1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hội thảo Dạy học tích cực môn tiếng Anh ở cấp THPT

154 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i 2 Thực trạng dạy và học tiếng Anh ở các trường THPT Trần Cẩm Huê Sở Giáo dục và Đào tạo 2 3 Kinh nghiệm dạy và hướng dẫn học sinh làm bài tập trắc nghiệm bài đọc hiểu hiệu quả Kim Th

Trang 3

i

2 Thực trạng dạy và học tiếng Anh ở các

trường THPT

Trần Cẩm Huê

Sở Giáo dục và Đào tạo

2

3 Kinh nghiệm dạy và hướng dẫn học

sinh làm bài tập trắc nghiệm bài đọc

hiểu hiệu quả

Kim Thị Ngọc Hiền Trường THPT Lương Định

17

6 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Form of the word”

Trần Huệ Đông Trường THCS và THPT Lai

32

9 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Comparative”

Trần Thị Thanh Tú Trường THCS và THPT

DTNT Vĩnh Châu

35

10 Kinh nghiệm dạy và hướng dẫn học

sinh học tốt kỹ năng nói và tổ chức thi

học kì phần nói

Trần Thị Thanh Tuyền Trường THPT Kế Sách

41

11 Kinh nghiệm giúp đội tuyển bộ môn

tiếng anh rèn kỹ năng nghe chuẩn bị

cho kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh

Huỳnh Thị Kim Diệu Trường THPT chuyên Nguyễn

Thị Minh Khai

46

Trang 4

15 Kinh nghiệm dạy và hướng dẫn học

sinh học tốt kỹ năng nói và tổ chức thi

học kì “phần nói”

Phạm Hoàng Ân Trường THPT Mỹ Xuyên

59

16 Một số kinh nghiệm giúp học sinh chọn

được đáp án đúng nhất trong dạng bài

tập “Form of the word”

Tổ Ngoại ngữ Trường THPT Thiều Văn

19 Đa dạng hóa các loại hình bài tập

kiểm tra, đánh giá học sinh

Phương Khắc Tín Trường THPT Văn Ngọc

Chính

77

20 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Because  Because

of” và “Although  Despite / In spite

of”

Võ Hải Sơn Trường THPT Thành Phố Sóc

Trăng

82

21 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “so… that” 

too…to  (not) enough

Nguyễn Tri Phương Trường THPT Mai Thanh Thế 85

22 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Form of the verb”

Tổ tiếng Anh Trường THPT Đại Ngãi

90

23 Kinh nghiệm dạy và hướng dẫn học

sinh học tốt kỹ năng nghe

Nguyễn Kim Phượng Trường THPT Hoàng Diệu

96

Trang 5

iii

Nghĩa

25 Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra

môn tiếng Anh

Nguyễn Thị Niên Hoa Trường THPT Lê Văn Tám 110

26 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Superlative”

Hứa Minh Đức Trường PTDTNT THCS và

126

30 Hướng dẫn học sinh làm bài trắc

nghiệm mệnh đề if-clauses

Nguyễn Thị Ngọc Sương Trường THPT An Lạc Thôn

129

31 Cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Wish clause”

Tổ Anh Văn Trường THCS và THPT Hưng

136

33 Quyền lợi của học sinh trong việc chọn

môn tiếng anh thi tốt nghiệp THPT

quốc gia

Tổ Anh Văn Trường THPT An Thạnh 3

138

34 Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh

làm bài tập trắc nghiệm đọc hiểu hiệu

quả ở trường THPT Ngọc Tố

Lê Ánh Tuyết Trường THPT Ngọc Tố 142

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam hiện nay đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt từ năm 2015 cộng đồng kinh tế ASEAN được hình thành và sự cạnh tranh ngày càng cao, đòi hỏi nguồn nhân lực phải có những kỹ năng cơ bản để đáp ứng quá trình phát triển Việc tăng cường, nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường là điều quan trọng quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực, góp phần to lớn cho sự thành công của quá trình hội nhập

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục

và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước”

Từ những yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện về giáo dục và đào tạo, từ thực tiễn đổi mới giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn văn hóa nói chung và môn tiếng Anh nói riêng, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội

thảo “Dạy học tích cực môn tiếng Anh ở cấp THPT” Đây là cơ hội để giáo

viên có điều kiện giao lưu trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục những hạn chế và định hướng nâng cao chất lượng dạy

và học tiếng Anh của tỉnh nhà

Trong quá trình chuẩn bị cho Hội thảo, Ban biên tập nhận được hơn 40 bài tham luận của quý thầy, cô thuộc các trường THPT gửi về và đã chọn đăng trong kỷ yếu một số bài viết có nội dung phù hợp với tinh thần của Hội thảo

Chúng tôi chân thành cám ơn những tình cảm quý báu, tâm huyết yêu nghề của tất cả quý thầy, cô đã gửi tham luận cho Ban biên tập để hoàn thành kỷ yếu Trong quá trình biên tập sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, Ban biên tập rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô

Hy vọng với những tham luận đăng trong kỷ yếu sẽ góp một phần nhỏ trong việc bổ sung những kiến thức mới, bổ ích để giúp quý thầy, cô nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh trong thời gian tới

BAN BIÊN TẬP

Trang 7

THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH

Ở CÁC TRƯỜNG THPT

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Trần Cẩm Huê Chuyên viên phòng Giáo dục Trung học

I Thực trạng việc dạy và học tiếng Anh trong các trường trung học phổ thông

Hoạt động dạy và học tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh đã được các cấp quản lý, nhất là các cấp quản lý giáo dục đặc biệt quan tâm; chất lượng dạy học tiếng Anh đang từng bước được nâng lên;

Đến cuối tháng 8 năm 2016, tỉnh có 38 trường THPT, THCS&THPT và DTNT THCS & THPT với 748 lớp, 27.655 học sinh và 199 giáo viên tiếng Anh

ở cấp THPT Được sự quan tâm sâu sắc của UBND tỉnh, Ban chỉ đạo Đề án Ngoại ngữ cấp tỉnh và Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, đội ngũ giáo viên tiếng Anh ngày càng được quan tâm bồi dưỡng nâng cao năng lực Ngoại ngữ, được bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và các hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh, …

Năm 2011, Sở Giáo dục và Đào tạo bắt đầu triển khai Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 từ khâu khảo sát đến tiến hành các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực Ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam cho tất cả giáo viên tiếng Anh trong tỉnh đến nay đã có 59/199 giáo viên THPT đã đạt chuẩn bậc 5 (C1), đạt tỉ lệ 29,64%, tỉ lệ này còn thấp so với các cấp Tiểu học và THCS Cấp Tiểu học có 118/303 giáo viên đạt chuẩn B2 đạt tỉ lệ 38,94% và cấp THCS có 262/429 giáo viên đạt chuẩn B2 đạt tỉ lệ 61,1 % Kết quả bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh:

* Số lượng giáo viên tiếng Anh hiện có là 964 người

Miễn thi

Chưa thi A1 A2 B1 B2 C1

Trang 8

- Nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của tiếng Anh ngày càng được nâng cao Việc học tiếng Anh trong và ngoài nhà trường phát triển mạnh trên địa bàn thành phố Sóc Trăng;

- Năng lực và phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh trong các cơ sở giáo dục, đào tạo của tỉnh cơ bản đáp ứng được yêu cầu dạy học trong trường phổ thông;

- Trong năm học vừa qua, việc dạy và học tiếng Anh đã đạt được những thành tích sau:

+ Số lượng học sinh lớp 12 chọn môn tiếng Anh để dự thi tốt nghiệp THPT quốc gia là 1016 và có 214 đạt điểm thi từ 5 trở lên, chiếm tỉ lệ 21,1% Số học sinh chọn thi môn tiếng Anh hơi giảm so với năm học trước;

+ Số học sinh giỏi lớp 12 môn tiếng Anh trong kỳ thi cấp tỉnh năm học 2016-2017 là 40 em gồm 02 giải Nhất, 10 giải Nhì, 12 giải Ba và 16 giải khuyến khích;

