trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nghiên cứu khátoàn diện về tư duy, lối sống của con người tỉnh Bình Dương

Nhìn tổng quát có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trìnhkhoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề

“Phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương hiện nay”

Trang 30

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TRONG

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH

DƯƠNG 2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực trẻ và phát huy vai trò nguồn nhân lực trẻ trong xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

2.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực trẻ và xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Quan niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trẻ

“Nguồn nhân lực” được nêu ra với nhiều cách hiểu, như: nguồn lực conngười, tài nguyên con người, nguồn nhân lực xã hội Song tiếp cận theo hướngcoi “nhân lực” là “nguồn lực” với yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sứcmạnh phục vụ cho sự phát triển là cách tiếp cận phổ biến nhất Trong đó, “nguồnlực” là toàn bộ những yếu tố và quá trình đã, đang và có khả năng tạo ra sứcmạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trìnhcải biến xã hội; “nguồn lực” có phạm vi bao quát rất rộng, gồm: những yếu tố

đã, đang tạo ra sức mạnh trên thực tế và những yếu tố còn ở dạng tiềm năng, sứcmạnh khởi nguồn, phát sinh và cung cấp sức mạnh tổng thể về cơ cấu, số lượng,chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó “Nhân lực”

là sức người dùng trong sản xuất, nguồn lực trong mỗi con người, gồm tổng thểthống nhất hữu cơ giữa tiềm năng lao động với năng lực lao động hiện có củacon người hình thành nên năng lực lao động của họ

Khi nghiên cứu nguồn nhân lực, có thể khái quát một số đặc điểm quantrọng: yếu tố cơ bản, năng động, quyết định sự vận động, phát triển xã hội và chínhbản thân mình; bộ phận của dân số, số lượng lao động có và sẽ có, nguồn cung cấpsức lao động cho xã hội trong những thời điểm lịch sử nhất định; tổng hòa giữanăng lực xã hội và tính năng động xã hội của con người; tiềm năng, sức mạnh về

Trang 31

thể lực, trí lực, kỹ năng, thái độ, phong cách, nhân cách của mỗi con người và mốiquan hệ tác động qua lại giữa chúng.

Dưới góc độ triết học, trong phạm vi nghiên cứu nguồn nhân lực ở một vùng

lãnh thổ, một quốc gia, chúng tôi cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của một cộng đồng người tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.

Nguồn nhân lực là tổng thể những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của mộtcộng đồng người tồn tại dưới dạng dạng khả năng và hiện thực Ở dạng khảnăng, nguồn nhân lực là sức mạnh thể chất và tinh thần, sức lực và trí lực, nănglực và phẩm chất của từng người và cả cộng đồng người chưa được bộc lộ hoặcbộc lộ chưa đầy đủ, còn đang ở trạng thái sẵn sàng và được hiện thực hoá khi cóđiều kiện phù hợp, những khả năng đó sẽ trở thành hiện thực trong quá trình laođộng sản xuất tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho sự phát triển của xã hội Ởdạng hiện thực, nguồn nhân lực là sức mạnh thể chất và tinh thần, sức lực và trílực, năng lực và phẩm chất của một cộng động người trong một thời điểm lịch sửnhất định, đang trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quá trình lao động sản xuất tạo

ra của cải vật chất, tinh thần cho sự phát triển của xã hội Do vậy, khi nói đếnnguồn nhân lực không chỉ là phép cộng giản đơn của mỗi người, đó còn là sựliên kết chặt chẽ của cả cộng đồng người; đồng thời thấy được sự liên kết giữacác yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu của dân số

Phẩm chất là cái làm nên giá trị của con người về chính trị, tư tưởng, đạođức, lối sống, thái độ, phong cách Năng lực là những mặt chủ quan của con người,

là toàn bộ thể chất, tâm, sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả nănghoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao Sức mạnh của nguồn nhânlực được thể hiện bằng số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số đủ điều kiện huyđộng và sẵn sàng được huy động vào các hoạt động của xã hội

