1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại viện công nhân và công đoàn

86 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 706,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, vấn đề cơ chế tài chính cho KH&CN nói chung còn được đề cập tới trong một số công trình, bài viết khác như: - Tài chính với việc phát triển khoa học – công nghệ, kỷ yếu Hội thả

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHUẤT HUYỀN TRANG

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NHÂN VÀ CÔNG ĐOÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHUẤT HUYỀN TRANG

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NHÂN VÀ CÔNG ĐOÀN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập

của riêng tôi Công trình nghiên cứu này được thực hiện trong quá trình học tập tại Học viện Khoa học xã hội

Các tài liệu, số liệu mà tôi sử sụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, không trích dẫn vi phạm quy định của pháp luật

Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được

ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó

Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Ban Giám đốc Học viện và Ban Chủ nhiệm Khoa cũng như giáo viên hướng dẫn

Tác giả

Khuất Huyền Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô tại Học viện Khoa học Xã hội

đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là hành trang giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Lê

đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp Nhờ có sự hướng dẫn của Cô mà tôi đã hoàn thành được Luận văn của mình

và tích lũy được nhiều kiến thức quý báu trong môi trường tôi đang công tác

Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều trong thời gian vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng tôi xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Khuất Huyền Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 10

1.1 Những vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp công lập 10 1.2 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập 15

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NHÂN VÀ CÔNG ĐOÀN 36

2.1 Khái quát về Viện Công nhân và Công đoàn 36 2.2 Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn 45 2.3 Đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn 57

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN CÔNG NHÂN VÀ CÔNG ĐOÀN 64

3.1 Phương hướng phát triển của Viện Công nhân và Công đoàn 64 3.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng cán bộ theo học hàm, học vị tại Viện Công nhân và Công đoàn 42 Bảng 2.2: Các nguồn tài chính của Viện Công nhân và Công đoàn 46 giai đoạn 2015-2017 46 Bảng 2.3: Kinh phí Tổng Liên đoàn cấp cho Viện Công nhân và Công đoàn giai đoạn 2015-2017 48 Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn thu khác của Viện Công nhân và Công đoàn giai đoạn 2015-2017 49 Bảng 2.5: Cơ cấu chi ngân sách của Viện Công nhân và Công đoàn 51 giai đoạn năm 2015-2017 51 Bảng 2.6: Kết quả phân phối chênh lệch thu-chi của Viện Công nhân và Công đoàn giai đoạn năm 2015-2017 56

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện Công nhân và Công đoàn 41 Hình 2.2: Số lượng cán bộ Viện Công nhân và Công đoàn giai đoạn 2015-

2017 42

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, khoa học công nghệ tiếp tục phát triển và hướng vào nghiên cứu ứng dụng, đã phát huy vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Nhiều thành tựu khoa học được ứng dụng trong thực tế đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế sản xuất trong nhiều lĩnh vực trên nhiều vùng kinh tế của đất nước Cơ chế quản lý khoa học công nghệ đã bước đầu được đổi mới nhằm gắn hoạt động khoa học công nghệ với sản xuất và đời sống, mở rộng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học công nghệ

Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ban hành ngày 05/09/2005, trong đó quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ và Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ, tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghiệp với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình

xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 90/2017/TT-BTC quy định việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập

Sau khi Quyết định số 271/QĐ-TLĐ ban hành ngày 11/01/2015 của Đoàn Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc giao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với Viện Công nhân và Công đoàn, Viện đã áp dụng mô hình tổ chức và hoạt động mới Tuy nhiên, việc chuyển sang mô hình cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề tự chủ tài chính, gồm việc giao tài sản để chủ động sử dụng cho nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh, phân cấp quản lý cán bộ viên chức và gia tăng nguồn thu ngoài NSNN Đây là những vấn đề cướng mắc nhất trong hoạt động của các tổ chức

Trang 10

khoa học công nghệ nhiều năm qua, làm cản trở sự phát triển của tổ chức

khoa học công nghệ Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ

tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn” là vấn đề cấp thiết và có ý

nghĩa thực tiễn cao

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại các tổ chức khoa học công nghệ công lập là xu hướng tất yếu và mang tính chiến lược Đây là một vấn đề mang tính thời sự, do đó, thời gian qua đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, sách, bài báo, tham luận hội thảo, … của các nhà quản lý, các nhà khoa học trao đổi, bàn luận về vấn đề này, nhằm đóng góp, xây dựng cơ chế quản lý tài chính Khoa học và Công nghệ mới phù hợp với sự phát triển của đất nước, nổi bật trong đó là các nghiên cứu sau:

Các đề tài nói đến vấn đề về chính sách quản lý tài chính cho hoạt động

Khoa học và Công nghệ như nghiên cứu của TS Đinh Thị Nga, Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ, Tạp chí