+ Học sinh tham dự cuộc thi Olympic “Tài năng tiếng Anh” cấp toàn quốc dành cho học sinh phổ thông được tổ chức ở thành phố Cần Thơ vào 02 ngày 22

và 23/3/2016, Sở Giáo dục và Đào tạo đã cử 02 học sinh THPT tham gia và 02

em đã hoàn thành xuất sắc cuộc thi, 01 em đã đạt giải Nhì của đơn vị trường THPT Hoàng Diệu và 01 em đạt giải Khuyến khích thuộc đơn vị trường THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai

2 Khó khăn

- Phong trào học tiếng Anh trên địa bàn tỉnh chưa đồng đều; đặc biệt là nhu cầu học tiếng Anh ở địa bàn nông thôn còn thấp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở những địa phương này;

- Số lượng giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn năng lực theo quy định ở một số trường còn thấp Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong năm học qua không thực hiện được vì không có kinh phí

a) Đối với giáo viên

- Lượng kiến thức ngữ pháp trong sách giáo khoa chưa đáp ứng với các dạng bài tập trong đề thi THPT của 02 năm vừa qua, nên đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu và soạn giảng cẩn thận mới có thể đáp ứng được mục tiêu bài dạy;

Trang 9

- Để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy đạt được hiệu quả, giáo viên phải soạn giảng khá công phu sao cho phù hợp với từng nội dung bài giảng, từng kỹ năng;

- Số lượng giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn năng lực theo quy định ở một số trường còn thấp nên phần nào ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học ở các trường

- Trong thời gian tới, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục lập kế hoạch xin thêm nguồn kinh phí để tiếp tục bồi dưỡng cho giáo viên còn chưa đạt chuẩn, đảm bảo đến năm 2020, toàn bộ giáo viên tiếng Anh sẽ đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ đúng theo yêu cầu của Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 đặt ra Riêng đội ngũ đã đạt chuẩn, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu phải có kế hoạch tự bồi dưỡng để cố gắng thi vượt khung hay giữ được khung năng lực chuẩn cho mình Những giáo viên đã được bồi dưỡng nhưng thi chưa đạt (cận chuẩn) thì nỗ lực trau dồi tự bồi dưỡng thêm, cố gắng đạt được khung năng lực chuẩn trong thời gian sớm nhất

b) Đối với học sinh

- Đa số học sinh THPT đều đã có định hướng nghề ngay từ đầu cấp học, nên phần lớn chỉ tập trung vào học các môn tự nhiên để hướng vào các ngành mũi nhọn của các trường Đại học Từ đó nhiều em không quan tâm đến tiếng Anh, chỉ học để đối phó với các bài kiểm tra và thi học kỳ, dẫn đến lớp cuối cấp nhiều em không tích cực học môn tiếng Anh, chỉ học để đối phó với kỳ thi THPT Quốc gia vì thế kết quả bài làm chỉ đạt từ điểm 3 đến 4,75 điểm (536/1016 bài, tỉ lệ 52,76%) Chúng ta, những giáo viên dạy tiếng Anh, phải phân tích lợi ích và tầm quan trọng của việc biết sử dụng tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Việc quan tâm bồi dưỡng học sinh học tốt môn tiếng Anh sẽ rất có ích khi vào học các trường Đại học và nhất thiết phải có chứng chỉ tiếng Anh khi thi đầu ra Đại học;

- Đối tượng học sinh ngày nay phân hóa rõ rệt, không đồng đều Một số

em học tiếng Anh rất giỏi do đam mê, nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn này trong xã hội hiện đại Trong khi số còn lại khá nhiều học sinh thì không quan tâm đến tiếng Anh

- Phong trào học tiếng Anh trên địa bàn tỉnh chưa đồng đều; đặc biệt là nhu cầu học tiếng Anh ở địa bàn nông thôn còn thấp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở những nơi này;

- Ngoài ra, học sinh không học tốt ngoại ngữ còn do nhiều nguyên nhân như sự bất cập từ chương trình sách giáo khoa, cơ chế thi cử, chưa quan tâm đến

kỹ năng giao tiếp, chú trọng nhiều ở tính hàn lâm, ngữ pháp, đặc biệt nội dung

đề thi khá cao so với lượng kiến thức trong sách giáo khoa

Chúng ta có thể xem qua kết quả môn tiếng Anh của tỉnh trong kỳ thi THPT QG năm 2016:

Trang 10

III Đề xuất giải pháp về dạy học môn tiếng Anh

1 Đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG)

- Đa dạng các hình thức kiểm tra (KT), khuyến khích kiểm tra kỹ năng nghe, nói

- Ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong ra đề KT

- Đề KT định kì phải có đủ 4 phần: nghe, đọc, viết, kiến thức ngôn ngữ

- Mỗi HS được KT kỹ năng nói ít nhất 01 lần/ HK

- Khuyến khích các đơn vị sinh hoạt theo cụm trường, liên trường, liên cấp để biên soạn đề KT, hỗ trợ đồng nghiệp các kiến thức, kĩ năng đổi mới KTĐG, KT kỹ năng nói đối với bài Kiểm tra cuối HK

- Triển khai Chương trình đổi mới KTĐG do Đề án NNQG 2020 biên soạn; lựa chọn nội dung áp dụng trong quá trình giảng dạy

2 Đổi mới Phương pháp dạy học

- Thiết kế bài dạy theo từng hoạt động học, mỗi hoạt động có 4 phần cơ bản: mục đích, phương thức, phương tiện, sản phẩm cần đạt của học sinh

- Sử dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học tích cực, đảm bảo hiệu quả, tránh hình thức

- Tổ chức hoạt động nhóm theo đúng qui trình: Cá nhân → cặp/ nhóm

Tổng số bài thi là: 1016 bài Điểm từ 3 trở lên: 750 bài (73,82%) Điểm từ 5 trở lên: 214 bài (21,1%)

Số bài có điểm<= 1 : 1 bài (0,00098 %) Điểm thấp nhất: 0,25 điểm (1 bài) Điểm cao nhất: 9,75 điểm (2 bài)

Số liệu này chưa cập nhật điểm phúc khảo

Trang 11

- Ứng dụng CNTT và sách mềm vào giảng dạy và tự học

- Hướng dẫn học sinh tự học tập, khai thác sách mềm, …

- Lựa chọn nội dung trọng tâm theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài học

để giảng dạy trên lớp, tránh ôm đồm kiến thức

- Tuyệt đối không đọc sai, phát âm sai, dạy sai kiến thức trong sách giáo khoa

3 Triển khai nghiên cứu chuyên đề: Mỗi tổ/ nhóm chuyên môn thực hiện

2 chuyên đề/ học kì

4 Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học

- Nội dung sinh hoạt chuyên môn gồm: Thiết kế bài dạy mẫu, bài khó; xây dựng đề kiểm tra, phương án KT, chuyên đề dạy học, …

- Triển khai Chương trình và lựa chọn nội dung áp dụng vào thực tế giảng dạy

- Khuyến khích sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường, liên trường, liên cấp

- Kế hoạch sinh hoạt tổ/ nhóm chuyên môn phải thể hiện được các nội dung cụ thể cần triển khai theo định hướng của Sở Giáo dục và Đào tạo, có thể định lượng được; tránh hình thức

- Hồ sơ chuyên môn: Không phát sinh hồ sơ; có thể đánh máy các loại hồ

sơ và lưu trữ trên máy tính để kịp thời bổ sung, điều chỉnh

5 Bồi dưỡng thường xuyên (BDTX)

- Giáo viên tiếng Anh đang theo học các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ (NLNN) theo Đề án hoặc tự nguyện được miễn các module BDTX

- Giáo viên chưa đạt chuẩn NLNN có lộ trình tự bồi dưỡng để đạt chuẩn được Hiệu trưởng nhà trường xác nhận được miễn BDTX

- Các GV đã đạt chuẩn NLNN phải tham gia BDTX

6 Nâng chuẩn NLNN

- Giáo viên phải tích cực tự học để đạt chuẩn chậm nhất vào năm 2018

- Lãnh đạo các đơn vị trường nên xác định lại tầm quan trọng của môn

tiếng Anh là môn thi bắt buộc trong kỳ thi THPT quốc gia 2017 để thầy, cô có động cơ soạn giảng và dạy học tích cực hơn, học sinh có động lực và thái độ học tập đúng đắn hơn;

- Giáo viên nên cố gắng tự nghiên cứu, bồi dưỡng để trao dồi thêm kiến thức về đổi mới phương pháp, điều chỉnh cách soạn giảng sao cho thu hút được

sự tập trung chú ý của học sinh và tạo hứng thú để các em tham gia đóng góp xây dựng bài mà không cảm thấy tiết học khô khan, buồn tẻ nữa;

Trang 12

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin nên hợp lý hơn, đừng lạm dụng quá nhiều slides trình chiếu, học sinh không thể tiếp thu hết trong một tiết học vì nhiều slides sẽ chiếu khá nhanh để kịp thời gian tiết dạy Dù thầy, cô cho là sẽ gửi files cho học sinh, nhưng tất cả các em có thời gian hoặc có máy tính kết nối Internet để truy cập bài giảng và học tập không?