Lịch sử xã hội loài người luôn gắn liền với lao động sản xuất nên kháiniệm nguồn nhân lực là tổng thể những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của mộtcộng động người trong một giai đoạn lịch sử nhất định, hay trong một thời điểm

Trang 32

lịch sử cụ thể nào đó, thường được tính theo chu kỳ 1 năm, cũng được biểu hiện

ra trước hết là sức mạnh về số lượng người lao động, lực lượng lao động vànguồn lao động Nguồn nhân lực còn được phản ảnh trong thực tế qua quy môdân số thông qua số lượng và tốc độ tăng dân số của một quốc gia hay vùng lãnhthổ trong một thời kỳ nhất định

Nguồn nhân lực phản ánh khía cạnh về số lượng của dân số, là đặc trưngchỉ quy mô của nguồn nhân lực thực tế đang có và lực lượng tiềm năng trongtương lai được bổ sung Sự tăng, giảm về số lượng của nguồn nhân lực do nhucầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng hay giảm số lượng nhân lực hoặc về dân

số và lực lượng nhân lực do di cư, nhập cư Số lượng nguồn nhân lực chính làlực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triểnkinh tế - xã hội Các chỉ số về số lượng của nguồn nhân lực của mỗi quốc gia làdân số, tốc độ tăng trưởng dân số, tuổi thọ bình quân, cơ cấu của dân số, số dân

ở độ tuổi lao động, số người ăn theo Nếu số lượng nguồn nhân lực khôngtương ứng với nhu cầu thực tiễn của sự phát triển, nó có thể gây nên những xáotrộn không nhỏ đối với phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn nhân lực phản ánh những thuộc tính chủ yếu thuộc phương diện chấtlượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại và trong tươnglai gần (dưới dạng khả năng), thể hiện qua các yếu tố như: sức khoẻ thể chất và tâmsinh lý, mức sống, tuổi thọ, trình độ giáo dục, đào tạo về văn hoá và chuyên mônnghề nghiệp, trình độ học vấn, trình độ phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, khảnăng thích nghi, kỹ năng lao động, văn hoá lao động, các khía cạnh tâm lý, ý thức,đạo đức, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống… Trong đó, trí lực, thể lực, đạo đức

là những yếu tố quan trọng nhất của nguồn nhân lực Chất lượng là yếu tố quyếtđịnh đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hoá Khi nói đếnnguồn nhân lực là nói đến sức lao động, chất lượng con người, bao gồm cả thể chất

và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làmviệc Đây là toàn bộ những năng lực, phẩm chất và sức mạnh của con người tạo nênnhân cách mỗi cá nhân, hợp thành năng lực xã hội của sự phát triển

Trang 33

Nguồn nhân lực còn phản ánh khía cạnh cơ cấu dân số và cơ cấu lao độngthể hiện trên các phương diện khác nhau như về thành phần dân tộc, tôn giáo, giớitính, độ tuổi, lĩnh vực hoạt động, vùng miền, trình độ đào tạo, nghề nghiệp, nguồnlao động dự trữ Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng vàsức mạnh của nguồn nhân lực.

Trong nguồn nhân lực, các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số

có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, thống nhất với nhau tạo thành sứcmạnh nội tại của nguồn nhân lực trong một tổ chức, lãnh thổ nhất định đối vớiquá trình phát triển kinh tế - xã hội Do đó, ở những trường hợp cụ thể có thểnhấn mạnh một yếu tố nào đó, song nếu tuyệt đối hoá mặt đó sẽ cản trở việc huyđộng sức mạnh của nguồn nhân lực vào thực hiện mục tiêu đề ra

Ngoài ra, khi xem xét khái niệm nguồn nhân lực phải đặt trong mối quan

hệ hữu cơ với các nguồn lực khác Bởi vì, con người được xem xét với tư cách làmột nguồn lực cơ bản trong hệ thống các nguồn lực, quyết định sự vận động vàphát triển xã hội

