Trong sự sinh tồn và quá trình phát triển, con người đã tự tạo cho mình nhiều thành tựu. Những thành tựu đó xuất phát từ chính nhu cầu của họ. Du lịch cũng là một trong những thành tựu từ chính những nhu cầu của con người, bất chấp các mặt trái mà du lịch để lại vì trên thực tế, nó đã mang lại cho nhân loại rất nhiều các đóng góp: giáo dục, kinh tế, văn hoá, sinh thái, chính trị. Qua thật khó có thể tìm được những thành tựu nào lại trọn vẹn và bao quát như du lịch. Bước sang kỷ nguyên của khoa học công nghệ tiên tiến, tính liên ngành của du lịch một lần nữa lại được phát huy trong sự kết hợp với những thành tựu của ngành công nghệ thông tin để công hiến cho loài người nhiều thành quả bất ngờ, nhằm thoả mãn các nhu cầu du lịch của chính họ. Đó chính là Du lịch điện tử( E-tourism) nói chung và kinh doanh lữ hành điện tử nói riêng. Kinh doanh lữ hành điện tử có nghĩa là kinh doanh lữ hành bằng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử . Đây cũng chính là nội dung đề tài mà em nghiên trong đợt thực tại Trung tâm du lịch quốc tế và du học – Công ty du lịch và dich vụ Nam Đế: Xây dựng và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh lữ hành của công ty du lịch và dịch vụ Nam Đế
Trang 1Bước sang kỷ nguyên của khoa học công nghệ tiên tiến, tính liênngành của du lịch một lần nữa lại được phát huy trong sự kết hợp vớinhững thành tựu của ngành công nghệ thông tin để công hiến cho loàingười nhiều thành quả bất ngờ, nhằm thoả mãn các nhu cầu du lịch củachính họ Đó chính là Du lịch điện tử( E-tourism) nói chung và kinh doanh
lữ hành điện tử nói riêng Kinh doanh lữ hành điện tử có nghĩa là kinhdoanh lữ hành bằng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử Đây cũngchính là nội dung đề tài mà em nghiên trong đợt thực tại Trung tâm du lịchquốc tế và du học – Công ty du lịch và dich vụ Nam Đế: Xây dựng và triểnkhai ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh lữ hành của công ty
du lịch và dịch vụ Nam Đế, nhìn từ góc độ ứng dụng kinh doanh điện tử( E-Business) và thương mại điện tử( E-Commerce) đối với một doanhnghiệp lữ hành vừa và nhỏ tại Việt Nam
Trang 2Để đề tài này được hoàn thành , em xin chân thành cảm ơn Ths NgôĐức Anh đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em nghiên cứu một cách khoa học vànghiêm túc Em xin chân thành cảm ơn các anh chị lãnh đạo và nhân viêntrong trung tâm đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này
Trang 3Chương 1
Kinh doanh lữ hành và ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trong kinh doanh lữ hành
1.1 Kinh doanh lữ hành và đặc điểm của kinh doanh lữ hành
1.1.1 Khái niệm về công ty lữ hành
Theo cách phân loại của tổng cục du lịch thì các công ty lữ hành gồmhai loại : công ty lữ hành quốc tế và công ty lữ hành nội địa
* Công ty lữ hành nội địa: là công ty lữ hành có trách nhiệm xây
dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nội địa, nhận uỷthác để thực hiện dich vụ chương trình du lịch cho khách nước ngoài đãđược các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đưa vào Việt Nam
* Công ty lữ hành quốc tế: là công ty lữ hành có trách nhiệm xây
dựng, bán các chương trình du lịch trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầucủa khách để trực tiếp thu hút khách đến Việt Nam và đưa công dân ViệtNam, người nước ngoài cư trú tại việt nam đi du lịch nước ngoài, thực hiệncác chương trình du lịch đã bán hoặc ký hợp đồng uỷ thác từng phần, chọngói cho lữ hành nội địa
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều công ty lữ hành có phạm vi hoạtđộng rộng lớn mang tính toàn cầu và trong hầu hết các lĩnh vực của hoạtđộng du lịch Các công ty lữ hành đồng thời sở hữu các tập đoàn khách sạn,các hãng hàng không, tàu biển, ngân hàng, phục vụ chủ yếu khách du lịchcủa công ty lữ hành Kiểu tổ chức các công ty lữ hành nói trên rất phổ biến
ở Châu Âu, Châu Á và đã trở thành những tập đoàn kinh doanh du lịch cókhả năng chi phối mạnh mẽ thị trường du lịch quốc tế Ở giai đoạn này thìcông ty lữ hành không chỉ là người bán ( phân phối), người mua sản phẩm
Trang 4của các nhà cung cấp du lịch mà trở thành người sản xuất trực tiếp ra cácsản phẩm du lịch từ đó có thể nêu một định nghĩa công ty lữ hành như sau:
Công ty lữ hành là một loại hình doanh nghiệp du lịch đặc biệt, kinhdoanh chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức xây dựng, bán và tổ chức thực hiệnchương trình du lịch chọn gói cho khách du lịch, ngoài ra công ty lữ hànhcòn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhàcung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khácđảm baỏ nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng
1.1.2 Nội dung của kinh doanh lữ hành
1.1.2.1 Hệ thống sản phẩm của công ty lữ hành
Sự đa dạng trong hoạt động lữ hành du lịch là nguyên nhân chủ yếudẫn tới sự phong phú, đa dạng các sản phẩm cung ứng của công ty lữ hành.Căn cứ vào tính chất và nội dung, có thể chia các sản phẩm của các công ty
lữ hạnh thành 3 nhóm cơ bản:
* Sản phẩm dịch vụ trung gian:
Chủ yếu do các đại lý du lịch cung cấp Trong hoạt động này, các đại lý
du lịch thực hiện các hoạt đông bán sản phẩm của các nhà sản xuất tớikhách du lịch các đại lý du lich không tổ chức sản xuất các sản phẩm củabản thân đại lý, mà chỉ hoạt đông như một đại lý bán hoặc một đIểm bánsản phẩm của các nhà sản xuất du lịch các dịch vụ trung gian chủ yếu baogồm:
Đăng ký đặt chỗ và bán vé máy bay
Đăng ký đặt chỗ và bán vé trên các loại phưởng tiện khác: tàuthuỷ, đường sắt, ô tô
Môi giới cho thuê xe ô tô, xe máy, xe đạp
Môi giới và bán bảo hiểm
Đăng ký đặt chỗ và bán các chương trình du lịch
Trang 5 Đăng ký đặt chỗ trong khách sạn
Các dịch vụ môi giới trung gian khác
* Các chương trình du lịch trọn gói:
Hoạt động du lịch trọn gói mang tính chất đặc trưng cho hoạt động
lữ hành du lịch các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sảnxuất riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch vớimột mức giá gộp Có nhiều tiêu thức để phân loại các chương trình du lịch
Ví dụ như các chương trình du lịch mội địa và quốc tế, các chương trình dulịch dài ngày và ngắn ngày, các chương trình tham quan văn hoá và cácchương trình giải trí Khi tổ chức các chương trình du lịch chọn gói, cáccông ty lữ hành có trách nhiệm đối với khách du lịch cũng như các nhà sảnxuất ở một mức độ cao hơn nhiều so với hoạt động trung gian
* Các hoạt động kinh doanh lữ hành tổng hợp.