Trên đây là một số ý kiến và đề xuất nói về thực trạng của việc dạy và học tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tham luận khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô

Trang 13

KINH NGHIỆM DẠY VÀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH

LÀM BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM BÀI ĐỌC HIỂU HIỆU QUẢ

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Kim Thị Ngọc Hiền Trường THPT Lương Định Của

A Giới thiệu

Đọc hiểu là một kỹ năng tiếp nhận ngôn ngữ Qua đó, người đọc có thể nắm bắt thông tin mà tác giả muốn truyền đạt Tuy nhiên, để hiểu được ý của tác giả hay nội dung của một bài đọc không phải dễ, đặc biệt đối với người học ngoại ngữ càng khó hơn Thật vậy, phần lớn các bài đọc hiểu trong TOEFL, IELTS, FCE hay CAE…, tác giả thường sử dụng nhiều thuật ngữ và cấu trúc lạ; chính điều đó đã gây trở ngại lớn cho đọc giả nói chung và người học nói riêng

Qua hai năm tham gia ôn thi THPT Quốc gia, ngoài khó khăn chung mà bất kỳ người học ngoại ngữ nào cũng gặp đó là từ vựng, tôi còn nhận thấy rõ một vấn đề lớn mà học sinh vướng phải khi giải quyết bài tập đọc hiểu là các em không hiểu được câu hỏi mà tác giả yêu cầu bởi vì hầu hết các dạng câu hỏi đó hoàn toàn khác so với các bài tập trong sách giáo khoa Song song đó, phương pháp giải quyết cho các dạng câu hỏi đó cũng là một khó khăn lớn đối với các

em Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến chất lượng bài thi của học sinh trường THPT Lương Định Của nói riêng, học sinh trong toàn tỉnh Sóc Trăng nói chung thấp hơn nhiều so với các bộ môn khác như Văn, Toán, Lý, Hóa,…

Từ những nguyên nhân trên, có thể nói rằng đọc hiểu là một kỹ năng khó

mà đòi hỏi người học phải kiên nhẫn, chịu khó rèn luyện một cách thường xuyên

để đạt hiệu quả cao Quan trọng hơn hết là người học phải có kỹ năng và phương pháp làm bài một cách hiệu quả Nhằm giúp học sinh cải thiện kỹ năng đọc, chúng tôi xin được chia sẻ một số giải pháp trong bài tham luận này

B Giải pháp

Thông thường, mỗi một bài tập đọc hiểu có khoảng 10 câu hỏi trắc nghiệm tổng hợp từ câu hỏi về ý chính chung nhất của bài đọc đến các thông chi tiết trong bài Nếu chúng ta giải quyết cùng lúc nhiều dạng câu hỏi như vậy sẽ làm cho học sinh bị rối Vì vậy, chúng tôi đã luyện tập cho các em làm quen với từng dạng câu hỏi cho đến khi nào các em đã nắm vững được cách giải quyết dạng câu hỏi đó chúng tôi sẽ chuyển sang dạng câu hỏi khác Sau khi các em đã nắm vững hết tất cả các dạng câu hỏi, chúng tôi cho các em làm bài tập với nhiều câu hỏi tổng hợp

Qua nghiên cứu các đề thi THPT Quốc gia cũng như các tài liệu đọc hiểu, chúng tôi đã sắp xếp các câu hỏi thường gặp trong bài tập trắc nghiệm đọc hiểu theo ba nhóm chính; đồng thời, hướng dẫn cho các em phương pháp làm bài cụ thể của từng dạng các câu hỏi đó như sau:

Trang 14

I Nhóm 1: Câu hỏi ý chính

1 Tìm ý chính của bài đọc (main idea questions) và xác định mục đích của bài

(Purpose):

1.1 Câu hỏi thường gặp

a) What is the main idea / the subject / the topic of the passage?

b) What is the author’s main point in the passage?

c) What is the passage mainly about?

d) What is the author primary concerned with?

e) Which of the following would be the best title?

f) The passage is primarily concerned with which of the following? g) The author of this passage is primarily concerned with

h) The main topic of the passage is…

i) The best title for this passage would be

j) What is the author’s main purpose in the passage?

k) The primary purpose of the passage is to

l) The author’s main purpose in writing is to

m) Why did the author write the passage?

1.2 Câu trả lời: Thường nằm ở đầu hoặc cuối mỗi đoạn văn Nếu ý chính

không nằm cụ thể ở đầu hoặc cuối đoạn văn, thì học sinh nên để lại câu hỏi này cho đến khi nào trả lời hết các câu hỏi chi tiết Trong 4 lựa chọn về ý chính thường được cho như sau: 1 là quá chi tiết, 2 là chỉ đúng 1 chi tiết nào đó, 3 là sai hoàn toàn, 4 là hoàn toàn đúng

1.3 Cách làm bài

- Đọc dòng đầu tiên của mỗi đoạn văn

- Tìm ý chung nhất trong dòng đầu tiên và tìm mối liên hệ giữa các câu

Trang 15

Although "lie detectors" are being used by governments, police departments, and businesses that all want guaranteed ways of detecting the truth, the results are not always accurate Lie detectors are properly called emotion detectors, for their aim is to measure bodily changes that contradict what a person says The polygraph machine records changes in heart rate, breathing, blood pressure, and the electrical activity of the skin (galvanic skin response, or GSR) In the first part of the polygraph test, you are electronically connected to the machine and asked a few neutral questions ("What is your name?" "Where do you live?") Your physical reactions serve as the standard (baseline) for evaluating what

comes next Then you are asked a few critical questions among the neutral ones

("When did you rob the bank?") The assumption is that if you are guilty, your body will reveal the truth, even if you try to deny it Your heart rate, respiration, and GSR will change abruptly as you respond to the incriminating questions

That is the theory; but psychologists have found that lie detectors are simply not reliable Since most physical changes are the same across all emotions, machines cannot tell whether you are feeling guilty, angry, nervous, thrilled, or revved up form an exciting day Innocent people may be tense and nervous

about the whole procedure They may react physiologically to a certain word

("bank") not because they robbed it, but because they recently bounced a check

In either case the machine will record a "lie" The reverse mistake is also common Some practiced liars can lie without flinching, and others learn to beat the machine by tensing muscles or thinking about an exciting experience during neutral questions

(Tài liệu tham khảo: TOEFL reading – Milada Broukal)

* Câu hỏi 1: What is the main idea of the passage?

A Physical reactions reveal guilt

B How lie detectors are used and their reliability

C Lie detectors distinguish different emotions

D Lie detectors make innocent people nervous

* Đáp án đúng: B

- Đáp án A sai vì câu trả lời quá chung chung

- Đáp C sai vì máy phát hiện lời nói dối chỉ có thể nhận biết sự thay đổi

về thể chất (dựa vào đoạn 2 – “Since most physical changes are the same across all emotions machines cannot tell whether you are feeling guilty, angry, nervous, thrilled, or revved up form an exciting day.”)

- Đáp án D sai vì chỉ đúng một chi tiết nhỏ trong bài

* Câu hỏi 2: Why did the author write the passage?

