Câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà một doanh nghiệp có thể giải quyết được vấn đề trên, trong khi đó phải tiếp tục duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LỚP CAO HỌC CH26P
-o0o -BÀI TẬP NHÓM
Đề tài: Đánh giá tình hình tài chính Công ty cổ phần
nhựa - bao bì Vinh - VBC
Môn học : Quản trị tài chính doanh nghiệp
Giáo viên hướng dẫn: : TS Lê Đức Hoàng
Nhóm sinh viên thực hiện:
1 Chu Thị Thương
2 Phùng Thị Thu Hằng
3 Nguyễn Thanh Quế
4 Nguyễn Nga Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, cùng với xu hướng toàn cầu hoá
đã mở ra những cơ hội cùng những thách thức mới cho các doanh nghiệp Do đó để có
Trang 2thể tồn tại và phát triển trong môi trường rộng lớn, giàu tiềm năng nhưng cũng đầy rủi ro mạo hiểm này, các doanh nghiệp luôn phải nắm bắt được những biến động trên thị trường
và có kế sách ứng phó kịp thời Câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà một doanh nghiệp có thể giải quyết được vấn đề trên, trong khi đó phải tiếp tục duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Nhờ có phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng ta sẽ có cái nhìn chung nhất về thực trạng tài chính của doanh nghiệp đó, giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp xác định được trong điểm trong công tác quản lý tài chính, tìm ra những giải pháp tài chính hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa có rất nhiều chủ thể kinh tế khác cũng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc độ tuỳ theo mục đích của mỗi chủ thể Vì vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và của CTCP nhựa - bao bì Vinh - VBC nói riêng
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm em lựa chọn đề tài: “Đánh giá tình hình tài chính của CTCP nhựa - bao bì Vinh - VBC”
Bài thảo luận được chia làm 3 phần chính:
Phần 1: Phân tích chung về ngành nhựa – bao bì tại Việt Nam
Phần 2: Khái quát về CTCP nhựa – bao bì Vinh - VBC
Phần 3: Phân tích, đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ
số
I PHÂN TÍCH CHUNG VỀ NGÀNH NHỰA – BAO BÌ TẠI VIỆT NAM:
Trên thế giới cũng như là ở Việt Nam, Nhựa là ngành công nghiệp còn khá non trẻ
so với những ngành công nghiệp khác như cơ khí, điện – điện tử, dệt may… nhưng đây lại là ngành có tốc độ tăng trưởng rất mạnh mẽ
Trang 3Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của xã hội, ngành công nghiệp Nhựa ngày càng gia tăng nhanh chóng không chỉ về sản lượng sản xuất mà còn nâng cao
cả về chất lượng Đây là ngành công nghiệp tiêu biểu cho hoạt động sản xuất trong nước, thu hút một lượng lớn lao động Tuy nhiên, sự phát triển của ngành nhựa cũng kéo theo các hệ lụy về ô nhiễm môi trường Việc thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường và hướng tới cộng đồng là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển bền vững của Doanh nghiệp
Chỉ riêng trong giai đoạn 2010 – 2015, ngành Nhựa đã vươn lên là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất của Việt Nam, với mức tăng hàng năm
từ 16% - 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm Điều này cũng xuất phát từ chính đặc điểm của thị trường nội đia nước nhà khi ngành Nhựa mới chỉ ở bước đầu phát triển so với thế giới do đó còn nhiều tiềm năng chưa khai thác hết cùng với sự thiết yếu của các sản phẩm ngành Nhựa trong tất cả các lĩnh vực đời sống thường ngày của người dân Nhằm phát triển một ngành công nghiệp nhựa vững mạnh, năm 2011 Chính phủ Việt Nam đã thông qua kế hoạch phát triển ngành công nghiệp Nhựa Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025
đã được sự chấp thuận của Bộ Công nghiệp và Thương mại