Trong quá trình phát triển, các công ty lữ hành có thể mở rộng phạm
vi hoạt động của mình, trở thành những người sản xuất trực tiếp ra các sảnphẩm du lịch Vì lẽ đó các công ty lữ hành lớn trên thế giới hoạt động tronghầu hết các lĩnh vực có liên quan đến du lịch
Kinh doanh khách sạn, nhà hàng
Kinh doanh các dịch vụ vui chơi, giải trí
Kinh doanh vận chuyển du lịch: hàng không, đường thuỷ
Các dịch vụ ngân hàng phục vụ khách du lịch
Các dịch vụ này thường là kết quả của sự hợp tác, liên kết trong dulịch Trong tương lai, hoạt động lữ hành du lịch càng phát triển, hệ thốngsản phẩm của các công ty lữ hành càng phong phú
1.1.2.2 Vai trò của công ty lữ hành
Khi thực hiện các hoạt động kinh doanh lữ hành các công ty lữ hành đãmang lại những lợi ích:
Trang 6* Lợi ích cho nhà cung cấp:
Các công ty lữ hành sẽ cung cấp các nguồn khách lớn, ổn định và có kếhoạch Mặt khác trên cơ sở các hợp đồng được ký kết giữa hai bên giữa cácnhà cung cấp đã chuyển bớt một phần những rủi ro có thể xảy ra tới cáccông ty lữ hành
Các nhà cung cấp thu được nhiều lợi ích từ các hoạt động quảng cáo,khuyếch trương của các công ty lữ hành đặc biệt đối với các nước đangphát triển, khi khả năng tài chính còn hạn chế, thì mối quan hệ với các công
ty lữ hành lớn trên thế giới là phương pháp quảng cáo hữu hiệu đối với thịtrường du lịch quốc tế
* Lợi ích cho khách du lịch:
Khi sử dụng dịch vụ của các công ty lữ hành khách du lịch tiết kiệmđược cả thời gian và chi phí cho việc tìm kiếm thông tin, tổ chức sắp xếpcho chuyến du lịch của họ
Không những thế khách du lịch còn được thừa hưởng những tri thức vàkinh nghiệm của chuyên gia tổ chức du lịch tại các công ty lữ hành, cácchương trình vừa phong phú, hấp hẫn vừa tạo điều kiện cho khách du lịchthưởng thức một cách khoa học nhất
Một lợi thế khác là mức giá thấp của các chương trình du lịch, các công
ty lữ hành có khả năng giảm giá thấp hơn rất nhiều so với mức giá công bốcủa các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, điều này đảm bảo cho các chươngtrình du lịch luôn có mức giá hấp dẫn đối với khách
Một lợi thế không kém phần quan trọng là các công ty lữ hành giúp chokhách du lịch cảm nhận được phần nào sản phẩn trước khi họ quyết địnhmua và thực sự tiêu dùng nó Các ấn phẩm quảng cáo, và ngay cả những lờihướng dẫn của các nhân viên bán sẽ là những ấn tượng ban đầu về sản
Trang 7phẩm du lịch Khách du lịch vừa có quyền lựa chon vừa cảm thấy yên tâm
và hài lòng với chính quyết định của bản thân họ
* Lợi ích cho điểm đến du lịch:
Các nhà kinh doanh lữ hành tạo ra mạng lưới marketing du lịch quốc tế.Thông qua đó mà khai thác được các nguồn khách, thu hút khách du lịchđến với điểm du lịch, giới thiệu trực tiếp sản phẩm của nơi đến thông quatiêu dùng và mua sắm của khách quốc tế tại nơi đến du lịch
1.1.3 Đặc điểm của kinh doanh lữ hành và các nhân tố ảnh hưởng tới kinh doanh lữ hành
1.1.3.1 Đặc điểm của kinh doanh lữ hành
Các công ty lữ hành tạo ra các sản phẩm của mình bằng cách tập hợpcác sản phẩm riêng rẽ như dịch vụ khách sạn, vé máy bay, ô tô, tàu thuỷ vàcác chuyển tham quan thành một sản phẩm (chương trình du lịch) hoànchỉnh và bán cho khách hàng với một mức giá gộp Ở đây công ty lữ hànhkhông chỉ dừng lại ở người bán mà trở thành người mua sản phẩm của cácnhà cung cấp du lịch Tại bắc mỹ, công ty lữ hành được coi là các công tyxây dựng các chương trình du lịch bằng cách tập hợp các thành phần nhưkhách sạn, hàng không, tham quan và bán chúng với một mức giá gộp chokhách du lịch thông qua hệ thống các đại lý bán lẻ
Ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành được định nghĩa: “doanh nghiệp lữhành là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, được thành lậpnhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp đồng du lịch và
tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”(thông
tư hướng dẫn thực hiện nghị định 09/CP của chính phủ về tổ chức và quản
lý các doanh nghiệp du lịch TCDL – số 715/TCDL ngày 9/7/1994)
1.1.3.2 Một số nhân tố ảnh hưởng tới kinh doanh lữ hành
* Cung, cầu du lịch
Trang 8Cung du lịch mang tính chất cố định không thể di chuyển còn cầu dulịch lại phân tán ở khắp mọi nơi Cung du lịch trong phạm vi nào đó tươngđối thụ động trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình Cầu du lịch mang tínhchất tổng hợp, trong khi mỗi một đơn vị trong kinh doanh du lịch chỉ đápứng một (hoặc một vài) phần của cầu du lịch Các doanh nghiệp kinhdoanh lữ hành phải tạo ra các sản phẩm của mình thoả mãn nhu cầu củakhách dựa trên các sản phẩm của các nhà cung cấp.
* Cơ chế chính sách của nhà nước
Là nghành kinh tế tổng hợp, nên hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp kinh doanh lữ hành liên quan đến nhiều ngành khác trong mối quan
hệ tương hộ, mà yếu tố chủ yếu là tổ chức quản lý và cơ chê chính sách Đểđạt được các mục tiêu đặt ra trong kinh doanh lữ hành, cẩn phải có mộtkhung pháp lý đồng bộ, liên ngành tạo môi trường thông thoáng, thuận lợicho phát triển lữ hành Như vậy công tác tổ chức, quản lý cần được kiệntoàn, đổi mới, cơ chế chính sách về du lịch cần được bổ sung, sửa đổi
* Sự phát triển của nền kinh tế
Nền kinh tế có phát triển thì du lịch mới phát triển, bởi du lịch làmang tính liên nghành rất cao, cho nên nó chỉ phát triển khi có sự phát triểnđồng bộ của các ngành kinh tế bổ trợ Nền kinh tế có phát triển thì dânchúng mới có nhiều điều kiện để đi du lịch
* Tình hình ổn định chính trị và an toàn
Một quốc phải có tình hình chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hộitốt thì mới có khả năng thu hút khách, và khi đó hoạt động động kinhdoanh lữ hành mới được tiến hành một cách thuận lợi
* Sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ quảng cáo: truyền hình, internet, báo chí ứng dung trong kinh doanh lữ hành
Trang 9Trong bối cảnh hiện nay khi hàm lượng khoa học và công nghệ trongmỗi sản phẩm xã hội ngày càng cao, nước ta đang bước vào phát triển nềnkinh tế tri thức Các sản phẩm nghiên cứu khoa học sẽ là cơ sở cho công tyứng dụng, hoạch định chiến lược thị trường, đa dạng hoá và nâng cao chấtlượng sản phẩm Sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ quảngcáo sẽ giúp các công ty có khả năng giới thiệu tốt hơn các sản phẩm hữuhình của mình.
Ngày nay với sự phát triển của Internet, rất nhiều quốc gia đã ứngdụng những thành tựu này vào trong kinh doanh lữ hành, đó chính là nhữngứng dụng trong kinh doanh điện tử và thương mại điện tử, thực tế đã chứngminh vai trò của chúng là hết sức quan trọng Trong khi đó hoạt động kinhdoanh lữ hành quốc tế là thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế, chonên chúng ta phải biết cách làm sao để ứng dụng được những thành tựunày
1.2 Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử và vai trò của chúng trong kinh doanh lữ hành
1.2.1 Khái niệm và vai trò của thương mại điện tử và kinh doanh điện
tử trong kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử, kinh doanh điện tử
* Khái niệm kinh doanh điện tử
Kinh doanh điện tử là tự động hoá quá trình kinh doanh đồng thờinâng cao tính hiệu quả và chất lượng sản phẩm, dịch vụ Nó giúp tạo mốitiếp xúc trực tiếp giữa các hệ thống đối tác để quản lý khả năng đáp ứng từcác nhà cung cấp hoặc giảm thời gian chờ để làm các chương trình du lịchtheo yêu cầu của khách hàng cũng như những quản lý các giao dịch này từnguồn, thay vì phải trải qua những thủ tục giấy tờ phức tạp, công tác nhậpliệu tốn kém song lại nhiều sai sót
Trang 10* Khái niệm Thương mại điện tử
Theo định nghĩa rộng rãi và giản dị nhất, và đã được chấp nhận phổbiến, thì thương mại điện tử là việc sử dụng các phương pháp điện tử đểlàm thương mại; nói chính xác hơn, tThương mại điện tử là việc trao đổithông tin thương mại thông qua cac phương tiện công nghệ điện tử, mà nóichung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn bộquá trình giao dịch
1.2.1.2 Vai trò của kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trong kinh doanh
1.2.1.2.1 Nắm được thông tin phong phú
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trước hết giúp cho cácdoanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế – thương mại, nhờ
đó, có thể xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với
xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và thị trương quốc tế.Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiệnnay đang được nhiều nước quan tâm, coi là một trong một những động lựcphát triển chủ yếu của nền kinh tế
1.2.1.2.2 Giảm chi phí sảm xuất
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử giúp giảm chí phí sảnxuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ chiếmdiện tích rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần;theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng nàyđạt tới 30% Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giảiphóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu pháttriển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài
1.2.1.23 Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
Trang 11Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bánhàng và chi phí tiếp thị Bằng phương tiện Internet- Web, một nhân viênbán hàng có thể giao dich với rất nhiều khách hàng, Ca-ta-lo điện tử(electronic catalogue ) trên Web phong phú hơn nhiều và thương xuyên cậpnhật so với ca-ta-lo in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời.Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, nay đã có tới 50% kháchhàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet ( và còn nhiều hơn nữa các đơn đặthàng về lao vụ kỹ thuật ), và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại
Điều này đặc biệt quan trọng khi mà các công ty lữ hành luôn phảicấp nhật mức giá cho khách hàng, đảm bảo quá trình phục vụ khách hàngtốt hơn, do mức giá và quy định của các nhà cung cấp luôn thay đổi theomùa và chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan, ảnh hưởng rất lớn đếngiá bán của các doanh nghiệp
1.2.1.2.4 Giảm chi phí giao dịch và nâng cao khả năng xử lý giao
dịch
Mục tiêu của việc tiến hành kinh doanh điện tử đối với các doanhnghiệp là sử dụng Website để nâng cao khả năng xử lý giao dịch và thôngtin quan trọng liên quan tới những dữ liệu tài chính, dịch vụ bán hàng, sảnxuất, phân phối, quản trị dự án, quản trị nhân lực và quan hệ khách hàng
Công nghệ kinh doanh điện tử mới sẽ cho phép tự động hoá các quátrình kinh doanh trong việc nắm giữ thông tin và các quy trình thuộc về cácnhân viên điều hành có kỹ năng cao Công nghệ sẽ cho phép các nhân viênnày tác động tới những giao dịch mà trước đây không thể tối ưu hoá được.Cùng lúc đó, quá trình tự động hoá sẽ cho phép giảm thời gian các nhânviên điều hành này tiến hành những hoạt động tìm kiếm thông tin về cácnhà cung cấp để tập trung hơn vào việc đàm phán các hợp đồng với các nhàcung cấp
Trang 12Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử qua Internet- Web giúp ngườitiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giaodịch( giao dich được hiểu là qúa trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giaodich mua và bán các chương trình du lịch, giao dịch thanh toán) Thời giangiao dịch qua internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằngkhoảng 0,5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện; chi phí giao dichqua internet chỉ bằng 5% chi phí giao dich qua Fax hay qua bưu điệnchuyển phát nhanh; chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10%tới 20% chi phí thanh toán thông thường
Tốc độ và chi phí chuyển gửi
New York đi Tokyo
New York đi Los Angeles
Trong hai yếu tố cắt giảm này, yếu tố thời gian đáng kể hơn, vì việcnhanh chóng làm cho thông tin sản phẩm tiếp cận người tiêu thụ ( màkhông phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn đối với việc kinh doanh lữhành và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Vì việc traođổi thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện với khách hàng, sẽ giúp chocác nhà kinh doanh lữ hành sớm lắm bắt được nhu cầu khách giúp kịp thờithay đổi phương án sản phẩm bám sát được với nhu cầu của thị trường
Trang 131.2.1.2.5.Giúp thiết lập và củng cố quan hệ với khách hàng và đối tác.