A To illustrate how a lie detector works

Trang 16

B To explain how innocent people are found guilty

C To criticize the use of the lie detector

D To propose ways of using a lie detector

* Đáp án đúng: C

- Câu A sai: tác giả chỉ đề cập thông tin này trong đoạn 1, nhưng đó không phải là ý chính

- Đáp án B sai: dựa vào đoạn văn 2

- Đáp án D sai: không có thông tin trong bài đọc

2 Nhận diện thái độ hay giọng văn của tác giả đối với bài đọc (the author’s attitude and tone)

2.1 Câu hỏi thường gặp

a) The tone of the passage can best be described as

b) What tone does the author take in writing this passage?

c) The tone of the author is best described as

d) The author's attitude toward … might/ could best be described as

e) What is the author’s attitude toward…?

f) The author's opinion of … could best be described as one of…

g) How would the author probably feel about…?

h) The attitude of the author of the passage toward … is best described as one of…

a) The author of the passage would most likely/probably agree with

which of the following?

2.2 Một số tính từ thường được sử dụng trong các đáp án mà học sinh phải lựa chọn

- Tích cực, tỏ ra tin cậy (Positive): humorous, supportive, favorable

- Phản đối, chống đối (Negative): disbelieving, depressing, unfavorable

- Trung lập (Neutral): scientific, objective, impersonal

2.3 Cách làm bài: học sinh cần chú ý đến các tính từ biểu đạt hoặc phán đoán dựa vào nội dung chính sau khi đã đọc lướt toàn bài

- Tác giả ủng hộ đề tài hay một tranh luận (The author is for a particular topic or argument): pro, positive, in favor of, leaning toward, laudatory (praising), agreeable, amenable (willing to go along with), sympathetic

- Tác giả phản đối lại đề tài hay một tranh luận (The author is against a particular topic or argument): doubtful, offended, anti, resistant to, contrary to,

Trang 17

counter to, adversarial (acting like an enemy), opposed, skeptical, critical of, disgusted with

- Tác giả có ý trung lập (The author is neutral on a particular topic or argument): Objective, indifferent, noncommittal, impartial, apathetic (not caring), unbiased, ambivalent (can’t decide either way or has mixed feelings)

2.4 Bài tập vận dụng: Đọc lại bài đọc hiểu trên và trả lời câu hỏi sau:

* Câu hỏi 3: The author of the passage would most likely agree with which of the following?

A Polygraphs have no place in our society

B Physical reactions are not concerned to thoughts

C Machines are no match for psychologists

D Polygraph tests should not be used as the sole evidence of guilt

* Đáp án đúng: D

5 Tìm từ hoặc cụm từ được nói đến (Reference)

5.1 Câu hỏi thường gặp:

a) The word “X” in the paragraph / in line…refers to

b) What does the word “X” in line / in the paragraph… refer to?

c) What do you think the word “X” in line…means?

d) What does the word “X” in line…mean?

5.2 Tìm câu trả lời: Câu trả lời thường nằm ở những câu trước hoặc

trong chính câu chứa từ được đề cập

5.3 Cách làm bài:

- Đọc kỹ câu hỏi và các lựa chọn cho sẵn

- Đọc kỹ câu có chứa từ được đề cập và câu trước đó, tìm các từ và cụm từ được liệt kê trong phần lựa chọn

- Loại bỏ các phương án chắc chắn sai, chọn phương án đúng nhất trong các câu còn lại

5.4 Bài tập vận dụng: Đọc lại bài đọc hiểu trên và trả lời câu hỏi sau:

* Câu hỏi 4: What does the word “ones” in line 11 refer to?

A reactions B questions C evaluations D standards

* Đáp án đúng: B

II Nhóm 3: Câu hỏi về từ vựng (Vocabulary question) – Đây là dạng

câu hỏi về từ đồng nghĩa hay trái nghĩa

1 Câu hỏi thường gặp:

a) What is the meaning of “X” in line “Y”?

Trang 18

b) The word “X” in line “Y” could be replaced by…

c) Which of the following words has the closest meaning with the word “X” in line “Y”?

d) Which of the following word has the opposite meaning with the word “X” in line “Y”?

2 Tìm câu trả lời: Dựa vào thông tin xung quanh từ được đưa ra để đoán

nghĩa của từ trong câu hỏi

3 Cách làm bài:

- Đọc kỹ câu có chứa từ được quy chiếu và câu trước đó, tìm các từ

và cụm từ được liệt kê trong phần lựa chọn

- Loại bỏ các phương án chắc chắn sai, chọn phương án đúng nhất trong các câu còn lại

C Kết luận và kiến nghị

Đọc hiểu là một quá trình tổng hợp không chỉ đòi hỏi người học nắm được từ ngữ, cú pháp, ngữ pháp…mà người học còn phải biết kỹ năng giải quyết cho từng dạng câu hỏi mà tác giả yêu cầu Đây là vấn đề then chốt giúp người học vượt qua những hạn chế của bản thân để có thể đạt được kết quả học tập kỹ năng đọc hiểu một cách hiệu quả Tuy nhiên, để đạt được điều này, bản thân người học phải biết tự trau dồi và không ngừng vận dụng kiến thức làm bài để luyện tập một cách thường xuyên Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần học tập kinh nghiệm nhằm tích lũy kiến thức, phương pháp giảng dạy ngày một tốt hơn Ngoài ra, giáo viên cần phải cung cấp tài liệu phù hợp với trình độ của học sinh

và cấu trúc đề thi THPT Quốc gia hiện nay để các em có cơ hội luyện tập

Tóm lại, để đạt được chất lượng giáo dục ngày một cao hơn phải có sự phối hợp hài hòa giữa học sinh và giáo viên

Trên đây là một số kinh nghiệm mà tổ ngoại ngữ trường THPT Lương Định Của, đã và đang thực hiện nhằm giúp học sinh học kỹ năng đọc hiểu ngày một tốt hơn Rất mong được quý đồng nghiệp đóng góp xây dựng nhằm giúp cho việc dạy và học môn tiếng Anh của trường chúng tôi nói riêng, của tỉnh ta nói chung ngày một tốt hơn và hiệu quả hơn

Trang 19

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI TRẮC NGHIỆM VỀ CÂU TƯỜNG THUẬT

I Phân loại câu hỏi theo độ khó và đề xuất cách giải quyết

A Câu hỏi cấp độ nhận biết

Ở cấp độ nhận biết, câu hỏi chỉ tập trung vào các điểm sau: loại câu (khẳng định, phủ định, câu hỏi, yêu cầu), cách biến đổi thì, đại từ, trạng từ chỉ

nơi chốn, thời gian

Giáo viên chỉ cần ôn lại các nội dung cơ bản, nhấn mạnh những lỗi thường gặp và vài mẹo nhỏ là có thể giúp học sinh chọn đúng câu trả lời

* Những lỗi phổ biến:

- Sự khác biệt giữa tell và say (tell + tân ngữ + that …; say + that …)

- Các từ đi sau động từ dẫn nhập (that, if = whether, WH)

- Nhầm lẫn các loại đại từ và tính từ sở hữu Do đó, giáo viên cần lưu ý

nhấn mạnh điểm này: chỉ đổi trong nhóm (đại từ chủ ngữ, đại từ tân ngữ, tính từ

sở hữu), không lẫn sang nhóm khác

- Thì động từ: theo kinh nghiệm bản thân, nếu cung cấp tất cả các thì và các dạng chủ động, bị động, học sinh sẽ không nhớ nổi Thay vào đó, chỉ cần tóm lại vài trường hợp để có thể áp dụng cho nhiều thì khác nhau

- Trật tự từ trong câu hỏi gián tiếp: nhấn mạnh rằng câu hỏi gián tiếp

không đảo chủ ngữ và không có trợ động từ do, does, did

- Từ chỉ thời gian và nơi chốn: cung cấp bảng tóm tắt các trường hợp thay đổi

B Câu hỏi cấp độ thông hiểu

Ở cấp độ thông hiểu, học sinh cần biết thêm các trường hợp không biến

đổi thì, cách biến đổi các đại từ chỉ định khác với quy tắc thông thường

Để giúp học sinh chọn đúng các câu ở cấp độ này, giáo viên cần soạn bổ sung các trường hợp đặc biệt, ngoại lệ để học sinh ôn luyện

Trang 20

CÁC TRƯỜNG HỢP ĐỔI ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH

this (đại từ chủ ngữ hoặc tân ngữ) it

that (đại từ chủ ngữ hoặc tân ngữ) it

these, those (đại từ chủ ngữ) they

these, those (đại từ tân ngữ) them

You (đại từ chủ ngữ hoặc tân ngữ) I, me, he, him, she, her, they, them

CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐỔI THÌ ĐỘNG TỪ Ở CÂU TƯỜNG THUẬT

