1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lí hoạt động dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin tại các trường tiểu học quận cầu giấy, hà nội

84 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu cũng chỉ ra những bất cập trong việc ứng dụng công nghệ thông tin ở một số nhà trường hiện nay ở nước ta như cơ sở hạ tầng thông tin, trình độ, kiến thức cơ bản về công ng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THỊ THÚY

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÓ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số : 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Bình

Hà Nội, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu

và tư liệu được sử dụng từ nguồn tài liệu đáng tin cậy và là kết quả của quá trình tiến hành khảo sát thực tế của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả

Đào Thị Thúy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, giúp đỡ tác giả hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Khắc Bình – thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn Phòng GD & ĐT quận Cầu Giấy, Ban giám hiệu

và tập thể cán bộ, giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố

Hà Nội đã cung cấp thông tin, tư liệu, tham gia đóng góp, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp và gia đình đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô, các nhà khoa học trong Hội đồng khoa học cùng các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Đào Thị Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÓ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học 14

1.3 Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học 20

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 27

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 27

2.2 Tổ chức khảo sát 31

2.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 32

2.4 Thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 42

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường tiểu học quận Cầu Giấy 47

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52

3.1 Cơ sở xác lập biện pháp 52

3.2 Các biện pháp quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 53

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 70

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

: Giáo dục và Đào tạo : Giáo dục phổ thông : Giáo viên

: Học sinh : Kinh tế - xã hội : Nhà xuất bản : Phương pháp dạy học : Quản lí giáo dục : Quyết định : Trung học cơ sở : Trung học phổ thông : Tổ trưởng chuyên môn : Ủy ban nhân dân : Ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng công nghệ thông tin (UDCNTT) là xu hướng tất yếu trong giai đoạn hiên nay, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng khoa học và công nghệ thế giới tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, CNTT thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống xã hội Sự bùng

nổ của CNTT nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Với những kết quả của việc UDCNTT đem lại thì UDCNTT trong dạy học và công tác quản lý đang là một xu thế tất yếu của nhân loại và được nhiều quốc gia áp dụng, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra hết sức sôi động hiện nay

Ứng dụng và phát triển CNTT đang trở thành động lực có ý nghĩa to lớn và có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta nhằm nâng cao hiệu suất lao động, sử dụng tốt hơn nguồn nhân lực và chất lượng sống cho người dân Việc ứng dụng CNTT ngày càng trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển của một số ngành kinh tế trọng yếu của đất nước Đặc biệt trong thời điểm cao trào của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 "Cách mạng Công nghiệp 4.0" Cuộc cách mạng này đang diễn

ra với tốc độ hết sức nhanh chóng và phát triển rất mạnh mẽ CNTT đang tạo ra môi trường thuận lợi cho xã hội mạng, trong đó mọi người có thể truy cập trao đổi và khai thác thông tin, tri thức mọi nơi, mọi lúc Về mặt giáo dục cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức Trong giai đoạn sắp tới, Việt Nam đứng trước yêu cầu đầu tư đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như khoa học về vật liệu mới tiên tiến, công nghệ thông tin, công nghệ nano,

tự động hóa, điện tử viễn thông…Tuy nhiên Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội từ cuộc mạng công nghiệp lần thứ 4 thông qua việc thay đổi tiếp cận giáo dục, phát triển năng lực sáng tạo và kỹ năng khởi nghiệp của người học, tập trung đào tạo các nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ và khởi nghiệp để thế hệ trẻ nắm bắt được các cơ hội của cuộc cách mạng này trong tương lai

Ở nước ta tại văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đã nhấn

mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

Thể chế hóa quan điểm, nghị quyết của Đảng, Chỉ thị số 29/2001/CT BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong

ngành giáo dục giai đoạn 2001- 2005 nêu rõ: “CNTT và đa dạng phương tiện sẽ tạo ra

Trang 7

những thay đổi lớn trong hệ thống quản lí giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”[8]

Chỉ thị số 55/2008/CT-BGD ĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo, ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai

đoạn 2008-2012 đã chỉ rõ: “Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước”

Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT ngày 26/8/2016 của Bộ Giáo dục và đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục đã chỉ rõ:

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí, chỉ đạo điều hành và triển khai Chính phủ điện tử ở các cơ quan quản lí giáo dục các cấp và các cơ sở giáo dục theo hướng đồng bộ, kết nối liên thông Xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành phục vụ công tác hoạch định chính sách và quản lí cho các cơ quan quản lí giáo dục và đào tạo

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá một cách sáng tạo, thiết thực và hiệu quả Xây dựng kho bài giảng e-Learning trực tuyến đáp ứng nhu cầu tự học và học tập suốt đời của người học, thu hẹp khoảng cách tiếp cận các dịch vụ giáo dục và đào tạo có chất lượng của người học giữa các vùng, miền

Trong việc đổi mới phương pháp dạy và học, vai trò của CNTT đã thể hiện ngày một rõ nét Ngành giáo dụng đang triển khai một loạt các hệ thống CNTT dùng chung như PCGD XMC, EMIS, EQMS để ứng dụng phần mềm quản lý trường học trực tuyến đồng thời liên tục xây dựng kho học liệu số, thư viện điện tử, sách giáo khoa điện tử, kho bài giảng e-learning dùng chung Từ nền tảng CNTT hiệu quả, ngành triển khai quản lý hành chính điện tử (e-office); triển khai họp, tập huấn chuyên môn qua mạng, tích cực triển khai dịch vụ công trực tuyến (phục vụ phụ huynh, học sinh, giáo viên ); xét tuyển đầu cấp Từ phía các nhà trường, CNTT cũng được ứng dụng trong việc kết nối nhà trường với phụ huynh, sử dụng sổ điểm điện tử, học bạ điện tử, lớp học điện tử, lớp học thông minh

Để nền giáo dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với vai trò và ý nghĩa của việc UDCNTT và sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại là yêu cầu khách quan và cần thiết Thông qua việc UDCNTT vào dạy học sẽ góp phần phát huy tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh để nâng cao chất lượng giáo dục

Đi đôi với UDCNTT, thì việc quản lí UDCNTT trong hoạt động dạy học góp phần thực hiện đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp giáo dục nói riêng hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo học sinh phổ thông là xu hướng tất yếu

Trang 8

Xuất phát từ những lí do đó, học viên lựa chọn đề tài “Quản lí hoạt động dạy

học có ứng dụng công nghệ thông tin tại các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội” để để triển khai nghiên cứu với mong muốn góp phần giải mã một cách toàn diện

và có hệ thống các nội dung liên quan đến chủ đề được lựa chọn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Theo Tạp chí PC WordVN thì hiện nay ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT được phân biệt thành các dự án có liên quan đến nhiều

Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ Thúc Đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lí Tương ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng Thống Ban thúc đẩy tin học hóa có nhiệm vụ trông coi và khai thông các chính sách, kế hoạch và dự án để tạo điều kiện thúc đẩy Hàn Quốc thành một xã hội thông tin tiên tiến Ban này có trách nhiệm trông coi các chức năng về tin học hóa, khởi xướng và hiệu đính kế hoạch các chiến lược về tin học hóa và các kế hoạch triển khai liên quan, điều phối việc xây dựng các dự án và các chính sách, xây dựng và sử dụng siêu xa lộ thông tin quốc gia, đưa ra các biện pháp quản lí và vận hành các nguồn tài chính, đánh giá hiệu quả của các chính sách và hoạt động về CNTT [50] Trong giáo dục, ở Hàn Quốc đã ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở tất cả các bậc học Bên cạnh đó, các nhà quản lý giáo dục ở các cấp cũng thực hiện UDCNTT trong quản lý giáo dục ở các cấp Ở các nhà trường, 100% các nhà quản lý giáo dục thực hiện UDCNTT trong quản lý các hoạt động giáo dục của nhà trường trong đó có hoạt động dạy học

Ở Singapo bắt đầu nghiên cứu về Chính phủ điện tử từ khoảng giữa thập niên

1980 và bắt đầu triển khai chương trình này một cách bài bản từ đầu thập niên 1990 Sau 20 năm triển khai, Singapore đã đạt được những kết quả quan trọng về Chính phủ điện tử và UDCNTT trong quản lí xã hội và trong quản lý các hoạt động giáo dục của nhà trường trong đó có hoạt động dạy học [51]

2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam Đảng và Nhà nước đã triển khai chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000) và Đề án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) Tại các

cơ quan quản lí nhà nước đã có Đề án tin học hoá quản lí hành chính nhà nước 2005) ban hành kèm theo Quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ [16]

Trang 9

(2001-Chỉ thị số 29/2001/CT-Bộ GD&ĐT, ngày 30/7/2001 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành GD - ĐT giai đoạn 2001- 2005 Nội dung

Chỉ thị có đoạn: “Những thành tựu mới của khoa học và công nghệ nửa cuối thế kỷ

20 đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá và xã hội của loài người Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh thông tin Các Quốc gia đang phát triển tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT, để phát triển và hội nhập” và cụ thể nêu rõ: “Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối internet đến tất cả các cấp quản lí và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục (EduNet) nhằm tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2001-2005”[8]

Ngoài ra các cấp ngành GD&ĐT đã thường xuyên phối hợp với các Bộ, ngành cùng cấp tổ chức các hội nghị, hội thảo hay các công trình, đề tài nghiên cứu về CNTT

và giáo dục đều có đề cập đến vấn đề quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam

Trong giai đoạn đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay, yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là việc làm cần thiết và cấp bách Các nhà nghiên cứu

về giáo dục cũng cho ra đời nhiều công trình trong lĩnh vực này như: vấn đề “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” của tác giả Trần Viết Vượng; vấn đề “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở” và “Đề xuất việc đổi mới công tác quản lí giáo dục” của tác giả Trần Kiểm; “Một số vấn đề đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo” của tác giả Trần Hồng Quân Tập đề cương bài giảng