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử cho phép khách hàng cóđược thông tin về chương trình du lịch của họ chẳng hạn như giờ tàu, máybay, những thông tin và các loại dịch vụ vận chuyển này…
Việc tích hợp phần mềm kế toán với công nghệ nền thương mại điện
tử sẽ giúp các công ty sử dụng tốt hơn những thông tin về khách hàng vàkhả năng đáp ứng của các nhà cung cấp Điều đó cho phép người sử dụngchỉ việc quan tâm đến việc duy trì một cơ sở dữ liệu duy nhất trong hệthống thông tin của công ty Việc tích hợp chặt chẽ với quá trình quản lýđơn đặt chương trình sẽ giúp giảm được công việc nhập liệu đơn điệu, lặp
đi lặp lại cũng như giảm số lỗi mắc phải vì giờ đây khách hàng có thể tựphục vụ bản thân
Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mốiquan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình thương mại: thông quamạng( nhất là dùng Internet/Web) các thành tố tham gia ( người tiêu thụ,doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tụcvới nhau ( liên lạc “ trực tuyến” ) gần như không còn khoảng cách địa lý vàthời gian nữa; nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hànhnhanh chóng và liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mớiđược phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toànthế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn
1.2.1.2.6 Tạo điều kiện sớm tiếp cận “ kinh tế số hoá “
Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt thương mại điện tử sẽ kíchthích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận caonhất và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế ( ở Mỹ đã chiếm tỷtrọng khoảng 12- 13%, và sẽ nên trên 15% trong tương lai không xa ); nhìnrộng hơn Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền
Trang 14kinh tế số hoá (digital economy) mà xu thế và tâm quan trọng đã được đềcập ở trên Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang pháttriển: nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hoá hay còn gọi
là nền “kinh tế ảo”, thì sau khoảng một thập kỷ nữa nước đang phát triển cóthể bị bỏ rơi hoàn toàn Khía cạnh lợi ích này mang tính tiềm tàng, tínhchiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển mà các nước chưa côngnghiệp hoá cần lưu ý; vì có luận điểm cho rằng: sớm chuyển sang kinh tế
số hoá thì một số nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhẩy vọt(leapfrog) ,có thể tiến kịp các nước đã đi trước trong một thời gian ngắnhơn
1.2.1.2.7 Tạo ra những cơ hội kinh doanh mới
Với việc ngày càng nhiều doanh nghiệp du lịch giao dịch quaInternet, sẽ xuất hiện thêm nhiều các cơ hội kinh doanh nhờ vào việc liênkết hệ thống máy tính của công ty với hệ thống máy tính của các kháchhàng và các nhà cung cấp dịch vụ nhằm đơn giản hoá việc đặt hàng, xử lýhoá đơn và các giao dịch quan trọng khác
Cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều chuẩn công nghiệp chonhững dạng thức giao dịch cũng như XML( ngôn ngữ đánh dấu văn bản cóthể mở rộng), cơ hội cho việc cung cấp cấp các dịch vụ thuận tiện, với chiphí thấp hơn và hiệu quả hơn thông qua việc liên kết máy tính trực tiếp vớicác đối tác ngày càng mở rộng ra trước mắt mọi người Trong khi đó, cáccổng (gateways) trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) sẽ mang lại cho các công tykhả năng tự động hoá các giao dịch với những khách hàng muốn sử dụngdạng thức giao dịch cũ xưa này cho các giao dịch cả trong lẫn ngoài công
ty như các yêu cầu đặt mua hàng, chào bán hàng, ký phát hoá đơn …
1.2.2 Các hình thức hoạt động và ứng dụng của kinh doanh điện tử và thương mại điện tử
Trang 151.2.2.1 Thư điện tử
Các đối tác ( người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ)
sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trưc tuyến” thôngqua mạng gọi la thư tín điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail) Đây làmột thứ thông tin ở dang “phi cấu trúc “ (unstructuredform) nghĩa là thôngtin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận (là điếu khác với “ traođổi dữ liệu điện tử” sẽ nói dưới đây)
1.2.2.2 Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử là quá trình thành toán dựa trên hệ thống thanh toántài chính tự động mà ở đó diễn ra sự trao đổi các thông điệp điện tử vớichức năng là tiền tệ , thể hiện giá trị của một cuộc giao dịch Ngày nay,với
sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã mở rộng sangcác lĩnh vực mới; đáng đề cập là:
1) Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính chuyên phục vụ cho việc thanhtoán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử
2) Tiền mặt Internet là tiền mặt được mau từ một nơi phát hành, sau đóđược chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng
cả trong phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia; tất cả đều đuọcthực hiện băng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “ tiềnmặt số hoá “
3) Túi tiền điện tử nói đơn giản là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu
là thẻ khôn minh, tiền được trả cho bất cứ ai đọc được thẻ đó Kỹ thuật củatuí tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật “ mã hoá khoá công khai/ bí mật “,tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “ tiền mặt Internet “
4) Thẻ khôn minh, nhìn bề ngoài tương tự như thẻ tín dụng, nhưng ởmặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một chíp điện tử có một bộ nhớ
Trang 16nhỏ để lưu trữ tiền số hoá, tiền ấy chỉ được “ chi trả” khi người sử dụng vàthông điệp được xác thực là “ đúng “
5) Giao dịch ngân hàng số hoá, và giao dịch chứng khoán số hoá
Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống, gồmnhiểu tiểu hệ thông: (1) thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng, (2)thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán, ( 3) thanh toán trongnội bộ một hệ thống ngân hàng, (4) thanh toán giữa hệ thống ngân hàngnày với hệ thống ngân hàng khác
1.2.2.3 Trao đổi dữ liệu điện tử
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử qua biên giới về bản chấtchính là trao đổi dữ liệu điện tử giữa các doanh nghiệp mà được thực hiệngiữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung:
- Giao dịch kết nối
- Đặt hàng
- Giao dịch gửi hàng
- Thanh toán
1.2.2.4 Giao dịch thương mại điện tử
Giao dịch thương mại điện tử, với chữ “ thương mại” được hiểu với đầy
đủ các nộ dung như đã ghi trong Đạo luật mẫu về Thương mại điện tử củaLiên hiệp quốc bao gồm bốn kiểu:
- Người với Người: qua điện thoại , máy Fax và thư điện tử
- Người với Máy điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử vàqua “võng thị toàn cầu “
- Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao đổi dữ liệu điện tử,các dữ liệu mã hoá bằng vạch
- Máy tính điện tử với Người: qua thư tin do máy tính tự động sảnxuất ra, máy fax, thư điện tử
Trang 17Dưới đây là sơ đồ tổng quát của giao tiếp thương mại điện tử như đãđược trình bày tại hội nghị quốc tế về thương mại điện tử:
Người với người(điện thoại, thư điện tử, Fax)
Máy tính điện tử với máy tính điện tử( EDI, thẻ khôn minh, mãvạch)
1.2.2.5 Bán lẻ các hàng hoá hữu hình
Trang 18Người mua hàng sử dụng Internet/Web tìm Web của doanh nghiệp,xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền.