1 Động từ dẫn nhập ở thì hiện tại

- ‘I’m going to wait for you,’

+ He says he is going to wait for us

2 Chân lý, sự thật hiển nhiên

- ‘The sun rises in the East,’

+ The teacher said that the sun rises in

the East

3 Câu điều kiện loại 2 và loại 3

- ‘If I had free time, I would play tennis,’

+ She said if she had free time, she would play tennis

4 Câu ao ước không có thật

- ‘I wish I had a car,’ he said

+ He wished he had a car

5 Hành động đang diễn tiến ở quá

+ She said she had locked the door

before going to bed

7 Các động từ khuyết could, would,

might, ought to, should

- ‘I might go to Athens,’ he said

+ He said he might go to Athens

8 ‘must be’ diễn đạt sự suy đoán ở

hiện tại

- ‘They must be at home,’ he said

+ He said they must be at home

Câu điều kiện loại 1 vẫn đổi thì như

bình thường nhưng không chuyển

thành câu điều kiện loại 2

- ‘If I am free, I will join you,’ he said

to us

+ He said he would join us if he was

free

Trang 21

C Câu hỏi cấp độ vận dụng

Ở cấp độ vận dụng, học sinh cần hiểu các động từ dẫn nhập để sử dụng chính xác khi tường thuật câu theo chức năng lời nói Ngoài ra, cần lưu ý các trường hợp đổi ngược từ câu tường thuật sang câu trực tiếp

Giáo viên cần cung cấp động từ dẫn nhập, nghĩa của chúng, cấu trúc từng động từ và chức năng (xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, than phiền, tán thán…)

II Bài tập áp dụng: Chọn phương án có nghĩa gần nhất với câu đã cho

A Câu hỏi mức độ nhận biết (Dành cho học sinh trung bình)

1 “I might not be able to come tomorrow,” said David

A David told that he might not be able to come the following day

B David told us that he might not be able to come the following day

C David said us that he might not able to come the following day

D David told us that he might not to come the following day

2 “Are you hungry?” the girl said to the boy

Indirect: The girl _ he was hungry

A said to the boy that B asked the boy that

C told the boy whether D asked the boy if

B Câu hỏi mức độ thông hiểu (Dành cho học sinh khá)

1 “When did World War II end?” the History teacher said to them

Indirect: The History teacher asked them when _

A did World War II end B World War II was ended

C World War II had ended D World War II ended

2 “What can I do about that?” she said to me

Indirect: She asked me what _

A I could do about that B she could do about that

C what she could do about it D what could I do about it

C Câu hỏi mức độ vận dụng (Dành cho học sinh giỏi)

1 “Shall I carry the suitcase for you, Pauline?” said Paul

Indirect: Paul carry Pauline’s suitcase

A suggested he B asked if he could C said he should D offered to

2 “Would you like some biscuits?” the hostess said to me

Indirect: The hostess me some biscuits

A offered B invited C gave D asked

Trang 22

KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH CHỌN ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM

ĐÚNG NHẤT DẠNG BÀI TẬP “PASSIVE VOICE”

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Võ Thanh Tuyền Trường THPT Mỹ Xuyên

I Đặt vấn đề

Năm học 2016-2017 đang là năm học tích cực áp dụng phương pháp đổi mới trong dạy học các bộ môn nói chung và tiếng Anh nói riêng Cũng trong năm học này tiếng Anh là 1 trong 3 môn học chính bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) quốc gia được thi theo hình thức trắc nghiệm 100% Trong chương trình THPT, thể bị động là một cấu trúc phổ biến trong tiếng Anh và thường được kiểm tra trong kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia

Do đó làm thế nào để hướng dẫn học sinh cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng

nhất dạng bài tập “Passive Voice” (thể bị động) là rất cần thiết

II Giải quyết vấn đề

Muốn làm tốt được các bài tập trắc nghiệm về thể bị động giáo viên cần giúp học sinh nắm được những vấn đề sau:

1 Bản chất của câu chủ động (khi chủ ngữ trong câu là tác nhân trực tiếp gây ra hành động) và câu bị động (khi chủ ngữ chịu tác động của hành

động)

e.g: Active (A): Lan cleans the floor every morning

→ Passive (P): The floor is cleaned by Lan every morning

Trong câu (A) “Lan” là tác nhân trực tiếp gây ra hành động lau sàn nhà Câu (P) chủ ngữ “the floor” chịu tác động của hành động lau sàn nhà

2 Phân biệt nội động từ và ngoại động từ

a Nội động từ (intransitive verbs) là những động từ không có tân ngữ

(object) và không có dạng bị động

e.g: arrive / come (đến, tới), disappear = vanish (biến mất), live (sống),

rise (tăng lên, dâng lên, mọc lên), sleep (ngủ), walk (đi bộ)

b Ngoại động từ (transitive verbs) là những động từ cần tân ngữ (object)

để trả lời cho câu hỏi: ‘ai’ (who?) hoặc ‘cái gì’ (what?) thì câu mới rõ nghĩa Những ngoại động từ được dùng ở thể bị động

e.g: help, invite, prepare, explain, …

- Việc phân biệt được hai loại động từ này là rất cần thiết để biết khi nào

sử dụng thể chủ động hoặc bị động

Trang 23

- Cũng có những động từ vừa là nội động từ vừa là ngoại động từ, giáo viên cần phân biệt cho học sinh rõ (dựa vào nghĩa và tân ngữ theo sau)

e.g: eat, sing, speak, read, win, …

Lưu ý: Không có thể bị động ở thì tương lai tiếp diễn, các thì hoàn thành

tiếp diễn (ba thì) Hiện tại tiếp diễn và quá khứ tiếp diễn vẫn có thể bị động

3 Giới thiệu cấu trúc câu, giúp học sinh nhận biết dạng chủ động hay

bị động dựa vào dạng của động từ (be + PP)

Giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh biết khi gặp động từ có dạng BE + past participle thì chắc chắn nó ở dạng bị động, ngoài ra là dạng chủ động (các mẫu câu cơ bản)

4 Giúp học sinh nhận biết dạng bị động dựa vào giới từ: By + object

Nhóm chữ “By + object” được bao gồm chỉ khi điều quan trọng là biết người nào thực hiện 1 hành động

e.g: Kieu Story _by Nguyen Du (Truyện Kiều đã được viết bởi

Nguyen Du.)

A wrote B was written C writes D is written

Ta nhận thấy rằng “by Nguyen Du” là thông tin quan trọng, đây là người

đã viết ra Truyện Kiều Do đó loại bỏ phương án A và C (chúng là các phương

án gây nhiễu) Truyện Kiều đã được viết từ lâu nên chọn đáp án B (bị động ở thì quá khứ)

5 Giúp học sinh nhận biết dạng chủ động hay bị động dựa vào nghĩa của câu

e.g: My shirt _in England

A makes B was made C was making D made

Vì “my shirt” không thể thực hiện hành động “make”, ta phải chọn thể bị động Từ lý do trên, các phương án A, C và D phải bị loại bỏ Đáp án là B

Từ ví dụ trên, những kết hợp kiểu như ‘the house / build’, ‘book / write’,

‘rice / grow’,… phải là những cấu trúc ở thể bị động

6 Giúp học sinh chọn thì đúng dựa vào các dấu hiệu nhận biết các thì qua các trạng từ chỉ thời gian

(often, usually, every year → S Present; ago, yesterday, last night → S Past; at present, now, at the moment → Present Continuous…)

e.g: That house ten years ago

A is built B was built C has been built D will be built

Ta nhận thấy rằng “ago” là từ nhận biết ở thì quá khứ đơn nên chọn đáp

án B Các đáp án A, C và D bị sai thì

Trang 24

7 Giúp học sinh tư duy, suy ra, nhận ra cách chia động từ ở thể bị động từ thể chủ động mà không cần thuộc công thức, nhấn mạnh các mẹo nhớ