Khoa học công nghệ Việt Nam, số 14/2013 Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu lên những bất cập trong quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động Khoa học và Công nghệ trong đó có đề cập đến những hạn chế của công tác lập ngân sách đầu tư, phân bổ ngân sách và thanh quyết toán ngân sách,… Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhằm thúc đẩy phát triển Khoa học và Công nghệ cho các nhà trường, doanh nghiệp, viện nghiên cứu Các giải pháp như bài toán thị trường Khoa học và Công nghệ nhìn chung phù hợp với các tổ chức nghiên cứu sản xuất những sản phẩm có thị trường còn đối với các viện nghiên cứu đặc thù không có thị trường Khoa học và Công nghệ thì khó áp dụng được các giải pháp này

Bài báo “Cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ ở Việt

Trang 11

chỉ ra một số hạn chế của cơ chế tài chính hiện hành cho Khoa học và Công nghệ gồm: cơ chế huy động, cơ chế phân bổ và vấn đề sử dụng nguồn lực tài chính Tác giả đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính cho các hoạt động Khoa học và Công nghệ theo 2 hướng là: tái cấu trúc lĩnh vực đầu

tư công và duy trì các khuyến khích hiện tại đối với việc nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Bài viết đã phân tích khá rõ nét thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay; Đồng thời cũng đóng góp một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả trong quản lý cũng như trong hoạt động nghiên cứu Tuy nhiên, đó là những giải pháp mang tính vĩ mô mà tác giả muốn hướng tới một cơ chế chung

Tác giả Bùi Thiên Sơn, “Tổng quan về định hướng chi tiêu nguồn tài chính cho quá trình phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2020

và một số khuyến nghị”, Tạp chí nghiên cứu chính sách khoa học và công

nghệ, số 17/2010 Trong nội dung này, tác giải nhận định “công tác tài chính

có vai trò quan trọng để tạo đột phá cho phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia” Những đánh giá cụ thể về mặt thu và chi ngân sách cho hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2010 còn nhiều bất cập Tác giả đã chỉ ra một số thực trạng trong quản lý tài chính và có dẫn chứng bằng số liệu điều tra “năm 2008, có nhiều nơi các nhà khoa học mất đến 60% quỹ thời gian nghiên cứu để giải trình thuyết minh và giải ngân kinh phí đề tài đã được phê duyệt” Điều này cho thấy chính sách quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nhiều hạn chế, cần có các giải pháp phù hợp hơn cho sự phát triển Khoa học và Công nghệ

Bài “Vấn đề đầu tư và vốn cho khoa học và công nghệ ở nước ta”, đăng trên tạp chí Lý luận Chính trị năm 2011 của Nguyễn Mậu Trung đã tổng

kết lại các nguồn vốn cơ bản từ NSNN cho KH&CN, thực trạng sử dụng vốn

từ NSNN, một số cơ chế tạo vốn đầu tư cho KH&CN trong các doanh nghiệp

và nêu ra một số giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN,… Bài

Trang 12

viết đã đưa ra một số trượng hợp cụ thể như: NSNN bố trí cho KH&CN 2% tổng chi ngân sách, nhưng việc phân bổ tồn tại nhiều bất cập, ách tắc dẫn đến

tỷ lệ thực chi cho KH&CN thấp, việc giải ngân chậm, thậm chí tồn không tiêu hết; Hoạt động KH&CN vẫn hình thức và không hiệu quả, với trên 1200 tổ chức KH&CN, nhưng các tổ chức KH&CN và các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu KH&CN theo sự chỉ đạo của nhà nước, dùng kinh phí của nhà nước và nộp sản phẩm cho nhà nước để hưởng tiền lương, tiền công; Bên cạnh đó, nhà nước cho phép hình thành các quỹ để hỗ trợ đầu tư cho KH&CN, ưu đãi về thuế đối với hoạt động KH&CN; ra chủ trương chuyển đổi về tổ chức và hoạt động trong KH&CN (theo nghị định 115/2005/NĐ-CP) Nguyễn Mậu Trung đã đề xuất một số giải pháp sau: nâng cao nhận thức cho toàn dân; có quy chế phân bổ và sử dụng đúng, đủ và triệt để kinh phí được phân bổ; có chính sách khuyến khích chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm; mở rộng xã hội hóa thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách cho hoạt động KH&CN; tổ chức kiểm điểm thực hiện nghị quyết TW2 và kết quả thực hiện luật KH&CN cũng như các văn bản khác liên quan

Một nghiên cứu khác liên quan đến quản lý tài chính trong lĩnh vực KH&CN của tác giả Trần Ngọc Hoa (2012) đã đề cập đến cơ chế tự chủ về ngân sách trong hoạt động nghiên cứu và phát triển tự chủ của tổ chức KH&CN về vấn đề tài chính chỉ là một nội dung, do vậy nghiên cứu mới chỉ

đề cập đến một khía cạnh trong công tác quản lý và sử dụng nguồn ngân sách của Nhà nước trong các tổ chức nghiên cứu Bài báo chưa nêu ra được những vấn đề về nguồn vốn đầu tư cho KH&CN và các thủ tục gây khó khăn cho các nhà khoa học