Ngày nay, người ta hay sử dụng phần mềm mua hàng gọi là “ xemua hàng” hoặc “ giỏ mua hàng” mà trên màn hình có dạng tương tựnhư “giỏ mua hàng” hoặc “xe mua hàng” thật mà người mua thườngdùng khi họ vào cửa hàng siêu thị Xe hoặc giỏ mua hàng này đi theongười mua suốt quá trình chuyển từ trang Web này sang trang Webkhác để chọn hàng, khi tìm được món hàng nào vừa ý người mua nhấnphím “ hăy bỏ vào xe/ giỏ”; các xe/giỏ này có nhiệm vị tự động tính tiền( kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua
1.2.2.6 Các bên tham gia thương mại điện tử
Giao dịch Thương mại điện tử với “ thương mại” được hiểu với nộidung đã ghi trong Đạo mẫu về thương mại điện tử Liên hợp quốc, diễn
ra bên trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) Doanh nghiệp; (2)Chính phủ; và (3) Người tiêu thụ Mô hình giao dịch thể hiện trong hìnhdưới đây:
các biểu mẫu điện tử, các biểu mẫu,
FAX, điện thoại, thư điện tử
Người tiêu dùng
Doanh
nghiệp
Chính phủ
Trang 19FAX, các biểu mẫu điện tử
EDI, các biểu mẫu điện thoại
điện tử, thẻ khôn minh, các biểu mẫu điện tử
mã vạch điện thoại, FAX, thư điện tử
thư điện tử
(FDI- trao đổi dữ liệu điện tử)
Các giao dịch này được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau bao
gồm: - Giữa doanh nghiệp với người tiêu thụ: mục đích cuối cùng là
dẫn tới việc người tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửahàng
- Giữa cá doanh nghiệp với nhau: trao đổi dữ liệu, mua bán và thanh toán
hàng hoá và lao vụ, mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sảnxuất và kinh doanh
- Giữa doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm vào các mục đích
(1) mua sắm chinh phủ theo kiểu trực tuyến, (2) các mục đích quản lý, (3)thông tin
- Giữa người tiêu thụ với các cơ quan chính phủ: các vấn đề về: thếu, dịch
vụ hải quan, phòng dịch, thông tin…
- Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin.
1.2.2.7 Hình thái hợp đồng thương mại điện tử
Doanh
nghiệp
Chính phủ
Trang 20Thương mại điện tử bao quát cả giao dịch có hợp đồng và giao dịchkhông có hợp đông Xét riêng về giao dịch có hợp đồng, thì do đặc thù củagiao dịch điển tử, hợp đồng Thương mại điện tử có một số điểm khác biệt
so với hợp đồng thông thương:
1 Địa chỉ pháp lý của các bên: ngoài điạ chỉ địa lý, còn có địa chỉ Email,
mã doanh nghiệp
2 Có các quy định về phạm vi thời gian, và phạm vi địa lý của giao dịch
3 Có kèm theo các văn bản và ảnh miêu tả sản phẩm, hoặc dung lượng traođổi, và quy định trách nhiệm về các sai sót trong văn bản hoặc ảnh chụp
4 Có các quy định về xác nhận điện tử các giao dịch, về quyền truy cập vàcải chính thông tin điện tử và cách thực thi quyền này
5 Có các quy định đảm bảo rằng các giao dịch điện tử được coi là chứng
cớ pháp lý về bản chất và ngày thàng giao dịch
6 Có các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử
7 Có quy định về trung gian đảm bảo chất lượng
1.2.2.8 Các ứng dụng khác của kinh doanh điện tử
Kinh doanh điện tử cũng sẽ cải thiện mối liên lạc với khách hàng vàtrong nội bộ doanh nghiệp Những công ty cung cấp phần mềm cho kinhdoanh hiện đang đưa ra cổng truy nhập (portal), có thể tiếp cận bằng trìnhduyệt, cho phép nhân viên cũng như các đối tác kinh doanh có thể xử lý cácgiao dịch cũng như báo cáo về công việc kinh doanh ở bât kỳ đâu trên thếgiới miễn là họ sử dụng Internet
Một đặc tính mới cho phép phần mềm kế toán có thể nhận nhữngthông tin về các khoản tiền gửi của khách do các ngân hàng chuyển về và
sử dụng thông tin này để tự động xử lý những tấm séc hay những khoảntiền gửi này
Trang 21Kinh doanh điện tử cũng giúp hệ thống thông tin của doanh nghiệpphát triển vượt ra khỏi tầm hoạt động của phòng kế toán công ty Các nhânviên, khách hàn, người cung cấp cũng như các đối tác của bạn, tất cả đềuthu được lợi ích từ hình thức báo cáo qua Internet trong khi ban quản lý cóthể tin chắc rằng những thông tin này được bảo mật và chỉ những ai cóquyền truy nhập mới tiếp cận được thông tin này.
Một phần mềm kế toán mới hiện có thể đưa ra khả năng báo cáo trênWebsite Các bản báo cáo theo tiêu chuẩn hoặc đã được tuỳ biến sẽ đượctruy xuất và người sử dụng có thể hoặc là xem tóm tắt bản báo cáo hoặcxem toàn bộ bản báo cáo đó, tuỳ vào quyền truy nhập của họ Công ty cóthể đưa ra những báo cáo sử dụng những dạng thức báo cáo tiên tiến nhất,được trình duyệt hỗ trợ như Active X, Java hay HTML
Ngoài việc phát hành trên Website, các báo cáo còn có thể đươc gửiqua thư điện tử tới bất kỳ ai ở trong hay ngoài tổ chức Một cách tiếp cậntiên tiến hơn là đưa ra thông tin báo cáo cô đọng tại một thời điểm cụ thể,đồng thời cho phép mọi người đưa ra những thông tin riêng theo góc nhìncủa họ
1.2.3 Các phương tiện kỹ thuật của kinh doanh điện tử và thương mại điện tử
1.2.3.1 Điện thoại
Toàn thế giới hiện đang có khoảng 1 tỷ đường dây thêu bao điệnthoại, và khoảng 340 triệu người dùng điện thoại vô tuyến Điện thoại làmột phương tiện phổ thông dễ sử dụng và thường mở đầu cho các cuộcgiao dịch thương mại Tuy nhiên, trên quan điểm kinh doanh, công cụ điệnthoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, mọi cuộc giao dịchcuối cùng vẫn phải kết thúc bằng giấy tờ; ngoài ra, chi phí giao dịch điệnthoại, nhất là điện thoại đường dài và điện thoại ngoài nước vẫn còn cao
Trang 221.2.3.2 Máy điện báo( Telex) và FAX
Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và giửi công văn truyềnthống; và nay gần như đã thay thế hẳn máy Telex chỉ chuyển lời văn.Nhưng máy Fax có một số mặt hạn chế như: không thể truyền tải được âmthanh, hình ảnh động, hình ảnh 3 chiều…, ngoài ra giá máy và chi phí sửdụng còn cao
1.2.3.3 Truyền hình
Toàn thế giới hiện có khoảng một tỷ máy thu hình, số người sử dụngmáy thu hình rất lớn, đã khiến cho truyền hình trở thành một trong nhữngcông cụ điện tử phổ thông nhất ngày nay Truyền hình đóng vai trò quantrọng trong thương mại, nhất là trong quảng cáo hàng hoá, ngày càng cónhiều người mua hàng nhờ xem quảng cáo trên truyền hình, một số dịch vụ
đã được cung cấp qua truyền hình, đặc biệt là sản phẩm của du lịch là hữuhình, chính vì vậy quảng cáo qua truyền hình sẽ giúp cho khách hàng cảmnhận một phần nào đó sản phẩm của các công ty lữ hành Song truyền hìnhchỉ là một công cụ viễn thông “ một chiều”; qua truyền hình khách hàngkhông thể tìm kiếm được các chào hàng, không thể đàm phán với ngườibán về các điều khoản mua bán cụ thể Nay, máy thu hình được nối kết vớimáy điện tử thì công dụng của nó được mở rộng hơn
1.2.3.4 Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử được thực hiện thông qua các hệ thống thanhtoán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự độngchuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác Thanh toán điện tử sửdụng rộng rãi các máy rút tiền tự động( ATM), thẻ tín dụng cá loại, thẻmua hàng, thẻ khôn minh Nếu trong tương lai gần, các ngân hàng ViệtNam áp dụng được hình thức thanh toán này và doanh nghiệp du lịch tíchcực tham gia vào dịch vụ này thì sẽ làm giảm được nỗi lo cho khách trong
