1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HẾT HỌC PHẦN MÔN DƯỢC LÝ DÙNG CHO ĐÀO TẠO DƯỢC SỸ ĐẠI HỌC

29 437 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 555,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HẾT HỌC PHẦN MÔN DƯỢC LÝ DÙNG CHO ĐÀO TẠO DƯỢC SỸ ĐẠI HỌC Nhóm câu hỏi 2: Câu 1: Trình bày cơ chế tác dụng của thuốc gây mê? Trả lời: Cơ chế tác dụng Thuốc gây mê có thể có tác dụng ức chế dẫn truyền ở thần kinh trung ương theo các cơ chê sau: Làm thay đổi tính thấm của màng tế bào thần kinh, gây cản trỏ trao đổi ion Na+ qua màng do đó ngăn cản khử cực màng, dẫn đến ức chế dẫn truyền thần kinh. Kích thích trực tiếp receptor GABAA hoặc tạo thuận lợi cho GABA gắn vào receptor của nó, làm tăng dòng cr vào tế bào gây ức chế dẫn truyền thần kinh. Ngoài ra, thuốc gây mê có thể ức chế acid glutamic là chất dẫn truyền kích thích hoặc làm giảm sự nhạy cảm của receptor vối acetylcholin dẫn đến ức chế dẫn truyền thần kinh. Câu 2: Nêu tác dụng chung và cơ chế tác dụng của thuốc gây tê? Trả lời: Tác dụng chung và cơ chế tác dụng – Ở liều thấp thuốc gây tê chỉ có tác dụng giảm đau, không làm mất các cảm giác khác. m – Ở liều điều trị và liều cao: ngoài tác dụng giảm đau, thuốc gây tê còn làm mất các cảm giác khác (cảm giác nóng, lạnh, đụng chạm…), ức chế dẫn truyền vận động và có các tác dụng khác (tác dụng trên tim mạch…). Tuy nhiên, tác dụng của thuốc gây tê vẫn ưu tiên trên dây thần kinh cảm giác hơn vì kích thước sợi cảm giác nhỏ và ít myelin hơn (các dây thần kinh có độ nhạy cảm với thuốc gây tê khác nhau: sợi nhỏ nhạy cảm hơn sợi lớn, sợi ít myelin nhạy cảm hơn sợi nhiều myelin). – Cơ chế: thuốc gây tê làm giảm tính thấm của màng tế bào với ion Na+ do gắn vào mặt trong của màng tế bào, ngăn cản sự khử cực của màng tế bào (ổn định màng) nên ngăn cản dẫn truyền xung động thần kinh vì vậy có tác dụng gây tê. Câu 3: Trình bày cơ chế tác dụng của thuốc an thần gây ngủ? Trả lời: Thuốc an thần – gây ngủ ức chế dẫn truyền ở tổ chức lưới của não giữa và giảm hoạt động của synap thần kinh chủ yếu bằng cách làm tăng hoạt tính của GABA và glycin là các chất dẫn truyền loại ức chế, làm thuận lợi cho mở kênh Cl (các barbiturat, các Benzodiazepin và zolpidem) Ngoài ra thuốc an thần gây ngủ còn tác dụng theo một số cơ chế khác kích thích receptor của serotonin (buspiron), ức chế acid glutamic, kháng histamin và ức chế kênh Na+ Câu 4. Trình bày cơ chế tác dụng của thuốc chống động kinh? Trả lời: Cơ chế tác dụng của các thuốc chống động kinh Có 4 cơ chế: ức chế kênh Na+ Khi kênh Na+ mở ra, sự khử cực màng bắt đầu và xuất hiện điện thế hoạt động. Sau đó kênh Na+ tự động đóng lại và sau một thời gian sẽ được khôi phục trở lại trạng thái hoạt động. Trong thời gian này vẫn xuất hiện một dòng điện với điện thế thấp. Khi nghiên cứu điện não của những bệnh nhân đang bị động kinh, người ta nhận thấy các tế bào thần kinh đang ở trạng thái khử cực và phóng điện với tần số’ rất cao. Một số thuốc chống động kinh đã ngăn chặn được hiện tượng này bằng cách làm chậm sự phục hồi của kênh Na+ trở về trạng thái hoạt động. Những thuốc tác động theo cơ chế này gồm: phenytoin, Carbamazepin… ức chế kênh Ca++ Cùng với Na+, Ca++ cũng có vai trò quan trọng trong khử cực màng tế bào. Phân tích điện não đồ trên những bệnh nhân động kinh cơn vắng cho thấy có sự xuất hiện các sóng nhọn với tần suất 3 lầngiây. Các sóng này có liên quan đến hoạt động của kênh Ca++ loại T. Các thuốc chống động kinh, như acid valproic, ethosuximid, trimethadion ức chế kênh Ca++ loại T, do đó làm giảm sự xuất hiện các sóng nhọn có trong động kinh cơn vắng. Tăng hoạt tính của GABA GABA (gamma amino butyric acid) là chất dẫn truyền thần kinh loại ức chế. Khi GABA gắn được vào receptor của nó thì kênh Cl mở ra, Cl đi vào trong tế bào và gây hiện tượng ưu cực hóa. Các thuốc chống động kinh làm tăng hoạt tính của GABA bằng cách: • – Ức chế GABA transaminase, là enzym làm bất hoạt GABA, do đó làm tăng nồng độ GABA trong não và tăng hoạt tính ức chế thần kinh trung ương (vigabatrin và acid valproic cũng tác dụng một phần theo cơ chế này). • – Làm hoạt hóa của receptor GABAa hậu sinap, làm cho kênh Cl dễ dàng mở ra (như: phenobarbital và các benzodiazepin). • – Có thể tác dụng vào receptor tiền sinap làm tăng giải phóng GABA (như gabapentin). Giảm hoạt tính của glutamat Trái với GABA, glutamat là chất trung gian dẫn truyền kích thích. Khi glutamat gắn vào receptor của nó thì một số tế bào thần kinh trên não sẽ được hoạt hóa, phóng ra các xung điện với tần suất cao và làm xuất hiện cơn động kinh. Người ta đã tìm ra một loại receptor của glutamat là Nmethyldaspartat (NMDA) có liên quan đến sự phát sinh động kinh. Các thuốc ức chế receptor NMDA có tác dụng chống lại các cơn co giật trên động vật thí nghiệm và trên invitro. Tuy nhiên, chúng có quá nhiều độc tính nên không được sử dụng cho người. Câu 5: Trình bày cơ chế tác dụng chung của thuốc ức chế tâm thần? Trả lời: Cơ chế chung Ức chế receptor dopaminergic ở não mà quan trọng nhất là receptor D2. Ức chế các receptor khác như serotoninergic, a adrenergic, cholinergic và histaminic Hp. Hiện nay có 5 loại receptor dopaminergic từ D1 đến Dỗ. Khi vào cơ thể, thuốc an thần kinh có thể gắn vào tất cả các receptor này nhưng ở các mức độ khác nhau. Tác dụng chống rối loạn tâm thần chủ yếu liên quan tới khả năng ức chế receptor D2 ở