Tìm hiểu về hát Soọng Cô của dân tộc Sán Dìu Vĩnh Phúc. Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng trung du Bắc Bộ, nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội...Dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay có khoảng trên 34.000 người... cư trú rải rác quanh chân núi Tam Đảo, từ xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên) đến một số xã ở huyện Bình Xuyên, huyện Tam Đảo, Tam Dương tới Lập Thạch... I. VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU (Về con người và văn hóa của dân tộc Sán Dìu:a.Người dân tộc Sán Dìu, Đời sống và sinh hoạt, Trang phục, Ngôn ngữ, Truyền thuyết, dân ca...) I.HÁT SOỌNG CÔ CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU (Nguồn gốc và khái niệm hát Soọng cô; Nội dung của các bài hát Soọng Cô; Môi trường và nhân vật diễn xướng của lối hát Soọng Cô...)
Trang 1TIỂU LUẬN HẾT MÔN
ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
HÁT SOỌNG CÔ CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU
VĨNH PHÚC
Năm học 2014
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng trung du Bắc Bộ, nằm ở phía Bắc thủ
đô Hà Nội Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 29 dân tộc thiểu số Trong đó có 13 dân tộc thiểu số sống tập trung ở 05 huyện, thị gồm: Tam Đảo, Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô và thị xã Phúc Yên, với 41.140 người, chiếm khoảng 4%
so với dân số toàn tỉnh Dân tộc Sán Dìu chiếm 88,49 %, Cao Lan (Sán Chay) 3,6%, Tày 2,4%, Dao 1,86%, Nùng 1,26%, Mường 0,97% còn lại là các dân tộc thiểu số khác 1,38% Các dân tộc sống thành làng bản đan xen với dân tộc Kinh, có truyền thống đoàn kết hòa thuận, hỗ trợ nhau phát triển Dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc hiện nay có khoảng trên 34.000 người Tộc người này còn được gọi bằng một số tên khác như: Sơn Dao, Mán quần cộc, do cách
ăn mặc hàng ngày của họ (nam giới) không khác gì người Kinh Khi đi rừng hay làm ruộng họ thường mặc áo cánh ngắn tay và quần đùi Đàn bà mặc áo chàm, váy ngắn (ngang đầu gối) nên người ta gọi là Mán quần cộc Năm
1960 , nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức công nhận tên gọi tộc người này là dân tộc Sán Dìu
Dân tộc Sán Dìu cư trú rải rác quanh chân núi Tam Đảo, từ xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên) đến một số xã ở huyện Bình Xuyên, huyện Tam Đảo, Tam Dương tới Lập Thạch Đây là một vị trí quan trọng đặc biệt về quân sự, quốc phòng, an ninh quốc gia Các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm của ông cha ta trước đây thường phải dựa vào vùng bán sơn địa núi non hiểm trở này để lập vùng căn cứ Về phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp, đây cũng là một rải đất quan trọng có những tài nguyên thiên nhiên đặc biệt như : nguồn nước, nông, lâm thổ sản Từ nhiều đời nay người Sán Dìu đã hòa nhập đoàn kết với các dân tộc anh em khác đấu tranh chống giặc ngoại xâm và xây dựng quê hương Vĩnh Phúc
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU
1 Về con người và văn hóa của dân tộc Sán Dìu
a Người dân tộc Sán Dìu
Địa bàn sinh sống chủ yếu của dân tộc Sán Dìu ở tại ven núi, chân núi