Trang 23quá trình đi du lịch, họ không phải mang nhiều tiền mặt đi theo, không sợ
bị mất và trấn lột
1.2.3.5 Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ
Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một xínghiệp hay cơ quan và các liên lạc mọi kiểu giữa các máy tính điện tử trong
cơ quan xí nghiệp đó, cộng với các liên lạc di động.Theo nghĩa hẹp, đó làmạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau, gọi là mạng LAN; hoặc nối kếtcác máy tính trong một khu vực rộng lớn hơn, gọi là mạng miền rộngWAN Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau sẽ tạo thành liên mạngnội bộ và tạo ra một cộng đồng điển tử liên xí nghiệp
1.2.3.6 Internet và Web
Khi kết nối Internet, ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng vớinhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP.Web giống như một thư viện khổng lồ có nhiều triệu cuốn sách, hay nhưmột cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang chứa một gói tin
có nội dung nhất đinh: một quảng cáo, một bài viết…Mà số trang khôngngừng tăng lên, không theo một trật tự nào cả
1.2.4 Sự cần thiết phải ứng dụng thương mại điện tử và kinh doanh
điện tử vào hoạt động kinh doanh Lữ hành
Từ những đặc điểm của kinh doanh lữ hành và những tính chất, vaitrò quan trọng của thương mại điện tử như đã trình bày ở trên, chúng tathấy rằng cần phải áp dụng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử vàotrong kinh doanh lữ hành, bởi nó sẽ tận dụng được những lợi thế củathương mại điện tử, đồng thời khắc phục được những nhược điểm vốnmang tính hữu hình của sản phẩm du lịch:
* Các lợi thế chung
- Thu thập thông tin một cách thuận lợi và dễ dàng
Trang 24- Giảm chi phí sản xuất, từ đó sẽ làm giảm giá thành, nâng cao tính cạnhtranh của doanh nghiệp
- Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị giao dịch
- Hỗ trợ, thiết lập và củng cố đối tác, khách hàng
- Giảm ách tắc giao thông, tệ nạn xã hội
* Các ưu điểm nổi trội trong kinh doanh lữ hành
- Tiết kiệm thời gian giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp và thời gian tìmhiểu sản phẩm của khách hàng, làm cho quá trình trao đổi thông tin vớikhách được thuận tiện nhanh chóng hơn
- Giải quyết việc phân đoạn về mặt địa lý của cầu trong du lịch
- Giúp khách du lịch định hình được sản phẩm trước khi sử dụng
- Giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận với đối tác thông qua gian hàng trực tuyến( Website )
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng trong việc hữu hình hoá sản phẩm du lịchthuận lợi cho hoạt động xúc tiến du lịch
1.2.5 Nội dung tiến hành ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại
điện tử vào hoạt động kinh doanh lữ hành
1.2.5.1 Các cấp độ ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện
tử
Việc ứng dụng cấp độ kinh doanh điện tử và thương mại điện tử nàovào hoạt động kinh doanh lữ hành của công ty phụ thuộc vào loại hình kinhdoanh và nguồn lực của công ty
Cấp độ 1.1: Sử dụng thư điện tử ( Email)
Đây là cấp độ ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử sơđẳng nhất Thay vì sử dụng các phương thức giao dịch thông thường nhưgửi thư truyền thống, gửi FAX, điện thoại, Thương mại điện tử cho phép
Trang 25thực hiện các giao dịch qua mạng Internet Cấp độ này được ứng dụngtrong hầu hết các hoạt động kinh doanh lữ hành từ việc giới thiệu sản phẩmcho khách hàng, đàm phán giao dịch, đặt hàng đến khâu cuối cùng là hỗ trợsau bán hàng Thư điện tử là loại hình trao đổi thông tin phổ biến nhất trênInternet, ở Việt Nam xu hướng sử dụng Email trong công tác giao dịch,trao đổi công việc cũng như các nhu cầu cá nhân đang ngày càng phổbiến Khi sử dụng email có thể gửi nhiều tài liệu trực tuyến cá nhân và tấtnhiên là tiện lợi hơn fax ở chỗ là nó không phải in ra và gửi qua máy faxđồng thời người nhân có thể đọc được từ bất kì máy tính nào có nối mạngtrên toàn thế giới Điều này rất tiện lợi và nhanh hơn nhiều so với gửi quabưu điện Ngoài văn bản ra có thể gửi âm thanh hình ảnh, các phần mềm …
có thể dễ dàng cùng một lúc gửi tài liệu đến nhiều người
Thực tế cho thấy, Email nhanh và rẻ hơn, linh hoạt so với máy FAX,dịch vụ bưu điện thông thường Đây là loại hình dùng để liên lạc trao đổithông tin với nhà cung cấp, khách hàng, đối tác và đồng nghiệp Gửi kèmemail có thể là các files văn bản hoặc hoặc bản tính như đơn đặt hàng, tiềuliệu về quy cách sản phẩm, báo giá, bảng tính chi phí hoặc thông tin hỗ trợquảng cáo Cũng có thể gửi kèm một đoạn âm thanh hoặc hình ảnh động.Việc sử dụng Email có thể minh hoạ bằng hình ảnh như sau:
Hình ảnh minh hoạ
Cấp độ 1.2: Sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin
Hiện có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng, tổ chức sử dụng Internet vàoviệc tìm kiếm thông tin Những thông tin về thị trường về đối thủ cạnhtranh, tin tức về các ngành công nghiệp khác, nghiên cứu dự án, thông tintài chính, tìm kiếm thông tin về khách hàng tiềm năng Cấp độ này được
Trang 26ứng dụng chủ yếu trong việc nghiên cứu thị trường, lập phương án kinhdoanh Có rất nhiều công cụ để tìm kiếm thông tin trên Internet như goole,yahoo, alvista…sau đây em xin đưa ra hình ảnh minh hoạ cho một công cụtìm kiếm phổ biến.
Hình ảnh minh hoạ
Cấp độ 2: Web quảng cáo
Ở cấp độ này Website của doanh nghiệp có chức năng như mộtchương trình quảng cáo về doanh nghiệp trên mạng Doanh nghiệp cần cótrang Web chứa dữ liệu về doanh nghiệp, một số thông tin cở bản về sảnphẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, các thông tin liên lạc như: địa chỉ, số điệnthoại, Fax, địa chỉ Email…Cấp độ này Website của doanh nghiệp có chứcnăng như một chương trình quảng cáo về doanh nghiệp trên mạng
Cấp độ 3.1: Đặt hàng trực tuyến và sử dụng dịch vụ trực tuyến
Doanh nghiệp có thể không có được một Website riêng nhưng doanhnghiệp vẫn có thể là một thành viên tích cực của Thương mại điện tử Bướcxuất điểm đầu tiên là đặt hàng trực tuyến tới nhà cung cấp, kiểm tra xemnhà cung cấp đã có trang Web để phát triển Thương mại điện tử chưa đểchúng ta tiến hành giao dịch với họ Cấp độ này phục vụ chủ yếu cho khâutạo nguồn cung cấp các dịch vụ cấu thành nên các chương trình du lịch củacác công ty lữ hành
Cấp độ 3.2; Website với đơn đặt hàng trực tuyến
Doanh nghiệp đưa thêm chức năng “xe mua hàng “ vào website Phầnmềm “ xe mua hàng” cho phép khách hàng lựa chọn chương trình du lịchcho vào rổ và đề nghị được mua chương trình trực tuyến Khi được chọn vàđược đặt chương trình du lịch trong “ xe mua hàng” Khi kết thúc giao
Trang 27dịch, đơn đặt hàng được chấp nhận cùng với những chi tiết về thanh toán( chủ yếu là việc cung cấp số thẻ tín dụng) Doanh nghiệp sẽ xác nhận lạichương trình du lịch, và việc thanh toán được thực hiện ở một tiến trìnhkhông trực tuyến Việc xây dựng Website với đơn hàng trực tuyến sẽ thaythế cho hầu hết các bước trong quy trình kinh doanh lữ hành, nhất là việcgiới thiệu sản phẩm, chấp nhận đơn đặt hàng - ký kết hợp đồng mua tourtrực tiếp với khách hàng.