não. Câu 6: Trình bày cơ chế tác dụng và phân loại thuốc chống trầm cảm? Trả lời: Cơ chế tác dụng của TCTC + Các Monoamin não như Serotonine, Dopamine (DA) và catecholamine khác như Noradrealine (NA) được coi là có vai trò quan trọng trong bệnh sinh các rối loạn trầm cảm. Khi luồng thần kinh truyền từ neuron này đến neuron khác, các amin não trong các túi tích trữ hoặc ngoài túi của neuron trước sinapse được giải phóng vào khe synapse và đến gắn vào các vị trí tiếp nhận đặc hiệu của neuron sau synapse. + Ở khe synapse: 1 phần các amin não đó bị phá huỷ bởi COMT (Catechol O Methyl Trasnferase) (men chuyển hoá ngoài tế bào) 1 phần được tái hấp thu trở lại nơron trước synapse và bị khử hoạt tính bởi MAO (men chuyển hoá trong tế bào). + Các thuốc MAOI: ức chế quá trình dị hoá bởi MAO của các amin bị tái hấp thu trở lại nơron trước synapse làm tăng lượng amin não giải phóng trở lại khe synapse dẫn đến tăng dẫn tuyến thần kinh: tăng khí sắc... + Các thuốc CTC 3 vòng (TCA): Có tác dụng kìm hãm neuron trước synapse tái hấp thu các amin não từ khe synapse, do đó hàm lượng monoamin ở khe synapse tăng lên, tăng gắn với vị trí tiếp nhận ở nơron sau synapse ..., tăng khí sắc. + SSRI: Có tác dụng ức chế tái hấp thu chọn lọc serotomin từ khe synapse. + SNRI (Selective noradrenaline reuptale inhibitor) (1994) có tác dụng ức chế tái hấp thu chọn lọc noradrenaline. + Mianserin: là chất đối kháng aadrenergic trước synapse và serotonergic sau synapse. II. PHÂN LOẠI 1. MAOI (Monoamino oxydase inhibitor): Iproniazide, niamide, Indopane... là các MAOI cổ điển (1952). Có 4 loại đang được dùng phổ biến ở Mỹ hiện nay là: + Selegiline + Tranylcypromine (Parnate) + Phenelzine (Nardil) + Marplan Các chất chuyển hoá của MAOI cổ điển này khi kết hợp với một số thuốc hướng thần khác (Imipramin, reserpine, babiturate) và một số loại thức ăn giàu tyramin, giàu chất lên men, bia, rượu… sẽ gây ra nhiều tai biến (những cơn tăng huyết áp do tyramine ...). Do vậy hiện nay các thuốc này ít được sử dụng. MAOIs mới (RIMAs): Brofaromine (Consonar); moclobemide (Aurorix) là loại thuốc ức chế có hồi phục (reversible inhibitor) men monoaminooxidase. Là loại có ít độc tính và đang bắt đầu được phổ biến rộng rãi. 2. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng (Tricyclic Antidepressant) (1957). Loại có tác dụng yên dịu, giải lo âu: Amitriptiline, Elavil, Laroxyl, Triptizol... Loại chỉ có tác dụng hoạt hoá, kích thích mạnh: Melipramin, Imipramin, Nortriptiline, Tofranil. Loại trung gian (Anafranil) có tác dụng ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin song cấu trúc hoá học lại giống CTC 3 vòng . 3. Loại không 3 vòng, không IMAO. SSRI (Selective serotonin reuptake inhibitor) Mianserine (Athymil) Maprotiline (Ludiomil) Vilixazine (vivalan) SSRI là loại thuốc chống trầm cảm mới (1984), bắt đầu sử dụng rộng rãi trên thế giới. Làm theo sách: • Cơ chế tác dụng phân loại thuốc chống trầm cảm Dựa theo cơ chế tác dụng, chia thuốc chống trầm cảm thành 4 nhóm. Bảng 3.9. Phân loại thuốc chống trầm cảm theo cơ chế tác dụng Nhóm thuốc Cơ chế tác dụng Các thuốc ức chế monoamin oxydase (IMAO) IMAO không chọn lọc Phenelzin, isocarboxazid, tranylcypromin IMAO chọn lọc Moclobemid, toloxaton Chống trầm cảm ba vòng ức chế thu hồi noradrenalin Amitriptylin, imipramin, serotonin nortriptylin, trimipramin, desipramin… Ức chế chọn lọc thu hồi serotonin ức chế chọn lọc thu hồi serotonin Fluoxetin, fluvoxamin, paroxetin và sertralin. Các thuốc khác Tác dụng theo các cơ chế khác nhau Amoxapin, maprotilin, nonifensin, trazodon, mianserin, ifrindol, bupropion, nefazodon… Nhóm câu hỏi 4: Câu 1. Trình bày về thuốc Halothan? Trả lời: Đặc điểm Halothan là chất lỏng không màu, dễ bay hơi, mùi thơm dễ chịu, không cháy nổ, gặp ánh sáng dễ chuyển thành acid bay hơi, ăn mòn kim loại (trừ crom và kền), hoà tan cao su, chất dẻo (trừ polyethylen), không bị vôi soda phân hủy. Tác dụng – Gây mê: hoạt tính gây mê tương đối cao, xuất hiện tác dụng gây mê tương đối nhanh, êm dịu, tỉnh nhanh, không gây kích thích nhưng giãn cơ và giảm đau kém nên thường phải phối hợp thêm với các thuốíc giảm đau và giãn cơ. – Trên hô hấp: thuốc gây ức chế hô hấp, làm giảm lưu lượng hô hấp. Nếu gây mê sâu dễ gây thiếu oxy cho mô, gây toan máu và ngừng thỏ nên thường phải hỗ trợ thỏ oxy. Thuốc không gây kích thích niêm mạc hô hấp, không làm tăng tiết dịch và có tác dụng giãn cơ trơn khí quản. – Trên tuần hoàn: thuốc làm giảm sức co bóp của tim, chậm nhịp tim, giãn mạch và hạ huyết áp. Cũng giống như hầu hết các thuốcgây mê khác, halothan làm tăng lưu lượng máu não nên làm tăng áp lực sọ não. Ngoài ra, thuốc có thể gây loạn nhịp tim. – Trên cơ: thuốc gây giãn cơ vân yếu, nhưng giãn cơ trơn mạnh, tác dụng giãn cơ trơn tử cung làm chậm chuyển dạ và chậm cầm máu sau khi sinh. Tác dụng không mong muốn Thường gặp là hạ huyết áp, chậm nhịp tim hoặc loạn nhịp, tăng áp lực sọ não, đặc biệt là độc vối gan (gây viêm gan). Ngoài ra, thuốc gây đáp ứng miễn dịch vì vậy hạn chế dùng nhắc lại, nếu phải dùng nhắc lại thì phải cách nhau ít nhất 3 tháng. Chống chỉ định – Sốt cao ác tính. – Không nên gây mê bằng halothan trong sản khoa trừ trường hợp cần giãn tử cung. – Không phối hợp vối thuốc ức chế MAO. Chế phẩm và liều dùng Lọ 125mL và 250mL. Khởi mê dùng liều từ 1 2,5% sau đó duy trì ở nồng độ 0,5 1,5% (thường phối hợp với