“Quản lí nhà trường” của tác giả Nguyễn Phúc Châu; “Quản lí quá trình giáo dục trong trường phổ thông” của tác giả Phan Thế Sủng Nhưng có thể nói công tác quản lí việc ứng dụng CNTT vào hoạt động QLGD là một đề tài có thể chưa được nghiên cứu nhiều

Từ năm 2003 đến 2005 dưới sự chủ trì của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, PGS TS Đào Thái Lai đã làm chủ nhiệm đề tài: “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” Những kết quả nghiên cứu của đề tài đã được triển khai thực nghiệm ở một số trường phổ thông và đã thu được kết quả khả quan

Ngoài ra gần đây đã có một số đề tài khoa học luận văn thạc sỹ hay luận án tiến

sĩ nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta, chẳng hạn như:

- Trần Thị Đản: “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THCS Văn Lang thành phố Việt Trì –

tỉnh Phú Thọ” (Luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục – ĐHSPHN, năm 2006)

Trang 10

- Nguyễn Văn Tuấn: “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT

trong công tác quản lí dạy học tại các trường TH” (Luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục – ĐHSPHN, năm 2006)

- Trần Minh Hùng: “Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Trung học

phổ thông” (Luận án tiến sĩ quản lí giáo dục - ĐHSPHN, năm 2012)

Trong các nghiên cứu trên các tác giả đều cho rằng UDCNTT trong quản lý các hoạt động giáo dục ở các nhà trường là hết sức cần thiết; nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục và cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các nghiên cứu cũng chỉ ra những bất cập trong việc ứng dụng công nghệ thông tin ở một số nhà trường hiện nay ở nước ta như cơ sở

hạ tầng thông tin, trình độ, kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường, các phần mềm ứng dụng trong quản lý dạy học, dạy học còn một

số điểm chưa hợp lý Những điều đó ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, trong giảng dạy, quản lý các hoạt động ở các nhà trường hiện nay

Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lí UDCNTT trong hoạt động dạy học ở trường tiểu học là một vấn đề cấp thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Thực tế ở Việt Nam, việc đưa CNTT vào các hoạt động trong nhà trường nói chung và quản lí hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường Tiểu học thuộc quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nhằm hi vọng đề xuất được một số biện pháp quản lí góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học trong các trường tiểu học ở địa phương hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu lí luận quản lí dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở trường tiểu học và thực tiễn quản lí hoạt động dạy học có ứng dụng CNTT tại các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất biện pháp quản lí dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; góp phần nâng cao chất lượng dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Xác lập cơ sở lý luận về quản lý dạy học có UDCNTT ở trường tiểu học

- Đánh giá thực trạng quản lý dạy học có UDCNTT ở các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội

- Đề xuất biện pháp quản lý dạy học có UDCNTT ở trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp quản lý dạy học có UDCNTT ở các trường tiểu học quận Cầu Giấy,

lí dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

5.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lí luận, các công trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ

sở lý luận của quản lý dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học

5.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động và công tác quản lý dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học

- Phương pháp điều tra

Điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến kết hợp với tọa đàm, trao đổi

- Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này dùng để thu thập thông tin và lấy ý kiến về những vấn đề có liên quan với đề tài nghiên cứu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Phương pháp này dùng để thu thập thông tin về những kinh nghiệm tốt có liên quan với đề tài,

5.2.3 Phương pháp thống kê toán học:

Chủ yếu dùng để xử lý, phân tích, tổng hợp các số liệu thu thập được

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận quản lí dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học Là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và trong công tác quản lí công tác ứng dụng CNTT, là tài liệu tham khảo của các nhà hoạch định chính sách và các cán bộ quản lý cũng như giáo viên của các trường Thông qua các nghiên cứu, các kết quả kháo sát luận văn đánh giá được thực trạng quản lý dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội, chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học.Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường tiểu học quận Cầu Giấy, Hà Nội

7 Cơ cấu của luận văn:

Luận văn được cấu trúc theo 3 phần:

Phần thứ nhất: Mở đầu

Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu, gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các

trường tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các

trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các

trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị

Ngoài ra luận văn còn có các phần tài liệu tham khảo và các phụ lục

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÓ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm quản lí và quản lí hoạt động dạy học tiểu học

1.1.1.1 Khái niệm quản lí:

Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung Như vậy, trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu, mục tiêu nhất định Dạng lao động đó được gọi là quản lí Có thể nói quản lí xuất hiện như một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nó được bắt nguồn

và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động

Ngày nay, quản lí trở thành một nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội Trong hoạt động quản lí, vai trò của người quản lí là rất cần thiết và quan trọng C.Mác đã khẳng định bằng ý tưởng rất độc đáo và đầy sức thuyết phục:

“Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải

có một nhạc trưởng” [37, tr 5]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quản lí, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau:

Theo Từ điển Giáo dục học, “Quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng,

có chủ định của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [26, tr 326]

Dựa vào vai trò các nguồn lực trong quản lí, tác giả Trần Kiểm khẳng định:

“Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp,

sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [32, tr 8]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [37, tr 29]

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lí là quá trình tác động của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí thông qua các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lí.” [45]

Trang 14

Như vậy, có thể khẳng định quản lí là một yêu cầu tất yếu đối với hoạt động của một tổ chức Quản lí chính là các hoạt động có mục địch do một hoặc nhiều người thực hện tác động đến chủ thể khác nhằm thu được kết quả mong muốn

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể dùng định nghĩa sau đây làm công cụ

cho nghiên cứu của đề tài này: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí thông qua việc thực hiện các nội dung quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản lí trong điều kiện môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định

1.1.1.2 Khái niệm quản lí hoạt động dạy học; Khái niệm quản lí hoạt động dạy học tiểu học

Quản lí hoạt động dạy học là quản lí quá trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ

GV vào quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS, đặc biệt trong thời kì đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay Bên cạnh đó, quản lí hoạt động dạy học còn chú trọng đến các điều kiện kĩ thuật, CSVC, phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy và

học, “bao gồm mọi thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo.” [38, tr 25] Trong các phương tiện dạy học, thì máy tính và các thiết bị xử lí thông tin

là phương tiện quan trọng nhất Trong thực tế máy tính vừa là phương tiện nâng cao tính tích cực trong hoạt động dạy học, đồng thời là đối tượng của hoạt động dạy học

Do đó nếu quản lí tốt phương tiện dạy học sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng hoạt động dạy học

Quản lí hoạt động dạy học không phải là cái bất biến mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự đổi mới của quá trình dạy học là một yếu tố quan trọng Theo

xu thế phát triển chung của xã hội thì việc đổi mới quá trình dạy học trong nhà trường

là hệ quả tất yếu Nhất là khi trẻ em tiểu học đã có những phát triển khác xa về thể chất cũng như tâm sinh lí so với trẻ em cùng lứa tuổi thời kì trước Trẻ em ngày nay thể chất tốt hơn, thông minh hơn và tư duy khoa học, mạnh dạn hơn… do điều kiện thông tin mang lại Các nhà quản lí cũng cần nắm được vấn đề trên để quán triệt trong GV, đồng thời tạo điều kiện cho GV trang bị thêm kiến thức, không ngừng học hỏi nâng cao trình độn, hoàn thiện kỹ năng để đáp ứng được nhu cầu đổi mới trong giáo dục, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội

Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Quản lí các hoạt động dạy học và giáo dục

là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể GV, HS và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối ưu tới các mục tiêu dự kiến.” [46, tr 32]

Trang 15

Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của GV

và hoạt động học của HS Trong đó GV lãnh đạo, tổ chức, điều khiển người học thực hiện các hoạt động theo mục tiêu đã xác đinh, người học tự giác, tích cực tự tham gia,

tự điều khiển hoạt động học tập của mình thực hiện những nhiệm vụ do GV yêu cầu nhằm đạt được mục tiêu dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Các hoạt động này có có liên hệ, tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong các hoạt động đó việc dạy học không diễn ra

Như vậy bản chất của quản lí hoạt động dạy học chính là:

- Quản lí hoạt động dạy của giáo viên; đồng thời quản lí hoạt động của tổ chuyên môn

- Quản lí hoạt động học của học sinh,

- Quản lí hoạt động phục vụ dạy học của tổ hành chính quản trị

Trên cơ sở khái niệm quản lí, khái niệm dạy học được định nghĩa trên đây và sự phân tích quan niệm của các nhà khoa học về QLDH, nghiên cứu này định nghĩa

QLDH như sau: Quản lí dạy học là tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí thông qua quản lí các hoạt động chuẩn bị lên lớp, quản lí các hoạt động dạy học trên lớp và quản lí các hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được mục tiêu quản lí trong điều kiện môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định

Vận dụng cách nhìn nhận này vào QLDH ở tiểu học, ta có định nghĩa:

Quản lí dạy học ở tiểu học là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí dạy học tiểu học vào đối tượng quản lí dạy học tiểu học thực hiện quản lí các hoạt động chuẩn bị lên lớp, quản lí các hoạt động dạy học trên lớp và quản lí các hoạt động kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học ở trường tiểu học nhằm đạt được mục tiêu quản lí trong điều kiện môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định

1.1.2 Khái niệm dạy học và dạy học ở trường tiểu học:

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.” 36, tr.139

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Dạy học là quá trình giáo dục theo nghĩa rộng, là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kĩ năng nhận thức và thực tiễn, phát triển năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục.” [37, tr 35]

Quá trình dạy học bao gồm 2 hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tồn tại đồng thời và song song với nhau: (1) Hoạt động dạy

Trang 16

nhằm mục đích truyền thụ tri thức đến người học-nó mang tính điều khiển;(2)Hoạt động học nhằm mục đích lĩnh hội-nó mang chức năng tự điều khiển