Nguồn nhân lực bao hàm những người trong độ tuổi lao động theo khả năng

tự nhiên hoặc quy định hành chính của một quốc gia liên quan đến lao động, việclàm; nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi lãnh thổ, mỗi tổ chức; khôngchỉ về mặt chất lượng, còn bao gồm toàn bộ trình độ chuyên môn của con ngườitích lũy được, có khả năng tạo ra của cải vật chất và tinh thần, đem lại thu nhập chohiện tại và trong tương lai Nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở các cá nhân

có vai trò khác nhau, được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định; là toàn

bộ vốn kiến thức, kỹ năng và sức người cần đầu tư vào công việc để đạt được thànhcông Độ tuổi lao động tùy theo từng quốc gia, có những quy định cụ thể khác nhau.Theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam, tuổi lao động được tính từ đủ 15đến 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam

Trên cơ sở khái niệm nguồn nhân lực, có thể quan niệm: Nguồn nhân lực trẻ là một bộ phận của nguồn nhân lực, có độ tuổi từ đủ 15 đến 30, gồm tổng thể

Trang 34

những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của họ tham gia vào quá trình lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.

Nguồn nhân lực trẻ là một bộ phận không tách rời và mang đầy đủ những nétchung của nguồn nhân lực Song, đây là lớp người có tuổi đời từ đủ 15 đến 30, baogồm trong đó độ tuổi của thanh niên Việt Nam theo quy định của Luật Thanh niên

và những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, nênnguồn nhân lực trẻ là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu xã hội, có những nét riêng sovới nguồn nhân lực nói chung Trong quy luật sinh tồn của con người, việc trải quacác lứa tuổi là một tất yếu Ở mỗi lứa tuổi, sự phát triển về thể chất, tâm lý và nhâncách lại có những quy luật riêng Trong đó, nguồn nhân lực trẻ là một giai đoạnphát triển điển hình về thể chất và tâm sinh lý của con người Đó là giai đoạn đangphát triển nhanh về thể chất, sinh lý, nhân cách, biểu tượng của sự trẻ trung, mạnh

mẽ, hoạt động, hy vọng và ước mơ; tri thức, kinh nghiệm đang tiếp tục phát triển vàhoàn thiện; giai đoạn tự khẳng định vai trò, vị trí và trách nhiệm của mình trong xãhội Tuy vậy, do tuổi trẻ nên giai đoạn đầu còn có những hạn chế nhất định, nhưthiếu kinh nghiệm, bồng bột, thậm chí cả sự liều lĩnh tiềm ẩn những khả năng tolớn, cả tích cực và tiêu cực đan xen

Nguồn nhân lực trẻ thường mang những nét riêng, như: khao khát lýtưởng, hành động thực hiện lý tưởng, hướng tới các giá trị xã hội nhưng lại chưa

đủ kinh nghiệm và sự từng trải; nặng về tình cảm hơn là lý trí; là nhóm dân cư cótrình độ học vấn tương đối cao, nhạy bén trong học tập, tiếp thu tri thức khoahọc, kỹ thuật, công nghệ mới, sáng tạo trong công việc; năng động, nhạy cảmnên dễ dàng tiếp nhận và hội nhập vào cái mới, xu thế mới; sẵn sàng xung kích,xung phong vào những nơi khó khăn, gian khổ, những lĩnh vực khoa học mới;

có hoài bão, ước mơ lập thân, lập nghiệp và luôn đi đầu trong phong trào khởinghiệp; làm ra nhiều sản phẩm nhất cho xã hội; dễ thay đổi hứng thú, sở thích,tiếp thu hệ tư tưởng này hoặc hệ tư tưởng khác, kể cả tích cực và tiêu cực Họ có

sự nhạy cảm, xúc cảm trực tiếp mạnh hơn và đi trước năng lực phân tích bằng lýtrí, khoa học về mọi vấn đề của cuộc sống và bản chất của con người xã hội

