I. Mục đích yêu cầu1. Về chuyên mônTham quan thực tế các cụm công trình đầu mối và hệ thống thủy lợi để viết tiểu luận môn học và bảo vệ tiểu luận.2. Thời gian và địa điểm: Thời gian từ 21052018 đến 26052018. Cụ thể: Ngày 21052018: Chuẩn bị, hướng dẫn Sinh viên nội dung thực tập Ngày 22052018: Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Liễn Sơn Ngày 23052018: Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Bắc Nam Hà Ngày 24052018: Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Bắc Hưng Hải Ngày 25052018: Các lớp viết tiểu luận về nội dung thực tập Ngày 26052018: Các lớp nộp bài báo cáo tiểu luậnII. Nội dung thực tập1. Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Liễn Sơn Hệ thống thủy lợi Liễn Sơn là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm nhằm phục vụ tưới tiêu và thoát úng cho 6 huyện thị của tỉnh Vĩnh Phúc và thị xã Phúc Yên, huyện Mê Linh của TP. Hà Nội Hệ thống thủy lợi Liễn Sơn gồm: Đập dâng nước đầu mối Liễn Sơn, trên 90 km kênh tưới cấp I, trên 146 km kênh tưới cấp II, trên 34.000 km kênh tưới cấp III trở xuống kênh nội đồng, 69 hồ đập vừa và nhỏ, 02 trạm bơm điện đầu mối: Bạch Hạc Đại Định với tổng 11 tổ máy mỗi tổ bơm có lưu lượng 8.000 m3h, trên 250 trạm bơm tưới vừa và nhỏ; có tổng số máy bơm 315 máy lưu lượng từ 540 – 1.200 m3h; ngoài ra còn 50 tổ máy bơm dã chiến lưu lượng 1.000 m3h và trên 100 máy bơm dầu các loại, 02 trạm bơm tiêu: Cao Đại và Đầm Cả với tổng 13 tổ máy mỗi tổ máy bơm có lưu lượng 4.000 m3s, ngoài ra trên 6.000 các công trình cầu, cống, điều tiết ... trên kênh; trực tiếp phục vụ tưới tiêu cho trên 67.000 ha canh tác sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của 79 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh.Công trình thủy lợi Móng Cầu: Là công trình quan trọng trong HTTL Liễn Sơn. Cấp nước tưới cho hơn 1.900 ha lúa xuân, có nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thuỷ lợi gồm: Đập dâng nước Liễn Sơn, Cống 5 cửa có khẩu độ 1.1m và 1.65m và 26 trạm bơm điện công suất từ 1.000 2.000 m3giờmáy; 18 km kênh hữu cấp I, dẫn nước từ đập dâng nước Liễn Sơn phục vụ nước tưới cho cho 7.619 ha cây trồngnăm thuộc 10 xã phía Nam huyện Lập Thạch, trong đó riêng vụ chiêm xuân là 2.788 ha gồm cây lúa là 2.423 ha, rau màu 364 ha. Phần lớn diện tích đất dốc có nhiều điểm ở cách xa đầu mối, thường xuyên phải sử dụng từ 35 chuyền bơm mới có nước phục vụ sản xuất ở các khu đồng cao thuộc các xã Sơn Đông, Triệu Đề, Liên Hòa, đặc biệt ở khu đồng Tây Sơn của xã Thái Hòa nhiều năm hạn hán phải lắp đặt 57 chuyền bơm.