Theo kế hoạch này, mục tiêu ngành Nhựa Việt Nam sẽ đạt giá trị sản xuất công nghiệp 78.5 nghìn tỷ đồng vào năm 2015 và 181.57 nghìn tỷ đồng vào năm 2020 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trong giai đoạn 2011 – 2020 theo kế hoạch được duyệt sẽ ở
mứ 17.5%/năm, ngành công nghiệp nhựa sẽ chiếm 5.5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp vào năm 2020 Kế hoạch xuất khẩu sản phẩm nhựa sẽ đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là 15% để đạt 2.15 tỷ USD vào năm 2015 và 4.3 tỷ USD vào năm 2020
Hiện nay các sản phẩm ngành Nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước với kim ngạch xuất khẩu ngành nhựa tăng khá mạnh qua các năm điển hình là từ 1,2 tỷ USD vào 2012 tăng gấp đôi lên 2,4 tỷ USD vào 2015 Từ đó đưa sản phẩm ra rộng hơn với thị trường quốc tế như Nhật Bản, Mỹ, một số quốc gia thuộc khu vực châu Âu và ASEAN,… Nguồn nguyên liệu đầu vào phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu từ nước ngoài
do ngành Hóa dầu trong nước chưa phát triển và áp lực đến từ các Hiệp định thương mại
tự do sẽ là các khó khăn chính mà ngành Nhựa trong nước phải đối mặt trong thời gian tới
II KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA - BAO BÌ VINH – VBC
1 Giới thiệu về công ty:
Trang 4Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh (tên quốc tế: Vinh Plastic And Bags Joint Stock Company - Viết tắt: VBC) là công ty chuyên sản xuất và cung ứng bao bì xi măng, bao bì nông sản và các loại bao bì nhựa uy tín, chất lượng tại Thành phố Vinh
Được thành lập từ năm 1990, đến nay đơn vị vẫn khẳng định vị trí là một trong những nhà phân phối lớn sản phẩm bao bì các loại, đảm bảo hàng cung ứng liên tục, giao hàng đúng hẹn Với đội ngũ nhân viên không ngừng lớn mạnh (khoảng 1000 người), hệ thống trang thiết bị máy móc hiện đại tiên tiến, Bao bì Vinh cam kết: Mang tới khách hàng những sản phẩm chất lượng tốt nhất, giá cả cạnh tranh nhất
a Lịch sử hình thành:
Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh tiền thân là Nhà máy Nhựa Bao bì thuộc Công ty Hợp tác kinh tế - Quân khu 4, được thành lập theo quyết định số 1531/QĐ/QP ngày 31 tháng 8 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Sau một thời gian xây dựng và
ổn định bộ máy, đầu năm 1997 đơn vị chính thức đi vào hoạt động
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ngày 10/10/2002 Bộ Quốc phòng phê duyệt phương án thí điểm chuyển Nhà máy Nhựa Bao bì thuộc Công ty Hợp tác kinh tế thành Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh theo Quyết định số 144/2002/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh đi vào hoạt động theo mô hình Công ty Cổ phần ngày 01/01/2003
Ngày 04/02/2010 Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã có Quyết định số 66/QĐ-SGDHN về việc chấp thuận niêm yết cổ phiếu Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh (VBC) tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Ngày 17/03/2010 là ngày giao dịch đầu tiên cổ phiếu VBC Tháng 8 năm 2011, công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh bằng việc chính thức đưa vào hoạt động Nhà máy sản xuất bao bì cơ sở II tại Gia lách, Nghi xuân Hà tĩnh với tổng vốn đầu tư 54 tỷ đồng
Qua hơn 15 năm hoạt động công ty đã phát triển vững mạnh về mọi mặt và trở thành Công ty sản xuất bao bì lớn nhất khu vực miền Trung với sản lượng trên 100 triệu
vỏ bao mỗi năm Sản phẩm của công ty có mặt trên thị trường toàn quốc và được khách hàng tin cậy
b Lĩnh vực kinh doanh
- Ngành nghề kinh doanh:
Sản xuất, mua, bán bao bì xi măng, bao bì PP, PE và các sản phẩm bằng nhựa
Mua, bán vật tư, nguyên liệu, thiết bị sản xuất bao bì các loại (hạt nhựa, giấy Krapt, máy móc sản xuất bao bì…);
- Địa bàn kinh doanh: Toàn quốc
c Vị thế công ty