Trang 35

Nguồn nhân lực trẻ dễ có cách nhìn và đánh giá xuất phát từ cảm hứng phê phán,thậm chí có thể phiến diện và cực đoan về quá khứ; song, đối với tương lại, họthường lý tưởng hoá, hy vọng, say mê và hay tưởng tượng, nhưng đồng thờicũng dễ chán nản, thất vọng và hoài nghi

Nguồn nhân lực trẻ là tập hợp những người trẻ tuổi được giáo dục, đàotạo, bồi dưỡng nhất định về văn hoá, về tri thức, chuyên môn nghề nghiệp, phẩmchất, năng lực để có thể tham gia và sẵn sàng tham gia vào các lĩnh vực hoạtđộng kinh tế - xã hội khi địa phương và đất nước yêu cầu

Về cơ cấu xã hội, nguồn nhân lực trẻ rất đa dạng, gồm: công nhân, nông dân,trí thức, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang Tuỳ thuộc vào từng khu vực, quốcgia mà tỉ lệ cơ cấu có sự khác nhau Ở Việt Nam, nguồn nhân lực trẻ có tỷ lệ caonhất trong các nhóm nhân lực xã hội Trong đó, nguồn nhân lực trẻ nông thônchiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với khu vực khác, tỉ lệ nông dân vẫn còn cao hơn sovới công nhân, trí thức

Nguồn nhân lực trẻ và tuổi trẻ không đồng nhất mặc dù giữa chúng cónhiều điểm tương đồng Khái niệm tuổi trẻ vừa mang ý nghĩa sinh học, vừamang ý nghĩa xã hội, trong đó ý nghĩa sinh học có phần trội hơn Nguồn nhânlực trẻ không chỉ được nhìn nhận từ góc độ tuổi trẻ chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấudân cư và là lực lượng chủ yếu trên các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội,

mà còn được nhìn nhận như một lực lượng lao động của xã hội giàu tiềm năng,

có khả năng phát triển

Quan niệm về đời sống văn hoá

Đời sống văn hoá là tổng thể các yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và

tinh thần, các thiết chế, sản phẩm văn hoá, cùng những tác động qua lại giữa chúng trong cộng đồng đáp ứng nhu cầu của các chủ thể và trực tiếp hình thành nhân cách, lối sống của con người.

Chủ thể của đời sống văn hoá là những con người có văn hoá, giữ vai trò

quan trọng đối với các yếu tố khác của văn hoá nói chung, cấu trúc đời sống vănhoá nói riêng Chủ thể của đời sống văn hoá rất đa đạng, tuỳ theo các đặc điểm như:

Trang 36

lứa tuổi, giới tính, học vấn, sức khỏe, nghề nghiệp song, đều xuất phát từ nhu cầuvăn hoá, bao gồm: cá nhân ở mỗi cộng đồng, như trình độ văn hoá, định hướng giátrị, phong cách sinh hoạt, cách sử dụng thời gian rỗi, văn hoá ứng xử, giao tiếp, lốisống, lẽ sống, nếp sống văn hoá; các “tế bào” trong mỗi cộng đồng, như gia đình,nhà trường, cơ quan, công sở, đơn vị, tổ nhóm lao động, học tập; nhóm xã hội kháctheo lứa tuổi, nghề nghiệp hoặt tộc người, tín ngưỡng, tôn giáo