Trang 1BÁO CÁO THỰC TẬP
Môn học: Thực tập kỹ thuật tài nguyên nước
Họ và tên: Phạm thanh Huyền Lớp: 56NTK
I Mục đích yêu cầu
1 Về chuyên môn
Tham quan thực tế các cụm công trình đầu mối và hệ thống thủy lợi để viết tiểu luận môn học và bảo vệ tiểu luận
2 Thời gian và địa điểm: Thời gian từ 21/05/2018 đến 26/05/2018 Cụ thể:
- Ngày 21/05/2018: Chuẩn bị, hướng dẫn Sinh viên nội dung thực tập
- Ngày 22/05/2018: Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Liễn Sơn
- Ngày 23/05/2018: Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Bắc Nam Hà
- Ngày 24/05/2018: Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Bắc Hưng Hải
- Ngày 25/05/2018: Các lớp viết tiểu luận về nội dung thực tập
- Ngày 26/05/2018: Các lớp nộp bài báo cáo tiểu luận
II Nội dung thực tập
1 Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Liễn Sơn
- Hệ thống thủy lợi Liễn Sơn là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm nhằm phục vụ tưới tiêu và thoát úng cho 6 huyện thị của tỉnh Vĩnh Phúc và thị xã Phúc Yên, huyện Mê Linh của TP Hà Nội
- Hệ thống thủy lợi Liễn Sơn gồm: Đập dâng nước đầu mối Liễn Sơn, trên 90 km kênh tưới cấp I, trên 146 km kênh tưới cấp II, trên 34.000 km kênh tưới cấp III trở xuống kênh nội đồng, 69 hồ đập vừa và nhỏ, 02 trạm bơm điện đầu mối: Bạch Hạc & Đại Định với tổng 11 tổ máy mỗi tổ bơm có lưu lượng 8.000 m3/h, trên 250 trạm bơm tưới vừa và nhỏ; có tổng số máy bơm 315 máy lưu lượng từ 540 – 1.200 m3/h; ngoài ra còn 50 tổ máy bơm dã chiến lưu lượng 1.000 m3/h và trên 100 máy bơm dầu các loại, 02 trạm bơm tiêu: Cao Đại và Đầm Cả với tổng 13 tổ máy mỗi tổ máy bơm có lưu lượng 4.000 m3/s, ngoài
ra trên 6.000 các công trình cầu, cống, điều tiết trên kênh; trực tiếp phục vụ tưới tiêu cho trên 67.000 ha canh tác sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của 7/9 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh
Công trình thủy lợi Móng Cầu:
Trang 2Là công trình quan trọng trong HTTL Liễn Sơn Cấp nước tưới cho hơn 1.900 ha lúa xuân, có nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thuỷ lợi gồm: Đập dâng nước Liễn Sơn, Cống 5 cửa có khẩu độ 1.1m và 1.65m và 26 trạm bơm điện công suất từ 1.000 - 2.000 m3/giờ/máy; 18 km kênh hữu cấp I, dẫn nước từ đập dâng nước Liễn Sơn phục vụ nước tưới cho cho 7.619 ha cây trồng/năm thuộc 10 xã phía Nam huyện Lập Thạch, trong đó riêng vụ chiêm xuân là 2.788 ha gồm cây lúa là 2.423 ha, rau màu 364
ha Phần lớn diện tích đất dốc có nhiều điểm ở cách xa đầu mối, thường xuyên phải sử dụng từ 3-5 chuyền bơm mới có nước phục vụ sản xuất ở các khu đồng cao thuộc các xã Sơn Đông, Triệu Đề, Liên Hòa, đặc biệt ở khu đồng Tây Sơn của xã Thái Hòa nhiều năm hạn hán phải lắp đặt 5-7 chuyền bơm
Xí nghiệp KTCTTL Móng Cầu đã xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng trạm bơm, HTX dịch vụ thuỷ lợi quản lý, khai thác triệt để nguồn nước tự nhiên để tích trữ vào hồ,
ao Phân công từng tổ, cụm trực 24/24 giờ đảm bảo cung ứng kịp thời, đầy đủ nước cho
đổ ải và gieo cấy, nước tưới cho hoa màu Đến nay, Xí nghiệp đã cung cấp nước tưới cho trên 1.900 ha, chiếm gần 80% tổng diện tích, trong đó đã gieo cấy được hơn 1.700 ha, chiếm hơn 70% diện tích của xí nghiệp quản lý
Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp làm nguồn nước ở thượng lưu cạn kiệt không thể dẫn nước tự chảy vào công trình của hệ thống nên Xí nghiệp KTCTTL Móng Cầu tăng cường máy bơm dã chiến, xây dựng nên trạm bơm để bơm nước tưới và tiêu các khu đồng cao nguy cơ thiếu nước và các xã vùng lòng chảo (trũng, lõm) vùng xa, đất dốc đạt thấp như Bàn Giản, Triệu Đề, Đồng Ích, hướng dẫn bà con sử dụng nước tiết kiệm, đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho 100% diện tích theo khung thời vụ, đồng thời, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với hạn hán để cung cấp nước dưỡng lúa thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng
Trang 3Hình 2: Hình ảnh công trình đầu mối Móng Cầu
Cống Vân Tập:
Cống gồm 3 cửa lấy nước tưới cho khu vực huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc Mực nước trước cống là 11.2m so với mực nước biển Hai bên bờ kênh tưới được kiên cố hóa bởi những tấm bê tông đúc sẵn chống thấm và xói lở Hiện nay cống vẫn đang điều tiết nước rất tốt
Hình 3: Hình ảnh cống Vân Tập
Trang 4Trạm bơm điện Bạch Hạc :
Nằm trong vùng hệ thống CTTL Liễn Sơn có vị trí: phía Bắc: giáp các xã Hoàng Lâu-Vân Hội huyện Tam Dương; phía tây: giáp sông Phó Đáy, và sông Lô; phía Đông: giáp phường Đồng Tâm thành phố Vĩnh yên; Phía Nam: giáp với thị trấn huyện Yên Lạc
2 Diện tích khu vực tưới Phạm vi phụ trách tưới của trạm bơm Bạch Hạc có liên quan đến địa giới hành chính chủ yếu của 2huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc Trạm bơm Bạch Hạc đảm nhiệm tưới: 3840 ha
Hình 4: Hình ảnh thể hiện phía trước trạm bơm Bạch Hạc
Trang 5Sông Lô là sông cung cấp nước chủ yếu cho trạm bơm Bạch Hạc Sông Lô bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc chảy qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ
có chiều dài khoảng 500km, sông Lô là hợp lưu của sông Chảy và sông Gâm
Hình 5: Hình ảnh sông Lô
Trạm bơm Bạch Hạc ngày đầu xây dựng có 5 tổ máy loại 8000m3/h do Đức sản xuất làm việc hiệu quả và đến nay vẫn còn sử dụng được Nhưng hiện nay, do tình hình khai thác cát trên sông Hồng quá mức làm hạ thấp mực nước lòng sông, tình hình sói lở bên
bờ, biến đổi khí hậu toàn cầu làm lưu lượng mực nước trong sông quá thấp Theo đánh giá của cán bộ trạm bơm với tình hình khai thác cát trên sông diễn ra đều đặn thì sau 5 năm nữa trạm bơm sẽ không vận hành được Sau khi có thuỷ điện Hoà Bình do khi thiết kế trạm bơm Bạch Hạc chưa có công trình thuỷ điện Hoà Bình điều tiết, khi có sự điều tiết của thuỷ điện Hoà Bình, chế độ thuỷ văn dòng sông bị thay đổi (do sông Lô hợp lưu với sông Hồng tại ngã ba Việt Trì Phú Thọ), nơi hợp lưu chỉ cách trạm bơm bạch hạc 1km làm mực nước sông cạn Để khắc phục tình trạng đó và cung cấp đủ nước cho vùng thì công ty có xây dựng thêm một trạm bơm mới có 2 tổ máy hút nước rất sâu với công suất 8700m3/h/tổ lượng điện tiêu thụ 380kw/h Năm 2017 mực nước xuống thấp còn 3.1m tuy nhiên trạm bơm mới vẫn hút nước bình thường Trạm bơm được điều khiển hoàn toàn tự động
2 Giới thiệu tổng quan về HTTL Bắc Nam Hà
Công ty TNHH MTV khai thác công trình HTTL Bắc Nam Hà là một trong 3 công
ty trực thuộc của Bộ Công ty hoàn toàn phụ trách tưới tiêu cho các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội Cơ cấu tổ chức của công ty là quản lý đến mặt ruộng nhưng do thay đổi
Trang 6cơ chế tách ra nên công ty chỉ quản lý các trạm bơm điện lớn, trạm bơm đầu mối, kênh chính kênh tưới liên tỉnh