nitrogen oxyd và oxy). Câu 2: Trình bày về thuốc Lidocain? Trả lời: Thuốc tê tại chỗ thuộc nhóm amid, thời gian tác dụng trung bình. Được sử dụng rộng rãi nhất vì tê nhanh, mạnh, kéo dài và ít độc hơn procain. Còn là thuốc chống loạn nhịp tim do tác dụng ức chế kênh Na, nhóm Ib, làm giảm rung thất trong nghi ngờ nhồi máu cơ tim. Tên chung quốc tế: Lidocaine Dạng thuốc và hàm lượng: Thuốc tiêm, lidocain hydroclorid 20 mgml, ống 5 ml. Chỉ định: Gây tê bề mặt niêm mạc khi nội soi, làm thủ thuật; gây tê thấm; phong bế thần kinh ngoại biên và giao cảm; gây tê tuỷ sống; gây tê vùng tĩnh mạch (kỹ thuật Bier); gây tê trong nha khoa; điều trị và dự phòng loạn nhịp thất. Chống chỉ định: Quá mẫn với thuốc; nhịp tim chậm, bloc nhĩ thất; suy tim nặng; vùng tiêm bị nhiễm khuẩn; rối loạn chuyển hoá porphyrin; gây tê tuỷ sống hoặc gây tê ngoài màng cứng cho người bị mất nước hoặc giảm khối lượng tuần hoàn. Thận trọng: Cần có phương tiện cấp cứu để sẵn. Suy hô hấp; suy gan; suy tim nặng; nhược cơ; có thai; cho con bú. Liều lượng và cách dùng Cách dùng: Liều tối đa lidocain an toàn đối với người lớn và trẻ em là 4 mgkg dùng dung dịch 0,5% hoặc 1% lidocain; dung dịch 0,5% hoặc 1% lidocain + adrenalin 5 microgamml (1200000), 7 mgkg. Dùng liều thấp hơn đối với người suy kiệt, cao tuổi hoặc bị bệnh rất nặng. Không dùng các dung dịch chứa các chất bảo quản để gây tê tuỷ sống, ngoài màng cứng, khoang cùng hoặc gây tê vùng đường tĩnh mạch. Liều lượng: Dung dịch không pha adrenalin: Gây tê thấm và phong bế thần kinh ngoại biên: dùng dung dịch 0,5% tối đa 250 mg (tối đa 50 ml) hoặc dung dịch 1% tối đa 250 mg (tối đa 25 ml) cho người lớn. Gây tê bề mặt ở hầu, thanh quản, khí quản, dùng dung dịch 4%, người lớn 40 200 mg (1 5 ml).Gây tê bề mặt ở niệu đạo, dùng dung dịch 4%, người lớn 400 mg (10 ml). Gây tê tuỷ sống, dung dịch 5% (với glucose 7,5%), người lớn 50 75 mg (1 1,5 ml). Dung dịch có pha adrenalin: Gây tê thấm và phong bế thần kinh ngoại biên, dung dịch 0,5% có pha adrenalin, người lớn tối đa 400 mg (tối đa 40 ml). Gây tê trong nha khoa, dung dịch 2% có pha adrenalin, người lớn, 20 100 mg (1 5 ml). Tác dụng không mong muốn (ADR): Thường do liều quá cao hoặc tiêm vào mạch máu: chóng mặt, vật vã, nhìn mờ, mất tri giác, co giật, hôn mê; độc với tim mạch: hạ huyết áp, nhịp tim chậm, bloc dẫn truyền, ngừng tim; dị ứng quá mẫn. Gây tê ngoài màng cứng đôi khi gây bí đái, đại tiện không tự chủ, đau đầu, đau lưng hoặc mất cảm giác vùng đáy chậu. Quá liều và xử trí Triệu chứng: Thần kinh: lú lẫn, thờ ơ, co giật, hôn mê; tim mạch: tim chậm, blốc nhĩ thất, giảm huyết áp; ngừng thở. Xử trí: Hỗ trợ hô hấp, truyền dịch, thuốc vận mạch, kèm chống co giật bằng diazepam hoặc thiopental. Độ ổn định và bảo quản: Bảo quản trong bao bì kín, ở nhiệt độ 15 30 oC. Không dùng khi dung dịch bị kết tủa hay biến màu. Câu 3: Trình bày về thu phenobarbital? Trả lời Phenobarbital • Tác dụng: Trên thần kinh trung ương: An thần ở liều thấp, gây ngủ ở liều trung bình và chống động kinh ở liều cao (động kinh cơn lớn và động kinh cục bộ) • Cơ chế: ức chế thần kinh trung ương bằng cách tạo thuận lợi cho GABA gắn vào receptor GABA. Ngoài ra còn tăng cường chất dẫn truyền ức chế glycin vàhoặc ức chế chất dẫn truyền kích thích là acid glutamic. Ở nồng độ cao ức chế cả kênh Na+ • Trên các cơ quan khác: Ở liều điều trị, thuốc làm giảm nhẹ hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Ở liều cao, gây ức chế tim, hạ huyết áp, ức chế hô hấp, dễ gây rối loạn hô hấp (do làm giảm đáp ứng của trung tâm hô hấp với nồng độ CO2). Ngoài ra, còn làm giảm hoạt động cơ trơn, giảm chuyển hóa, giảm thân nhiệt, giảm sức lọc cầu thận, giảm bài niệu, trường hợp nặng gây vô niệu • Phenobarbital làm tăng cường tác dụng của các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác như: clorpromazin, thuốc gây mê, rượu và đối kháng tác dụng với thuốc kích thích thần kinh trung ương của strychnin, niketamid, pentetrazol… • Chỉ định: Co giật, động kinh cơn lớn, phòng co giật do sốt cao ở trẻ nhỏ. Tiền mê. Các trạng thái thần kinh bị kích thích, lo âu, căng thẳng. Các trạng thái bị mất ngủ nặng (it dùng). Tăng bilirubin huyết, vàng da ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra, phenobarbital còn được phối hợp với các thuốc khác để điều trị cơn đau thắt ngực, đau nửa đầu, nhồi máu não và một số rối loạn ở hệ thần kinh trung ương • Tác dụng không mong muốn: Buồn ngủ, ngủ gà, nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn, mất điều hòa động tác, rung giật nhãn cầu. Có thể gặp tác dụng nghịch thường: mất ngủ, kích thích, có cơn ác mộng, sợ hãi. Rối loạn chuyển hóa Porphyrin, dị ứng (mẩn đỏ, viêm da, viêm miệng…) giảm hồng cầu, thiếu máu do thiếu acid folic • Độc tính cấp: thường gặp khi dùng liều cao gấp 510 lần liều bình thường. Biểu hiển ngộ độc cấp là ngủ sâu, mất phản xạ, hạ thân nhiệt, giãn đồng tử, trụy tim mạch, trụy hô hấp, hôn mê có thể tử vong… • Xử lý: Thải nhanh thuốc ra khỏi cơ thể (gây nôn, uống than hoạt, truyền dung dịch kiềm như NaHCO3 1,4%, thuốc lợi tiểu..). Trợ hô hấp, tuần hoàn. • Độc tính mạn: thường gặp khi dùng thuốc kéo dài. Khi đã quen thuốc nếu dừng thuốc đột ngột sẽ gặp hội chứng cai thuốc, co giật, mê sảng, mất ngủ, đau cơ khớp… • Xử trí ngộ độc mạn bằng cách giảm liều thuốc từ từ. • Chống chỉ định: suy hô hấp, suy gan nặng, Rối loạn chuyển hóa Porpirin