- Luôn có BE và động từ chính luôn ở V3/-ed…

- Hiện tại đơn: BE ở hiện tại

- Quá khứ đơn: BE ở quá khứ

- Các thì tiếp diễn: có BEING giữa BE và past participle

- Các thì hoàn thành: có BEEN giữa has/have/had và past participle

- Các động từ khiếm khuyết: BE luôn ở nguyên thể

e.g1: That report _by Alex at present

A is prepared B has been prepared

C is being prepared D is preparing

Trong câu ví dụ này ta loại bỏ 2 đáp án A và B ngay từ đầu vì “at present” phải chia với thì HTTD Dựa vào “by Alex” và “at present” cho thấy câu này là câu bị động ở thì HTTD nên đáp án đúng là đáp án C (be + being + V3/ed)

e.g2: A new idea by Kathy

A has been suggested B has suggested

C have suggested D have been suggested

Trong câu trên ta loại bỏ 2 đáp án C và D ngay từ đầu vì chủ ngữ là danh

từ số ít thì động từ phải ở dạng số ít Tiếp tục dựa vào “by Kathy” chọn đáp án A- bị động của thì HTHT có BEEN

8 Cung cấp tài liệu có liên quan và tích cực luyện tập theo chuyên đề

- Giáo viên cung cấp tên các tài liệu có liên quan hoặc tên các trang web

có các tài liệu hoặc các bài tập liên quan như: thư viện điện tử, thư viện đề thi violet

- Giáo viên soạn bài tập theo chuyên đề và khuyến khích học sinh làm bài thật tích cực

9 Thường xuyên ôn tập và kiểm tra nhắc lại khi chuyển sang chuyên

đề khác

Sau khi học sinh học xong thể bị động giáo viên có thể cho các em làm bài tập khoảng 10-15 câu dạng trắc nghiệm để kiểm tra xem các em có nắm bài tốt không Cũng cho vài câu bị động ghép vào bài kiểm tra của các lần sau nhằm giúp các em nhớ bài kỹ hơn Có thể cho thêm một số bài tập về câu bị động, giáo viên yêu cầu học sinh làm ở nhà theo nhóm 6 hoặc 8 em Tiết học sau giáo viên có thể dành khoảng 5-7 phút gọi đại diện của 1 nhóm cho câu trả lời có giải thích rõ đáp án mà các em chọn Khi các em làm bài và giải thích tốt giáo viên khen ngợi, động viên, …

Trang 25

10 Khuyến khích học sinh chú ý ngữ pháp vì đây là biện pháp chống liệt/ rớt/ bị điểm khống chế

Cho các em xem qua các đề thi tốt nghiệp của các năm trước để các em thấy được số câu ngữ pháp chiếm trong đề thi, từ đó các em cố gắng học để có thể lấy tròn điểm phần ngữ pháp, đây là một cách để không bị điểm khống chế

III Bài tập vận dụng

1 Trước khi cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm tôi cho các em làm một

số bài tập viết về chuyển từ câu chủ động sang bị động để nắm chắc các cấu trúc của câu bị động Tùy trình độ của học sinh, giáo viên có thể cho bài tập chuyển đổi câu bị động từ dễ đến khó

Giáo viên cho bài tập luyện tập theo nhóm cùng dạng cấu trúc có lặp đi lặp lại: cấu trúc cơ bản trước để thuộc công thức, cấu trúc nâng cao luyện tập sau, và dạng tổng hợp sau khi HS đã nắm vững các dạng trên (Xem phụ lục 4)

2 Sau khi học sinh làm tốt bài tập viết chuyển sang câu bị động thì các

em đã nắm chắc các cấu trúc của câu bị động và sẽ dễ dàng làm được các bài tập trắc nghiệm Giáo viên cũng giúp học sinh tiết kiệm thời gian làm bài bằng cách loại bỏ hai phương án sai một cách lộ liễu ngay từ đầu, chỉ cần cân nhắc hai phương án còn lại vì đa số các phương án gây nhiễu của đề thi tốt nghiệp phổ thông đều dựa trên nguyên tắc này Trong quá trình các em nêu đáp án, giáo viên yêu cầu học sinh giải thích vì sao chọn đáp án đó, dựa vào cấu trúc nào của câu bị động Khi học sinh giải thích tốt chứng tỏ các em hiểu bài và sẽ vận dụng tốt

- Khi làm bài kiểm tra, tôi yêu cầu các em nhanh chóng loại các phương

án sai dễ nhận thấy nhất, chỉ cân nhắc hai phương án còn lại có độ nhiễu cao Nếu không xác định được phương án đúng nhất trong hai phương án còn lại, HS

sẽ chọn theo cảm tính và xác suất dựa vào đáp án của tổng số câu hỏi Làm như vậy, các em sẽ không mất quá nhiều thời gian cho một câu hỏi

IV Kết quả đạt được

- Với cách hướng dẫn như được nêu ở trên, thái độ học tập của học sinh tích cực hơn và nghiêm túc hơn Các em thấy hứng thú với bài học vì hiểu cặn

kẽ cách chọn đáp án và luôn chuẩn bị bài kỹ trước khi đến lớp vì mỗi câu tôi đều

yêu cầu phải giải thích rõ đáp án mà các em chọn Các em thấy tự tin hơn khi làm bài vì nắm chắc cách làm bài dạng trắc nghiệm đối với câu bị động

- Kết quả kiểm tra phần này tôi thấy học sinh có thể làm bài tốt, trên 50%

có điểm trung bình trở lên Bước đầu kết quả như vậy, nhưng tôi tin với cách hướng dẫn rõ ràng, dựa vào dấu hiệu nhận biết, có giải thích các đáp án được chọn thì học sinh sẽ quen dần với dạng bài trắc nghiệm không những ở bài học

về câu bị động mà còn cho các dạng ngữ pháp khác

- Cách hướng dẫn được nêu ở trên rất khả thi và được nhân rộng trong tổ

ngoại ngữ của trường chúng tôi Tôi hi vọng cách hướng dẫn này cũng sẽ được nhân rộng trong các trường bạn

Trang 26

Rất mong quí Thầy, Cô đóng góp ý kiến để tất cả chúng ta có thể hoàn thành tốt tiết dạy ngữ pháp về câu bị động đặc biệt là đối với các bài tập dạng trắc nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cũng như kết quả thi tốt nghiệp THPT quốc gia

Trang 27

VỀ CÁCH CHỌN ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM ĐÚNG NHẤT

DẠNG BÀI TẬP “Form of the word”

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Trần Huệ Đông Trường THCS và THPT Lai Hòa

Làm thế nào để dạy tốt và học tốt được môn tiếng Anh? Đó là câu hỏi

của rất nhiều học sinh cũng như nhiều thầy cô giáo đang từng ngày mong mỏi học trò mình học tốt Là một giáo viên tiếng Anh, hôm nay tôi xin chia sẻ một số

kinh nghiệm để giúp học sinh cách chọn đáp án trắc nghiệm đúng nhất ở dạng

bài tập “Form of the word"

Trước hết tôi xin chia sẻ một câu nói rất thực tế của một đồng nghiệp là

“Điều đầu tiên các bạn cần ghi nhớ là có 3 yếu tố để học tốt tiếng Anh đó là

"Practise, practise, and practise ” Đúng thế! Thực hành là yếu tố quan trọng

nhất, vậy thì một trong những nguyên nhân khiến học sinh chúng ta có điểm yếu cũng chính là lười biếng Tuy nhiên một nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là các

em chưa biết cách nên làm thế nào để có được những “bí kíp” chọn đáp án trắc nghiệm đúng nhất ở dạng bài tập này vì đối với những kĩ năng khác nhau của tiếng Anh sẽ có những cách thực hành khác nhau

Bài tập cấu tạo từ thường kiểm tra tất cả các dạng từ loại như danh từ, tính

từ, trạng từ, động từ Để làm tốt dạng bài tập này, trước hết, học sinh cần phải có một vốn từ vựng phong phú Khi học một từ mới các em nên học tất cả các từ lạ

liên quan mà chúng ta thường gọi là family words bao gồm cả tiền tố hoặc hậu tố

cấu tạo từ trái nghĩa

- Danh từ cần tìm số ít hay số nhiều

- Động từ trong câu chia ở thì nào, theo chủ ngữ số ít hay số nhiều

- Đáp án cần tìm có nghĩa khẳng định (positive) hay phủ định (negative)