Các nhà lí luận dạy học theo hướng tiếp cận quá trình cũng chỉ ra các thành tố của quá trình dạy học Họ cho rằng quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa thầy và trò thông qua việc xây dựng và thực hiện mục đích, nội dung, hình thức tổ chức dạy học và phương pháp, phương tiện dạy học

Ở góc độ lí thuyết thông tin, có thể xem dạy và học thực chất là quá trình phát và thu thông tin Người học tiếp thu thông tin có định hướng và thông qua thông tin tiếp nhận được người học có sự tái tạo, phát triển thông tin Vì vậy những người dạy đều nhằm mục đích phát ra được nhiều thông tin với lượng tin lớn liên quan đến mục đích dạy học, môn học Muốn truyền lượng tin lớn đến người học, người dạy phải biết tận dụng tất cả các phương tiện truyền thông có thể có để đưa thông tin đến cho người học

Trong quá trình đó, ngườ thầy có vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, trò có vai trò

tự giác, tích cực, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình thực hiện những nhiệm vụ dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học Chức năng vượt trội của dạy học là hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ cho người học

Tiếp cận dạy học như một quá trình, có thể chia hoạt động dạy học thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Hoạt động chuẩn bị lên lớp; Giai đoạn 2: Hoạt động dạy học trên lớp; Giai đoạn 3: Hoạt động kiểm tra, đánh giá

Trong mỗi giai đoạn này, các thành tố của quá trình dạy học cũng như vai trò của người dạy được thể hiện hết sức rõ ràng

Để làm rõ ứng dụng của CNTT trong quá trình dạy học, luận văn này nghiên cứu sâu việc UDCNTT trong từng giai đoạn của quá trình dạy học Định nghĩa sau đây được sử dụng như một công cụ trong nghiên cứu này:

Dạy học là quá trình gồm ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị lên lớp, giai đoạn dạy học trên lớp, giai đoạn kiểm tra, đánh giá được thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng bởi người dạy và người học nhằm đạt được mục tiêu dạy học trong điều kiện môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định

Trong mỗi giai đoạn, người dạy và người học cần thực hiện các hoạt động nhất định phù hợp, đặc trưng cho từng giai đoạn Nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu vào các hoạt động của người dạy

Vận dụng khái niệm “Dạy học” được định nghĩa nếu trên, ta có thể định nghĩa

khái niệm “Dạy học ở trường tiểu học” như sau: Dạy học ở trường tiểu học là quá trình gồm giai đoạn chuẩn bị lên lớp, giai đoạn dạy học trên lớp, giai đoạn kiểm tra, đánh giá được thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng giữa giáo viên và học sinh tiểu học

Trang 17

nhằm đạt được mục tiêu dạy học tiểu học trong một môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định

Trong từng giai đoạn, giáo viên và học sinh tiểu học cần thực hiện những hoạt động nhất định phù hợp, đặc trưng cho từng giai đoạn

Nghiên cứu trong luận văn được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của người giáo viên tiểu học trong từng giai đoạn của quá trình dạy học

1.1.3 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tiểu học

1.1.3.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: “CNTT (Tiếng Anh:Infomation Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lí và xử lí thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lí, truyền và thu thập thông tin.”[1]

Ở Việt Nam, trong nghị quyết số 49/CP của Chính phủ kí ngày 04/08/1993 khái

niệm CNTT được hiểu và định nghĩa như sau: “Công nghệ thông tin ( CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại- chủ yếu

là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.”[43]

Theo luật CNTT số 67/2006/QH 11 ngày 29/6/2006: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số.” (Điều 4) [39] Chúng tôi sử dụng

định nghĩa này về CNTT làm công cụ cho nghiên cứu của mình trong đề tài này

1.1.3.2 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

CNTT với vai trò và tiện ích của nó đã thâm nhập vào rất nhiều các lĩnh vực trong đời sống xã hội Nó được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội và làm thay đổi căn bản cách quản lí, học tập và làm việc của con người trong xã hội Thực tế cho thấy việc UDCNTT trong các hoạt động sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các hoạt động này Vì vậy, ngày nay hoạt động của bất kì một đơn vị, cơ quan nào, ngành nào cũng đều có UDCNTT và nó dần dần đã trở thành phổ biến

Theo Luật Công nghệ thông tin thì: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [39]

Trang 18

Đối với lĩnh vực GD&ĐT, thì việc UDCNTT là quá trình sử dụng CNTT vào các hoạt động của từng cơ sở giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của các hoạt động quản lí, các hoạt động dạy học và giáo dục

Như vậy, UDCNTT trong dạy học là việc sử dụng CNTT vào hoạt động dạy của

GV và hoạt động học của HS nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học

1.1.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tiểu học

Trên cơ sở khái niệm “Dạy học ở trường tiểu học” và UDCNTT, ta có thể định

nghĩa khái niệm UDCNTT trong dạy học tiểu học như sau: UDCNTT trong dạy học tiểu học là việc sử dụng CNTT vào các giai đoạn của quá trình dạy học ở tiểu học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học tiểu học

Nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu vào việc sử dụng CNTT vào các giai đoạn trong quá trình dạy của người GV tiểu học để tích cực hóa hoạt động nhận thức của

khuyến khích, động viên, tác động, tạo điều kiện để GV và HS tích cực sử dụng CNTT trong dạy và học, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học Đây là một nhiệm

vụ hết sức quan trọng của hiệu trưởng nhà trường trong thời đại hiện nay

Từ các khái niệm quản lí, dạy học ở tiểu học, ứng dụng CNTT trong dạy học,

có thể xác định khái niệm quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học như sau:

Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học là tác động có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lí dạy học tới đối tượng QLDH thông qua việc thực hiện các nội dung quản lí UDCNTT trong 3 giai đoạn của quá trình dạy học ở tiểu học: chuẩn bị lên lớp, dạy học trên lớp và kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được mục tiêu dạy học tiểu học trong điều kiện môi trường luôn biến động

Quản lí UDCNTT trong dạy học cần quản lí các hoạt động ứng dụng của cả thầy và trò trong từng giai đoạn của quá trình dạy học Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung chủ yếu vào quản lí các hoạt động UDCNTT của người dạy – người giáo viên tiểu học

Trang 19

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học

1.2.1 Quá trình dạy học trong nhà trường tiểu học

Quá trình dạy học trong nhà trường tiểu học bao gồm các giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Chuẩn bị lên lớp (xây dựng kế hoạch dạy học)

- Giai đoạn 2: Dạy học trên lớp (thực hiện kế hoạch dạy học)

- Giai đoạn 3: Kiểm tra, đánh giá

1.2.1.1 Hoạt động chuẩn bị lên lớp

Dạy học là công việc vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, hoạt động này đòi hỏi sự sáng tạo, chuyên nghiệp của người giáo viên trong quá trình giảng dạy

và truyền đạt tri thức, thông tin đến người học Vì vậy, công tác chuẩn bị lên lớp là điều cần thiết đồng thời còn là điều bắt buộc đối với tất cả các GV

Việc chuẩn bị lên lớp của người GV tiểu học bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kì và việc chuẩn bị lên lớp cho từng tiết học cụ thể

Việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kì bao gồm nhiều công việc và nội dung cụ thể khác nhau, có thể liệt kê một số công việc sau:

- Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung tài liệu học tập, trên cơ sở đó để thu thập, lựa chọn tài liệu cho từng tiết học, phương pháp, phương tiện dạy học và những hình thức dạy học thích hợp

- Tìm hiểu học sinh lớp mình giảng dạy về kết quả học tập, thái độ và phong trào học tập, tu dưỡng của lớp, đặc điểm tâm lí chung của lớp và của những học sinh

cá biệt, phong cách sư phạm của người giáo viên đã giảng dạy ở lớp đó Trên cơ sở đó

mà đề ra những yêu cầu hợp lí đối với học sinh

- Tìm hiểu những phương tiện dạy học có ở trường để có kế hoạch tạo nên những phương tiện mới Qua đó mà có những dự định đổi mới phương pháp dạy học

và kiến tạo các nội dung dạy học, phương pháp tiếp cận mới

- Với những tài liệu hướng dẫn của các cơ quan quản lí giáo dục, quy định mang tính đặc thù của nhà trường và với sự nghiên cứu, tìm hiểu nêu trên mà mỗi GV, tập thể nhóm GV xây dựng kế hoạch dạy học theo từng chương mục cả năm học hay từng học kì của mình phù hợp với quy định chung

Việc chuẩn bị trực tiếp lên lớp bao gồm việc phân tích nội dung sách giáo khoa, soạn giáo án và chuẩn bị những điều kiện cho việc lên lớp Về phân tích nội dung các bài trong sách giáo khoa, thường phải phân tích về mặt khái niệm, về mặt logic, về mặt tâm lí, về mặt giáo dục và cuối cùng là về mặt lí luận dạy học.Về việc soạn giáo án: Giáo viên cần dựa trên chuẩn kiến thức kĩ năng đối với HS tiểu học, kế hoạch dạy học theo chương mục, nội dung sách giáo khoa, trình độ tri thức của học sinh và những điều kiện tiến hành bài dạy cụ thể mà xây dựng kế hoạch tiến hành từng bài dạy cụ thể;

Trang 20

GV cần nghiên cứu kĩ phương tiện dạy học và cách sử dụng chúng Qua các hoạt động này GV tiếp cận tốt nhất trong việc truyền đạt kiến thức đến học sinh, phát huy tốt nhất tính độc lập, sáng tạo của học sinh

1.2.1.2 Hoạt động dạy học trên lớp

Xét một cách khái quát thì Hoạt động dạy học trên lớp của GV diễn ra theo các khâu sau:

- GV đề xuất vấn đề, gây cho học sinh ý thức nhiệm vụ học tập: Mở đầu một

vấn đề mới, GV khéo léo đề xuất nhiệm vụ học tập bằng cách tạo nên tình huống có vấn đề, nhờ vậy mà HS ý thức được nhiệm vụ đó một cách sâu sắc và tích cực, hứng thú tham gia giải quyết vấn đề