Cấp độ 4.1: Website giao dịch business to business (B2B)
Website giao dịch bao quát toàn bộ tiến trình từ việc lựa chọn hàng hoáđặt hàng, chuyển hàng và xác nhận chuyển hàng tới việc thanh toán trựctuyến Thanh toán trực tuyến nghĩa là khi người mua chấp nhận những điềukiện thanh toán bằng thẻ tín dụng, thì việc thanh toán ngay lập tức đượcchuyển qua để ngân hàng tiến hành thanh toán Trong trường hợp này,Website cần phải được kết nối với hệ thống thanh toán điện tử ngân hàng
Cấp độ 4.2: Website có khả năng đáp ứng yêu cầu về thông tin, kết nối chia sẻ dữ liệu cho khách hàng, nhà cung cấp
Việc cung cấp thông tin về sản phẩm và đặt hàng trực tuyến là rất quantrong, nhưng đây là những công đoạn tốn rất ít thời gian và không quá phứctạp Công đoạn tiêu tốn thời gian chính là dịch vụ phục vụ khách hàng, đặcbiệt là trong việc đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của khách hàng Thông tin
về hiện trạng của sản phẩm và việc cung cấp các loại hoá đơn và cùng các
dữ liệu khác qua mạng, bởi một phần của Website được bảo vệ bằng mậtkhẩu đã làm giảm các yêu cầu bằng điện thoại và giấy tờ Bằng cách này,khách hàng có thể kiêm tra các thông tin bất kể lúc nào họ muốn Trongthực tế, có rất nhiêu doanh nghiệp đã áp dụng chức năng này cho Websitetrước khi đưa vào các chức năng như đặt hàng trực tuyến vì tính tiện lợicho khách hàng và tiết kiệm chi phí
Trang 28Cấp độ 5: Giải pháp toàn diện về kinh doanh điện tử và thương mại điện tử
Đây là cấp độ ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tửcao nhất nó cho phép áp dụng Công nghệ thông tin vào toàn bộ các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty Đạt đến cấp độ này công ty có thểthay thế toàn bộ quy trình kinh doanh lữ hành truyền thống bằng một quytrình mới thông qua Internet
Giải pháp toàn diện về kinh doanh điện tử và thương mại điện tử thể hiện ở những điểm sau:
1) Internet là một công cụ thông tin cho phép doanh nghiệp đưa sảnphẩm đến khách hàng trên toàn cầu
2) Để có thể hoạt động thương mại Internet và ra nhập thế giới kinhdoanh
3) Công đoạn đặt hàng là trọng tâm của thương mại điện tử: các đốitác thương mại muốn có thể xem qua các dữ liệu sản phẩm trước khi đưa rayêu cầu Đông thời, doanh nghiệp phải kiểm soát được hoá đơn và thanhtoán bằng phương pháp điện tử Người mua hàng cũng muốn biết về thờigian và địa điểm thực hiện chương trình du lịch
4) Các công đoạn hỗ trợ công đoạn đặt hàng phải được liên kết vàtạo thành hệ thống hoàn chỉnh thống nhất Công đoạn sau cần phải đượcnối tiếp công đoạn trước và sau đó nối với hệ thông kế toán kiểm kê.Trongtrường hợp bán lẻ hệ thống cho phép đặt hàng tự động cần được liên kếtvới hệ thống quản lý kiểm kê , một hệ thống đặt hàng tự động khác nối vớinhà cung cấp
5) Một phần mềm kế toán có thể nhận những thông tin về các khoảntiền gửi của khách do các ngân hàng chuyển về và sử dụng thông tin này để
tự động xử lý những tấm séc hay những khoản tiền gửi này
Trang 296) Kinh doanh điện tử cũng giúp hệ thống thông tin của doanh nghiệpphát triển vượt ra khỏi tầm hoạt động của phòng kế toán công ty Các nhânviên, khách hàng, người cung cấp cũng như các đối tác của bạn, tất cả đềuthu được lợi ích từ hình thức báo cáo qua Internet trong khi ban quản lý cóthể tin chắc rằng những thông tin này được bảo mật và chỉ những ai cóquyền truy nhập mới tiếp cận được thông tin này.
7) Một phần mềm kế toán có thể đưa ra khả năng báo cáo trênWebsite Các bản báo cáo theo tiêu chuẩn hoặc đã được tuỳ biến sẽ đượctruy xuất và người sử dụng có thể hoặc là xem tóm tắt bản báo cáo hoặcxem toàn bộ bản báo cáo đó, tuỳ vào quyền truy nhập của họ
Ngoài việc phát hành trên Website, các báo cáo còn có thể đươc gửiqua thư điện tử tới bất kỳ ai ở trong hay ngoài tổ chức Một cách tiếp cậntiên tiến hơn là đưa ra thông tin báo cáo cô đọng tại một thời điểm cụ thể,đồng thời cho phép mọi người đưa ra những thông tin riêng theo góc nhìncủa họ
1.2.5.2 Tiến trình ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp
Thương mại điện tử là một phương thức kinh doanh mới , do đó khi
áp dụng các doanh nghiệp cần phải có những bước đi trình từ phù hợp khảnăng của doanh nghiệp
Bước1: Nhận thức được kinh doanh điện tử và thương mại điện tử đang làm thay đổi hoạt động kinh doanh như thế nào
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử đang làm thay đổi phươngpháp tiến hành các hoạt động kinh doanh Các phương pháp kinh doanhtruyền thống có thể không còn được áp dụng được lâu trong môi trườngđiện tử Mỗi doanh nghiệp cần tìm kiếm một lĩnh vực kinh doanh trọngđiểm để có thể tồn tại Các đối tác kinh doanh và liên kết hoạt động của họ
Trang 30lại vì các đối thủ mới có thể thu hút mất khách hàng thông qua việc ứngdụng thương mại điện tử
Bước 2: Nghiên cứu tiến trình kinh doanh và lập kế hoạch cho sự thay đổi
Khi tiến hành ứng dụng công ty cần phải trả lời sau: công việc kinhdoanh của bạn liên quan như thế nào đến các nhà cung câp, khách hàng vànhân viên?; Công đoạn nào có thể cải tiến bằng cách sử ụng Internet? Tiếp
đó doanh nghiệp cần phải tiến hành lập quỹ tài chính, nghiên cứu khả năngứng dụng, chương trình ứng dụng, nghiên cứu môi trường trong và ngoàidoanh nghiệp Với những thông tin này, các doanh nghiệp xây dựng kếhoạch chiến lược, quyết định bắt đầu ứng dụng công đoạn nào và cấp độứng dụng ( mức độ sự thay đổi mà doanh nghiệp cần)
Bước 3: Sử dụng nhân lực trong và ngoài doanh nghiệp
Khi quyết định ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tửvào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải xem xét trình độ nguồnnhân lực trong doanh nghiệp, kiểm tra xem đã có kế hoạch thuê chuyên gia
kỹ thuật để thực hiện ứng dụng thương mại điện tử chưa Từ đó có kếhoạch thuê chuyên gia bên ngoài, đồng thời có kế hoạch đào tạo phù hợp.Việc này là cần thiết để đảm bảo hệ thống đáp ứng được sự mong đợi vàđòi hỏi
Bước 4: Thiết kế – cần sự đơn giản hài hoà
Thiết kế làm sao cho tiến trình hoạt động có hiệu quả và tiết kiệm chiphí là đòi hỏi cao nhất cả người lãnh đạo doanh nghiệp Do đó, mô hìnhhoạt động thương mại điện tử cần đáp ứng yêu cầu thay đổi và những vấn
đề mang tính thực tế nảy sinh
Bước 5: Đưa tiến trình hoạt động vào đúng vị trí
Trang 31Trong khi còn đang thiết kế trang Website và tìm kiếm các giải pháp
kỹ thuật, hoạt động của doanh nghiệp cần phải được điều chỉnh cho phùhợp với chiến lược về kinh doanh điện tử và thương mại điện tử Tiến trìnhhoạt động cần đặt trong mối liên hệ mật thiết đến các bộ phận của doanhnghiệp, các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là sự an toàn và tínhchất bí mật cá nhân Điều này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến niềm tincủa khách hàng đối với doanh nghiệp
Bước 6: Liên tục cập nhật và cải tiến
Doanh nghiệp cần thường xuyên nghiên cứu cải tiến hiện đại hoá và bảodưỡng hệ thống Khuyến mãi hết thời hạn, truy cập vào trang Website bịngắt quãng hay việc trả lời khách hàng bị chậm trễ sẽ làm xấu đi hình ảnh
về doanh nghiệp Mong muốn của khách hàng và điều kiện thị trường luônthay đổi nên chiến lược ứng dụng của doanh nghiệp cũng cần phải thay đổicho phù hợp
Bước 7: Cung cấp sự hỗ trợ cho khách hàng
Doanh nghiệp phải cung cấp một dịch vụ hỗ trợ khách hàng tốt, huớngdẫn họ ngay khi họ gặp phải những vấn đền trong việc sử dụng hệ thống.Chẳng có gì đảm bảo cho khách hàng của doanh nghiệp hơn việc doanhnghiệp cho khách hàng cho thấy sự toàn vẹn và tin cậy trong hoạt độngkinh doanh như trả lại tiền thừa hay bảo hành sản phẩm
Bước 8: Quảng cáo và khuyến khích sử dụng
Hoạt động Marketing cũng rất quan trọng trong lĩnh vực thương mạiđiện tử, Marketing có thể được thực hiện thông qua các biểu mẫu điện tử,chẳng hạn việc đặt các mục quảng cáo tại các trang Website phổ biến hoặcquảng cáo truyền thống như; quảng cáo qua báo chí, tivi, thư thông báo chocác đối tác…Khách hàng truy cấp trang web và thăm quan hệ thống doanhnghiệp là chưa đủ Khách hàng cần phải bị cuốn hút vào việc mua sản
Trang 32phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp hoặc thấy thân thiện với doanhnghiệp của bạn hơn Điều này có thể thực hiện bằng cách đưa ra các ưu đãinhư hoa hồng, sản phẩm miễn phí hoặc dịch vụ theo yêu cầu của kháchhàng.