Công ty đã có trên 10 năm kinh nghiệm sản xuất kinh doanh bao bì và hệ thống khách hàng đã quan hệ gắn bó nhiều năm Sản phẩm của công ty được sản xuất trên dây chuyền công nghệ mới, tiên tiến và đồng bộ được nhập khẩu từ Đức, Áo, Ấn Độ, Đài Loan và được tiêu thụ trên toàn quốc thông qua kênh phân phối bán hàng của công ty tại Thành phố Vinh
d Chiến lược phát triển
Trang 5Trong năm tới và những năm tiếp theo Công ty tiếp tục phát huy tốt công suất thiết
bị tại hai cơ sở, giữ vững thị trường hiện có và khai thác, lựa chọn các thị trường mới có hiệu quả về kinh doanh và khả năng thanh thanh toán
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện dây chuyền máy móc thiết bị phục vụ sản xuất bao container loại 1,5-2 tấn và bao Jumboo nhằm giảm tối đa lượng vật tư nguyên liệu hiện phải mua ngoài
Tìm kiếm thị trường và các ngành nghề sản xuất mới liên quan đến ngành nhựa để đầu tư giai đoạn II Dự án Nhà máy sản xuất bao bì tại Cơ sở II Gia lách, Nghi xuân, Hà tĩnh
2 Đánh giá chung tình hình hoạt động của Công ty năm 2017:
Năm 2017, Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh hoạt động trong điều kiện nền kinh tế thế giới phát triển ổn định, kinh tế Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng vào các
tổ chức Thương mại trong khu vực và Quốc tế Lạm phát tương đối ổn định, lãi vay ngân hàng vẫn duy trì ở mức tương đối cao; cạnh tranh về lao động giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn Tiền lương tối thiểu, chi phí BHXH, BHYT do nhà nước quy định tăng đều hàng năm các yếu tố trên đó tác động đến giá thành sản phẩm và hiệu quả của công
ty Giá cả nguyên vật liệu đầu vào của ngành sản xuất bao bì biến động thường xuyên Ngành xây lắp xây dựng bị hạn chế về đầu tư công nên mặt hàng xi măng thiêu thụ chậm Mặt hàng xi măng xuất khẩu chịu thuế xuất ở mức cao nên hạn chế xuất khẩu Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành sản xuất bao bì để tăng thị phần diễn ra rất gay gắt
Trong nhiệm kỳ qua Công ty sản xuất tăng trưởng hàng năm với các chỉ số tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Công ty đã đầu tư hàng năm để đáp ứng nhu cầu thị trường, đến nay công ty đã đầu tư sản xuất đồng bộ cho 3 nhà máy (nhà máy 1; nhà máy 2; nhà máy 3) đảm bảo được yêu cầu của khách hàng với năng lực sản xuất đạt trên 765
tỷ đồng/ năm Công tác thị trường và chất lượng sản phẩm được Công ty đặc biệt quan tâm, hiện nay công ty tập trung phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu đối với các dòng sản phẩm bao PP, OPP, jambo, sling Công tác kỹ thuật, công nghệ, kiểm soát chất lượng, quản lý các định mức kinh tế kỹ thuật được duy trì chặt chẽ và hiệu quả do đó chất lượng sản phẩm về cơ bản đảm ứng được yêu cầu của người dùng; ưu tiên cải tiến công nghệ, tăng năng suất lao động giảm giá thành sản xuất để sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường
Thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001-2008, Thị phần của công ty ngày càng được mở rộng và phát triển trên thị trường Ngoài ra luôn đảm bảo việc làm cho người lao động, bố trí sắp xếp lao động hợp lý, không ngừng nâng cao đời sống cho người lao động; thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách về tiền lương, thưởng, ăn ca, chế độ bồi dưỡng độc hại, BHXH, BHYT, chế độ hợp đồng…đối với người lao động theo pháp luật quy định và quy chế của công ty Các hoạt động về công tác Đảng, Đoàn, thanh niên, phụ nữ được duy trì và hoạt động có hiệu quả
từ đó tạo ra nét văn hóa riêng của công ty Tổ chức biên chế, nhân sự chủ chốt trong năm
2017 có nhiều thay đổi đã phần nào ảnh hưởng đến công tác quản lý điều hành của công