- Tổ chức điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới: Để lĩnh hội tri thức mới, trước

tiên phải tổ chức cho HS tri giác tài liệu cảm tính cần thiết Ở khâu này, tùy tùy theo nội dung tài liệu, GV tổ chức cho HS quan sát trực tiếp sự vật và hiện tượng, hoặc có thể dùng phương pháp đàm thoại làm cho HS nhớ lại những biểu tượng, những kinh nghiệm đã có, những tri thức đã lĩnh hội, tìm ra mối liên hệ gần gũi với sự vật và hiện tượng mới Từ đó xây dựng biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm

Tiếp đó GV tổ chức cho HS tiến hành các thao tác tư duy để hình thành khái niệm (có thể tiến hành bằng 2 cách: Quy nạp hay diễn dịch); vận dụng khái niệm để hình thành các phán đoán, suy luận rồi từ đó lại tạo ra các phán đoán, suy luận mới ở mức độ cao hơn Các khái niệm, phán đoán, suy luận được diễn đạt bằng các định nghĩa, định lí, nguyên tắc…

Tổ chức đúng đắn việc lĩnh hội tri thức mới sẽ giúp học sinh phát triển tư duy

logic và kĩ năng độc lập lĩnh hội tri thức mới

- Tổ chức điều khiển học sinh củng cố tri thức: Hướng dẫn HS biện pháp ôn tập

tích cực, thường xuyên và vận dụng tri thức để giải quyết các nhiệm vụ học tập nhằm củng cố kiến thức đã lĩnh hội được

- Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo: Cần tổ chức luyện tập

rèn KNKX cho HS một cách có hệ thống, theo các mức độ khác nhau:

+ Luyện tập giải quyết các bài tập với độ khó và phức tạp tăng dần (từ thấp đến cao, từ tình huống quen thuộc, đơn giản đến tình huống mới)

+ Vận dụng tri thức để giải thích các hiện tượng, các vấn đề do thực tiễn đặt ra phù hợp với tư duy và khả năng của học sinh, từ đó phát huy tính độc lập, khả năng

sáng tạo của học sinh

- Tổ chức, điều khiển, kiểm tra, đánh giá việc nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống của học sinh và tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá: Việc thực

hiện khâu này phải quán triệt các nguyên tắc kiểm tra và đánh giá, phối hợp nhiều hình

Trang 21

thức kiểm tra, đánh giá Ngoài ra cần đặc biệt bồi dưỡng cho HS ý thức và năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình, giúp HS hình thành phẩm chất và năng lực

tự học, HS có thể học liên tục suốt đời, đáp ứng yêu cầu của thời đại hiện nay

- Phân tích kết quả từng giai đoạn, từng bước nhất định của quá trình dạy học:

Đây là hoạt động cần thiết giúp giáo viên và học sinh nhìn lại kết quả từng khâu đã đạt được, qua đó phát hiện những thiếu sót cần khắc phục trong giai đoạn tiếp theo

Trong quá trình dạy học, các khâu có thể được thực hiện xen kẽ hoặc thâm nhập vào nhau hoặc không thực hiện đầy đủ, tùy thuộc vào từng loại bài học và các yêu cầu

cụ thể trong từng giai đoạn Việc phối, kết hợp các khâu đó để đạt được mục đích dạy tốt nhất lại tùy thuộc vào năng lực nghiệp vụ sư phạm của mỗi GV

1.2.1.3 Hoạt động kiểm tra, đánh giá

Trong dạy học tiểu học, người ta thường sử dụng các hình thức kiểm tra sau:

- Kiểm tra thường xuyên: Hình thức kiểm tra này còn được gọi là kiểm tra hàng

ngày vì nó được diễn ra hàng ngày Kiểm tra thường xuyên được người GV tiến hành trong từng tiết dạy Mục đích của hoạt đo là kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học này nhằm điều chỉnh một cách hợp lí việc dạy và học của GV và học sinh qua đó tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sang những bước mới

Kiểm tra thường xuyên được tiến hành thông qua việc quan sát hoạt động của lớp, của mỗi học sinh có tính hệ thống qua việc ôn tập, củng cố bài cũ, qua quá trình học bài mới, qua việc vận dụng tri thức vào thực tiễn

- Kiểm tra định kì: thường được tiến hành sau khi học xong nửa học kì (với HS

khối 4; 5) và học xong một học kì (với cả bậc học) Do kiểm tra sau nửa học kì hoặc cả học kì của một môn học nên khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nằm trong phạm vi kiểm tra là tương đối lớn

Kiểm tra định kì giúp thầy trò nhìn nhận lại kết quả hoạt động sau một thời gian nhất định Qua đó đánh giá được việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh sau một thời gian nhất định

1.2.2 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở nhà trường tiểu học

Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của CNTT và đặc biệt của Internet hiện nay vừa tạo ra một điều kiện hết sức thuận lợi, đồng thời cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với GD&ĐT nói chung Việc UDCNTT trong mỗi cấp học, bậc học có mục tiêu, nội dung chương trình khác nhau Đặc biệt, đối với bậc Tiểu học, đưa CNTT vào trong dạy học như thế nào là vừa đủ và vẫn gây được hứng thú cho HS trong học tập là điều

đáng được quan tâm

Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, an

Trang 22

ninh, quốc phòng, đối ngoại và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”[39]

Như vậy CNTT có thể được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Với giáo dục UDCNTT là một đòi hỏi tất yếu của thời đại Ông Peter Van Gils, chuyên gia dự án Công nghệ thông tin trong giáo dục và quản lí nhà trường (ICTEM)

khẳng định: “Chúng ta đang sống trong một xã hội mà người ta gọi là một xã hội tri thức hay một xã hội thông tin Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu ra mang tính công nghiệp trong xã hội của chúng ta đã mất đi cái tầm quan trọng của nó Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức” Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hoá cực kì quan trọng Máy vi tính và những kĩ thuật liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin

và tri thức Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kĩ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình Một trường học mà không có CNTT là một nhà trường không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội.”[30]

Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực: UDCNTT trong quản lí và UDCNTT trong dạy học

Việc ứng dụng CNTT trong dạy học được biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau Nhưng dựa vào bản chất của quá trình dạy học chính là quá trình truyền thông và thông tin, ta có thể phân biệt hai hình thức ứng dụng CNTT trong dạy

và học, đó là dạy dựa vào máy tính - Computer Base Training (gọi tắt là CBT) và học dựa vào máy tính - Elearning Trong đó:

- CBT là hình thức GV sử dụng máy tính trên lớp, kèm theo các trang thiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tác người và máy

- Elearning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà GV đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của GV, hoặc có thể trao đổi trực tuyến với GV thông mạng internet Hình thức Elearning thể hiện rõ ràng quan điểm

“lấy HS làm trung tâm”, HS sẽ tự làm chủ quá trình học tập của mình, GV chỉ đóng

vai trò hỗ trợ việc học tập cho HS

Với hai hình thức trên, trong các nhà trường phổ thông hiện nay, tùy theo mức độ nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lí, GV, trang bị CSVC về CNTT… mà nội dung UDCNTT trong dạy học ở các nhà trường là rất khác nhau

Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình dạy học được phân tích trên đây, có thể xác định nội dung UDCNTT trong dạy học ở nhà trường tiểu học như sau:

Trang 23

1.2.2.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuẩn bị lên lớp:

- GV sử dụng máy tính làm công cụ soạn thảo văn bản để soạn giáo án, in ấn tài liệu, truy cập internet sưu tầm tài liệu, xây dựng kho học liệu phục vụ hoạt động dạy học Đây được xem là một trong những ứng dụng CNTT trong dạy học phổ biến trong nhà trường hiện nay

- Thiết kế giáo án trên máy tính, trong đó có sử dụng phần mềm PowerPoint hay các phần mềm dạy học bộ môn khác ở các trường có trang bị máy chiếu Projector Ứng dụng này đang được từng bước triển khai đại trà trong nhà trường phổ thông

Hiện nay, người ta thường gọi giáo án được thiết kế trên máy tính là giáo án điện tử Thuật ngữ này đã trở nên quen thuộc và được sử dụng rộng rãi trong trường phổ thông Ngoài GAĐT, GV còn có thể tạo ra các sản phẩm khác phục vụ cho hoạt động dạy – học, đó là Bài giảng điện tử, Bài giảng Elearning

- Giáo viên tham gia các diễn đàn tin học, là thành viên của các website giáo dục như: www.bachkim.vn; www.diendan.edu.vn; www.baigiang.violet.vn: www.giaovien.net để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ, kỹ năng về CNTT, đưa lên hay tải về các bài giảng, GAĐT, tài liệu khác phục vụ cho công tác giảng dạy

- GV sử dụng thư điện tử để trao đổi thông tin phục vụ việc dạy học Việc sử dụng thư điện tử giúp GV có thể trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, cung cấp bài giảng, bài tập, trả lời thắc mắc cho HS

Như vậy có thể liệt kê một số công việc GV tiểu học thường làm trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp:

- Soạn thảo văn bản

- Truy cập internet sưu tầm tài liệu

- Trao đổi thông tin qua thư điện tử (email)

- Sử dụng phần mềm PowerPoint để thiết kế GAĐT

- Sử dụng phần mềm Violet để thiết kế GAĐT

- Sử dụng phần mềm khác để thiết kế GAĐT

- Độc lập thiết kế GAĐT

- Hợp tác với đồng nghiệp trong thiết kế GAĐT

- Nhận hỗ trợ nguồn học liệu từ đồng nghiệp, tổ chuyên môn

- Khai thác kho học liệu điện tử của trường

- GV đăng kí là thành viên của một website về giáo dục

1.2.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học trên lớp:

Tùy thuộc năng lực của từng GV mà việc UDCNTT trong dạy học được thể hiện ở các mức độ khác nhau:

Trang 24

- UDCNTT để hỗ trợ một hoặc nhiều khâu nào đó trong toàn bộ quá trình dạy học, ví dụ như sử dụng GAĐT trong khâu đề xuất vấn đề, gây cho học sinh ý thức nhiệm vụ học tập, tổ chức điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới, củng cố kiến thức hay kiểm tra, đánh giá… Khi tổ chức giảng dạy bằng GAĐT trên lớp, GV phải biết sử dụng các thiết bị dạy học đa phương tiện một cách hợp lí để khai thác những ưu điểm của GAĐT nhằm phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học Tiêu chuẩn của một giáo án chỉ là tiền đề cho sự thành công của một tiết lên lớp Trong khi lên lớp thì GV mới thể hiện, bộc lộ hết khả năng sư phạm, năng lực giảng dạy của mình Sự thành công của giờ giảng phụ thuộc rất nhiều vào việc GV biết kết hợp nhiều PPDH khác nhau, đặc biệt là việc ứng dụng CNTT trong việc đổi mới PPDH Hay nói cách khác, GV phải biết sử dụng thiết bị dạy học đa phương tiện phù hợp để khai thác hiệu quả sự Multimedia hoá trong GAĐT

- Sử dụng phần mềm dạy học chuyên dùng để tổ chức dạy học theo từng bộ môn Một số phần mềm dạy học mà GV thường dùng là Violet, Sketchpad, Encarta

Để thực hiện yêu cầu này, GV phải có kĩ năng sử dụng thành thạo máy tính và các trường phải có phòng học đa năng và được trang bị các phần mềm có bản quyền Nội dung mức này tổ chức chưa được phổ biến ở các nhà trường

- Tích hợp CNTT vào quá trình dạy học GV sử dụng máy tính ở tất cả các khâu của quá trình dạy học, từ xây dựng kế hoạch dạy học, Cách thức thực hiện biện pháp và kiểm tra đánh giá đều được thực hiện trên máy tính, mạng máy tính Yêu cầu GV phải có trình độ sử dụng máy tính rất thành thạo và phải được trang bị đầy đủ các thiết bị về CNTT

1.2.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra, đánh giá:

Khi sử dụng CNTT trong việc kiểm tra, đánh giá HS, GV sử dụng phần mềm thi trắc nghiệm để ra đề, trộn đề thi đảm bảo tính khách quan, công bằng và nhanh chóng trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS Mặt khác, GV cũng đã sử dụng máy tính để tính điểm, tổng kết và xếp loại HS rất kịp thời, chính xác

UDCNTT trong dạy học Tiểu học về cơ bản cũng thể hiện ở các hoạt động như trên

Có thể nói, việc UDCNTT trong giáo dục sẽ tạo ra một bước chuyển trong quá trình đổi mới PPDH, phương pháp học tập trong các nhà trường CNTT hiện nay đang góp phần rút ngắn khoảng cách trong giáo dục giữa các vùng miền, CNTT là một phương tiện hữu hiệu để tiến tới một “xã hội học tập”

Trong hoạt động kiểm tra, đánh giá, GV tiểu học có thể UDCNTT để:

- Xây dựng ngân hàng tiểu mục đề

- Xây dựng cấu trúc đề

- Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra

- Xây dựng bài tập thực hành

Trang 25

- Chấm bài kiểm tra

- Xử lí điểm

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, để khai thác sao cho đạt hiệu quả đối với những trang thiết bị CNTT đã và sẽ được đầu tư thì còn nhiều việc cần phải làm Đó là một nhiệm vụ mà công tác quản lí giáo dục nói chung, với các cơ quan quản lí giáo dục nói riêng cần phải sớm tìm ra những giải pháp khoa học, hợp lí để nhà trường không còn là ốc đảo giữa xã hội thông tin hiện nay

1.3 Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học

1.3.1 Vai trò của hiệu trưởng đối với quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Theo Điều 54 Luật Giáo dục năm 2005, thì: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận” [38]

Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng được quy định trong Điều 20 của Điều

lệ trường Tiểu học do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2010 [12] Với những nhiệm vụ và quyền hạn đó, người hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng đối với việc UDCNTT trong dạy học của GV Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính trong việc nâng cao hiệu quả UDCNTT trong dạy học của GV Với vai trò này, hiệu trưởng cần phải thực hiện tốt các chức năng quản lí việc UDCNTT trong dạy học:

* Kế hoạch hoá việc UDCNTT trong dạy học

Là đưa việc UDCNTT trong dạy học vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, các biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để hoàn thành mục tiêu đã đề ra

Kế hoạch UDCNTT trong dạy học có thể tách riêng hoặc nằm trong kế hoạch UDCNTT tổng thể của nhà trường, được xây dựng cụ thể theo từng năm học, mang tính pháp quy, tức là được Hội đồng sư phạm thông qua Hiệu trưởng cần dựa trên những định hướng lớn về phát triển giáo dục, UDCNTT của Đảng, Nhà nước, các văn bản và hướng dẫn thực hiện của các cấp QLGD và điều kiện thực tế của nhà trường về

tổ chức bộ máy, về các nguồn lực và các điều kiện khác để xây dựng kế hoạch UDCNTT trong dạy học của trường mình Qua đó đảm bảo tính khả thi thực hiện đươc trên thực tế của nhà trường

* Tổ chức việc UDCNTT trong dạy học

Là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra về việc UDCNTT trong dạy học, hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra

* Chỉ đạo việc UDCNTT trong dạy học

Trang 26

Là quá trình tác động của Hiệu trưởng tới mọi thành viên của nhà trường, nhằm biến những yêu cầu chung về UDCNTT trong dạy học của nhà trường thành nhu cầu, thành động lực phấn đấu của từng cá nhân trong tổ chức Trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác tham gia và đem hết khả năng của mình để làm việc

Hiệu trưởng thực hiện chức năng chỉ đạo là ra các quyết định và Cách thức thực hiện biện pháp các quyết định đó, thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai kế hoạch UDCNTT trong dạy học, thường xuyên theo dõi, giám sát, động viên, khuyến khích, liên kết mọi người và các bộ phận thực hiện tốt kế hoạch theo sự sắp xếp đã được xác định trong khâu tổ chức

* Kiểm tra việc ứng dụng CNTT trong dạy học

Là quá trình xem xét thực tiễn, để đánh giá thực trạng về UDCNTT trong dạy học của GV, khuyến khích những nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch và đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời, nhằm giúp các bộ phận và các cá nhân đạt được các mục tiêu đã đề ra

Chức năng kiểm tra là công cụ sắc bén tăng cường hiệu lực quản lí của Hiệu trưởng nhà trường Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm tra, Hiệu trưởng cần phải xây dựng được tiêu chuẩn kiểm tra, đo lường việc thực thi nhiệm vụ, so sánh, đối chiếu với mục tiêu đã định và đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết, kịp thời

Qua kiểm tra giúp nâng cao ý thức của tất cả các thành viên với công tác kế hoạch hóa, ý thức trách nhiệm với công việc được giao đồng thời Hiệu trưởng cần có những biện pháp khuyến khích, khen thưởng, phê bình, trách phạt thích hợp, kịp thời tạo động lực cho việc UDCNTT trong dạy học

Các chức năng quản lí nói trên được Hiệu trưởng trường tiểu học thực hiện trong các nội dung quản lí UDCNTT trong dạy học sẽ được phân tích cụ thể sau đây

1.3.2 Nội dung quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học của hiệu trưởng

1.3.2.1 Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuẩn bị lên lớp

ở trường tiểu học

Căn cứ vào kế hoạch của các tổ chuyên môn, từng GV phải xây dựng kế hoạch riêng của mình Kế hoạch phải thể hiện rõ các nội dung, công việc mà GV có thể thực hiện UDCNTT phục vụ cho dạy học GV phải xác định cụ thể bài học, nội dung học và thời điểm thực hiện giảng dạy có UDCNTT

Chuẩn bị giờ lên lớp là công việc quan trọng của GV nhằm thực hiện việc giảng dạy và học tập đạt kết quả cao UDCNTT trong soạn bài (soạn GAĐT) cũng phải nhằm mục đích này Muốn vậy, GAĐT phải làm sao phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS

Trang 27

Hiệu trưởng cần phải phổ biến các yêu cầu, quy định về soạn bài, đặc biệt là quy trình soạn GAĐT Tổ chức thảo luận để xây dựng chuẩn đánh giá một GAĐT để mọi GV thực hiện

Chỉ đạo sinh hoạt, thảo luận ở tổ chuyên môn nghiên cứu kỹ nội dung chương trình từng khối lớp xem bài học, nội dung phần nào thì nên soạn GAĐT để khai thác, phát huy tối đa ưu thế của công nghệ đa phương tiện Khuyến khích, động viên GV sử dụng các phần mềm dạy học bộ môn trong việc soạn GAĐT Nếu cần thì nhà trường

hỗ trợ kinh phí để mua các phần mềm dạy học có bản quyền cho tổ chuyên môn sử dụng Phân công Phó hiệu trưởng, cùng với tổ trưởng chuyên môn theo dõi, kiểm tra việc chuẩn bị bài của GV và tổ chức rút kinh nghiệm hàng tháng

1.3.2.2 Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học trên lớp

ở trường tiểu học

Chuẩn bị giáo án tốt chỉ là tiền đề cho sự thành công của một tiết lên lớp Chính trong môi trường thực tế lớp học, GV mới thể hiện, bộc lộ hết khả năng sư phạm, năng lực giảng dạy của mình Qua thực hiện GAĐT trên lớp, GV sẽ thể hiện được trình độ, những kỹ năng ứng dụng CNTT và sự phối hợp nhịp nhàng các PPDH để đảm bảo giờ giảng đạt hiệu quả cao Muốn tích cực hóa HS khi giảng dạy bằng GAĐT cần phải chú ý:

+ Nội dung của các bài học phải được thể hiện bằng thông tin đa phương tiện (văn bản, hình ảnh, âm thanh…) để kích thích, huy động tối đa các giác quan của HS

+ Tạo ra sự tương tác cao giữa GV-HS-Nội dung bài học

Hiệu trưởng phải luôn quan tâm, theo dõi vấn đề này Hàng năm, nhà trường cần tổ chức chuyên đề “Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH”, bên cạnh đó nên tổ chức các buổi hội thảo chung quanh nội dung này Đặc biệt, nhà trường cần tổ chức cho các GV dự giờ, trao đổi kinh nghiệm, thông qua tổ chuyên môn để nhận xét, đánh giá đúng năng lực ứng dụng CNTT của đội ngũ GV, từ đó có những biện pháp chỉ đạo thích hợp, kịp thời

1.3.2.3 Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá ở trường tiểu học

Thực tiễn giáo dục cho thấy rằng cách đánh giá, thi cử như thế nào thì sẽ có lối dạy và lối học như thế ấy Việc đưa CNTT vào kiểm tra, đánh giá sẽ làm thay đổi về cách dạy và cách học Vì thế, cần phải đổi mới một cách đồng bộ về các khâu: nội dung, hình thức kiểm tra, tiêu chí đo lường và đánh giá chất lượng HS, kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS

Hiệu trưởng phải tổ chức, khuyến khích GV nên sử dụng CNTT vào kiểm tra, đánh giá Khi giảng dạy bằng GAĐT thì cách kiểm tra, đánh giá như trước đây không còn phù hợp nên phải có cách kiểm tra, đánh giá mới như: thi trắc nghiệm khách quan trực tiếp trên máy tính, cho các bài tập HS làm trên máy tính để chấm điểm, cho HS

Trang 28

làm bài tập theo nhóm hay cá nhân Và như thế, việc GV sử dụng máy tính để tính điểm từng môn học cho HS một cách thống nhất, chính xác sẽ dẫn đến việc đánh giá kết quả HS khách quan và nhanh chóng hơn

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải bài học nào, nội dung nào cũng sử dụng CNTT để kiểm tra, đánh giá mới chính xác, khách quan Cũng như tùy theo yêu cầu, ý nghĩa của việc kiểm tra mà GV cần phải biết lựa chọn, kết hợp sử dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá sao cho phù hợp

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường tiểu học

1.4.1 Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lí:

Đổi mới dạy học cần phải ứng dụng các phương tiện, kĩ thuật, công nghệ mới đặc biệt chú trọng đến kĩ thuật đa phương tiện Để làm được điều này hiện nay, đều phải dựa vào máy tính (hay CNTT) CNTT sẽ làm thay đổi tư duy về giáo dục, thay đổi chất lượng lao động, chống nhàm chán, đồng thời góp phần đa dạng hóa các loại hình đào tạo: đào tạo từ xa, từ xa qua mạng, trung tâm học tập cộng đồng,

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước và cơ quan qaunr lí về chất lượng và hiệu quả mọi hoạt động của nhà trường Theo đó, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chính trong việc nâng cao hiệu quả UDCNTT trong dạy học của GV Trước hết, việc UDCNTT trong dạy học của GV ở trường tiểu học có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của hiệu trưởng đối với UDCNTT Sau đó, là trình độ tổ chức, năng lực triển khai trong thực tiễn nhà trường

1.4.2 Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lí:

Các yếu tố thuộc về GV tiểu học

Năng lực, phẩm chất, đặc biệt là nhu cầu phát triển chuyên môn liên tục của người GV quyết định trực tiếp đến sự thành công của việc UDCNTT trong dạy học

Kiến thức về CNTT mà GV phải có chính là kiến thức cơ bản về tin học Đó là kiến thức sơ bộ về cấu tạo máy tính và các thiết bị ngoại vi; những hiểu biết cơ bản về

hệ điều hành và các thao tác cơ bản trên hệ điều hành như khởi động, đóng và chuyển đổi giữa các chương trình, khởi tạo, sao chép, di chuyển các thư mục, tập tin, xem thư mục, tìm kiếm thư mục hoặc tập tin, phục hồi các tập tin đã bị xoá

Những kĩ năng về CNTT mà mỗi GV ở trường tiểu học cần có là kĩ năng sử dụng máy tính, kĩ năng khai thác và sử dụng mạng internet, kĩ năng thiết kế và sử dụng BGĐT, kĩ năng sử dụng các phần mềm dạy học, kĩ năng sử dụng các thiết bị CNTT vào các giờ dạy và nội dung dạy học cụ thể

Trang 29

Các yếu tố thuộc về tâm lí của HS tiểu học

Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS là mục đích của việc UDCNTT trong dạy học, đồng thời cũng là điều kiện để thực hiện thành công việc UDCNTT trong dạy học Việc UDCNTT trong dạy học đòi hỏi dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của GV, HS phải có những phẩm chất, năng lực thích ứng trong hoạt động học tập

để có kết quả học tập đạt được mục đích củaUDCNTT

1.4.3 Các yếu tố thuộc về môi trường quản lí:

1.4.3.1 Môi trường pháp lí (Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và ngành

GD&ĐT về ứng dụng CNTT vào dạy học)

Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội, đưa con người chuyển nhanh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức

Xu thế biến đổi to lớn đó đang đặt ra cho mọi quốc gia những cơ hội và thách thức to lớn Nắm bắt cơ hội, với ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời, sâu, sát của Đảng, của Nhà nước chúng ta có thể tăng cường năng lực, tận dụng tiềm năng CNTT, chuyển dịch nhanh cơ cấu nhân lực và cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng xây dựng một xã hội thông tin, kinh tế dựa trên tri thức, góp phần quan trọng rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xác đinh tầm quan trọng của việc UDCNTT trong dạy học và quản lí hoạt động dạy học, Đảng, Nhà nước , Bộ GD&ĐT thông qua các văn bản chỉ đạo đã đề ra nhiều nhiệm vụ cụ thể trong đẩy mạnh UDCNTT: Chỉ thị CT 29/2010 BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành

giáo dục giai đoạn 2001- 2005 nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT trong GD&ĐT

sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lí GD” “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD&ĐT ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dung CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới PP giảng dạy và học tập ở tất cả các môn học.”[8]

Chỉ thị 08/2003 của Bộ Bưu chính viễn thông, ngày 02 / 05/ 2003: “Đưa Internet đến tất cả các trường Đại học, Cao đẳng, THCN, TH trên phạm vi cả nước và kết nối tới các trường THCS và Tiểu học ở những nơi có điều kiện.”[6]

Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993 của chính phủ cũng nêu rõ: “Cần nhanh chóng đào tạo chính quy một đội ngũ chuyên viên lành nghề trong lĩnh vực CNTT, giáo dục phổ cập về CNTT trong trường trung học, phổ biến kiến thức về CNTT trong

xã hội, đồng thời tăng cường áp dụng CNTT trong bản thân ngành GD&ĐT.”[43]

Trang 30

Tin học hóa QLGD vừa là nhiệm vụ phải thực hiện đồng thời cũng là biện pháp để thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất công tác GD

Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 chỉ rõ: “Nhanh chóng áp dụng CNTT vào giáo dục để đổi mới PP giáo dục và quản lí.”[10]

Trong chỉ thị 58/ CT- TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa (CNH- HĐH) đất nước

đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt,tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho GD&ĐT, kết nối internet với tất cả các cơ sở GD&ĐT”.[9]

Có thể thấy, các quy định của Nhà nước đã tạo ra hành lang phát lí tốt nhất cho

hoạt động UDCNTT

1.4.3.2 Các yếu tố về cơ sở vật chất

UDCNTT trong dạy học phải gắn liền với những yêu cầu về CSVC, thiết bị CNTT, kinh phí phục vụ Vì vậy, việc tăng cường CSVC, thiết bị phục vụ UDCNTT là điều kiền cần thiết mang tính quyết định đến việc UDCNTT trong nhà trường

1.4.3.3 Các yếu tố về môi trường xã hội

Hoạt động ứng dụng CNTT của đội ngũ GV được diễn ra trong môi trường sư phạm nhà trường Với vai trò và nhân tố quyết định đến sự thành công của UDCNTT

là sự tương tác giữa GV và HS và các thiết bị UDCNTT do đó các chủ thể của quá trình tương tác này phải đảm bảo các điều kiện đã phân tích ở trên và sự ủng hộ, tạo điều kiện, chia sẻ, chung tay đóng góp của gia đình và xã hội

Trong quá trình quản lí của hiệu trưởng thì các yếu tố khách quan (môi trường quản lí) có vai trò hỗ trợ, tạo điều kiện, thúc đẩy, còn chính các yếu tố chủ quan (chủ thể quản lí, đối tượng quản lí) mới đóng vai trò quyết định đến hiệu quả việc UDCNTT trong dạy học ở trường Tiểu học

Tiểu kết Chương 1

Qua các nghiên cứu, có thể khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc UDCNTT trong các lĩnh vực xã hội, các ngành nghề trong bối cảnh cao trào của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra trên khắp thế giới Đặc biệt trong hoạt động dạy học UDCNTT có ý nghĩa quan trọng và từ đó cho thấy vai trò của các biện pháp quản lí UDCNTT trong hoạt động dạy học Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các tài liệu lí luận trong và ngoài nước về quản lí và quản lí UDCNTT trong hoạt động dạy học tiểu học, đề tài đã hệ thống hoá được các khái niệm và nội dung cơ bản sau:

Trang 31

Ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học là việc sử dụng CNTT vào các giai đoạn của quá trình dạy học ở tiểu học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học tiểu học