1.2.5.3 Điều kiện để ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện
tử
Song song với những lợi ích rõ rệt có thẻ mang lại Kinh doanh điện tử
và thương mại điện tử đã và đang đặt ra hàng loại vấn đề giải quyết trên tất
cả các bình diện doanh nghiệp, quốc gia và quốc tế Những điều kiện đặt ra
là một tổng thể của hàng chục phức tạp đan xen trong một mối quan hệ hữu
cơ bao gồm:
1) Hạ tầng cơ sở công nghệ
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử vừa là đỉnh cao của quátrình tự động hoá quy trình thương mại truyền thống vừa là hệ quả tất yếucủa kỹ thuật số nói chung và công nghệ thông tin nói riêng Điều đó muốnnói rằng, để có thể triển khai kinh doanh điện tử và thương mại điện tử vàtriển khai thành công cần thiết phải có được một hạ tầng cơ sở công nghệthông tin vừa chắc, bao gồm tính toán điện tử và truyền thống điện tử Đểđảm bảo yêu cầu cơ sở đó, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin cần phải đảmbảo tính tuân theo chuẩn Hệ thống các chuẩn cần thiết phải được xem nhưmột phần trong hệ thống công nghệ thông tin và đạt tới mục tiêu chung làmọi thành viên tham gia kinh doanh điện tử và thương mại điện tử, kể cảngười tiêu dùng cá thể phải tuân theo
Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin phải đạt tới một độ ổn định cao,cho dù các sản phẩm công nghệ thông tin ( cứng, mềm) được sản xuấttrong nước hoặc mua của nước ngoài Yếu tố phải tính đến sự ổn định vềmức chi phí phù hợp với người tiêu dùng Hạ tâng cơ sở công nghệ thông
Trang 33tin liên quan chặt chẽ với an toàn thông tin, một vấn đề công nghệ vừa làcốt lõi, vừa là thách thức khó vượt qua của phần còn lại của thế giới từ cácnước phát triển.
2) Hạ tầng cơ sở nhân lực, trình độ công nghệ thông tin
Vì đây là một hình thái mới có nền tảng là công nghệ cao nên yêu cầumọi người tham gia thương mại phải có ý thức thói quen sử dụng nó, điềunày cũng một phần muốn nói tới vai trò quan trọng của hệ thống giáo dụcđào tạo, ở mức đơn giản nhất, có thể thấy mọi người phải có thói quên sửdụng Internet và mua hàng qua Internet Ở mức cao hơn, vận hành hệ thốngthương mại điện tử, dù trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu, cần thiết phải
có một đội ngũ các nhà tin học đủ khả năng vận hành đồng thời nắm bắt vàtriển khai các công nghệ mới phục vụ chung
Cần thiết phải có “ một ngôn ngữ chung “ cho xã hội mạng theo mộtcách nào đó Có hai cách để thiết lập ngôn ngữ chung: cách thứ nhất là xậydựng một ngôn ngữ mới chung cho xã hội mạng, tuy nhiên cách này khóthực hiện Cách thứ hai là sử dụng ngôn ngữ chung sẵn có là tiếng Anh, bởitrên thế giới số người sử dụng thành thạo tiếng Anh ngày một tăng nên, cácthành tựu khoa học công nghệ đều được thể hiện thông qua tiếng Anh Tuynhiên vể mặt này hiện tại ta chưa có một tình trạng tốt như các nước kháctrên thế giới Điều này cũng muốn nói tới gánh nặng của hệ thống giao dịch
và đằo tạo của mọi quốc gia và cộng đồng quốc tế
3) Bảo mật và an toàn
Giao dịch thương mại dựa trên các phương tiện điện tử, đặt ra các đòihỏi rất cao về bảo mật và an toàn, đặt biệt là trên Internet Bản chất củagiao dịch thương mại điện tử là gián tiếp, bên mua và bên bán, thậm chí làkhông biết về nhau, giao dịch thông với nhau thông qua các kênh truyềnhình hoàn toàn không xác định được Điều này dẫn đến tình trạng là cả
Trang 34người mua và người bán đều có những no ngại riêng về các vấn đề liênquan đến hoạt động thương mại của mình Chẳng hạn, người mua sợ số thẻtín dụng khi truyền đi trên mạng có thể bị kẻ xấu, thậm chí cả bên bán lợidụng và sử dụng bất hợp pháp; còn người bán no ngại thanh toán và quytrình thanh toán của bên mua…
4) Hệ thống thanh toán
Thực thi kinh doanh điện tử và thương mại điện tử yêu cầu phải có hệthống thanh toán điện tử, thương mại điện tử chỉ sử dụng được phần traođổi thông tin, quảng cáo tiếp thị…các hoạt động thương mại vẫn chỉ kếtthúc bởi hình thức thanh toán trực tiếp Có một đặc trưng của hệ thốngthanh toán cho dù là truyền thống hoặc điện tử đòi hỏi chế độ bảo mật rấtcao Chính vì vậy, các nghiên cứu và kết quả nghiên cứu nhằm vào lĩnhvực này ngày càng nhiều Ngoài ra hệ thống thanh toán điện tử cũng luôn
đi kèm với hệ thống mã hoá sản phẩm trên phạm vi toàn cầu
5) Bảo vệ cơ sở trí tuệ
Xu hướng hiện nay cho thấy, giá trị sản phẩm thể hiện ở khía cạnh chấtxám của nó, mà không phải ở bản thân nó, tài sản cơ bản của từng đấtnươc, từng tổ chức và từng con người đã và đang chuyển thành tài sản chấtxám là chủ yếu, thông tin trở thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ
có nghĩa là bảo vệ thông tin Vì vậy, vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bảnquyền của các thông tin trên Website ( các hình thức quảng cáo, các nhãnhiệu thương mại, các cơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng…)
là một vấn đề đáng quan tâm Điều đó có nghĩa là hệ thống pháp luật điềuchỉnh các mối quan hệ về sở hữu trí tuệ sẽ phải được thay đổi phù hợp
6) Bảo vệ người tiêu dùng
Trong kinh doanh điện tử và thương mại điện tử thông tin về hàng hoáđều là thông tin số, nói đơn giản là người mua không có điều kiện, nếm thử
Trang 35hoặc dùng thử hàng trước khi mua, khả năng rơi vào thị trường, mà ngườibán không có cách nào để thuyết phục người mua về chất lượng của cùngmột loại hàng hoá Ngoài ra còn chưa kể tới khả năng bị nhầm lẫn các cơ
sở dữ liệu, bị lừa ngạt bởi các thông tin và các tổ chức phi pháp có mặt trênmạng Vì thế đang xuất hiện nhu cầu phải có một trung gian đảm bảo chấtlượng hoạt động hữu hiệu và ít tốn kém, đây là một khía cạnh cơ chế đángquan tâm của thương mại điện tử trước thực tế các rủi ro ngày càng ra tăngđánh vào quyền lợi của người tiêu dùng Cơ chế đảm bảo chất lượng đặcbiệt có ý nghĩa với các nước phát triển nơi mà dân chúng có thói quen tiếpxúc trực tiếp với hàng hoá để kiểm tra ( nhìn, sờ, ném, ngửi…) để thử( mặc thử, đội thử, đi ăn thử…) trước khi mua
7) Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý
Môi trường quốc gia:
Trước hết, chính phủ từng nước phải quyết định xem xã hội thông tinnói chung và Internet nói riêng là một hiểm hoạ hay là một cơ hội Từkhẳng định mang tính nhận thức chiến lược ấy mới quyết định thiết lập môitrường kinh tế, pháp lý và xã hội cho nền kinh tế số nói chung và cho kinhdoanh điện tử và thương mại điện tử nói riêng và đưa các nội dung củakinh tế số vào văn hoá giáo dục các cấp
Riêng về pháp lý có hàng loại vấn đề phải xử lý:
- Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử
- Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử
- Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ nhà nước, chínhquyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước
- Bảo vệ pháp lý đối sở hữư trí tuệ
- Bảo vệ bí mật riêng tư một cách “ thích đáng”
- Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin chống tội phạm xâm nhập
Trang 36Tất cả những việc trên đây chỉ có thể thực được trên cơ sở mỗi quốc giatrước hết phải thiết lập một hệ thống mã nguồn cho tất cả các thông tin số,bắt đầu từ chữ cái của ngôn ngữ nước đó chở đi, tiếp đó nhà nước sẽ phảiđịnh hình một chiến lược chung về hình thành và phát triển một nền kinh tế
số tiếp đó đến các chính sách đạo luật và các quy định cụ thể tương ứngđược phản ánh trong toàn bộ chính thể của hệ thống nội luật
Môi trường quốc tế:
Các vấn đề môi trường kinh tế, pháp lý, xã hội quốc gia sẽ in hình mẫucủa nó vào vấn đề môi trường kinh tế , pháp lý và xã hội quốc tế, cộngthêm các phức tạp khác của kinh tế thương mại qua biên giới, do đó làmmất đi tính ranh giới địa lý vốn là cố hữu của ngoại thương truyền thống,dẫn tới những khó khăn to lớn về luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng vềthanh toán đặc biệt là thu thuế
8) Vấn đề lệ thuộc công nghệ