Địa hình thuộc khu vực khá phức tạp, cao thấp xen kẽ không đều tạo thành nhiều khu lòng chảo, cao độ ruộng đất phần lớn từ (+0,5) ÷ (+1,5), có xu thế thấp dần từ Bắc xuống Nam Nhiều khu trũng nên thường một năm chỉ canh tác được 1 vụ lúa vụ Đông Xuân còn về mùa nước ngập úng cánh đồng Đời sống người dân khu vực khi chưa có công trình rất khổ cực Năm 1960 được sự quan tâm của nhà nước và sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô giúp ta quy hoạch vùng tưới tiêu Bắc Nam Hà, đặt ra viện trợ không hoàn lại xây dựng 6 trạm bơm lớn Bắc Nam Hà Từ khi có công trình đời sống người dân được cải thiện, một năm có thể luân canh 3 vụ năng suất lúa và hoa màu tăng cao tạo thu nhập cho người dân vùng dự án
Do đặc điểm địa hình khu vực là vùng chiêm trũng nên việc tưới, tiêu tự chảy như HTTL Bắc Hưng Hải là hoàn toàn không thể nên HTTL Bắc Nam Hà tưới tiêu hoàn toàn bằng động lực Nó cần tiêu tốn một lượng điện rất là lớn, nên chức trách của những nhà quản lý vận hành rất quan trọng, cần phải có quyết sách đúng trong việc vận hành tưới tiêu thế nào là hợp lý để tiết kiệm tiền cho nhà nước và cho người dân Chúng ta có thể thấy nếu chạy toàn bộ máy bơm trong các chạm khi tiêu thì một ngày mất 400 triệu tiền điện Vậy nên khi có quyết sách đúng thì sẽ tiết kiệm được nhiều tiền cho nhà nước
Hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà được bao bọc bởi 4 con sông lớn là sông Hồng, sông Đào, sông Đáy và sông Châu Giang Diện tích tự nhiên của toàn hệ thống khoảng 100.261
ha, bao gồm 4 huyện thị của tỉnh Nam Định (gồm TP Nam Định, các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên) và 4 huyện, thị của tỉnh Hà Nam (gồm TP Phủ Lý, các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân)
Hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà được phân thành 5 vùng tưới và 7 vùng tiêu Các công trình tưới của hệ thống hiện nay đảm bảo tưới cho hơn 47.000 ha, vụ mùa khoảng 46
ha, vụ đông 13.000 - 15.000 ha Đồng thời tiêu nước chống ngập úng cho khoảng 85300
ha diện tích phía trong đê, hỗ trợ tiêu cho diện tích ngoài đê
nhỏ lấy nguồn nước sông Đáy
bơm Cốc Thành và các trạm bơm nhỏ
bơm Hữu Bị
Trang 7STT Lưu vực tưới Diện tích
bơm Nhâm Tràng
bơm Như Trác
Bảng 2.1: Bảng phân vùng tưới cho hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hà
Bảng 2.2: Bảng phân vùng tiêu cho hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hà
Hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà đã xây dựng 6 trạm bơm điện lớn với các thông số sau:
Trang 8Tên Cấu tạo Lưu lượng
tiêu (m 3 /s)
Lưu lượng tưới (m 3 /s)
D tích tiêu (ha)
D tích tưới (ha)
Bảng 2.3: Bảng thông số sáu trạm bơm điện lớn thuộc hệ thống thủy nông Bắc Nam Hà
Trang 9Trạm bơm Hữu Bỉ 1:
Trạm bơm đầu mối Hữu Bị 1 với Q = 32 m3/s là trạm bơm tưới tiêu kết hợp, hiện tại diện tích tưới 8.312 ha Các tổ máy bơm ở trạm bơm Hữu Bỉ do Liên Xô sản xuất có thể điều chỉnh được lưu lượng khi nhu cầu sử dụng nước thay đổi bằng cách điều chỉnh góc nghiêng cánh quạt của bánh xe công tác từ +6 về -9 Nó là một trạm bơm đồng bộ
Để phục vụ chạy máy có thể thêm phần phụ trợ gồm: 2 khoang máy bơm nước kĩ thuật Nguyên lý hoạt động là nhằm bơm nước để làm mát tầng phía trên chạy máy Động cơ là