- Nếu đáp án cần tìm là danh từ thì xác định đó là danh từ chỉ người, vật, hay sự vật Cần cân nhắc về nghĩa trong câu với những từ có cùng từ loại

Ví dụ: Chọn từ thích hợp tương ứng với A, B, C hoặc D để hoàn thành

câu sau:

He cycled and had an accident

Trang 28

A careful B careless C carefully D carelessly Hướng dẫn: Ta dùng trạng từ bổ nghĩa cho động từ cycle, ta lại chọn carelessly thay vì carefully vì nghĩa của câu

→ Đáp án là D

Ví dụ: Chọn từ thích hợp tương ứng với A, B, C hoặc D để hoàn thành

câu sau:

The new dress makes you more

A beauty B beautiful C beautifully D beautify

Hướng dẫn: make + danh từ/ đại từ + tính từ/ tính từ so sánh hơn: làm cho, khiến cho…

→ Đáp án là B “The new dress makes you more beautiful” (Chiếc áo

đầm mới làm cho bạn xinh đẹp hơn)

Để làm tốt dạng bài tập từ vựng, ta cần nắm được các điểm sau đây:

I Cách thành lập danh từ (noun) từ động từ (verb):

1 VERB + MENT → NOUN EG: Treat → treatment

EG: Develop → development

2 VERB + ENCE / ANCE → NOUN EG: Perform → performance

EG: Depend → dependence

3 VERB + _ION → NOUN EG: Create → creation

EG: invent → invention

4 VERB + ER / OR / ANT → NOUN

(chỉ người)

EG: Teach → teacher EG: act → actor EG: Inhabit → inhabitant

5 VERB + _ING → NOUN EG: Play → playing

6 Ngoại lệ :

a VERB → NOUN

EG: Arrive → arrival EG: Succeed → success EG: Choose → choice

b NOUN + _IST → NOUN (người) EG: Language → linguist

EG: Biology → biologist

c NOUN + IAN → NOUN EG: Politics → politician

EG: library → librarian

II Cách thành lập tính từ (adj) từ động từ (verb):

Trang 29

1 VERB + _IVE → ADJ EG: Act → active

2 VERB + ABLE → ADJ EG: Eat → eatable

3 VERB + _ING → ADJ EG: Interest→ interesting

4 VERB + _ED → ADJ EG: Interest→ interested

III Cách thành lập tính từ (adj) từ danh từ (noun):

2 NOUN + _LESS → ADJ EG: Care → careless

4 NOUN + _AL → ADJ EG: Nature → natural

- ise/ -ize: modernize, popularize, industrialize…

- ify: beautify, purify, simplify

Tiền tố phủ định của tính từ:

im- (đứng trước tính từ bắt đầu m hoặc p) Immature, impatient

ir- (đứng trước tính từ bắt đầu r) Irreplaceable irregular

il- (đứng trước tính từ bắt đầu l) Illegal, illegible, illiterate

Hậu tố tính từ:

-y: bushy, dirty, hairy…

-ic: atomic, economic, poetic

-al: cultural, agricultural, environmental

-ical: biological, grammatical

-ful: painful, hopeful, careful

-less: painless, hopeless, careless

Trang 30

-able: loveable, washable, breakable

-ive: productive, active

-ous: poisonous, outrageous

Hậu tố tạo danh từ

-er/-or Dùng chỉ vật thực hiện một việc nhất định

-ee Chỉ người nhận hoặc trải qua một hành động nào đó

-ist Còn dùng để chỉ người chơi một loại nhạc cụ, chuyên gia một lĩnh

vực…

-ness Dùng để hình thành danh từ từ tính từ

-hood Chỉ trạng thái hoặc phẩm chất

-ship Chỉ trạng thái, phẩm chất, tình trạng, khả năng hoặc nhóm

IV Cách lựa chọn tình huống:

1 Có thể là Noun (danh từ) trong các tình huống sau:

a) a, an, the, this, that, these, those + Noun + giới từ (in, on, of,…)

EG: Everyone knows the ……… of English (important)

→ answer: importance

b) Giới từ + Noun + giới từ

EG: These animals are in ……… of extinction (dangerous)

→ answer: danger

c) Subject + verb + Noun làm Object / adverb / to V / V-ing

EG: We have tried to increase………… by using better methods and tools (produce)

Trang 31

→ answer: Noun: production

d) Two, some, my, your, the + adj + Noun

EG: The industrial……… will lead to the country’s prosperity (develop)

→ answer: development

2 Có thể nghĩ đến Adj (tính từ) trong các tình huống sau:

a) Two, some, this, your, the + adj + Noun

EG: It is a ………paper (day)

c) To be + so, too, very, as + Adj

EG: The ceiling is too……….for him to touch (height)

c) Verb + Noun, Adv

EG: She dances ………( wonder)

→ answer: adverb: wonderfully

Trang 32

CÁCH CHỌN ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM ĐÚNG NHẤT

DẠNG BÀI TẬP “VOCABULARY”

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Tổ tiếng Anh Trường THCS và THPT Tân Thạnh

Trong những năm gần đây tất cả các bài TEST tiếng Anh đều có hàm lượng câu hỏi về từ vựng rất lớn, không giống như thời mà chúng ta chỉ chăm chăm học về ngữ pháp từ trước Hiện nay, việc chúng ta phải học nhiều hơn về

từ vựng và khả năng học những từ hay xuất hiện trong cuộc sống hoặc kể cả những từ lóng, từ đồng nghĩa, trái nghĩa…là rất cần thiết Vì thế để đáp ứng về lượng từ vựng rất lớn ở tất cả các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi THPT quốc gia, chúng

ta phải hướng dẫn các em đối phó với dạng bài tập này Đối phó mở ngoặc ra thì chúng ta dùng từ “Deal with” tức là để các em đối phó được với dạng bài tập từ vựng này thì chúng ta phải hiểu rằng từ vựng là mênh mông, quá nhiều và để có thể làm tốt được thì chúng ta cần phải sử dụng cái đầu của mình: suy nghĩ, phán đoán và lựa chọn theo một cảm giác tốt nhất, cảm giác về ngôn ngữ là rất quan trọng khi chúng ta đề cập đến bài tập này Nếu bài tập dạng khác thì tôi sẽ không nói nhiều về vấn đề trực giác Chúng ta chỉ cần tập trung vào câu nào là đúng ở đâu, sai ở đâu? Cấu trúc là gì, ngữ pháp là gì? Chúng ta học rồi thì chúng ta cứ làm thôi Nhưng ở dạng bài tập từ vựng này, đoán từ theo ngữ cảnh, thì không

có một hướng đi cụ thể nào Cũng như các bài danh động từ, động từ nguyên mẫu, cụm động từ…những trường hợp này nếu như chúng ta vô tình biết được

từ nghĩa của nó là như thế này hoặc như thế kia thì chúng ta ghép vào câu thấy hợp lý thì làm được, còn nếu như chúng ta không biết thì đoán bừa và khả năng đúng chỉ có 25% bởi vì câu có 4 đáp án Và chỉ có thể làm theo hướng như vậy thôi Nếu nói không có một hướng đi cụ thể nào thì chẳng lẻ bài tập

“Vocabulary” không có hướng đi sao? Thực ra bài tập từ vựng trong các đề thi trắc nghiệm tiếng Anh thường bao gồm các dạng bài tập sau:

- Bài tập về cấu tạo từ hoặc dạng thức của từ (word formation)

- Bài tập về chọn từ (word choice) hoặc sự kết hợp của từ (collocations) Thay mặt tổ tiếng Anh tôi xin trình bày tham luận về: Cách chọn đáp án

Trang 33

lắm Đội ngũ giáo viên chúng tôi đa số là giáo viên trẻ có trình độ tiếng Anh tốt, nhiệt tình, có tinh thần học hỏi nâng cao Tuy nhiên cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tiếng anh và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế, vẫn còn thiếu các phòng học chức năng