và đồng bằng vùng trung du phía bắc châu thổ sông Hồng kéo dài từ Đông Triều (Quảng Ninh) lên Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang Ở Vĩnh Phúc họ đã chọn và dừng lại ở vùng ven chân núi Tam Đảo phía Nam Vì những nơi này từ xưa là rừng nguyên sinh rậm rạp, nhiều chim muông thú rừng, đất đai màu mỡ, có tầng đất mùn dày dễ trồng cấy các loại cây lương thực Nhiều dòng khe, dòng suối lớn nhỏ bắt nguồn từ trên núi Tam Đảo với nguồn nước vô tận, lại có nhiều loại cá tôm, lươn, cua, ốc, ếch – nguồn thực phẩm dồi dào cung cấp cho con người…
Khi đã chọn được vùng đất ở hợp lý, với tâm lý và tập tục canh tác họ dành nơi đất bằng để khai khẩn ruộng lúa nước, đất gần bờ sông làm soi bãi, đất đồi gò làm nương rẫy Ở ven những cánh đồng làm nhà ở tạo thành làng bản đông vui
b Đời sống và sinh hoạt
Người Sán Dìu đã sớm có nền văn minh cấy lúa nước Họ sớm tiếp thu
kỹ thuật reo trồng mới của các dân tộc bạn, phương pháp khai khẩn đất hoang, phương pháp luân canh…phát nương trên đồi rừng để trồng các loại hoa màu
Người Sán Dìu thường có những loại ruộng : Ruộng nước trên những cánh đồng tương đối bằng; Ruộng dộc, ruộng bậc thang, ruộng chằm lầy; Ruộng cạn soi bãi, nương đồi (lúa cạn + ngô)
Về nông cụ của người Sán Dìu không có gì đặc biệt so với đồng bào Kinh và các dân tộc làm lúa nước khác: vẫn là con dao, cái cuốc, cái xẻng, cái gạt dùng sức người, cái cày, cái bừa, con lăn dùng sức trâu, bò kéo…chỉ có khác một chút về hình hài cấu trúc
Trang 4Về phương tiện vận chuyển: từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ
Về lương thực của người Sán Dìu vẫn là : cây lúa, cây ngô, cây sắn, các loại củ quả có tinh bột khác như : Củ từ, củ mài tím, củ mỡ, khoai lang, khoai xọ; hay các loại rau đậu thực phẩm như: Đậu, lạc, vừng đỗ, rau cải, rau muống, rau bao…
Về gia súc có con trâu, còn bò, con lợn Đây là 3 loại gia súc lớn đem lại nguồn lợi thiếu thực: Sức kéo, thực phẩm, phân bón và cả nguồn tiền khi cần chi tiêu việc lớn trong gia đình
Về gia cầm cũng có đủ loại : gà, vịt, ngan, ngỗng, chim câu…các ao hồ đập nước còn thả cá, nuôi cá…
Nghề phụ trong nông nghiệp chỉ có nghề đóng cày bừa, nghề mộc, đan lát, dệt vải…
Nhà ở của người Sán Dìu là nhà đất giống như nhà của người Kinh Vào một bản làng của người Sán Dìu không khác so với thôn, làng của người Kinh ở trung du, tùy theo điều kiện kinh tế và số người trong gia đình để làm ngôi nhà to hay nhỏ, nhiều gian hay ít gian, nhưng thường thì có 3 gian hoặc 5 gian, họ kiêng làm nhà chẵn 2, 4 gian Nếu là nhà 5 gian thì 2 đầu hồi thường làm thò ra 1,5m đến 2m; 3 gian giữa thụt vào theo hình chữ “U” Hai gian thò
ra thường được ngăn làm đôi thành 4 phòng để vợ chồng con trai, con dâu và con gái ở Một phòng là bà vợ chủ nhà, một phòng là kho để thóc hoặc của cải
Ba gian giữa là chung, gian giữa để bàn thờ, 2 bên kê giường ông chủ, con trai hoặc khách Hai phía trái nhà chính nhất thiết phải có 2 cái nhà phụ để làm bếp nấu ăn và để các đồ lặt vặt Một cái làm kho chứa và chuồng trâu, bò, lợn, gà
Xét về sinh hoạt gia đình của người Sán Dìu bố trí như trên có thể xem
là rất khoa học, văn minh, an toàn trong cuộc sống Kiểu bố trí nhà ở này
Trang 5mang phong cách nhà cổ Trung Hoa Thời nay vật liệu làm nhà dần dần được thay bằng gạch vôi, xi măng lợp ngói đỏ, song người Sán Dìu vẫn thích làm nhà theo mô hình trên
c Trang phục