Hoạt động của đời sống văn hoá là quá trình sản xuất và tiêu thụ những sản

phẩm văn hoá đáp ứng các nhu cầu văn hoá của con người Hoạt động của đời sốngvăn hoá bao gồm tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩmvăn hoá như sáng tạo, truyền bá, lưu trữ, hưởng thụ văn hoá Vì vậy, hoạt động củađời sống văn hoá là một yếu tố quan trọng, cốt lõi cấu thành đời sống văn hoá Hoạtđộng của đời sống văn hoá bao gồm những hoạt động như sáng tác văn chương,nghệ thuật; biểu diễn trên sân khấu và trong điện ảnh; khai trí - giáo dục trình độ, trithức cho mọi người; diễn giảng, tọa đàm, thư viện, thông tin; quảng bá các giá trịvăn hoá như báo chí, xuất bản, truyền thông; lưu giữ sản phẩm văn hoá như bảotàng, lưu trữ, triển lãm; tiêu dùng các sản phẩm văn hoá như đọc sách, báo, nghe âmnhạc, xem nghệ thuật, phim ảnh, triển lãm; lễ hội, tín ngưỡng; xây dựng phong tục,nếp sống văn hoá; thể dục thể thao, vui chơi giải trí

Thiết chế của đời sống văn hoá là bộ máy điều hành hoạt động văn hoá bao

gồm các cơ quan quản lý, cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn làm văn hoá; cácthể chế vận hành, tức là có đường lối văn hoá, các văn bản pháp quy về văn hoá,quy chế và điều lệ cho các hoạt động văn hoá, chính sách, chế độ đãi ngộ về tàichính cho cán bộ và mạng lưới cộng tác viên, chế độ khen thưởng, kỷ luật; các cơ

sở vật chất, trang bị, kĩ thuật bảo đảm cho hoạt động văn hoá, như nhà ở, nhà vănhoá, trung tâm văn hoá, thư viện, nhà bảo tàng; đình, chùa, nhà thờ, khu vui chơithể dục, thể thao; trang thiết bị, phương tiện chuyên dụng Đó là điều kiện bảo đảmcho hoạt động văn hoá được vận hành thông suốt

Trang 37

Sản phẩm của đời sống văn hoá là kết quả của quá trình tương tác giữa con

người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nói cách khác, sản phẩm củađời sống văn hoá là kết quả của quá trình sáng tạo và tích lũy trong chuỗi hoạt độngvăn hoá của con người, tạo nên các giá trị văn hoá Sản phẩm của đời sống văn hoárất phong phú, đa dạng, như: các công trình kiến trúc, xây dựng, cảnh quan văn hoá;phim ảnh, sách báo, tranh, tượng; truyền thuyết, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, tụcngữ, ca dao, hò vè; du lịch, vũ trường, karaoke…

Những yếu tố nêu trên nằm trong mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lạivới nhau Trong đó, chủ thể của đời sống văn hoá giữ vai trò chủ đạo chi phốicác hoạt động, tạo ra sản phẩm của đời sống văn hoá và thông qua thiết chế củađời sống văn hoá mà mọi hoạt động của đời sống văn hoá được diễn ra

Trong quan hệ với đời sống văn hoá, môi trường văn hoá là tổng hòa các giátrị văn hoá vật chất, tinh thần tác động đến con người và cộng đồng trong một khônggian, thời gian xác định Khái niệm môi trường văn hoá có phạm vi bao quát rộnghơn khái niệm đời sống văn hoá Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, hành

vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể củađời sống, nhằm thoả mãn khát vọng hưởng thụ và sáng tạo văn hoá Môi trường vănhoá đề cao vai trò chủ động của con người với tư cách là sản phẩm của văn hoá, đồngthời là chủ thể sáng tạo văn hoá trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tựnhiên và môi trường xã hội, tạo sự ổn định, phát triển, hướng tới các giá trị chân,thiện, mỹ, không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng sống của con người

Quan niệm về xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Cư dân tỉnh Bình Dương được hình thành cho đến nay khoảng 300 năm, banđầu tuyệt đại đa số là nông dân; thành phần bần nông và trung nông nhỏ chiếm đasố; đất ruộng rất ít nên ngành nghề thủ công phát triển rất mạnh Sau khi thực dânPháp xâm lược và đặt ách thống trị, kéo dài cho đến thời Mỹ Ngụy, đất sản xuấtcủa nông dân bị chiếm đoạt lập đồn điền trồng cao su, làm cho một bộ phận nôngdân trở thành công nhân hoặc bán công, bán nông Từ sau giải phóng, đặc biệt, từ