Trang 1

DƯỢC LÝ NHÓM CÂU HỎI 1

Câu 1 Trình bày về tác dụng chính và tác dụng phụ của thuốc?

- Tác dụng chính là tác dụng của thuốc để điều trị bệnh Ngoài tác dụng điều trị thuốc còn gây những tác dụng không mong muốn khác (ADR), các tác dụng này gọi là tác dụng phụ Các tác dụng phụ có thể gây khó chịu cho người sử dụng

VD: Các thuốc NSAIDs là thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm (tác dụng chính) nhưng còn gây chảy máu tiêu hóa (tác dụng độc hại) Nifedipin, thuốc chẹn kênh Calci dùng điều trị tăng huyết

áp (tác dụng chính), nhưng có thể gây nhức đầu, nhịp tim nhanh (tác dụng phụ), ho, phù chân, tụt huyết áp (tác dụng độc hại)

- Đôi khi tác dụng một thuốc trong trường hợp này là tác dụng phụ nhưng trong trường hợp khác lại là tác dụng chính VD: khi dùng atropinn chống co thắt cơ trơn gây tác dụng phụ là giãn đồng

tử, nhưng khi nhỏ mắt để soi đáy mắt bằng atropine thì đó là tác dụng chính

- Trong điều trị thường phối hợp thuốc để làm tăng các tác dụng chính và làm giảm tác dụng phụ

VD, uống thuốc chẹn β giao cảm như Atenolol cùng với nifedipin sẽ làm giảm được tác dụng làm tăng nhịp tim, nhức đầu của nifedipin

Câu 2 Trình bày tác dụng tại chỗ và tác dụng toàn thân của thuốc?

- Tác dụng tại chỗ là tác dụng ngay nơi thuốc tiếp xúc, khi thuốc chưa được hấp thu vào máu, VD, thuốc sát khuẩn ngoài da, thuốc bao niêm mạc tiêu hóa, thuốc xịt mũi, nhỏ mắt

- Tác dụng toàn thân là tác dụng sau khi thuốc được hấp thu vào máu qua đường hô hấp, đường tiêu hóa hay đường tiêm Tác dụng toàn thân không có nghĩa là ảnh hưởng khắp cơ thể mà thuốc vào máu và "đi" khắp cơ thể đến những nơi cần tác dụng điều trị

VD: Sau khi uống paracetamol thuốc có tác dụng hạ sốt, giảm đau Sau khi tiêm methylprednisolon thuốc có tác dụng chống dị ứng, chống viêm, ức chế miễn dịch…

Câu 3 Trình bày về tác dụng hồi phục và không hồi phục của thuốc?

- Tác dụng hồi phục là tác dụng của thuốc có giới hạn nhất định về thời gian Sau khi phát huy tác dụng, thuốc bị thải trừ, chức phận cơ quan trở lại về bình thường VD: sau khi gây mê phẫu thuật, người bệnh lại có trạng thái bình thường

- Tác dụng không hồi phục là tác dụng của thuốc làm cho một phần hoặc một tính năng nào đó của một tổ chức bị mất khả năng hổi phục VD: Thuốc chống ung thư tiêu diệt tế bào ung thư Aminoglycosid có thể gây điếc không hồi phục Tetracyclin tạo phức chelat bền vững với Ca2+ ở men răng và xương, làm men răng có màu vàng xỉn

Câu 4 Trình bày về tác dụng hiệp đồng và tác dụng đối lập của thuốc?

Trang 2

c > a + b, ta có hiệp đồng tăng mức (synergysm)

Hiệp đồng cộng thường không được dùng ở lâm sàng vì nếu cần thì tăng liều thuốc chứ không phối hợp thuốc

Hiệp đồng tăng mức thường dùng trong điều trị để làm tăng tác dụng điều trị và làm giảm tác dụng phụ, tác dụng độc hại Hai thuốc có hiệp đồng tăng mức có thể qua tương tác dược động học (tăng hấp thu, giảm thải trừ) hoặc tương tác dược lực học (trực tiếp hoặc gián tiếp qua receptor)

* Tác dụng đối kháng

Như trong định nghĩa trên, nhưng khi tác dụng c của thuốc A + B lại nhỏ hơn tác dụng cộng của từng thuốc (c < a + b) ta gọi là tác dụng đối kháng Đối kháng có thể chỉ một phần khi c < a + b, nhưng cũng có thể đối kháng hoàn toàn khi A làm mất hoàn toàn tác dụng của B Trong lâm sàng, thường dùng tác dụng đối kháng để giải độc

- Đối kháng có thể xẩy ra ở ngoài cơ thể, gọi là tương kỵ, một loại tương tác thuần túy lý hóa: + Acid gặp base: Không tiêm kháng sinh loại acid (nhóm Beta - lactam) vào ống dẫn dịch truyền

có tính base

+ Thuốc oxy hóa (vitamin C, B1, penicilin) không trộn với thuốc có tính khử (vitamin B2)

+ Thuốc có bản chất là protein (insulin, heparin) khi gặp muối kim loại sẽ dễ kết tủa

- Đối kháng xẩy ra ở trong cơ thể: Khi thuốc A làm giảm nồng độ của thuốc B trong máu (qua dược động học) hoặc làm giảm tác dụng của nhau (qua dược lực học), ta gọi là đối kháng

Về dược lực học, cơ chế của tác dụng đối kháng có thể là:

+ Tranh chấp trực tiếp tại receptor: phụ thuộc vào ái lực và nồng độ của thuốc tại receptor VD: acetylcholin và atropin tại receptor M - cholinergic; histamin và cimetidin trên receptor H2 ở dạ dầy

+ Đối kháng chức phận: hai chất đồng vận (agonist) tác dụng trên 2 receptor khác nhau nhưng chức phận lại đối kháng trên cùng một cơ quan Strychnin kích thích tuỷ sống, gây co giật; cura

ức chế dẫn truyền ở tấm vận động, gây mềm cơ, chống được co giật Histamin kích thích receptor

H1 làm co cơ trơn khí quản, gây hen; albuterol (Ventolin), kích thích receptor β2 adrenergic làm giãn cơ trơn khí quản, dùng điều trị cơn hen

Câu 5 Trình bày về chức phận của receptor?

Receptor là một thành phần đại phân tử (thường là protein) tồn tại với 1 lượng giới hạn trong tế bào đích, có khả năng nhận biết một cách đặc hiệu chỉ 1 phần tử thông tin tự nhiên (như Hormon, chất dẫn truyền thần kinh), hoặc một tác nhân ngoại lai (chất hóa học, thuốc) để gây ra một tác dụng sinh học đặc hiệu, là kết quả của tác dụng tương hỗ đó

* Chức năng của recpetor:

- Nhận biết các phân tử thông tin (ligand) bằng sự gắn đặc hiệu các phân tử này vào receptor theo các liên kết hóa học ( liên kết Ion, liên kết Hydro, cộng hóa trị, van-der-Waals

- Chuyển các tác dụng tương hỗ giữa ligand và recpetor thành một tín hiệu để gây ra được đáp ứng

tế bào Khi các ligand tác động lên receptor sẽ làm sản xuất ra các phân tử trung gian - "người truyền tin thứ 2" (AMPv, GMPv, IP3, Ca2+, diacetyl glycerol )- Những chất này sẽ gây ra một

Trang 3

loạt phản ứng trong tế bào, dẫn tới một thay đổi chuyển hóa trong tế bào, cùng với hoặc không có

sự thay đổi về biểu hiện gen

Như vậy khi thuốc gắn vào receptor của tế bào thì gây ra tác dụng sinh lý Nhưng có khi thuốc gắn vào receptor mà không gây ra tác dụng gì

VD: Acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh của hệ phó giao cảm, khi gắn vào receptor M gây

ra hiệu lực làm tăng tiết nước bọt, co đồng tử, chậm nhịp tim, co thắt khí đạo ; Atropin có ái lực trên receptor M mạnh hơn acetylcholin rất nhiều nên đẩy được Acetylcholin ra khỏi receptor M, tuy nhiên bản thân atropin lại không gây ra hiệu lực gì Ở lâm sàng, tác dụng quan sát được chính

là do sự thiếu vắng acetylcholin trên receptor M như khô miệng, đồng tử giãn, nhịp tim nhanh

Câu 6 Trình bày liên quan cấu trúc và tác dụng của thuốc?