Trang phục là một trong những yếu tố văn hóa vật chất, bao gồm y phục, trang sức được con người sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu và các hoạt động văn hóa xã hội khác Trang phục thể hiện cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn chức năng sinh học, xã hội và thẩm mỹ của con người
Trong cuốn sách “Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam” tác giả Ngô Đức Thịnh đã viết “Trang phục - bản sắc văn hóa dân tộc” Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện ở nhiều khía cạnh của đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người, tùy theo từng lĩnh vực văn hóa mà bản sắc dân tộc ẩn bên trong hay biểu hiện bên ngoài
Có thể nói trong văn hóa dân tộc, trang phục là phương tiện mà ở đó bản sắc dân tộc được biểu hiện một cách rõ rệt, thường xuyên và tiêu biểu nhất
Tùy theo từng điều kiện môi trường tự nhiên, quá trình phát triển của
xã hội mà ở mỗi tộc người, mỗi vùng miền lại có những nguyên liệu, những cách thức riêng tạo ra bộ trang phục của riêng tộc người mình thể hiện tâm lý truyền thống, thẩm mỹ của mình, và có ý thức rõ rệt là thông qua trang phục phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác
Ở hầu khắp các dân tộc trên hành tinh này trang phục vốn là những sáng tạo văn hóa của tộc người, có thể nói rằng trang phục chính là một trong những yếu tố văn hóa vật chất nổi bật nhất của văn hóa dân tộc
Trang phục của nam giới thì có nhiều thay đổi hơn nữ giới, từ những năm 1980 thế kỷ XX trở về trước Trong các dịp lễ tết ngày hội người đàn ông thường mặc áo dài màu đen (chàm) bên ngoài áo cánh trắng, bên trong áo
Trang 65 thân cổ cao có gài khuy vải bên phải (giống như áo người Kinh), ống quần hẹp chỉ dài quá gối một chút
Ngày thường họ mặc áo ngắn cũng 5 thân màu nâu hoặc màu chàm, có túi
nhỏ phía vạt áo nhưng miệng túi ở phía trong để đựng thuốc lào hoặc tiền nong Quần màu nâu hoặc trắng theo kiểu chân què ống rộng Khi đi làm chủ yếu là đi chân đất Đi đâu xa họ đeo giày vải Người nghèo đi dép quai ngang
đế bằng
da trâu Về sau đi dép cao su, guốc mộc Nam giới ít dùng đồ
trang sức Ngày nay đàn ông Sán Dìu ăn mặc như người Kinh
quần áo nâu hoặc quần âu, áo sơ mi
Trang phục nữ giới phong phú hơn nam giới: Váy, xà
cạp; áo, dèm; khăn; xà lạp; đồ trang sức Nhìn tổng thể, bộ
váy phụ nữ Sán Dìu không thêu thùa nhiều hoa văn màu sắc
như một số dân tộc khác mà vẫn rất đẹp, gòn gang, tình tứ
Thời nay phụ nữ Sán Dìu cũng bỏ dần cách mặc trang phục áo váy truyền thống, họ mặc theo mốt ăn mặc của người Kinh, gọn gàng hơn Thỉnh thoảng còn các cụ bà già vẫn mặc áo váy dân tộc
d Ngôn ngữ
Tiếng Sán Dìu có âm vần với tiếng dân tộc Hoa, tiếng Sán Chỉ và tiếng Cao Lan cổ Chúng đủ khả năng biểu đạt thông tin khi giao tiếp, biểu cảm trong sinh hoạt văn nghệ, hát ví soọng cô, hát cúng lễ…Song không tránh khỏi sự vay mượn ngôn ngữ của dân tộc khác sống trong vùng đặc biệt là tiếng Kinh
e Truyền thuyết, dân ca
Kho tàng truyện cổ dân gian dân tộc Sán Dìu khá phong phú Song nó cũng không ngoài motip dân gian giống một số dân tộc khác, nhưng nó đều có
ý tưởng giáo dục con người không làm điều ác, nhắn nhủ con người chịu khó
Trang 7làm ăn, cần cù lao động sẽ được đền đáp ngoài ra, người Sán Dìu khá phong phú về truyền thuyết, chuyện cổ tích về con người và nhân thần, thiên thần, thủy thần, địa thần, những sự tích về vùng đất, con vật cỏ cây…
II HÁT SOỌNG CÔ CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU
Bất cứ một dân tộc nào, dù là nhỏ bé nhưng họ đều có một kho tàng truyện cổ tích, thơ ca dân gian nhất định Dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc cũng như ở một số tỉnh khác, từ lâu đời họ đã sáng tạo ra những câu thơ, những bài
ca, ca ngợi quê hương, bản làng, tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên, đặc biệt là tình yêu trai gái đang tuổi xuân xanh đi tìm bạn tình Đối với người Sán Dìu có lẽ độc đáo nhất là hát ví Soọng cô Nó là phương tiện để truyền tải những tâm tư, tình cảm và ước muốn của người Sán Dìu trong cuộc sống thường ngày được thể hiện qua lời hát, là môi trường gìn giữ văn hóa tộc người
1 Nguồn gốc và khái niệm hát Soọng cô
Người Sán Dìu ở xã Ninh Lai (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) truyền tụng một câu chuyện về nguồn gốc tục hát Soọng cô Chuyện kể lại rằng: Từ rất xưa có một cô gái tên là Lý Tam Mói thông minh, xinh đẹp, hát đối đáp rất giỏi Thanh niên trong làng chưa có một ai hát đối lại được cô Một ngày kia, có ba chàng trai trên ba chiếc thuyền mang theo các bài hát đối không rõ từ xứ nào muốn tìm gặp cô gái để thử tài Gần đến nơi, họ nhìn thấy một cô gái đang gánh nước bên bờ sông Ba chàng bèn hỏi thăm tới nhà cô
Lý Tam Mói Cô gái liền nói với ba chàng trai, mình chính là em gái của Lý Tam Mói, rồi ra một câu hát đối, nếu ba chàng đối lại được thì cô sẽ chỉ đường Nhưng ba chàng trai tìm tất cả các sách trên thuyền mà không đối lại được, thất vọng quay thuyền trở về Từ đó, cô gái bỗng sinh buồn rầu, luyến tiếc vì đã không mời ba chàng trai vào thăm bản Ngày ngày, cô ra bến sông trông về nơi xa và nhẩm hát những bài hát mang âm điệu da diết, khắc khoải, mong chờ Những bài hát của cô được dân làng lưu truyền qua nhiều thế hệ
Trang 8Theo tiếng Sán Dìu thì Soọng có nghĩa là hát, còn Cô nghĩa là ca Lời
ca và giai điệu của Soọng cô không hề khô cứng mà mềm dẻo đầy sức lan tỏa, diễn đạt tâm tư tình cảm của người hát, làm mê đắm lòng người
Soọng Cô là một thể loại hát ví đối đáp gắn liền với sinh hoạt văn hóa dân gian của người Sán Dìu Nó là những tâm tư tình cảm của những đôi trai gái đang trong giai đoạn tìm hiểu nhau, nhờ tiếng hát để trải tấm lòng mình,
là phương tiện để bộc lộ những tâm ý mà không dám ngỏ lời trực tiếp một cách tinh tế Không chỉ có vậy, Sọong Cô còn là những lời hát ru đưa con trẻ chìm trong giấc ngủ, là những lời hát để hỏi thăm về gia đình, bạn bè… của những người lâu ngày mới có dịp gặp mặt Những câu hát Soọng Cô không
bị giới hạn bởi không gian, thời gian, hoàn cảnh cũng như môi trường diễn xướng, người ta có thể hát một đêm, nhiều đêm, hát trong nhà, bên bờ suối, khi đi làm nương, hay trong lúc đi chơi làng, trong khi ru con và trong các lễ hội của người Sán Dìu Bên cạnh vai trò là một loại hình giải trí của một dân tộc yêu văn nghệ, nó thanh lọc tâm hồn, giúp cho con người từ bỏ cái ác, hướng tới cái thiện, cái hoàn mỹ
Tùy trong từng hoàn cảnh mà Soọng Cô được diễn xướng theo cách hát Coóng hoặc hát Ênh Hát Coóng là cách hát mà ở đó người hát không sử dụng những âm phụ luyến láy mà đi thẳng vào lời hát, thường được hát trong lao động Còn hát Ếnh là cách hát mà trong đó sử dụng những từ luyến láy chậm chạp trong những lúc ru con, hoặc là những lời buông lơi lả lướt của những đôi trai gái đang yêu