Đề tài “Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ - Những vấn đề đặt ra” của tác giả Bùi Tiến Dũng, bài đăng trên Tạp

chí tài chính số 2/2014 Bài báo đã phân tích các vấn đề cốt lõi trong cơ chế tài chính hiện nay của các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập và đề xuất

Trang 13

Đề tài “Chính sách chuyển đổi tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang mô hình doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Lê Thu, bài đăng trên

Tạp chí Tài chính số 2/2014 Tác giả đã phân tích thực trạng việc chuyển đổi

từ mô hình tổ chức khoa học công nghệ công lập sang mô hình doanh nghiệp hiện nay, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi và kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển đổi

Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại cá

tổ chức khoa học công nghệ trong các trường đại học khối kỹ thuật trực thuộc

Bộ Giáo dục và đào tạo” của tác giả Nguyễn Văn Bảo, bài đăng trên Tạp chí

Khoa học Công nghệ Xây dựng số 14/12-2012 Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại các Viện, các Trung tâm khoa học công nghệ trong các trường đại học khối kỹ thuật và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và tăng cường tính tự chủ tài chính trong các đơn vị này

Đề tài “Quản lý tài chính tại Trung tâm vận tải đối ngoại V75-Bộ ngoại giao theo cơ chế tự chủ tài chính” của tác giả Nguyễn Thành Lê, Luận văn

thạc sỹ bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ, thực hiện theo Nghị đinh số 43/2006/NĐ-

CP và đánh giá thực trạng thực hiện tại Trung tâm vận tải đối ngoại – Bộ ngoại giao, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của công tác quản lý tài chính, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý tài chính tại đơn vị

Đề tài “Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính trong trường đại học công lập – Trường hợp trường Đại học Thương mại” của tác giả Phạm Xuân Tuyên,

Luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2014 tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài nghiên cứu việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại cơ sở giáo dục đào tạo công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP để từ

Trang 14

đó đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính trong trường Đại học công lập, góp phần trong việc đưa ra một cái nhìn tổng quan về tình hình tự chủ trong các trường Đại học công lập nói chung và tự chủ về tài chính của trường Đại học Thương mại nói riêng

Ngoài ra, vấn đề cơ chế tài chính cho KH&CN nói chung còn được đề cập tới trong một số công trình, bài viết khác như:

- Tài chính với việc phát triển khoa học – công nghệ, kỷ yếu Hội thảo khoa học của Học viện Tài chính, Hà Nội (3/2013);

- Đổi mới quản lý tài chính từ ngân sách Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ, của Mai Ngọc Cường, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do

Kiểm toán Nhà nước – Bộ KH&CN tổ chức, Hà Nội (8/2006);

- Về cơ chế quản lý tài chính chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005, của Nguyễn Trường Giang, Tạp chí Kiểm

Danh Sơn, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ;

- Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN, của Nguyễn Thị Anh

Thư, Tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 3/2006;…

Phần lớn các nghiên cứu trên đã nêu lên được những thực trạng về quản

lý tài chính hiện nay Có những nghiên cứu khá tổng quan nhằm đóng góp cho cơ chế hiện hành, có những bài viết rất cụ thể chi tiết về quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ Các đề tài nghiên cứu trên đây đã làm rõ các khung pháp lý, phân tích các thuận lợi, khó khăn, và đề xuất các giải pháp cho việc đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tự chủ của các tổ chức KHCN công lập Đối tượng nghiên cứu được đề cập đến là viện nghiên cứu,

Trang 15

các trường đại học, các doanh nghiệp khoa học công nghệ ở nhiều ngành, lĩnh vực Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ chế tại mỗi tổ chức khác nhau có những nét đặc thù riêng, chính vì vậy, tác giả đã đặt ra vấn đề cần nghiên cứu cụ thể

ở đây là “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn”, một đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ công lập đang trong những năm đầu tiên thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 115/2005/NĐCP Do đó, việc áp dụng các giải pháp đối với Viện Công nhân

và Công đoàn – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần được nghiên cứu kỹ sao cho phù hợp với đặc thù của tổ chức này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn để phát hiện những vấn đề bất cập

và nguyên nhân khiến cho việc tự chủ trong tài chính gặp khó khăn, trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính trong hoạt động KH&CN của Viện Công nhân và Công đoàn

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu lý luận cơ bản về quản lý tài chính theo hướng tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các tổ chức khoa học công nghệ công lập nói riêng

- Phản ánh thực trạng tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính áp dụng cho Viện Công nhân và Công đoàn

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2017 Lý do chọn khoảng thời gian 2015-2017 vì năm 2015 là thời điểm bắt đầu Viện chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 16

+ Về không gian: Viện Công nhân và Công đoàn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng những phương pháp sau để thực hiện luận văn:

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do người khác thu thập, sử dụng cho các mục đích khác nhau Dữ liệu thứ cấp có thể là dữ liệu chưa xử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã xử lý

Trong luận văn này dữ liệu thứ cấp gồm có:

- Các quy định tài chính, các quyết định của nhà nước, các thông tư

hướng dẫn, các giáo trình chuyên ngành, các luận văn, đề tài đã nghiên cứu trước đó có liên quan đến chủ đề của Luận văn