Trang 38

ngày tái lập tỉnh (năm 1997) đến nay, Bình Dương đã “đạt được những thành tựuquan trọng và khá toàn diện Tiềm lực và khả năng cạnh tranh, thương hiệu của tỉnhđược cải thiện rõ rệt, Bình Dương đang thuộc nhóm các tỉnh dẫn đầu thành côngtrong sự nghiệp đổi mới” [32, tr 83] Mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôncủa tỉnh là “Phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, giá trị gia tăng cao, ứng dụngtiến bộ khoa học, công nghệ và chuyển đổi mô hình sản xuất, gắn với thị trườngtiêu thụ, phát triển công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới” [32, tr 98].

Hiện nay, Bình Dương là tỉnh công nghiệp, cùng với Đồng Nai, Thành phố

Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu tạo thành khu tứ giác kinh tế trọng điểm phíaNam Nông thôn của tỉnh là những địa bàn rộng lớn bao quanh các đô thị, có nhiềulợi thế so với các địa phương khác về thời tiết, khí hậu ôn hoà, rất ít có bão, lụt; cónhiều tiềm năng về đất đai, lao động; hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng thuận lợicho việc phát triển công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Về kinh tế, Bình Dương là nơi thu hút đầu tư lớn, có điều kiện giao lưu, thúc

đẩy phát triển văn hoá, tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ, kĩ thuật,thông tin của cả nước, khu vực và quốc tế Nông thôn tỉnh Bình Dương tập trungphát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, nông nghiệp sinh tháigắn với công nghiệp chế biến, sản xuất nông sản hàng hoá lớn, có giá trị và hiệuquả cao; thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giátrị gia tăng và phát triển bền vững; đa dạng về ngành nghề sản xuất, chủ yếu làtrồng cây công nghiệp, cây ăn quả đặc sản gắn với du lịch sinh thái, các loại rau củquả, chăn nuôi gia súc, gia cầm ứng dụng công nghệ cao phục vụ các khu côngnghiệp, ngoài ra còn có các ngành nghề thủ công, gốm sứ, mỹ nghệ…

Về xã hội, nông thôn tỉnh Bình Dương là nơi phát triển công nghiệp và đô thị

hoá diễn ra nhanh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, tỷ trọng nôngnghiệp ngày càng giảm trong cơ cấu kinh tế Cơ cấu dân cư ở nông thôn rất đa dạngvề thành phần dân cư, ngoài dân cư bản địa còn có một lực lượng đông đảo lao

Trang 39

động ngoại tỉnh về làm việc cư trú trên địa bàn; ngoài nông dân, còn có công nhân,trí thức và các tầng lớp xã hội khác cùng chung sống Mật độ dân số ở nông thôntrong tỉnh cao, đời sống cư dân được nâng cao, không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩnchung của nông thôn cả nước

Về văn hoá, ở nông thôn Bình Dương rất phong phú, đa dạng, là kho tàng

văn hoá của tỉnh, là nơi nghỉ ngơi, du lịch xanh hẫp dẫn cho cư dân đô thị, nơi giữgìn nhiều phong tục, tập quán cổ truyền của dân tộc; trình độ văn hoá, khoa họccông nghệ, cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc tuy kém hơn đô thị, song đã được quantâm đâu tư cơ bản Bình Dương là nơi có sự phát triển rực rỡ của nghề thủ công mỹnghệ, những nghề thủ công cổ truyền nổi tiếng lâu đời vẫn còn tồn tại, như: mộc,điêu khắc, gốm sứ, sơn mài và các nghề khác như đục đẽo đá, làm guốc, đan látmây tre, hội họa, kiến trúc… Người dân nông thôn Bình Dương được tụ hợp từnhiều vùng khác nhau, tạo nên tính đa dạng, muôn vẻ về văn hoá, tín ngưỡng, tôngiáo, nhưng đó là tính đa dạng trong tích hợp văn hoá, tạo nên sự cân bằng trênphương diện tâm thức tín ngưỡng xã hội, thống nhất trong đa dạng; có tính cáchphóng khoáng “kiểu Nam bộ”, lối sống chân thật

Đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương là tổng thể các yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, các thiết chế, sản phẩm văn hoá cùng những tác động qua lại giữa chúng trong cộng đồng đáp ứng nhu cầu các chủ thể văn hoá, hình thành nên nhân cách và lối sống của người dân nông thôn tỉnh Bình Dương

Đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương là kết quả của quá trình sángtạo và tích lũy lâu đời trong chuỗi hoạt động văn hoá của người dân nông thôn, kếttinh thành những giá trị văn hoá, tạo lập nên chủ thể văn hoá mới Từ những đặcđiểm ở nông thôn Bình Dương, cho thấy các chủ thể đời sống văn hoá nông thôncủa tỉnh rất đa dạng Đó là toàn bộ người dân nông thôn từ những cá nhân, tập thểđến các nhóm cộng đồng xã hội, trong đó ngoài nông dân, còn có đông đảo côngnhân và các tầng lớp dân cư khác lao động trong các nông trường cao su, điều, hồ

Trang 40

tiêu; trong các khu công nghiệp, khu chế xuất… ngoài ra còn có các cá nhân, tổchức và lực lượng xã hội khác gián tiếp góp phần tạo lập nên đời sống văn hoánông thôn tỉnh Bình Dương

Hoạt động của đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương khá đa dạng.Trong đó, nổi lên một số hoạt động chủ yếu: xây dựng gia đình văn hoá, khu nhàtrọ văn hoá và nếp sống văn hoá trong việc cưới, việc tang, lễ hội, văn minh đô thị,văn nghệ quần chúng, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí; hoạt động xã hội từ thiện,thông tin, tuyên truyền, cổ động; hoạt động của các câu lạc bộ hưu trí, người caotuổi, giúp nhau phát triển kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, làmgiàu, giảm nghèo; các hoạt động thư viện cộng đồng, trung tâm văn hoá và bảo vệ

di tích lịch sử, giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng cho thế hệ trẻ BìnhDương là tỉnh đi đầu trong xây dựng nông thôn mới, các thiết chế của đời sống vănhoá ở nông thôn đã được tập trung xây dựng về cơ bản, như: các trung tâm văn hoá,đài truyền thanh, phòng truyền thống, thư viện cộng đồng, công viên văn hoá, sânbãi thể dục, thể thao… Trong đó, trung tâm văn hoá là nơi bao chứa hầu hết cáchoạt động của đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương

Quá trình xây dựng và phát triển, nông thôn tỉnh Bình Dương có nhiềusản phẩm văn hoá có giá trị, đó là những tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hộimang đậm dấu ấn sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, như: tín ngưỡngsùng bái tự nhiên, thờ nữ thần, thờ tổ nghề; các công trình kiến trúc cổ, các ditích lịch sử, cách mạng, nhiều ngành nghề truyền thống Các loại hình sản phẩmvăn hoá đặc sắc, đậm nét riêng của người dân nông thôn Bình Dương như: lý, hòhuê tình, hô lô tô, nói thơ, nói vè, thơ rơi; các sản phẩm văn hoá hiện đại như vũtrường, karaoke, hát dạo, du lịch nhà vườn, du lịch sinh thái… Ngoài ra còn cảnhững tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội nông thôn để tạo ra nhữngquan hệ ứng xử có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách vàlối sống của người dân nông thôn, không tách rời các lĩnh vực của đời sống xãhội ở nông thôn và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hoá

Ngày đăng: 26/06/2018, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w