2 Môi trường và nhân vật diễn xướng của lối hát Soọng Cô
Môi trường diễn xướng của hát Soọng Cô khá tự do Có lẽ vì thế mà
nó có sức sống kỳ diệu trong sinh hoạt văn nghệ của người Sán Dìu Người hát có thể:
Hát giao duyên bên bờ suối: Là những bài hát được thể hiện trong lúc
thanh niên nam nữ của hai/nhiều làng đứng ở bờ suối - nơi được coi là ranh
Trang 9giới phân định giữa các làng vào những đêm sáng trăng, đối đáp với nhau, qua đó thể hiện tình cảm của mình qua những lời hát
Hát Soọng Cô trong lao động sản xuất: Thường là những bài hát được
cất lên trong những lúc lao động, thể hiện những tâm hồn đầy lãng mạn Chính môi trường lao động là cái nôi sinh ra và nuôi dưỡng câu hát Soọng cô ngân nga bên những sườn đồi
Hát đối đáp trong nhà: Đó là bài hát của các chàng trai hoặc của các
cô gái đến nhà một người nào đó (có thể là nhà của nam hoặc nữ) thách đố hát đối đáp, và nếu như chấp nhận thì cuộc hát bắt đầu và có thể kéo dài đến hết đêm
Hát trong đám cưới: Những câu hát Soọng Cô đã làm cho đôi lứa tìm
thấy một nửa hạnh phúc của cuộc đời mình Và nó tiếp tục vang lên trong quy trình của một lễ cưới: hát nghênh tiếp (Soọng Cô Lán Xả) và hát mở nắp chai rươụ (Soọng Cô Hoi Va Chíu)
Hát chúc xuân: Là lời hát của những người thân, bạn bè, hàng xóm
chúc tụng nhau nhân ngày tết đến, xuân về
Hát ru con: Đó là những bài hát ru mượt mà, sâu lắng, thể hiện tình
cảm và ước vọng của ông bà, cha mẹ đối với đứa con bé bỏng của mình
3 Nội dung của các bài hát Soọng Cô
Nội dung của Soọng Cô rất phong phú, thể hiện sự đa dạng và độc đáo trong văn nghệ dân gian của người Sán Dìu Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà Soọng Cô đã truyền tải những thông điệp văn hóa đến cho mọi người
3.1.Hát giao duyên
* Lời chào hỏi và xin phép
Những đêm hát giao duyên của các chàng trai cô gái Sán Dìu thường diễn ra ở trong nhà, bên bờ suối, hoặc khu đất trống trước làng
Trang 10Nếu hát trong nhà, đầu tiên khách phải xin phép gia chủ để được hát giao duyên Thông thường thì bên chủ động đi hát có sự chuẩn bị về thời gian, sau đó họ cùng nhau đi đến nhà có người mình định ngỏ lời yêu đương
để hát Mặc dù đã biết trước nhưng khi bạn hát tới nhà thì chủ nhà cũng phải giả vờ như không biết cho đến khi khách có lời đánh tiếng thì chủ mới mời khách vào nhà Khi khách bước vào nhà kèm theo đó là những câu hát xin phép gia chủ để được hát giao duyên với người con gái (hoặc con trai) trong nhà (2):
Xin phép chủ nhà,
Xin phép chàng trai ( cô gái),
Xin phép gia đình yên tâm ngủ,
Để con trai con gái giao duyên với nhau
Khi chủ nhà lên tiếng đồng ý có nghĩa là khi ấy các đôi trai gái được thỏa sức trổ tài ca hát của mình mà yên tâm là không sợ ai ngăn cấm Từ lúc
đó bắt đầu cho một đêm hát giao duyên
* Hát đố
Khi biết bạn hát đến nhà, chủ nhà ban đầu thường tỏ ra thờ ơ và đặt ra thách thức đối với bạn hát của mình, đưa họ vào những tình huống phải suy nghĩ thật kỹ mới có thể giải đáp được câu đố trong lời hát đó Hát hay chưa
đủ mà còn phải thể hiện sự thông minh để các bạn hát nể phục
Trước khi chủ nhà đưa ra những lời hát đố, thường là những lời giao kèo, nếu như không giải được câu đố thì buổi hát dừng lại ở đây, mời bạn về
để hôm khác có sự chuẩn bị tốt hơn thì sẽ hát Đến nhà mà bị chủ nhà giao kèo như vậy là những thử thách đầu tiên mà các chàng trai, cô gái phải vượt