ty Tuy nhiên nhờ sự đồng lòng từ ban quản trị cho tới cán bộ công nhân viên nên công tác thị trường và quản lý điều hành sản xuất dần ổn định và phát huy có hiệu quả Chất lượng sản phẩm được duy trì, khẳng định được thương hiệu và uy tín đối với khách hàng
Trang 6Các chỉ tiêu chính về sản xuất kinh doanh đã đạt và vượt kế hoạch đặt ra Trong đó Doanh thu thuần đạt hơn 763 tỷ đồng vượt kế hoạch 8.76% dẫn đến lợi nhuận sau thuế cũng tăng 8.11% so với kế hoạch và đạt gần 27 tỷ đồng vào cuối năm 2017
III PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
1 Phân tích tình hình thông qua Bảng cân đối kế toán:
Trang 7Bảng cân đối kế toán là một phương pháp kế toán và là một báo cáo kế toán chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo hai cách phân loại là kết cấu vốn và nguồn hình thành vốn hiện có của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán là bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Phân tích bảng cân đối kế toán chúng ta sẽ thấy được khái quát tình hình tài chính, trình độ quản lý và xử lý vốn, triển vọng kinh tế tài chính của công ty
để định hướng cho việc nghiên cứu, phân tích tiếp theo
a Đánh giá khái quát sự biến động về vốn và nguồn vốn:
ĐL
Năm 2015KT/ĐL
Năm 2016KT/
ĐL
Năm 2017KT/ĐL
Tiền và các khoản tương
Các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn
Các khoản phải thu ngắn hạn 144,720 165,140 189,469 221,266
Hàng tồn kho 59,015 68,331 97,943 85,214 Tài sản ngắn hạn khác 1,826 1,436 3,698 2,213
Tài sản cố định 49,095 40,376 72,409 95,679 Bất động sản đầu tư
Các khoản đầu tư tài chính dài
hạn
Tổng cộng tài sản 260,116 284,165 380,232 419,909
Nợ ngắn hạn 166,593 189,037 260,725 285,451
Vốn đầu tư của chủ sở hữu 30,000 30,000 30,000 75,000 Thặng dư vốn cổ phần 1,450 1,450 1,450 1,450 Lợi nhuận sau thuế chưa phân
Lợi ích của cổ đông thiểu số
Tổng cộng nguồn vốn 260,116 284,165 380,232 419,909
Trang 8Nghiên cứu sự biến động về vốn và nguồn vốn sẽ cho ta biết được sự biến động về
quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của công ty
Đánh giá khái quát sự biến động về vốn:
CÂN
ĐỐI
KẾ
TOÁN
Năm 2014
KT/ĐL
Năm 2015
KT/Đ L
Năm 2016
KT/Đ L
Năm 2017
KT/Đ L
Số
Tổng
cộng tài
sản 260,116
284,16
5 380,23 2 419,9 09 24,04 9 9.25 96,067 33.81 39,677 110.4 3
Tổng giá trị tài sản năm 2014 là thấp nhất 260,116 triệu đồng Đến năm 2017, tổng giá trị tài sản của Công ty đã là 419,909 triệu đồng, tăng 159,793 triệu đồng, tăng 61,43%
so với năm 2014 Mức tăng của năm 2016 so với 2015 là cao nhất, 33,81% Chứng tỏ,
quy mô kinh doanh của công ty tăng lên đáng kể Năm 2017 tăng 10,43% so với năm
2016
→ Như vậy, theo nhận định ban đầu, theo quy mô năm 2014 là thấp nhất trong 4 năm, công ty đã không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh trong 3 năm tiếp theo Quy
mô được mở rộng nhất trong năm 2016 Tuy nhiên, đây mới chỉ là phân tích trên tổng
thể, sự tăng giảm tài sản chỉ nói lên rằng quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty trong
năm được mở rộng hay thu hẹp, chưa thấy được nguyên nhân làm gia tăng vốn và hiệu
quả của việc điều tiết quy mô kinh doanh trên là tốt hay xấu Vì thế, chúng ta sẽ tiếp tục
phân tích sâu hơn
Đánh giá khái quát sự biến động về nguồn vốn:
CÂN ĐỐI
KẾ TOÁN
Năm 2014
KT/Đ L
Năm 2015
KT/Đ L
Năm 2016
KT/Đ L
Năm 2017
KT/Đ L
Số
Nợ phải
trả 173,07 9 189,03 7 282,02 6 315,46 0 15,958 9.22% 92,989 49.19% 33,434 11.85%
Vốn chủ
sở hữu 87,038 95,128 98,206
104,44
9 8,090 9.29% 3,078 3.24% 6,243 6.36%
7
284,16 5
380,23 2
419,90
96,06 7
33.81
%
39,67 7
10.43
%
Giống như tổng tài sản, nguồn vốn cũng tăng qua các năm đúng bằng giá trị của tổng tài sản Mà nguồn vốn thì được hình thành từ vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, do đó
chúng ta cần phải biết sự gia tăng này là từ đâu, có hợp pháp không?