Nhìn chung mỗi phân tử thuốc có cấu tạo bao gồm 2 phàn là nhân và các nhóm chức năng

- Nhân thường đóng vai trò quyết định hoạt động của thuốc đối với trung tâm hoạt động của receptor hoặc enzyme và quyết định kiểu tác dụng của thuốc

- Nhóm chức năng có 2 loại: một loại cùng nhân quyết định ái lực của thuốc đối với trung tâm hoạt động của receptor VD các nhóm –OCH3, -Cl, -CF3 (trong nhân phenothiazine) Loại nhóm chức năng khác như –NH2, -SO3H, -OH… ảnh hưởng đến tính phân cực và độ tan của thuốc, hay nói cách khác là ảnh hưởng đến dược động học của thuốc Như vậy có thể thấy, thay đổi cấu trúc hóa học của thuốc sẽ làm thay đổi tác dụng của thuốc

*Thay đổi cấu trúc làm thay đổi dược lực học của thuốc:

Nếu ví receptor như ổ khóa thì thuốc chính là chìa khóa để mở Một sự thay đổi nhỏ về cấu trúc hóa học (như hình dạng phân tử thuốc) cũng có thể gây ra những thay đổi lớn về tác dụng Như vậy việc tổng hợp các thuốc mới thường nhằm:

- Làm tăng tác dụng điều trị và giảm tác dụng không mong muốn VD, khi thêm Flo vào vị trí 9

và CH3 vào vị trí 16 của corticoid, ta được Betamethason có tác dụng chống viêm gấp 25 lần và không có tác dụng giữ Na+, tránh được việc phải ăn nhạt

- Làm thay đổi tác dụng dược lý VD, thay đổi cấu trúc của isoniazid (thuốc chống lao), ta được iproniazid, có tác dụng chống trầm cảm, do gắn vào receptor hoàn toàn khác

- Trở thành chất đối kháng tác dụng VD, thuốc kháng Histamin H1 có công thức gần giống với histamin, tranh chấp với histamin tại receptor H1

- Các đồng phân quang học hoặc đồng phân hình học của thuốc cũng làm thay đổi cường độ tác dụng, hoặc làm thay đổi hoàn toàn tác dụng của thuốc VD, L-isoprenalin có tác dụng kích thích receptor β adrenergic 500 lần mạnh hơn so với D-isoprenalin L.quinin là thuốc chữa sốt rét trong khi D.quinin là thuốc chữa loạn nhịp tim

* Thay đổi cấu trúc thuốc làm thay đổi dược động học của thuốc

- Khi cấu trúc thay đổi làm tính chất lý hóa của thuốc cũng thay đổi, ảnh hưởng đến sự hòa tan của thuốc trong nước hoặc trong lipid, ảnh hưởng đến sự gắn thuốc vào protein, độ ion hóa của thuốc

và tính vững bền của thuốc

- Khi thuốc gắn vào receptor để gây hiệu lực, không phải toàn bộ phân tử thuốc mà chỉ những nhóm chức phận gắn vào receptor Khi thay đổi cấu trúc của nhóm hoặc vùng chức phận, dược lực

Trang 4

học của thuốc sẽ thay đổi Còn khi thay đổi cấu trúc ở ngoài vùng chức phận thì dược động học của thuốc có thể thay đổi

Trang 5

NHÓM CÂU HỎI 2

Câu 7 Trình bày về cơ chế tác dụng của thuốc gây mê?

Thuốc gây mê có thể có tác dụng ức chế dẫn truyền ở TKTƯ theo các cơ chế sau:

- Làm thay đổi tính thấm của màng tế bào TK, gây cản trở trao đổi ion Na+ qua màng do đó ngăn cản khử cực màng, dẫn đến ức chế dẫn truyền TK

- Kích thích trực tiếp receptor GABAA hoặc tạo thuận lợi cho GABA gắn vào receptor của nó, làm tăng dòng Cl- vào tế bào gây ức chế dẫn truyền TK

- Ngoài ra thuốc gây mê có thể ức chế Acid glutamic là chất dẫn truyền kích thích hoặc làm giảm

sự nhạy cảm của receptor với acetylcholin dẫn đến ức chế dẫn truyền TK

Câu 8 Nêu tác dụng chung và cơ chế tác dụng của thuốc gây tê?

* Tác dụng chung:

- Ở liều thấp thuốc gây tê chỉ có tác dụng giảm đau, không làm mất các cảm giác khác

- Ở liều điều trị: Thuốc tê tác dụng trên tất cả các sợi thần kinh trung ương (cảm giác, vận động)

và thần kinh thực vật, lần lượt từ sợi bé đến sợi to tuỳ theo nồng độ của thuốc Thứ tự mất cảm giác là đau, lạnh, nóng, xúc giác nông, rồi đến xúc giác sâu Khi hết thuốc, tác dụng hồi phục theo chiều ngược lại

- Ở liều quá cao: thuốc tê thấm được vào vòng tuần hoàn với nồng độ hiệu dụng:

+ Tác dụng lên TKTƯ xuất hiện sớm nhất với các dấu hiêụ kích thích: bồn chồn, lo âu, run cơ, cơn co giật …

+ Ức chế dẫn truyền thần kinh - cơ gây nhược cơ, liệt hô hấp

+ Làm giãn cơ trơn do tác dụng liệt hạch và tác dụng trực tiếp trên cơ trơn

+ Trên tim - mạch: thuốc tê làm giảm tính kích thích, giảm dẫn truyền và giảm lực co bóp của cơ tim Có thể gây loạn nhịp, thậm chí rung tâm thất Hầu hết gây giãn mạch, hạ huyết áp (trừ cocain) + Trên máu: gây oxy hóa, biến Hb thành metHb

* Cơ chế tác dụng:

- Các thuốc tê tổng hợp làm giảm tính thấm của màng tế bào với Na+ do gắn vào receptor của kênh

Na+ ở mặt trong của màng, khác với các độc tố thiên nhiên như tetrodotoxin gắn ở mặt ngoài của kênh Như vậy, thuốc tê có tác dụng làm “ổn định màng”, ngăn cản Na+ đi vào tế bào, làm tế bào không khử cực được

- Ngoài ra, thuốc tê còn làm giảm tần số phóng xung tác của các sợi cảm giác Hầu hết các thuốc

tê đều có pKa là 8,0 - 9,0, vì vậy, ở pH của dịch cơ thể đều phần lớn ở dạng cation, là dạng có hoạt tính gắn vào được receptor, nhưng lại không qua được màng tế bào nên không có tác dụng, vì receptor của thuốc tê nằm ở mặt trong màng tế bào

Trang 6

Câu 9 Trình bày cơ chế tác dụng của thuốc an thần gây ngủ?