- Các báo cáo tài chính của Viện, tình hình thu chi, năng lực tài chính Tác giả đã thu thập, phân tích và xử lý các thông tin tổng quát về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của viện, các thông tin từ các báo cáo tài chính, các chứng từ, sổ kế toán liên quan đến thu và chi của Viện

Kết quả nghiên cứu các tài liệu thu thập được giúp tác giả hệ thống được các lý luận về khả năng tài chính và tự chủ tài chính của Viện, từ đó rút

ra được những đánh giá và đề xuất thiết thực để áp dụng tại đơn vị

5.2 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng để tổng hợp, thống kê các dữ liệu thông tin khảo sát về thực trạng chi và các khoản phải thu tại viện

- Phương pháp thống kê so sánh: Từ thông tin, số liệu thu thập được, tiến hành so sánh giữa kế hoạch và thực hiện Từ đó đánh giá thực trạng tài chính dựa trên những phân tích số liệu của phương pháp thống kê mô tả Từ

đó đưa ra những ưu điểm và hạn chế trong công tác tự chủ tài chính tại Viện, đánh giá nguyên nhân và đưa ra giải pháp

Trang 17

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận, luận văn làm rõ bản chất của tự chủ tài chính (TCTC),

cơ chế TCTC

- Về mặt thực tiễn, luận văn đánh giá thực trạng tự chủ tài chính của Viện Công nhân và Công đoàn khi thực hiện cơ chế hiện hành Từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế TCTC phù hợp với Viện CN&CĐ nói riêng và các đơn vị khoa học công nghệ SNCL nói chung Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về TCTC đối với các viện nghiên cứu

7 Cơ cấu của luận văn

Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

(i) Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;

(ii) Chương 2: Đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn;

(iii) Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Công nhân và Công đoàn

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1 Những vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập

Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, cụm từ “đơn

vị hành chính sự nghiệp” được hiểu là từ gọi tắt cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hội quần chúng Trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các cơ quan Nhà nước xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý của mình về kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển Đã tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp Vì vậy, hiện nay đơn

vị sự nghiệp công lập thường được định nghĩa khá giống nhau như:

Theo Giáo trình Tài chính công của GS.TS Dương Thị Bình Minh năm

2005 thì: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức thuộc sở hữu Nhà nước, hoạt động cơ bản của nó là cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội trong các lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể dục, thể thao,…[18]

Theo Giáo trình Quản lý tài chính công của Học viện Tài chính năm 2007 thì: Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch

vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm,…[11]

Theo chế độ kế toán HCSN năm 2006 thì đơn vị sự nghiệp công lập là:

Trang 19

chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn.[1]

Như vậy, các đơn vị sự nghiệp công lập có thể được hiểu là tổ chức do

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Các hoạt động này có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.[16]

1.1.2 Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập

Đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp công lập là rất đa dạng, bắt nguồn

từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh

tế thị trường Tuy nhiên, các đơn vị sự nghiệp công lập dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản như sau:

- Thứ nhất, mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là

không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng

Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động sự nghiệp cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế nhưng mục đích chính không phải vì mục đích lợi nhuận Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các

Trang 20

ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân

- Thứ hai, kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các dịch vụ công, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững, lâu dài cho xã hội

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội,… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động

sự nghiệp công lập chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội Hàng hoá công cộng có hai đặc

tính cơ bản là không có tính cạnh tranh rival) và không loại trừ

(non-excludable) Nói cách khác, đó là những hàng hóa mà nếu có một người tiêu dùng một hàng hóa thì trong cùng một lúc không làm cho người khác phải ngừng tiêu dùng hàng hóa đó và tiêu dùng của người này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác

Nhờ việc sử dụng những “hàng hóa công cộng” do hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Hoạt động sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, thể dục, thể thao mang đến tri thức và đảm bảo sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng tốt hơn Hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa mang lại những hiểu biết về tự nhiên, xã hội tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực tới quá trình tái sản xuất xã hội

Trang 21

bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước

Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình xóa mù chữ,… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.[16]

1.1.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

Để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước thì cần có sự phân loại các đơn

vị sự nghiệp công lập Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý nhà nước,… mà các đơn vị sự nghiệp công lập được phân chia theo các tiêu thức khác nhau Các cách phân loại tuy khác nhau về hình thức, đôi khi không có ranh giới rạch ròi song tựu trung lại đều nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá đưa ra các định hướng, mục tiêu phát triển của mỗi loại hình đơn vị phù hợp với từng thời kỳ

Theo tính chất công cộng hay cá nhân của dịch vụ cung cấp thì đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công cộng thuần túy và đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công cộng có tính chất cá nhân

Theo chủ thể quản lý thì đơn vị sự nghiệp công lập được phân thành:

- Đơn vị sự nghiệp công lập do Trung ương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình Việt Nam, các tổ chức khoa học và công nghệ, trường học do Trung ương quản lý,…;