Qua bảng trên ta thấy được, tổng nguồn vốn tăng lên qua các năm từ 2014 đến
2017 phần lớn là do nợ phải trả tăng Năm 2016 tăng mạnh nhất, tăng 92,989 triệu đồng
so với năm 2015 Trong khi đó, nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tăng nhẹ, nhiều nhất là 8,090
triệu đồng trong năm 2015 so với năm 2014 Tuy vậy, nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên qua
Trang 9các năm cũng là một dấu hiệu đáng mừng, khả quan đối với công ty vì công ty có xu hướng tự chủ vì tài chính
→ Việc vốn chủ sở hữu tăng qua các năm là điều đáng mừng, cho thấy công ty hoạt động có lãi và có xu hướng tự chủ về mặt tài chính Tuy nhiên, ta đặc biệt chú ý năm
2016, vì để mở rộng quy mô kinh doanh, công ty đã tăng phần nợ phải trả lên quá cao, điều này có thể làm cho chí phí tài chính tăng theo Năm 2017 khả quan hơn, công ty giảm nợ phải trả xuống còn khoảng 1/3 và tăng vốn chủ sở hữu gấp 2 lần
Phân tích tính cân đối giữa vốn và nguồn vốn:
Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn là xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn nhằm đánh giá khái quát tình hình phân bổ, huy động sử dụng các loại vốn và nguồn vốn Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được sự cân bằng tài chính của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn:
CÂN ĐỐI KẾ
TOÁN
Năm 2014KT/
ĐL
Năm 2015KT/ĐL
Năm 2016KT/
ĐL
Năm 2017KT/ĐL
Tài sản ngắn hạn 206,805 235,254 299,053 316,785
Nợ ngắn hạn 166,593 189,037 260,725 285,451
Tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn là điều hợp lý vì dấu hiệu này thể hiện doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn Đồng thời, nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu chuyển tài sản ngắn hạn và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn
nợ ngắn hạn điều này chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn vì xuất hiện dấu hiệu doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn Mặc dù nợ ngắn hạn có khi do chiếm dụng hợp pháp hoặc có mức lãi thấp hơn lãi nợ dài hạn tuy nhiên chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán cho nên dễ dẫn đến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể đưa đến một hệ quả tài chính xấu hơn
Tài sản dài hạn và nợ dài hạn:
CÂN ĐỐI KẾ TOÁN Năm 2014KT/ĐL Năm 2015KT/ĐL Năm 2016KT/ĐL Năm 2017KT/ĐL
Tài sản dài hạn của Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở hữu cũng là điều hợp lý Vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn là cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt được bù đắp từ nợ ngắn hạn là điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phía trên Nếu phần tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn điều này chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn Hiện tượng này
Trang 10vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn Điều này có thể dẫn đến lợi nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn tài chính doanh nghiệp
Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu = Tài sản/Vốn chủ sở hữu
KT/ĐL
Năm 2015
KT/ĐL
Năm 2016
KT/ĐL
Năm 2017
KT/ĐL
Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu 2.99 2.99 3.87 4.02
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thì chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng kém và ngược lại Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh đang có hệ số này khá cao
và tăng theo từng năm
Hệ số nợ trên tài sản = Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản
CÂN ĐỐI
KẾ TOÁN NămKT/ĐL 2014 Năm 2015KT/ĐL Năm 2016KT/ĐL Năm 2017KT/ĐL
Tổng cộng tài sản 260,116 284,165 380,232 419,909
Chỉ tiêu này cho biết mức độ doanh nghiệp dùng các khoản nợ đầu tư cho tài sản
là bao nhiêu Hệ số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm đi, mức độ rủi ro cao hơn và
có thể doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không ổn định, nhưng doanh nghiệp có khả năng thu lợi nhuận cao khi điều kiện kinh tế thuận lợi Dù vậy, nếu hệ số nợ này quá cao thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và không thể kiểm soát được hoạt động của mình Công ty Cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh đang có hệ số này ở mức tương đối, vẫn trong tình trạng có thể kiểm soát được các hoạt động của mình
2 Phân tích tình hình tài chính thông qua bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Năm 2016, doanh thu của Công ty chủ yếu đến từ doanh thu bán thành phẩm, chiếm tới hơn 96% trong cơ cấu doanh thu Sang năm 2017, doanh thu theo thành phẩm vẫn tiếp tục ưu thế của mình và chiếm đến 99% trong khi đó doanh thu tiêu dùng nội địa cũng khẳng định lợi thế với hơn 80% trong cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp
Năm 2017 đánh dấu sự thành công của nền kinh tế với mức GDP cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây Cùng với sự phát triển này, trong năm 2017, Công ty Cổ phần Nhựa Bao bì Vinh ghi nhận kết quả tương đối khả quan Doanh thu thuần đạt hơn 763 tỷ đồng, tăng 1.09 lần so với năm 2016 và là mức cao nhất từ năm 2014 trở lại đây Trong khi đó, Lợi nhuận trước thuế đạt hơn 34 tỷ đồng, tăng 1.3 lần so với 2016 dù sau cùng Lợi nhuận sau thuế năm 2017 đạt được chỉ gần 27 tỷ đồng, tăng 1.01 lần so với năm