- Thuốc an thần - gây ngủ ức chế dẫn truyền ở tổ chức lưới của não giữa, làm giảm hoạt động của xynap TK chủ yếu bằng cách làm tăng hoạt tính của GABA và glycin - là các chất dẫn truyền loại

ức chế, làm thuận lợi cho mở kênh Cl- (các barbiturat, các benzodiazepin và zolpidem)

- Ngoài ra, các thuốc an thần - gây ngủ còn tác dụng theo một số cơ chế khác: kích thích receptor của serotonin (buspiron), ức chế acid glutamic, kháng histamin và ức chế kênh Na+

Câu 10 Trình bày cơ chế tác dụng chung của thuốc chống động kinh?

* Ức chế kênh Na+

Khi kênh Na+ mở ra, sự khử cực màng bắt đầu và xuất hiện điện thế hoạt động Sau đó kênh Na+đóng lại tự động và sau thời gian sẽ được khôi phục trở lại trạng thái hoạt động Ở những bệnh nhân đang bị động kinh, người ta nhận thấy các tế bào TK đang ở trạng thái khử cực và phóng điện với tần số rất cao Một số thuốc chống động kinh đã ngăn chặn được hiện tượng này bằng cách làm chậm sự hồi phục của kênh Na+ trở về trạng thái hoạt động Những thuốc tác động theo cơ chế này gồm: phenytoin, carbamazepin, lamogitrin và acid valproic

* Ức chế kênh Ca2+

Cùng với Na+, Ca2+ cũng có vai trò quan trọng trong khử cực màng tế bào Phân tích điện não đồ trên những bệnh nhân động kinh cơn vắng cho thấy có sự xuất hiện các sóng nhọn với tần suất 3 lần/giây Các sóng này có liên quan đến hoạt động của kênh Ca2+ loại T Các thuốc chống động kinh, như acid valproic, ethosuximid, trimethadion ức chế kênh Ca2+ loại T, do đó làm giảm sự xuất hiện các sóng nhọn có trong động kinh cơn vắng

* Tăng hoạt tính của GABA

GABA là chất dẫn truyền TK loại ức chế Khi GABA gắn được vào receptor của nó thì kênh Cl

-mở ra, Cl- đi vào tế bào và gây ra hiện tượng ưu cực hóa Các thuốc chống động kinh làm tăng hoạt tính của GABA bằng cách:

- Ức chế GABA-transaminase, là enzym làm bất hoạt GABA, do đó làm tăng nồng độ GABA trong não và tăng hoạt tính ức chế TKTƯ (vigabatrin và acid valproic cũng tác động một phần theo cơ chế này)

Trang 7

- Làm hoạt hóa receptor GABAA hậu Xinap, làm cho kênh Cl- dễ dàng mở ra (như Phenobarbital

và các benzodiazepin)

- Có thể tác dụng vào receptor tiền Xinap làm tăng giải phóng GABA (như gabapentin)

* Giảm hoạt tính của glutamat

Trái với GABA, glutamat là chất trung gian dẫn truyền kích thích Khi glutamat gắn vào receptor của nó thì một số tế bào TK trên não sẽ được hoạt hóa, phóng ra các xung điện với tần suất cao và làm xuất hiện cơn động kinh Người ta đã tìm ra 1 loại receptor của glutamat là N - methyl - d - aspartat (NMDA) có liên quan đến sự phát sinh động kinh Các thuốc ức chế receptor NMDA có tác dụng chống lại các cơn co giật trên động vật thí nghiệm và trên invitro, Tuy nhiên chúng có quá nhiều độc tính nên không sử dụng cho người

Câu 11 Trình bày cơ chế tác dụng chung của thuốc ức chế tâm thần?

Giả thuyết sinh hóa về bệnh tâm thần phân liệt cho rằng các triệu chứng dương tính (hoang tưởng,

ảo giác, kích động, đa nghi, ý tưởng tự cao) là do tăng hoạt hệ Dopaminergic (DA) ở hệ viền và mất cơ chế điều hòa ngược trung ương Còn các triệu chứng âm tính (cảm xúc cùn mòn, quan hệ kém, vô cảm, tư duy trừu tượng khó khăn) là do rối loạn chức phận vùng trán trước, giảm hoạt hệ Dopaminergic não giữa - vỏ não do tăng hoạt hệ Serotoninergic (5HT)

Các thuốc ức chế tâm thần hoạt động theo cơ chế:

- Ức chế receptor dopaminergic ở não mà quan trọng nhất là receptor D2

- Ức chế các receptor khác như serotoninergic, α-adrenergic, cholinergic và histamine H1

Hiện nay có 5 loại receptor dopaminergic từ D1 đến D5 Khi vào cơ thể, thuốc an thần kinh có thể gắn vào tất cả các receptor này nhưng ở các mức độ khác nhau Tác dụng chống rối loạn tâm thần chủ yếu liên quan đến khả năng ức chế receptor D2 ở vỏ não

Câu 12 Trình bày cơ chế tác dụng và phân loại thuốc chống trầm cảm?

Dựa theo cơ chế tác dụng, chia thuốc chống trầm cảm thành 4 nhóm

Ức chế monoamin

oxydase (IMAO) - Trầm cảm là do thiếu hụt các chất trung gian hóa học

có bản chất là amin như: noradrenalin, serotonin, dopamine… ở trung ương

- Thuốc IMAO không chọn lọc Ức chế cả MAOA và MAOB làm tăng các chất trung gian hóa học ở cả trung ương và ngoại vi Gây nhiều tác dụng KMM

Phenelzin, isocarboxazid, tranylcypromin

IMAO chọn lọc: Ức chế chọn lọc MAOA ở não, có tác dụng chống trầm cảm tương tự loại ức chế không chọn lọc Thuốc hầu như không tác dụng trên MAOB ở ngoại

vi nên ít gây tác dụng KMM hơn

Moclobemid, toloxaton

Chống trầm cảm 3

vòng - Ức chế thu hồi noradrenalin và serotonin về các hạt dự

trữ ở ngọn dây TK, làm tăng nồng độ các chất này ở khe sinap do đó có tác dụng chống trầm cảm

Amitriptylin, imipramin, nortriptylin, trimipramin, despiramin

Trang 8

Ức chế chọn lọc

thu hồi serotonin

Ức chế chọn lọn thu hồi serotonin về ngọn dây TK, làm tăng nồng độ serotonin ở khe sinap Thuốc không ức chế adrenergic nên rất ít tác dụng KMM

Fluoxetin, fluvoxamin, paroxetin và sertralin

nonifensin, trazodon, mianserin, ifrindol, bupropion, nefazodon

NHÓM CÂU HỎI 3

Câu 13 Phân loại nêu tên các thuốc gây mê?