- Đơn vị sự nghiệp công lập do địa phương quản lý, bao gồm: Đài

Trang 22

truyền hình tỉnh, thành phố, các tổ chức khoa học và công nghệ, trường học

do địa phương quản lý,…;

Theo quan điểm về thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Nghị định 43/2006/CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động) là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động) Đây là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN phải cấp một phần chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).[16]

Tuy nhiên, theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/06/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, trong đó tổ chức khoa học và công nghệ công lập được phân loại theo mức độ

tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư như sau:

- Nhóm 1: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;

- Nhóm 2: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên;

Trang 23

- Nhóm 3: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;

- Nhóm 4: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên

Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tại nhóm 2,3,4 được Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư

Theo quan điểm trên tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập là mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp, được xác định bằng công thức sau:

Mức tự đảm bảo chi

phí hoạt động thường

xuyên của đơn vị (%)

Tổng số nguồn thu sự nghiệp

= - x 100 % Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Tổng nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định

Tóm lại, đặc điểm, lĩnh vực hoạt động, tính chất hoạt động và mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập được xem là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập.[16]

1.2 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập

1.2.1 Khái niệm và vai trò của cơ chế tự chủ tài chính

1.2.1.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính

Theo Giáo trình Lý thuyết tài chính của Học viện tài chính thì “Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong

xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội”.[10]

Trang 24

Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/02/2015 về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập: “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy nhân sự và tài chính của đơn

vị sự nghiệp công [7]

Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị

Cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập thực chất là

cơ chế quản lý tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn

vị gắn trách nhiệm thực thi quyền định đoạt đó được đề cao

Các đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội do Nhà nước thành lập và đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn

vị sự nghiệp công lập mang những đặc điểm riêng Cụ thể:

Thứ nhất, quyền đi đôi với trách nhiệm Đơn vị sự nghiệp công được Nhà nước giao quyền quyết định các vấn đề tài chính trong đơn vị, song phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước pháp luật, trước Nhà nước

và trước yêu cầu của người thụ hưởng các dịch vụ do mình cung cấp

Thứ hai, Quyền tự chủ tài chính luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt động khác của đơn vị Quyền tự chủ tài chính chỉ có thể triển khai thực hiện khi đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ trong các hoạt động sự nghiệp một cách có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp công phải có tự chủ về tài chính Như vậy, giữa quyền tự chủ tài chính với quyền tự chủ các hoạt động khác trong đơn vị sự nghiệp công lập có mối quan hệ hữu cơ gắn

bó với nhau, hỗ trợ nhau

Trang 25

Thứ ba, Quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quyền tự chủ có giới hạn Các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do Nhà nước thành lập và quản lý, do đó mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập, kể cả hoạt động tài chính đều đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, của các cơ quan quản lý cấp trên, cho dù các hoạt động đó đã được trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm Sự giới hạn của quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị công lập là một yêu cầu tất yếu, nó xuất phát lợi ích chính đáng trong việc hưởng thụ dịch vụ công của xã hội, mà Nhà nước là người bảo hộ Nhà nước ban hành quy chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập, quy định phạm vi, mức độ tự chủ đối với một số hoạt động tài chính trong đơn vị

1.2.1.2 Vai trò của cơ chế tự chủ tài chính

* Đối với các tổ chức quản lý:

Thứ nhất, tạo lập vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nói

chung, và các tổ chức khoa học và công nghệ công lập nói riêng nhằm khơi dậy và huy động các nguồn tài chính trong xã hội

Thứ hai, thúc đẩy quá trình đa dạng hoá các loại hình, phương thức và

hình thức của các hoạt động sự nghiệp, nhằm phát huy cộng đồng trách nhiệm trong tạo lập vốn đầu tư phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đảm bảo công bằng xã hội

Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập phát triển thông qua việc phân bổ vốn đầu tư phát triển các ngành,

lĩnh vực tập trung, có trọng điểm, tránh dàn trải, gắn chi thường xuyên, chi đầu tư và chi chương trình mục tiêu

Thứ tư, kiểm tra, giám sát tài chính trong mọi hoạt động tài chính của các

tổ chức khoa học và công nghệ công lập đảm bảo có được các thông tin trung thực, khách quan, đầy đủ và toàn diện về các hoạt động tài chính của các đơn

vị Thông qua quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính của

Trang 26

các đơn vị, đảm bảo tuân thủ theo quy định của Nhà nước và điều chỉnh, ngăn chặn các sai phạm, lành mạnh hoá và nâng cao hiệu quả các hoạt động tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập

* Đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Một là, cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập có vai trò cân đối giữa việc hình thành, tạo lập và sử dụng các

nguồn lực tài chính (các nguồn thu) nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động (các khoản chi) của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Do đó, cơ chế phải được xây dựng phù hợp với loại hình hoạt động của đơn vị nhằm tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và phong phú đa dạng về hình thức, giúp cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoàn thành tốt nhiệm vụ được nhà nước giao