Quản lí UDCNTT trong dạy học tiểu học là tác động có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lí dạy học tới đối tượng QLDH thông qua việc thực hiện các nội dung quản lí UDCNTT trong 3 giai đoạn của quá trình dạy học ở tiểu học: chuẩn bị lên lớp, dạy học trên lớp và kiểm tra, đánh giá nhằm đạt được mục tiêu dạy học tiểu học trong điều kiện môi trường luôn biến động Trong chương 1, nội dung quản lý UDCNTT trong dạy học ở trường tiểu học đã được đề cập đến bao gồm quản lý UDCNTT trong hoạt động chuẩn bị lên lớp, dạy học, kiểm tra đánh giá Đồng thời nghiên cứu ở chương 1 cũng nêu lên những ảnh hưởng đến công tác quản lý UDCNTT trong dạy học ở trường tiểu học

Trên đây là cơ sở lí luận cho việc tiến hành điều tra, nghiên cứu, khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động UDCNTT trong dạy học tiểu học của các trường tiểu học quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về vị trí địa lí, kinh tế, văn hóa xã hội quận Cầu Giấy:

Quận Cầu Giấy nguyên là vùng đất được cả nước biết đến từ xa xưa về truyền thống văn hóa, hiếu học, về nếp sống văn minh, thanh lịch mang đậm bản sắc Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến Đây chính là một trong “Tứ danh hương”: Mỗ-La-Canh-Cót” của đất kinh kì Thăng Long xưa.[52]

Từ một vùng đất ven đô, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, kinh tế còn nghèo nàn, cơ sở hạ tầng yếu kém, giờ đây Cầu Giấy là quận nội thành với kết cấu hạ tầng đô thị ngày càng văn minh hiện đại, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, an ninh quốc phòng được bảo đảm Những năm gần đây, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm của quận Cầu Giấy bình quân đạt 30%, thu ngân sách bình quân tăng 64% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng ngày càng tăng tỉ trọng các ngành dịch vụ-công nghiệp, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp Quy mô giáo dục của quận phát triển toàn diện ở các ngành học, cấp học với 55 trường học từ mẫu giáo đến trung học phổ thông Hiện nay toàn quận có 10/18 trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia

2.1.2 Vài nét về giáo dục bậc Tiểu học tại quận Cầu Giấy:

Trong những năm qua, nhận thức rõ tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục, Quận ủy và UBND Quận đã có nhiều chủ trương và biện pháp tích cực đầu tư về mọi mặt cho giáo dục Quận đã cho cải tạo, sửa chữa, xây dựng mới các trường học, đầu tư thêm kinh phí mua sắm trang thiết bị dạy học cho các trường, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu GD&ĐT trong giai đoạn hiện nay: Một số trường xây dựng

đã lâu, xuống cấp, diện tích chật, đang đợi dự án xây dựng của quận; một số trường Tiểu học hiện nay quá tải do có nhiều chung cư cao tầng và tốc độ tăng dân số cơ học quá cao, ảnh hưởng đến điều kiện giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh

Ngoài việc khuyến khích sự năng động, chủ động của mỗi trường, Phòng GD&ĐT Quận Cầu Giấy đã chỉ đạo các trường Tiểu học động viên giáo viên tăng cường tự học, tự bồi dưỡng, tìm tòi học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn Trong giai đoạn này, quận đang tập trung chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới trường học và đảm bảo môi trường sư phạm tốt, xây mới 1 trường tiểu học Các trường Tiểu học trong quận cũng đang cố gắng tập trung đầu tư, tích cực xã hội hóa giáo dục, từng bước cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đổi mới phương pháp dạy và học,

Trang 33

nâng cao chất lượng giáo dục

2.1.2.1 Quy mô

Hiện nay, toàn quận có 20 trường Tiểu học với 26512 học sinh trên tổng số 540 lớp

* Về cơ cấu tổ chức:

Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức của 12 trường công lập quận Cầu Giấy

(Tại thời điểm tháng 12/2017)

trưởng GV

Nhân viên

Y tế Kế toán

Văn thư

Thư viện TBTN Bảo vệ

1 Tiểu học Dịch Vọng A HT, 02 PHT 6 76 2 1 1 1 1 4

2 Tiểu học Dịch Vọng B HT, 02 PHT 6 61 1 1 1 1 1 4

4 Tiểu học Nam Trung Yên HT, 02 PHT 6 53 1 1 1 1 1 6

7 Tiểu học Nguyễn Khả Trạc HT, 02 PHT 6 41 1 1 1 1 1 4

10 Tiểu học Yên Hòa HT, 02 PHT 6 57 1 1 1 1 1 4

11 Tiểu học Quan Hoa HT, 02 PHT 6 33 1 1 1 1 0 4

(Nguồn: Số liệu phát triển giáo dục năm 2017 do Phòng GD&ĐT cung cấp)

Từ bảng trên cho thấy số lượng CBQL và nhân viên ở mỗi trường đều cơ bản

đủ so với quy định Đây là điều kiện tốt để các nhà trường hoàn thành được nhiệm vụ của năm học Tuy nhiên, trong tổng số 36 CBQL của 12 trường thì có đến 11 CBQL mới được bổ nhiệm làm công tác quản lí, dù nhiệt tình nhưng kinh nghiệm quản lí còn hạn chế, 03 CBQL (là hiệu trưởng) tuổi cao, nhiều kinh nghiệm quản lí nhưng hạn chế

về sức khỏe Mới có 6 CBQL có bằng thạc sĩ Quản lí Giáo dục Điều này gây trở ngại không nhỏ đến công tác quản lí của các nhà trường

* Quy mô trường lớp: Sự phát triển về quy mô trường lớp và số lượng HS của các trường được thể hiện ở bảng sau:

Trang 34

Bảng 2.2: Quy mô trường lớp, số CBGV, số học sinh các trường tiểu học công lập

quận Cầu Giấy - Năm học 2017 – 2018 (Tại thời điểm tháng 9 năm 2017)

CBQL Số GV Số lớp Số HS

Bình quân HS/lớp

Bình quân GV/lớp

1 Tiểu học Dịch Vọng

2 Tiểu học Dịch Vọng

4 Tiểu học Nam Trung

7 Tiểu học Nguyễn Khả

2.1.2.2 Chất lượng đội ngũ

Trang 35

Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn của CBQL, GV và nhân viên

của 12 trường công lập quận Cầu Giấy (Tại thời điểm tháng 9 năm 2017)

nhiều; giáo viên giỏi về hưu nhiều Hiện nay UBND quận và Phòng GD&ĐT đang thu

hút đội ngũ giáo viên cấp thành phố ở các quận huyện khác trong toàn thành phố và các sinh viên sư phạm tốt nghiệp loại Xuất sắc, loại Giỏi về công tác tại quận nhà Ngoài ra, cùng với thành phố, quận rất quan tâm đến vấn xét tuyển biên chế cho các đồng chí giáo viên có chồng công tác tại biển,đảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên công tác tốt

2.1.2.3 Chất lượng học sinh

100% số HS hoàn thành chương trình lớp học và 100% số HS lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học Năm học 2016 – 2017, tham gia đạt kết quả cao ở các kì thi dành cho học sinh: đạt 40 giải Quốc gia (Giải toán trên internet, Tiếng Anh trên internet, Olympic Tiếng Anh), trong đó có 19 Huy chương vàng, 8 Huy chương bạc và

13 Huy chương đồng Đạt 83 giải cấp Thành phố, trong đó: 4 giải nhất, 25 giải nhì, 30 giải ba và 24 giải khuyến khích Tham gia thi An toàn giao thông cho nụ cười trẻ thơ cấp Quốc gia có 01 giải xuất sắc, 8 giải khuyến khích

2.1.2.4 Đánh giá chung

Chất lượng giáo dục được giữ vững với 100% học sinh đã hoàn thành nhiệm vụ học tập của từng môn học và hoạt động giáo dục; 100 % số học sinh được đánh giá đạt Tốt hoặc Đạt về năng lực và phẩm chất; 100 % học sinh lớp 5 được đánh giá hoàn thành chương trình Tiểu học; 46,7% học sinh được khen thưởng Hoàn thành Xuất sắc

Trang 36

nhiệm vụ học tập và rèn luyện Một số trường triển khai tốt việc đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Các trường quan tâm bồi dưỡng đội tuyển tham dự các kì thi của Quận, của Thành phố, Quốc gia đạt nhiều giải cao ở các lĩnh vực như thi toán Quốc tế về năng lực tư duy SASMO, IMAS, IKMC, thi Toán Tiếng Anh, Toán Tiếng Việt trên internet, Olympic Tiếng Anh, Tiếng Anh trên internet

Giáo viên tham gia các Hội thi: Chuyên đề Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Giáo viên dạy giỏi các môn cơ bản, thi Thiết kế bài giảng E-learning, đồ dùng dạy học đạt nhiều giải cao cấp Thành phố và cấp Quốc gia

2.2 Tổ chức khảo sát

2.2.1 Mục tiêu khảo sát thực tiễn:

Dựa vào cơ sở lí luận quản lí UDCNTT trong dạy học để khảo sát thực trạng quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học các trường tiểu học Trên cơ sở những tồn tại

và nguyên nhân của nó, đề xuất các giải pháp giúp hiệu trưởng quản lí việc UDCNTT trong dạy học của GV các trường tiểu học đem lại hiệu quả cao Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường tiểu học

2.2.2 Nội dung khảo sát:

- Nội dung: Tìm hiểu thực trạng UDCNTT trong dạy học của đội ngũ GV các trường tiểu học quận Cầu Giấy và thực trạng quản lí vấn đề này của đội ngũ Hiệu trưởng ở các trường tiểu học quận Cầu Giấy về các nội dung: nhận thức về UDCNTT, trình độ về UDCNTT, các nội dung quản lí…

2.2.3 Phương pháp khảo sát và xử lí thông tin:

Sử dụng phối hợp các phương pháp bảng hỏi, phỏng vấn nhóm và quan sát giờ học, nghiên cứu sản phẩm (giáo án, văn bản quản lí…)