Theo đường dùng, chia thuốc gây mê thành 2 loại:

- Thuốc gây mê đường hô hấp: ether, halothan, enfluran, isofluran, nitrogen oxid

- Thuốc gây mê đường tĩnh mạch: thiopental, propofol, etomidat, ketamin

Câu 14 Phân loại, nêu tên các thuốc an thần, gây ngủ?

Dựa vào cấu trúc hóa học chia thành 3 nhóm:

- Dẫn xuất của acid barbituric:

+ Thời gian tác dụng dài (8 – 12 giờ): phenobarbital, barbital, butabarbital

+ Thời gian tác dụng trung bình (4 – 8 giờ): pentobarbital, heptabarbital

+ Thời gian tác dụng ngắn (1 – 3 giờ): Hexobarbital, secobarbital

+ Thời gian tác dụng rất ngắn (30 – 60 phút): Thiopental, thiobarbital

- Dẫn xuất của benzodiazepin: diazepam, nitrazepam, clorazepat, lorazepam

- Các dẫn xuất khác: buspiron, zolpidem, glutethimid

Câu 15 Phân loại, nêu tên các thuốc giảm đau trung ương?

Dựa vào cơ chế tác dụng, chia thuốc giảm đau trung ương thành 3 nhóm:

- Thuốc chủ vận trên receptor opioid

+ Tự nhiên: morphin, codein

+ Tổng hợp: pethidin, methadone, fentanyl, sulfetanyl, alfetanyl

- Thuốc chủ vận - đối kháng hỗn hợp và chủ vận từng phần trên receptor opioid: pentazocin, nalorphin, nalbuphin, butorphanol

- Thuốc đối kháng đơn thuần trên receptor opioid: naloxon, naltrexon

Câu 16 Phân loại và nêu tên các thuốc kích thích TKTƯ

Dựa vào vị trí tác dụng, thuốc kích thích TKTƯ được chia thành 3 nhóm:

- Thuốc có tác dụng ưu tiên trên vỏ não, làm tăng hoạt động tự nhiên, giảm mệt mỏi, tạo cảm giác khoan khoái: cafein, amphetamin, pipradrol

Trang 9

- Thuốc tác dụng ưu tiên trên hành não, tác dụng trên trung tâm hô hấp và tuần hoàn trực tiếp hoặc gián tiếp qua phản xạ: niketamid, pentylentetrazol, camphora, lobelin, bemegrid

- Thuốc tác dụng ưu tiên trên tủy sống, làm tăng phản xạ tủy: strychnin

Sự phân chia này chỉ dựa vào tác dụng chọn lọc ở liều điều trị Khi dùng liều cao các thuốc này có thể tác dụng trên toàn bộ hệ thống TK

Câu 17 Phân loại, nêu tên các thuốc tác dụng trên hệ adrenergic?

Chia thành 2 nhóm lớn: Thuốc kích thích hệ adrenergic và thuốc ức chế adrenergic

+ Kích thích chọn lọc β2: salbutamol, terbutalin, salmeterol, fenoterol…

- Thuốc kích thích giao cảm gián tiếp: ephedrine, amphetamine

* Thuốc ức chế hệ adrenergic:

- Thuốc ức chế tổng hợp catecholamine: guanetidin, methyldopa, reserpine

- Thuốc ức chế α-adrenergic:

+ Ức chế α không chọn lọc: phentolamin, tolazolin, phenoxybenzamin

+ Ức chế α chọn lọc: prazosin, terazosin, alfuzosin

- Thuốc ức chế β- adrenergic: propranolol, atenolol, metoprolol, sotalol, carvedilol…

Câu 18 Phân loại và nêu tên các thuốc tác dụng trên hệ cholinergic?

* Thuốc kích thích hệ cholinergic:

- Thuốc kích thích hệ M, hệ N: acetylcholine, betanechol

- Thuốc kích thích hệ M: pilocarpin

- Thuốc kích thích hệ N: nicotin, lobelin

- Thuốc ức chế cholinesterase: physostigmin, prostigmin

Trang 10

+ Ức chế receptor N ở cơ vân: pancuronium, pipecuronium, galamin, sucinylcholin

Trang 11

NHÓM CÂU HỎI 4:

Câu 17 Trình bày về thuốc Halothan?

* Dạng bào chế: Lọ 125 ml và 250 ml

* Đặc điểm: là chất lỏng không màu, dễ bay hơi, mùi thơm dễ chịu, không cháy nổ, gặp ánh sáng

dễ chuyển thành acid bay hơi, ăn mòn kim loại (trừ crom và kền), hòa tan cao su, chất dẻo (trừ polyethylen), không bị vôi soda phân hủy

* Dược động học:

- Hấp thu: Được hấp thu ở các phế nang, tan tương đối ít trong máu

- Phân bố: do có ái lực cao với lipid nên halothan dễ dàng phân bố vào các mô và tổ chức

- Chuyển hóa: các chất chuyển hóa chính là là acid trifluoroacetic, muối bromid, clorid tùy theo cách chuyển hóa

- Thải trừ chủ yếu qua phổi (80%) Phần còn lại thải trừ qua nước tiểu dạng chuyển hóa

* Tác dụng:

- Gây mê: hoạt tính gây mê tương đối cao, xuất hiện tác dụng gây mê tương đối nhanh, êm dịu, tỉnh nhanh, không gây kích ứng nhưng giãn cơ và giảm đau kém nên thường phải phối hợp thêm với các thuốc giảm đau và giãn cơ

- Trên hô hấp: thuốc gây ức chế hô hấp, làm giảm lưu lượng hô hấp Nếu gây mê sâu dễ gây thiếu Oxy cho mô, gây toan máu và ngừng thở Thuốc không gây kích thích niêm mạc hô hấp, không làm tăng tiết dịch và có tác dụng giãn cơ trơn khí quản

- Trên tuần hoàn: thuốc làm giảm sức co bóp của tim, chậm nhịp tim, giãn mạch và hạ huyết áp Halothan làm tăng lưu lượng máu não nên làm tăng áp lực sọ não Ngoài ra thuốc có thể gây loạn nhịp tim

- Trên cơ: thuốc gây giãn cơ vân yếu, nhưng giãn cơ trơn mạnh, tác dụng giãn cơ trơn tử cung làm chậm chuyển dạ và chậm cầm máu sau khi sinh

* Chỉ định:

Gây mê đường hô hấp

* Chống chỉ định:

- Sốt cao ác tính

- Không nên gây mê bằng halothan trong sản khoa trừ trường hợp cần giãn tử cung

- Không phối hợp với thuốc ức chế MAO

- Có tiền sử quá mẫn với Halothan

* Tác dụng không mong muốn:

Thường gặp là hạ huyết áp, chậm nhịp tim hoặc loạn nhịp, tăng áp lực sọ não, đặc biệt là độc với gan (gây viêm gan) Ngoài ra, thuốc gây đáp ứng miễn dịch vì vậy hạn chế dùng nhắc lại, nếu phải dùng nhắc lại thì cách nhau ít nhất 3 tháng

Trang 12

* Tương tác thuốc:

- Dùng adrenalin trong khi gây mê bằng halothan gây loạn nhịp tim

- Các thuốc giãn cơ dùng đồng thời với halothan sẽ tăng tác dụng và có thể gây liệt cơ hô hấp, tử vong

* Liều dùng: Khởi mê dùng liều từ 1 - 2,5% sau đó duy trì ở nồng độ 0,5 - 1,5% (thường phối hợp

với nitrogen oxyd và oxy)

* Bảo quản: Nhiệt độ mát, đựng trong lọ kín tráng ánh sáng

Câu 18 Trình bày về thuốc Lidocain?