Hai là, cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tác động đến quá trình chi tiêu ngân quỹ quốc gia, ảnh hưởng

lớn đến việc thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Vì vậy, cơ chế đó phải khắc phục được tình trạng lãng phí các nguồn tài chính, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Ba là, cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập đóng vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo tính công bằng hợp

lý trong việc phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các loại hình đơn vị sự nghiệp có thu, nhằm tạo môi trường bình đẳng, cũng như sự phát triển hài hòa giữa các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong khu vực sự nghiệp

có thu

Bốn là, cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập góp phần tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử

Trang 27

trên quan điểm thống nhất và hợp lý, từ việc xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đến quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu nhằm phát huy vai trò của cơ chế tự chủ tài chính, đạt được mục tiêu kinh tế

vĩ mô Mặt khác, cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập có quy định khung pháp lý về mô hình tổ chức, hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu Chính vì vậy, xây dựng cơ chế tự chủ tài chính phải quan tâm về tổ chức bộ máy, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ, kế hợp với tăng cường chế độ thống nhất chỉ huy, trách nhiệm thủ trưởng các đơn vị dự toán và các cấp, các ngành trong quản lý

Việc tạo ra một cơ chế tự chủ tài chính thích hợp đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sẽ giúp đạt được những mục tiêu sau:

Đảm bảo cho bộ máy của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoạt động có hiệu quả đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội Tạo động lực khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ công lập tích cực chủ động đổi mới tổ chức và sắp xếp biên chế một cách hợp lý theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối tổ chức và phân công lao động hợp lý, nâng cao chất lượng, hiệu suất công việc gắn với việc sử dụng kinh phí một cách hiệu quả Nêu cao ý thức tiết kiệm, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí và tăng cường chống tham ô, lãng phí

Phát huy tối đa khả năng và nâng cao chất lượng công việc cũng như tăng thu nhập, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính:

* Các nhân tố chủ quan

Cơ chế tự chủ tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như: Chiến lược phát triển đội ngũ nghiên cứu; trình độ quản lý của bộ phận quản lý và ứng dụng khoa học công nghệ; mô hình tổ chức và hiệu quả hoạt động của tổ chức khoa học và công

Trang 28

nghệ; mối quan hệ giữa tổ chức khoa học và công nghệ với chất lượng công trình nghiên cứu; công tác quản lý thu – chi; hệ thống kiểm soát nội bộ

* Các nhân tố khách quan

Ngoài các nhân tố chủ quan, cơ chế tự chủ tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan như: Đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; chính sách chế độ về cơ chế

tự chủ tài chính nhà nước đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ; quan điểm định hướng của Nhà nước về mức hỗ trợ ngân sách đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; chính sách của Nhà nước về mức chi trả cho các công trình nghiên cứu, giá cả những phát minh, chế độ hỗ trợ trong các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; vấn đề hội nhập quốc tế và khu vực và

xu hướng thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.[15]

1.2.3 Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính

Một là, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong

việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao độngvà nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị

để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; phát huy tính sang tạo, năng động, xây dựng “thương hiệu riêng” cho đơn vị mình

Hai là, thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công lập không ỷ lại vào NSNN,

thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN làm giảm gánh nặng cho ngân sách

Ba là, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự

nghiệp, nhà nước quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội, đồng bào dân tộc thiểu

Trang 29

số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn.[23]

1.2.4 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá của quản lý tài chính theo cơ chế

tự chủ tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập

1.2.4.1 Mục tiêu

Có thể xác định mục tiêu của quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập như sau:

- Thu chi tài chính theo đúng quy định của pháp luật

- Giảm dần bao cấp từ NSNN cũng như tăng mức độ tự chủ tài chính của đơn vị

- Tăng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp có thu

- Sử dụng nguồn lực tài chính một cách hiệu quả, chi đúng, chi đủ, chi tiết kiệm

- Nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong đơn vị

- Giảm số sai phạm thu chi (Những khoản thu, chi không đúng với quy định của pháp luật và quy chế thu - chi của đơn vị)

1.2.4.2 Tiêu chí đánh giá

Tiêu chí đánh giá cụ thể của quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập là:

(1) Mức độ hoàn thành nhiệm vụ KHCN được Nhà nước giao

(2) Mức độ tăng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp có thu

(3) Mức độ tăng chênh lệch thu – chi

(4) Mức độ cải thiện thu nhập, đời sống cán bộ công nhân viên

(5) Mức độ sai phạm trong quản lý thu – chi

1.2.5 Nguyên tắc quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính

Những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế và thực hiện cải cách hành chính, trong lĩnh vực tài chính cũng có nhiều giải pháp nhằm lành

Trang 30

mạnh hóa nền tài chính quốc gia, nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực của đất nước, thực thi các biện pháp đảm bảo

1.2.5.1 Các nguyên tắc chung thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Thực hiện quyền tự chủ phải đi đôi với tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ

- Thực hiện công khai và dân chủ trong các hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ

- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được Nhà nước giao và các nguồn lực khác của tổ chức khoa học và công nghệ