ổ trượt tức là roto quay được trên ổ trượt chứ không chạy bằng bi Ổ trượt nằm trong một nồi dầu khi trượt sinh ra ma sát làm nóng nên cần có hệ thống phụ trợ này để làm mát cho
4 tổ máy
Toàn bộ ô bạc trên và dưới của trạm bơm đều được bôi trơn và làm mát bằng nước Cụm ô bạc dưới được làm bằng cao su, cụm ô bạc dưới được làm bằng gỗ
Hình 6: Hình ảnh trạm bơm Hữu Bỉ 1
Trạm bơm Hữu Bỉ 2 (Trạm bơm Nhân Hòa):
TB Hữu Bị 2 là trạm bơm tưới tiêu kết hợp, hiện tại diện tích tưới là 200 ha thuộc tỉnh Nam Định Có kênh chính Nam dài 16 km, kênh chính Tây dài 19.6 km Đây là trạm bơm không đồng bộ hệ thống trạm bơm này do Hàn Quốc sản xuất, có 4 tổ máy lưu
Trang 10lượng Q=21.600 m3/h/máy, động cơ công suất 600kw và không thể điều chỉnh được góc nghiêng bánh xe cánh quát Được đưa vào khai thác vận hành sử dụng từ tháng 7/2003 đến nay Lưu lượng của hệ thống này là cố định Trạm bơm này ổ bạc được bôi trơn bằng
mỡ, và được vận hành với cao trình ống đẩy là +6.85m
Hệ thống thuỷ lợi Bắc Nam Hà thuộc Nam Định là vùng kinh tế quan trọng của tỉnh,
vì vậy công tác thuỷ lợi từ lâu đã được đầu tư phát triển Qua công tác điều tra khảo sát thấy: toàn bộ vùng có diện tích cần tưới nhìn chung đã có các công trình thiết kế đủ công suất tưới Nhưng diện tích tưới chủ động đến nay mới đạt khoảng 63,7% - 65% so với thiết kế
Hình 7: Hình ảnh trạm bơm Nhân Hòa
Tuy nhiên hệ thống thuỷ lợi Bắc Nam Hà vẫn Tồn tại một số vấn đề cần giải quyết:
Hệ số tưới chưa đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất Các hệ thống kênh đều thiết kế với chỉ tiêu thấp, hệ số tưới thực tế mới đạt q =0.81 l/s.ha
Các công trình đầu mối khai thác từ trên 30 năm nên chất lượng máy móc thiết bị xuống cấp, một số bể hút của trạm bơm bị bồi lắng, hiệu suất bơm không cao
Tuy công trình đầu mối đủ năng lực tưới thiết kế nhưng phía cuối kênh do địa hình cao, kênh mương bồi lắng nhiều nên tình trạng hạn thường xảy ra, việc tưới khu vực này
Trang 11được thực hiện chủ yếu bằng các trạm bơm nhỏ nội đồng, lấy nước từ các trục kênh tiêu nên việc lấy nước rất khó khăn Thường xuyên xảy ra tình trạng úng ngập khi có mưa lớn xảy ra
Chất lượng nước tưới của hệ thống không đảm bảo Hàm lượng các chất ô nhiễm đều cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép dùng cho mục đích sử dụng tưới chất lượng nước cấp cho SX và sinh hoạt trong hệ thống công trình thủy lợi Bắc Nam Hà có diễn biến rất phức tạp
Bên cạnh việc ô nhiễm các chất vô cơ, hữu cơ thì việc ô nhiễm kim loại nặng được phát hiện ngày càng gia tăng Tại vị trí sông Châu Giang chảy qua xã Nhân Nghĩa, do ảnh hưởng bởi các hoạt động đúc đồng, nước thải không không qua xử lý đổ thẳng xuống sông gây ra ô nhiễm sắt tại trạm bơm Kênh Gia Công ty cần phải có biện pháp khắc phục các hiện tường trên
3 Đi tham quan tại Cụm CT đầu mối HTTL Bắc Hưng Hải
Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1959 Lưu vực của hệ thống bao gồm toàn bộ tỉnh Hưng Yên, sáu huyện của tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Dương,
ba huyện của tỉnh Bắc Ninh, và huyện Gia Lâm- Hà Nội Khu vực được bao bọc bởi bốn con sông là sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc và sông Thái Bình