- Phân bố: vào máu thuốc liên kết với protein khoảng 70% Thuốc có ái lực cao với tổ chức hơn với huyết tương, đặc biệt là phổi, não, sau đó đến tim, gan, lách, ruột, cơ và mô mỡ Thuốc qua nhau thai khoảng 40%

- Chuyển hóa: chuyển hóa ở gan khoảng 70% bằng phản ứng ankyl hóa và hydroxyl hóa tạo ra 2 chất chuyển hóa quan trọng là monoethylglycinxylidin và glycinxylidin vẫn còn hoạt tính chống loạn nhịp tim

- Thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng đã chuyển hóa

* Tác dụng:

- Gây tê: Lidocain vừa có tác dụng gây tê bề mặt do thuốc thấm tốt qua niêm mạc, vừa có tác dụng gây tê bề sâu (gây tê dẫn truyền, gây tê tiêm thấm) Tác dụng của lidocain mạnh hơn procain khoảng 4 lần và độc hơn Tác dụng xuất hiện nhanh và kéo dài hơn Vì thuốc gây giãn mạch nơi tiêm nên thường phải phối hợp với các chất gây co mạch như noradrenalin, adrenalin

- Trên thần kinh vận động: làm giảm chức năng vận động như giảm dẫn truyền thần kinh - cơ, liều cao gây liệt cơ

- Trên thần kinh thực vật: làm giảm chức năng thực vật như chậm nhịp tim, hạ huyết áp

- Chống loạn nhịp: giống quinidin, thuốc có tác dụng ổn định màng tế bào làm giảm tính tự động

và rút ngắn thời kỳ trơ của tim Khác quinidin là lidocain không ảnh hưởng tới dẫn truyền nội tại của cơ tim, ít ảnh hưởng tới sức co bóp của cơ tim và mạch ngoại vi

* Chỉ định:

- Gây tê: gây tê niêm mạc, gây tê tiêm thấm và gây tê dẫn truyền

- Chống loạn nhịp tim: loạn nhịp do ngộ độc digitalis, loạn nhịp thất do huyết khối cơ tim, loạn nhịp do thuốc mê và ngoại tâm thu

Trang 13

* Chống chỉ định:

- Có tiền sử quá mẫn với lidocain

- Hội chứng Adams - Stokes, rối loạn xoang - nhĩ nặng, block nhĩ thất, suy tim nặng

- Bệnh nhược cơ

- Rối loạn chức năng gan

* Tác dụng không mong muốn:

- Dùng gây tê (tại chỗ): có thể gặp viêm tắc tĩnh mạch, viêm màng nhện, shock phản vệ

- Dùng chống loạn nhịp (toàn thân): có thể gặp chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, chậm nhịp tim, hạ huyết áp, co giật

- Quá liều gây trụy mạch, rung thất, rối loạn nhịp hoặc ngừng tim, ngừng hô hấp, có thể gây tử vong

+ Gây tê bề mặt, dung dịch 1 - 5% dùng đắp lên da và niêm mạc

+ Gây tê dẫn truyền và tiêm thấm: 40 - 200mg Liều điều trị 400mg loại có adrenalin, 500mg loại không có adrenalin

+ Ðiều trị cấp tính loạn nhịp thất: Ðể tránh sự mất tác dụng có liên quan với phân bố, dùng chế độ liều nạp 3 - 4 mg/kg trong 20 - 30 phút, sau đó có thể duy trì nồng độ ổn định trong huyết tương bằng tiêm truyền 1 - 4 mg/phút

* Bảo quản: Để ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp

Câu 19 Trình bày về thuốc phenobarbital?

* Dạng bào chế: viên nén 15mg, 50mg, 100mg; dung dịch tiêm

* Dược động học:

- Hấp thu: phenobarbital hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, khi cần có thể tiêm tĩnh mạch Không nên tiêm dưới da và tiêm bắp vì gây đau và dễ hoại tử nơi tiêm Sau khi uống thuốc khoảng 60 phút, xuất hiện tác dụng và duy trì được 8 - 12 giờ

- Phân bố: liên kết với protein khoảng 50%, phân bố rộng vào các mô, đặc biệt là não, qua được nhau thai và sữa mẹ

- Chuyển hóa ở gan bằng phản ứng hydroxyl hóa tạo chất chuyển hóa không có hoạt tính

- Thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, tốc độ thải trừ phụ thuộc vào pH nước tiểu

Trang 14

* Tác dụng và cơ chế:

- Trên TKTƯ: phenobarbital có tác dụng ức chế Tùy thuộc vào liều lượng, thuốc có tác dụng an thần, gây ngủ, chống động kinh, chống co giật

+ An thần (liều thấp): thuốc làm giảm lo lắng, bồn chồn, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu, dễ dàng

đi vào giấc ngủ

+ Gây ngủ (liều trung bình): barbiturat tạo ra được giấc ngủ tương tự giấc ngủ sinh lý, nhưng có nhiều giấc mơ

+ Chống động kinh (liều trung bình hoặc liều cao): thuốc có tác dụng chống động kinh cơn lớn và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm giác) do ức chế sự phóng điện quá mức ở não, đồng thời làm tăng ngưỡng đáp ứng của các nơ-ron TKTƯ với kích thích

+ Cơ chế: phenobarbital và các barbiturat có tác dụng ức chế TKTƯ bằng cách tạo thuận lợi cho acid Gama amino butyric (GABA) gắn vào receptor GABA Ngoài ra phenobarbital còn tăng cường chất dẫn truyền ức chế glycin hoặc ức chế chất dẫn truyền kích thích là acid glutamic Ở nồng độ cao ức chế cả kênh Na+

- Tác dụng trên các cơ quan:

+ Ở liều điều trị, thuốc làm giảm nhẹ hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Ở liều cao, gây ức chế tim, hạ huyết áp, ức chế hô hấp, dễ gây rối loạn hô hấp (do làm giảm đáp ứng của trung tâm

hô hấp với nồng độ CO2) Ngoài ra, còn làm giảm hoạt động cơ trơn, giảm chuyển hóa, giảm thân nhiệt, giảm sức lọc cầu thận, giảm bài niệu, trường hợp nặng gây vô niệu

+ Phenobarbital làm tăng cường tác dụng của các thuốc ức chế TKTƯ khác như: clorpromazin, thuốc gây mê, rượu và đối kháng với tác dụng kích thích TKTƯ của strychnin, niketamid, pentetrazol

- Tăng bilirubin huyết, vàng da ở trẻ sơ sinh

- Ngoài ra, phenobarbital còn được phổi hợp với các thuốc khác để điều trị cơn đau thắt ngực, đau nửa đầu, nhồi máu não và một số rối loạn ở hệ TKTƯ

* Chống chỉ định:

- Có tiền sử quá mẫn với các dẫn chất babiturat

- Rối loạn chuyển hóa porphyrin

- Suy hô hấp Suy gan nặng

* Tác dụng không mong muốn và độc tính:

- Tác dụng không mong muốn:

Ngày đăng: 25/06/2018, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w