Để thông tin thu được đảm bảo tính khách quan, phản ánh đúng thực trạng thì mỗi nội dung khảo sát đều trưng cầu của cán bộ quản lí, chuyên gia, GV, HS Với các nguồn thông tin khác nhau cần phải được thực hiện với phương pháp phù hợp

Để tìm hiểu thực trạng quản lí UDCNTT trong dạy học của đội ngũ GV, tác giả

đã tiến hành làm việc, trao đổi trực tiếp với hiệu trưởng; đồng thời gửi phiếu trưng cầu đến hiệu trưởng, GV, HS trong trường

Quy định cho điểm của chúng tôi như sau:

Trang 37

N i i i

x n

trong đó: x i là điểm được cho ứng với mỗi nội dung x i {1,2,3,4}

n i là số người cho điểm x i nội dung tương ứng

N là tổng số người cho điểm mỗi nội dung

2.2.4 Mẫu khảo sát:

Nghiên cứu được thực hiện trên tất cả trường tiểu học công lập trong quận (12 trường) Thành phần được khảo sát: 36 CBQL và 198 GV của cả 12 trường, đại diện cho tất cả các môn dạy, thâm niên, trình độ đào tạo

2.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

2.3.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên của các trường tiểu học công lập quận Cầu Giấy, Hà Nội

Bảng 2.4 Mức độ nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của ứng dụng

CNTT trong dạy học ở bậc tiểu học

Đối tượng đánh giá

Mức độ ảnh hưởng

bậc

Rất quan trọng

quan trọng

Chưa thật quan trọng

Không quan trọng

Trang 38

Qua bảng 2.4 ta thấy, phần lớn số CBQL cho rằng rất cần thiết phải ứng dụng CNTT trong dạy học (X = 3,91) ; phần lớn GV cho rằng rất cần thiết và cần thiết (X = 3,28) Như vậy đa số CBQL và GV có nhận thức cao về sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học (X = 3,70)

2.3.2 Thực trạng trình độ công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của các trường tiểu học công lập quận Cầu Giấy, Hà Nội:

Bảng 2.5: Trình độ CNTT của đội ngũ cán bộ, giáo viên của các trường tiểu học

công lập trong quận Cầu Giấy (Tại thời điểm tháng 9 năm 2017)

Đối tượng đánh giá Số

lượng

Trình độ tin học

Ghi chú

Chưa biết

Cơ bản

Trung cấp

Cao đẳng, Đại học

Sau đại học

- Về đội ngũ GV: Có 190/198 GV có trình độ tin học cơ bản, chiếm 95,9%; có

8 GV có trình độ cao đẳng, đại học Trong những năm học vừa qua, Phòng GD&ĐT Quận đã mở ra nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ tin học, thu hút 100% các trường tham gia

- Về đội ngũ nhân viên: Có thể nói đội ngũ nhân viên văn phòng hiện nay tuổi đời còn trẻ, họ là những người trực tiếp tác nghiệp phục vụ công tác quản lí của hiệu trưởng Điều này phản ánh đúng thực tế qua kết quả điều tra 11/12 nhân viên văn phòng có trình độ tin học cơ bản, 1/12 có trình độ cao đẳng, đại học

Như vậy, về trình độ tin học của CBQL, GV và nhân viên trong các trường tiểu học quận Cầu Giấy cơ bản đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của ngành

Trang 39

2.3.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuẩn bị lên lớp ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Bảng 2.6 Mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động chuẩn bị lên lớp

của GV tiểu học Nội dung đánh giá Mức độ thực hiện

X Thứ bậc

Thường xuyên

Khá thường xuyên

Thi thoảng

Không thực hiện

1 Soạn thảo văn bản 124 45 20 1 672 3.54 1

2 Trao đổi thông tin

qua thư điện tử

Qua bảng 2.6 ta thấy: Mức độ thực hiện ứng dụng CNTT trong hoạt động chuẩn

bị lên lớp ở các trường tiểu học quận Cầu Giấy đạt mức độ khá thường xuyên

thể hiện điểm trung bình chung X = 2,68

Trang 40

Để giải thích cho thực trạng này tôi đã phỏng vấn cô giáo dạy lớp 4 N.T.T

trường Tiểu học Nghĩa Tân, cô cho biết:“Các GV trong trường hầu hết đều nhận thức được vai trò quan trọng của CNTT và đã được tập huấn xây dựng GAĐT bằng phần mềm powerpoint song bản thân nhận thấy trình độ tin học chưa vững, không tự tin khi lên lớp, do vậy khâu chuẩn bị bài giảng luôn được chú ý hơn cả, có giáo án tốt trước khi lên lớp sẽ thấy yên tâm hơn rất nhiều.”

GV ứng dụng CNTT để soạn thảo văn bản là thường xuyên nhất (X = 3.54), tiếp theo là Nhận hỗ trợ nguồn học liệu từ đồng nghiệp, tổ chuyên môn (X = 3.36), truy cập internet sưu tầm tài liệu (X = 3.31), trao đổi thông tin qua thư điện tử (email) (X = 3.15) Ứng dụng CNTT khá thường xuyên là hợp tác với đồng nghiệp trong thiết

kế GAĐT (X = 3.03), độc lập thiết kế GAĐT (X = 2.88), khai thác kho học liệu điện

tử của trường (X = 2.69) Mức độ khai thác kho học liệu điện tử của trường chưa cao một phần do chất lượng của kho học liệu điện tử chưa đáp ứng được nhu cầu của GV

Số lượng GV đăng kí là thành viên của một website về giáo dục không nhiều (X = 2.30) Hiếm khi GV sử dụng phần mềm Violet để thiết kế GAĐT hay phần mềm khác

để thiết kế GAĐT (X = 1.15) và (X = 1.10) Phần lớn GV sử dụng phần mềm PowerPoint để thiết kế GAĐT (X = 2.98) vì phần mềm này tiện dụng, không mất nhiều thời gian và công sức để học cách làm, vận dụng soạn GAĐT Để khẳng định

điều này tôi đã phỏng vấn cô P.T.H (Tiểu học Trung Yên), cô H cho rằng: “Xây dựng một Giáo án điện tử có chất lượng bằng phần mềm PowerPoint đã mất khá nhiều thời gian nhưng lại là cách làm quen thuộc, đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm mình có thể tham khảo sẽ thuận lợi hơn học cách sử dụng các phần mềm khác, nhất là với những

GV ở trình độ tin học cơ bản nhưng chưa sử dụng máy tính thành thạo”

Bảng 2.7 Mức độ kết quả ứng dụng CNTT trong hoạt động chuẩn bị

lên lớp của GV tiểu học Nội dung đánh giá Tốt Mức độ kết quả X Thứ bậc

Khá TB Yếu

1 Soạn thảo văn bản 63 117 10 8 631 3.19 1

2 Truy cập internet sưu tầm

Ngày đăng: 23/06/2018, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Công nghệ thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin
Nhà XB: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
2. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và Đào tạo trong thời kì đổi mới - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Đào tạo trong thời kì đổi mới -
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Ban Điều hành đề án 112 (2003), Giáo trình quản trị mạng và các thiết bị mạng, Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ giao đoạn 2001 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị mạng và các thiết bị mạng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
4. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X. http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/sach-chinh-tri/doc-393020159435846.html; Truy cập ngày 10/2/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
5. Bill Gates (2006), The Road Ahead, NXB trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Road Ahead
Tác giả: Bill Gates
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2006
6. Bộ Bưu chính viễn thông (2003), Chỉ thị 08/ 2003, ngày 02 / 05/ 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 08/ 2003
Tác giả: Bộ Bưu chính viễn thông
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
7. Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo (1994), Quyết định số 3856/GD-ĐT, ngày 14/12/1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3856/GD-ĐT
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo
Năm: 1994
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chỉ thị 29/2001/CT – Tăng cường giảng dạy đào tạo và ứng dụng CNTT thiết kế bài giảng điện tử trực tuyến (E-learning) trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 - 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 29/2001/CT – Tăng cường giảng dạy đào tạo và ứng dụng CNTT thiết kế bài giảng điện tử trực tuyến (E-learning) trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 - 2005
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2001
9. Bộ Chính trị (2000), Chỉ thị 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2000
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Công văn 12966/BGD&ĐT-CNTT ngày 10/2/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 12966/BGD&ĐT-CNTT ngày 10/2/2007
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chỉ thị số 9584 / BGD &ĐT- CNT, ngày 7/ 9/ 2007,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 9584 / BGD &ĐT- CNT, ngày 7/ 9/ 2007
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Điều lệ trường Tiểu học, ngày 30/12/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Nhiệm vụ năm học 2015 – 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ năm học 2015 – 2016
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Nhiệm vụ năm học 2016 – 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ năm học 2016 – 2017
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
15. Bộ Thông tin-Truyền thông (2013), Sách trắng về CNTT-TT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng về CNTT-TT
Tác giả: Bộ Thông tin-Truyền thông
Năm: 2013
16. Chính phủ (2001), Đề án tin học hoá quản lí hành chính nhà nước (2001-2005) kèm theo Quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tin học hoá quản lí hành chính nhà nước (2001-2005)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
17. Chính phủ (2005), Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 6/10/2005 phê duyệt chiến lược phát triển CNTT&TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 6/10/2005 phê duyệt chiến lược phát triển CNTT&TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
18. Công ty Microsoft Việt Nam (2006), Chia sẻ kinh nghiệm sử dụng CNTT trong dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia sẻ kinh nghiệm sử dụng CNTT trong dạy học
Tác giả: Công ty Microsoft Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Công ty Microsoft Việt Nam (2006), Mô hình trường học thế kỷ 21, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình trường học thế kỷ 21
Tác giả: Công ty Microsoft Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
20. Công ty Microsoft Việt Nam (2006), Sử dụng CNTT trong dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng CNTT trong dạy học
Tác giả: Công ty Microsoft Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w