Không thể không thừa nhận rằng nước Mỹ đang khống chế toàn bộcông nghệ thông tin quốc tế cả phần cứng và phần mềm ( phần mềm hệthống và phần mềm ứng dụng) chuẩn công nghệ Internet cũng là chuẩn của
Mỹ, các phầm mềm tầm cứu và Website chủ yếu cũng là của Mỹ, nước mỹcũng đi đầu Điều này có thể thấy rằng, những nước ít phát triển hơn đã rấtchậm chân, có thể mãi mãi ở một tầm thấp dưới và bị phụ thuộc hoàn toàn
về công nghệ vì điều kiện thực tế sẽ không cho phép họ đuổi kịp nữa Vì lẽ
đó, thương mại điện tử đang được các nước xem xét một cách chiến lược,
sự du nhập vào nó là không thể tránh được hơn thế còn là cơ hội nhưng nếu
vì bị bức bách mà tham gia hay chỉ tham gia vì các lợi ích kinh tế vật chất
cụ thể thì không đủ, mà phải có một chiến lược thích hợp để khỏi trở thànhquốc gia thứ cấp về công nghệ
Trang 371.3 Một số kinh nghiệm ứng dụng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử vào kinh doanh lữ hành
Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử đang phát triển nhanh trênbình diện toàn cầu Tuy hiện nay được áp dụng chủ yếu ở các nước côngnghiệp phát triển ( riêng Mỹ chiếm khoảng 1/2 tổng doanh số thương mạiđiện tử thế giới) nhưng các nước đang phát triển cũng bắt đầu tham gia.Cách nhìn nhận, đánh giá, cách chuẩn bị triển khai và các bước đi khácnhau tuỳ đặc điểm và ý đồ của từng nước, từng doanh nghiệp, kinh nghiệmnước ngoài cho thấy: để có thế tham gia vào kinh doanh điện tử và thươngmại điện tử và tránh được các rủi ro khả dĩ, mỗi nước; mỗi doanh nghiệpphải có chiến lược chung, chương trình tổng thể, phương án, hoạt độngtừng bước
1.3.1 Ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trên thế giới
Nhiều doanh nghiệp trên thế giới từ rất lâu đã và đang mở rộng từ việcbán hàng qua điện thoại sàng bán hàng dựa trên Website Với Website họcung cấp cho khách hàng nhiều thông tin về sản phẩm hơn, đồng thờidoanh nghiệp có thể tích hợp việc sử lý đơn mua hàng, thanh toán thôngqua các phầm mềm bán hàng Ở Mỹ doanh nghiệp Gateway 2000 chuyênbán sản phẩm máy tính (PC) cho khách hàng là một dịch điển hình Thànhlập năm 1985, Gateway chuyên bán trực tiếp PC cho khách hàng Đến năm
1996 Gateway quyết định dùng Website như một kênh bán hàng khác Vớikênh bán hàng này cho phép khách hàng trên khắp thế giới có thể lựa chọnmột sản phẩm phù hợp với mình bằng việc đặt hàng qua Website Giốngnhư các trang Website bán hàng trực tuyến khác nhưng Gateway đã cungcấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn hảo trong việc lựa chọn sản phẩm.Bên cạnh catolouge điện tử đưa ra nhiều lựa chọn khác nhau mà qua đókhách hàng có thể lựa chọn một hệ thống PC đày đủ chưa lắp ráp hoặc có
Trang 38thẻ bổ sung thêm một số bộ Phần hỗ trợ kỹ thuật sẽ cung cấp cho kháchhàng thông tin về kỹ thuật , ví dụ như chương trình sửa lỗi Ngoài ra còn có
tử điển máy tính, phòng đọc sẽ mô tả cho khách hàng một vài công nghệmáy tính Pc mới nhất; thông tin nội bộ có thể cho phép khách hàng liên lạcvới lãnh đạo công ty; tạp chí Gateway-một vùng bán hàng trực tuyến sen
kẽ có thể đưa ra sản phẩm như bàn chạy chuột, tách cafe và các sản phẩmkhách có biểu tượng con bò của Gateway
( hình minh hoạ)
Không chỉ ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử trongviệc xây dựng các cửa hàng trực tuyến, trong đó thông tin số là chất liệu cơbản của Thương mại điện tử với tư cách là hàng hoá Các doanh nghiệp sửdụng thông tin để điều khiển các quy trình trong đó bao gồm cả sản xuất vàphân phối hàng hoá hữu hình Ví dụ như doanh nghiệp Actiwear của hãngFL( Fruit of the Loom) chấp nhận nhiều cạnh tranh trong phân phối FL đãduy trì một hệ thống có thể gắn kết điện tử toàn bộ mạng lưới phân phốicủa FL sao cho các nhà phân phối, các doanh nghiệp , cửa hàng ( cửa hànganh lụa, xưởng in áo sơ mi, cửa hàng đồ thêu ren) ở các khu vực địa lý cách
xa nhau có thể nhận được thông tin họ cần để đặt mua hàng Không chỉ cácdoanh nghiệp nhỏ có thể kiểm tra lượng hàng trong kho của nhà phân phối
và trạng thái các đơn đặt hàng của họ một cách thực tế hơn, mà hệ thống cóthể gợi ý các khả năng thay thế khác nhau cho một sản phẩm đã hết trongmột kho và tìm kiếm trong một kho khác đang chứa mặt hàng mong muốn
Sơ đồ minh hoạ
Trang 391.3.2 Ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử tại Việt Nam
Trên thực tế, kinh doanh điện tử và thương mại điện tử là phươngthức kinh doanh mới (chưa đầy đủ và hoàn thiện theo đúng nghĩa) ngay cảđối với nhưng nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp…ở Việt Nam, khái niệmkinh doanh điện tử và thương mại điện tử cũng chỉ mới được đề cập vàtriển khai ứng dụng trong một vài năm gần đây Riêng đối với khối doanhnghiệp, nhận thức về thương mại điện tử cũng mới ở mức sơ khởi Hiệnnay, nước ta có khoảng 6000 nghìn doanh nghiệp nhà nước và 38000 công
ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, số doanh nghiệp ứng dụngcông nghệ thông tin tham gia thương mại điện tử chiếm tỷ lệ rất nhỏ Theo
số liệu tổng hợp từ ba công ty( VASC VDC, FPT) có 1242 doanh nghiệp
cả nước đủ mọi thành phần mới chỉ ứng dụng thương mại điện tử ở cấp độ
sơ đằng nhất là việc thuê hoặc nhờ đặt trang Website của mình nên servecủa các nhà cung cấp dịch vụ (ISPs) này nhằm mục đích giới thiệu thôngtin tiếp thị trên Internet Nhìn chung số lượng khách truy cập vào các trangWebsite này là không đáng kể, vì số trang Web của mỗi doanh nghiệp ít, “khô cứng” ( hầu như không cập nhập) Hầu hết các doanh nghiệp đánh giákhông cao hiệu quả tiếp thị trên Internet hoặc do thương mại điện tử manglại Vì vậy, họ đầu tư xây dựng Website về mình như chỉ như một sự thăm
dò, chỉ có một số ít các doanh nghiệp tạo ra được hiệu quả kinh tế từ khitham gia Internet Trong số đó tiêu biểu là dịch vụ bán hàng qua mạng củaTiền Phong-VDC Với giao diện bắt mắt, cửa hàng “ ảo” bán sách và đồlưu niệm của VDC thực sự thu hút nhiều lượt khách hàng truy cập TrangWeb này cung cấp cho khách hàng nhiều loại sản phẩm như sach, gồm có( sách thiếu nhi, giáo khao…) và các loại bưu thiếp, quà lưu niệm, kèm
Trang 40theo đó là thông tin chi tiết về sản phẩm như số trang , giá cả…còn có cảnhững thông tin về khuyến mãi để thu hút khách hàng.
Ngoài ra, việc thanh toán cũng khá thuận tiện cho khách hàng,khách hàng có thể thanh toán bằng tiền mặt, séc, thẻ tín dụng…khách hàng(cá nhân hoặc doanh nghiệp) có thể đặt hàng trực tuyến qua mạng bằngviệc cung cấp thông tin về tên, địa chỉ, phương thức thanh và mặt hàng màmình chọn Tuy đây là một lĩnh vực hoạt động nhỏ của VDC nhưng cũng
có thể coi đây như là một ví dụ tham khảo cho các doanh nghiệp chuẩn bịkinh doanh bằng Thương mại điện tử
Đối với việc ứng dụng kinh doanh điện tử và thương mại điện tửtrong kinh doanh lữ hành, nhìn chung các doanh nghiệp lữ hành mới chỉứng kinh doanh điện tử và thương mại điện tử ở cấp độ ban đầu và cònmang tính chất thăm dò thử nghiệm Tiêu biểu chỉ có ba doanh nghiệp đó làcông ty Saigontourit, Vietrantour, hanoitourism Các công ty này đã tạođiều kiện cho khách hàng tìm kiếm các thông tin về du lịch trong và ngoàinước một cách thuật tiệnvà cập nhật, khách hàng có thể đặt hàng trựctuyên, phản hổi lại thông tin cho công ty
Ngoài ra còn rất nhiều doanh nghiệp lữ hành của Việt Nam, trên cởnhận thức được hiệu quả của công tác Marketing trên mạng Internet, họ đãxây dụng Website để quảng bá về doanh nghiệp và sản phẩm Tuy nhiên,Website của các doanh nghiệp này nói trên thường “ tĩnh, khô cứng, đơnđiệu” chỉ đơn thuần cung cấp thông tin cơ bản về doanh nghiệp và giớithiệu sản phẩm, chưa có chức năng liên kết dữ liệu, trao đổi thông tin haichiều trực tuyến giữa doanh nghiệp và đối tác, hầu như chưa có cataloguetrực tuyến, thông tin còn nghèo nàn ( do không được cập nhật thườngxuyên) Đây cũng là mặt hạn chế của các doanh nghiệp bởi đội ngũ nhânviên trong các doanh nghiệp hầu như chưa đủ trình độ để cập nhật thông tin