Trước đây khi hệ thống BHH chưa được xây dựng, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đói kém do luôn nằm trong vòng vây của hạn hán, úng lụt Kể từ khi hệ thống được xây dựng và đưa vào hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế trên địa bàn thì việc tưới tiêu đã được chủ động kịp thời; việc thâm canh, xen canh, tăng vụ đã được mở rộng, toàn bộ diện tích đất canh tác đã được thau chua, rửa mặn, tình trạng phèn hóa đất đã được khắc phục, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, đời sống nhân dân trong vùng được cải thiện một cách rõ rệt
Đến nay, sau hơn 50 năm xây dựng và hoàn chỉnh, quy mô hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải bao gồm:
- 11 công trình đầu mối trên trục chính: Cống Xuân Quan, Báo Đáp, Kênh Cầu, Lực Điền, Bằng Ngang, Cống Tranh, Bá Thủy, cống Neo, Cầu Xe, An Thổ và Âu thuyền Cầu Cất
- 400 trạm bơm lớn với 1200 máy bơm có công suất từ 1000 đến 8000 m3/s và hàng ngàn trạm bơm lớn nhỏ
- Trên 800 cống tưới, tiêu
- 225Km sông trục chính và hàng ngàn km sông nội đồng
Hệ thống BHH đã phát huy tác dụng to lớn, biến nơi đây từ một vùng đất mà sản xuất nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên trở nên chủ động Một số nơi trong vùng trước đây chỉ cấy được một vụ, chiêm khê mùa úng thì nay toàn bộ diện tích đất
Trang 12canh tác đã được sử dụng triệt để, không có nơi nào bị bỏ hoang Nhiều năm liên tục được mùa, tổng sản lượng trong khu vực tăng lên gấp nhiều lần Đời sống nhân dân được cải thiện
- Năng suất lúa từ chỗ chỉ đạt 2 tấn/ha nay đạt 10÷12 tấn/ha
- Toàn bộ diện tích đất canh tác trong vùng đã được tưới chủ động bằng động lực hoặc một phần động lực Hệ số tưới đạt 1,53 l/s/ha
- Cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng, cho công nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Tiêu úng cho hơn 192.000ha diện tích lưu vực
Song hành với nhiệm vụ tưới, tiêu thì các kênh tưới, kênh tiêu, hệ thống đê sông đã hình thành nên mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy thuận tiện
Những tồn tại trong vấn đề tưới tiêu của hệ thống:
Về tưới:
Theo thống kê hiện nay diện tích cần tưới toàn hệ thống là 123.985 ha, nguồn nước lấy từ 4 sông lớn bao bọc bên ngoài Trong đó chủ yếu là lấy nước từ nguồn sông Hồng qua cống Xuân Quan chiếm 90%, nguồn nước lấy từ các sông ngoài khác chỉ trung bình chiếm 10% Nhưng trong các năm gần đây mực nước sông Hồng xuống thấp, diện tích tưới phải lấy ngược từ Cầu Xe, An Thổ chiếm 30-45% diện tích này Việc lấy nước ngược
từ cống Cầu Xe, An thổ có hạn chế về chất lượng nước do ở cuối hệ thống, gần cửa biển nên bị ảnh hưởng mặn
Công trình kênh mương chưa hoàn chỉnh và đồng bộ Việc duy tu, bảo dưỡng hệ thống kênh mương nội đồng ít được làm thường xuyên Nhiều trạm bơm do dân tự làm không đúng quy hoạch
Thời vụ tưới khẩn trương, yêu cầu thời gian tưới ngắn, nhiều công trình không đáp ứng được
Về tiêu:
Hiện tại hệ thống đang gặp nhiều khó khăn về tiêu thoát nước, hệ thống không chỉ tiêu cho nông nghiệp mà còn tiêu cho khu dân cư, khu công nghiệp Theo quy hoạch bổ sung năm 1993 thì diện tích tiêu động lực tăng lên 145.208ha, tiêu tự chảy còn 40.165ha Trong 145.208ha có 51.200ha bơm tiêu trực tiếp ra ngoài hệ thống, số còn lại bơm tiêu vào trục chính trong hệ thống rồi ra Cầu Xe, An Thổ Khi gặp mưa lớn, triều cường, cống Cầu Xe, An Thổ phải đóng lại, khi đó hệ thống trục chính Bắc Hưng Hải như một hồ chứa nước khổng lồ, không có đường tiêu thoát nước Nếu tiếp tục bơm vào thì nguy cơ vỡ bờ kênh BHH là không thể tránh khỏi