- Hoàn thành với chất lượng cao các nhiệm vụ được các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, các nhiệm vụ tổ chức khoa học và công nghệ, bảo đảm sự phát triển của tổ chức khoa học và công nghệ.[2]

1.2.5.2 Các nguyên tắc quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ

Tổ chức khoa học và công nghệ công lập là các đơn vị trực thuộc Nhà nước nên quản lý tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập vừa phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ tài chính của Nhà nước đối với loại hình tổ chức khoa học và công nghệ công lập công lập của mình, vừa phải thực hiện các quy chế, quy định do bản thân các đơn vị đề ra đối với hoạt động tài chính Để quản lý tài chính tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập có thu đạt được các mục tiêu, cần thực hiện các nguyên tắc sau:

Trang 31

- Khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước

- Phải đảm bảo kinh phí thường xuyên theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn của Nhà nước để các đơn vị hoạt động liên tục, đồng thời phải triệt để tiết kiệm chi

- Quản lý kinh phí thuộc cơ quan, đơn vị là trách nhiệm trước hết của thủ trưởng cơ quan, đơn vị

- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập có thu được tự chủ tài chính trong phạm vi hoạt động có thu của đơn vị Chỉ được chi tiêu trong phạm vi các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ Đây là điều bắt buộc và cần thiết nhất của quản

lý tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập có thu Không được phép chi từ NSNN cho việc sử dụng ngoài quy định từ nguồn thu này

- Bảo đảm tính công khai, minh bạch về thu chi tài chính, không tham ô tham nhũng, thất thoát tài chính và sử dụng không hiệu quả các nguồn thu.[20]

1.2.6 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính

Nghị định số 54/2016/NĐ-CP có quy định rõ quyền tực chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với từng loại hình đơn vị sự nghiệp Theo đó, đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công mang đặc điểm của đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ và tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động cần tuân thủ theo cơ chế quản lý về nguồn thu và chi như sau:

1.2.6.1 Tự chủ trong quản lý nguồn thu của đơn vị sự nghiệp khoa học

và công nghệ công lập

a) Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công gồm:

* Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp

Đơn vị muốn nhận được kinh phí phải tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Luật NSNN từ khâu lập, chấp hành đến quyết toán nguồn NSNN cấp Đơn vị chỉ được cấp kinh phí NSNN khi có trong dự toán được

Trang 32

duyệt, chi đúng tiêu chuẩn định mức, có đầy đủ hồ sơ chứng minh việc chi tiêu của đơn vị Đây chính là nét đổi mới trong việc quản lý và điều hành ngân sách so với cơ chế cũ Việc phân loại đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên khả năng đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên để từ đó có cơ sở cấp ngân sách là một biện pháp nhằm giảm bớt gánh nặng cho NSNN đồng thời tăng

cường tính chủ động cho các đơn vị sự nghiệp có thu

* Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp

Nguồn thu chính hiện nay của các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập là từ phí khoa học và công nghệ và nhân tố ảnh hưởng lớn đến

nguồn thu này chính là mức thu phí

- Phần được để lại từ số thu phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước;

- Thu từ hoạt động dịch vụ

- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có)

* Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho (nếu có) theo quy định của pháp luật

* Nguồn khác theo quy định của pháp luật:

- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị…

- Nguồn vốn tham gia liên doanh liên kết của các tổ chức, cá nhân trong

và ngoài nước theo quy định của pháp luật.[11]

b) Đơn vị được tự chủ các khoản thu và mức thu theo quy định như sau: Đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn

vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội

Trang 33

tượng, nhưng không vượt quá khung mức thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận

Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc đảm bảo đủ bù đắp chi phí và có tích lũy.[6]

Có thể thấy cơ chế quản lý đối với nguồn ngoài ngân sách linh hoạt hơn, mang tính thị trường hơn so với nguồn NSNN cấp, tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của đơn vị từ đó được tăng cường hơn

1.2.6.2 Tự chủ trong quản lý chi đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập

Tại các đơn vị sự nghiệp công lập, các khoản chi được phân chia thành: khoản chi thường xuyên và khoản chi không thường xuyên Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, cũng như Quy chế chi tiêu nội bộ của mỗi đơn vị, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tùy thuộc vào loại hình của đơn vị do Ngân sách nhà nước nhà đảm bảo kinh phí như thế nào

Quy chế chi tiêu nội bộ và việc xây dựng các định mức chi của đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập đã khắc phục những bất cập, lạc hậu của một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách hiện hành của Nhà nước như: chế độ công tác phí, chế độ chi tiêu hội nghị

Đơn vị được tự chủ trong sử dụng nguồn tài chính như sau:

Trang 34

* Đối với khoản tiền lương, tiền công đơn vị được chi như sau:

- Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao, chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt

là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định Trong trường hợp nguồn thu không bảo đảm như dự kiến, thủ trưởng đơn vị phải xem xét, xác định lại quỹ lương cho phù hợp

- Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm do nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị tính theo đơn giá tiền lương theo quy định Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định đơn giá tiền lương, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định

- Đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước Trường hợp không hạch toán riêng chi phí, đơn

vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định

- Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tính giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; tùy theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập cho người lao động trong năm Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.[6]

* Đối với kết quả hoạt động tài chính trong năm:

Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:

Trang 35

a) Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

b) Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm;

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó, đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.[6]

1.2.6.3 Nội dung tự chủ trong quản lý và sử dụng các quỹ của đơn vị

sự nghiệp

Cuối năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính sau khi trang trải các khoản chi phi và các khoản chi khác, số chênh lệch thu lớn hơn chi, trường sử

Trang 36

dụng phân bổ theo quy định cụ thể trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

và sử dụng theo đúng mục đích của các quỹ

+ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị

và theo quy định của pháp luật Việc sử dụng Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.[13]

+ Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: dùng để đảm bảo thu nhập cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút, không đảm bảo kế hoạch đề ra

+ Quỹ khen thưởng: dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

+ Quỹ phúc lợi: dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trưởng hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng quỹ theo quy chế chi tiêu nội

Trang 37

tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính Từ đó Nhà nước xây dựng tiêu chuẩn, định mức: nhà làm việc, phương tiện đi lại trong các Cơ quan Nhà nước; Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn thực hiện trong việc quản lý, sử dụng các tài sản là nhà làm việc, ô tô con và chế độ điều chuyển, thanh lý tài

sản không có nhu cầu sử dụng hoặc không còn sử dụng được

Nhằm triển khai Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 202/2006/QĐ-TTg ngày 31/8/2006 về quy chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập, Thông tư hướng dẫn số 112/2006/TT-BTC ngày 27/12/2006 của Bộ Tài chính, nhằm tạo quyền tự chủ

và chủ động trong việc quản lý và sử dụng tài sản, tạo điều kiện cho các đơn

vị sự nghiệp huy động các nguồn lực hiện có để đầu tư trang bị, đổi mới tài sản, đồng thời sử dụng có hiệu quả tài sản nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định

áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước đơn

vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có)

1.2.6.5 Cơ chế quản lý chênh lệch thu - chi của đơn vị sự nghiệp

Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 của Bộ Tài chính, hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản khác theo

Trang 38

quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) đơn vị được sử dụng theo trình tự sau:

* Đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

* Đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 18 Nghị định số 54/2016/NĐ-CP;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó, đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá

3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

* Đối với đơn vị do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động:

- Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị không quá hai lần quỹ tiền lương cấp bậc chức vụ

Trang 39

- Chi khen thưởng cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng

do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;

- Chi phúc lợi, trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế Mức chi cụ thể do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;

- Chi tăng cường cơ sở vật chất của đơn vị;

Nếu xét thấy khả năng tiết kiệm kinh phí không ổn định, đơn vị có thể lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo thu nhập cho người lao động

1.2.6.6 Cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính trong các đơn vị sự nghiệp

Đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi theo hướng dẫn tại Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 và Thông tư 153/2007/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 81/2006/TT-BTC hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Cụ thể như sau:

- Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc hạch toán kế toán theo đúng chế độ kết toán áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp

- Các đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để thuận tiện cho quá trình kiểm tra kiểm soát các khoản chi qua kho bạc nhà nước

- Đối với các khoản thu, chi dịch vụ, liên doanh, liên kết, đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ có thể mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước hoặc ngân hàng để giao dịch thanh toán Kho bạc nhà nước không kiểm soát các khoản thu, chi này của đơn vị

- Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được cấp

có thẩm quyền giao; đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan

Trang 40

nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc mức chi theo quy chế chi tiêu nội bộ

do đơn vị quy định; được thủ trưởng đơn vị sự nghiệp hoặc người được uỷ quyền quyết định chi

Bộ Khoa học và công nghệ là đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm xét duyệt và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán năm đối với các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định, bao gồm một số nội dung chính như sau:

- Kiểm tra từng chứng từ thu phí, lệ phí và các khoản thu khác được giao quản lý, thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật (nếu có);

- Kiểm tra tính chính xác và pháp lý của dự toán chi ngân sách được giao, bảo đảm khớp đúng với dự toán được cấp có thẩm quyền giao về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực chi (kể cả dự toán bổ sung, điều chỉnh trong năm) Riêng đối với dự toán chi từ nguồn viện trợ thực hiện theo quy định hiện hành về chế độ quản lý tài chính Nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại

- Kiểm tra tính hợp pháp của từng khoản chi, bảo đảm khoản chi phải

có trong dự toán ngân sách nhà nước được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc mức chi theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và đã được Thủ trưởng đơn vị hoặc người được

uỷ quyền quyết định chi;

- Kiểm tra việc mua sắm, quản lý và xử lý tài sản; việc tổ chức đấu thầu, thẩm định giá đối với những khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn; bảo đảm việc mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản theo đúng các quy định của pháp luật;

- Kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua công tác kiểm toán, thanh tra, xét duyệt hoặc thẩm định quyết toán

Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra:

- Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ

Ngày đăng: 25/06/2018, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w