II Giải pháp

Thực hiện hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào đặc điểm năm học và tình hình thực tế của đơn vị, nhà trường đã xây dựng kế hoạch dạy, học Trong đó xác định mục tiêu rèn luyện cho học sinh làm bài thi trắc nghiệm

là chủ đạo, đặc biệt là hướng dẫn các em “Cách chọn đáp án đúng nhất dạng bài

tập Vocabulary” Để thực hiện được mục tiêu đó, trong hệ thống các giải pháp, nhà trường chú trọng một số giải pháp sau:

Công tác bồi dưỡng giáo viên và học sinh

Để giúp học sinh có kĩ năng làm bài thi tốt thì trước hết giáo viên cũng cần tìm hiểu những phương pháp làm bài thi và tự mình vào giải bài cũng giống như một học sinh thực thụ Từ đó nắm bắt cách thức thi, các dạng đề, cũng như những kĩ năng cần thiết để hướng dẫn học sinh Đồng thời qua đó tìm hiểu những dạng bài mà học sinh còn lúng túng để có biện pháp khắc phục Điều cần thiết là giáo viên cần thường xuyên tổ chức, theo dõi học sinh thực hành để nắm bắt những lỗi mà học sinh còn mắc phải và uốn nắn kịp thời Thực tế cho thấy nếu không được uốn nắn kịp thời thì ngay cả những em giỏi cũng có thể làm sai

Để giúp học sinh có kĩ năng làm bài thi trắc nghiệm từ vựng tốt Giáo viên cần giải thích và đưa ra ví dụ về những dạng bài tập mới, nâng cao, luyện cho các em làm bài tập thành thạo, cung cấp cho các em vốn kiến thức về từ vựng cũng như về cách học từ sao cho có hiệu quả nhất Đặc biệt giáo viên cần tự học,

tự trau dồi thêm về kiến thức ngôn ngữ để là tấm gương cho các em Song song

đó giúp các em làm quen với dạng bài tập Qua quá trình thực hiện, chúng tôi

đã rút ra được một số kinh nghiệm giúp học sinh làm quen từng dạng bài tập như sau:

1 Phương thức cấu tạo của từ (Word formation)

Bài tập cấu tạo từ thường kiểm tra tất cả các dạng từ loại như danh từ, tính

từ, trạng từ, động từ Để làm tốt dạng bài tập này, trước hết, học sinh cần phải có một vốn từ vựng phong phú Khi học một từ mới các em nên học tất cả các từ loại liên quan, bao gồm cả tiền tố hoặc hậu tố cấu tạo từ trái nghĩa

Ví dụ: succeed (v), success (n), (un)successful (adj), (un)successfully

(adv) Khi lựa chọn đáp án đúng cho bài tập cấu tạo từ ta cần chú ý những điểm sau:

- Xác định từ loại của từ cần tìm

- Danh từ cần tìm số ít hay số nhiều

- Động từ trong câu chia ở thì nào, theo chủ ngữ số ít hay số nhiều

Trang 34

- Đáp án cần tìm có nghĩa khẳng định (positive) hay phủ định (negative)

- Nếu đáp án cần tìm là danh từ thì xác định đó là danh từ chỉ người, vật, hay sự vật Cần cân nhắc về nghĩa trong câu với những từ có cùng từ loại

Ví dụ minh họa: Chọn từ thích hợp tương ứng với A., B, C hoặc D để

hoàn thành câu sau:

He cycled and had an accident

A careful B careless C carefully D carelessly

Hướng dẫn: Ta dùng trạng từ bổ nghĩa cho động từ cycle, ta lại chọn

carelessly thay vì carefully vì nghĩa của câu (từ khóa accident) Đáp án là D

He cycled carelessly and had an accident (Anh ấy đi xe máy bất cẩn và

gặp tai nạn)

2 Chọn từ - sự kết hợp từ (Word choice - Collocations)

Để làm tốt bài tập chọn từ hoặc sự kết hợp của từ ta cần chú ý những điểm sau:

- Đọc kĩ câu hỏi và chú ý những từ loại cần điền vào

- Đọc kĩ 4 lựa chọn và ngữ nghĩa của chúng

- Lựa chọn đáp án đúng dựa vào kiến thức từ vựng đã học

- Nếu chưa quyết định dứt khoát đáp án đúng thì hãy dùng phương pháp loại trừ dần dần những phương án sai

Ví dụ minh họa: Chọn từ thích hợp tương ứng với A, B, C hoặc D để

hoàn thành câu sau:

English is now an effective medium of international _

A communication B talking C speech D saying

Hướng dẫn: Câu này hỏi sự sử dụng đúng từ trong ngữ cảnh

A communication = sự giao tiếp là đáp án đúng

(English is now an effective medium of international communication: Bây

giờ tiếng Anh là phương tiện giao tiếp quốc tế hiệu quả),

B talking = sự nói; câu chuyện (không thể kết hợp với international)

C speech = lời nói; cách nói; bài diễn văn

D saying = tục ngữ, châm ngôn

Bài thi từ vựng thì không khó lắm với các thí sinh có vốn từ vựng nhiều Muốn vậy, khi ôn thi, thí sinh nên học cách sử dụng từ điển một cách có hiệu quả Có nhiều loại từ điển rất tốt giúp cho việc làm bài thi trắc nghiệm, ví dụ như từ điển đồng nghĩa phản nghĩa, từ điển tiền tố, hậu tố (hay còn gọi là tiếp đầu ngữ và tiếp vị ngữ), và từ điển những từ cùng họ hàng gốc gác Điều cần nhớ là một từ có nghĩa tương đương bên tiếng Việt như vầy không hẳn là lựa

Trang 35

chọn đúng trong câu tiếng Anh như thế trong ngữ cảnh như thế

3 Một số kỹ năng cần thiết

Ngoài việc dựa vào kiến thức có được thông qua học tập ra, thí sinh cũng cần nên luyện tập để phát triển trực giác của mình Trực giác là cái cảm giác khó diễn tả cho ta biết lựa chọn nào là đúng, và không có lý do gì khác để tin là nó đúng Trong các tài liệu luyện thi làm bài trắc nghiệm nghiêm túc đều có các bài tập nhằm giúp thí sinh tận dụng trực giác của mình Theo đó, nếu thí sinh trả lời theo trực giác và khi kiểm tra lại mà thấy mình chọn đa số đúng thì các em có khả năng làm bài trắc nghiệm tốt

Thí sinh cũng nên thực hiện quy trình loại trừ Có những lựa chọn vô lý

một cách lộ liễu cần phải loại trừ Như thế xác suất đúng của lựa chọn của thí sinh đã tăng lên thành hơn ba mươi hoặc năm mươi phần trăm Ngoài ra thí sinh cũng có thể tập luyện khả năng nhận biết đúng sai bằng cách đọc ra trọn câu lần lượt kèm theo từng lựa chọn Phần lớn câu nào nghe xuôi tai thì chính là câu đúng

Có một điều thí sinh cần biết là câu trả lời sai không ảnh hưởng đến tổng

số điểm đạt được Nếu sau khi đã thử các cách trên (trực giác, loại trừ, lắng

nghe) mà vẫn không có được lòng tin, thì thí sinh nên sử dụng một mẫu tự dự

đoán Mẫu tự dự đoán là một trong bốn mẫu tự lựa chọn (hoặc A, B, C, hoặc D)

mà thí sinh nên chọn để trả lời cho tất cả những câu hỏi mà các em không biết Như vậy có khả năng rất lớn sẽ kiếm được một số câu trả lời đúng, hơn là chọn ngẫu nhiên đủ hết cả bốn mẫu tự

Điều quan trọng cuối cùng là thí sinh nên làm thật nhanh các câu có vẻ dễ nhất Nếu còn có đủ thời gian, các em lúc nào cũng có thể quay lại từ đầu để giải quyết các câu khó

Tóm lại câu hỏi về từ vựng luôn có mặt trong tất cả các bài thi, thế nên giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách làm bài hiệu quả để các em có thể vượt qua các kỳ thi

III Kết quả đạt được

Cái được đầu tiên phải kể đến đó chính là giáo viên đã có sự chuyển đổi

về nhận thức, từ quy định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế thích thú với việc hướng dẫn học sinh làm bài thi trắc nghiệm môn tiếng Anh và bản thân các giáo viên cũng tham gia vào làm bài, hướng dẫn các em làm bài tốt hơn Về phía học sinh một số em cũng sẽ thích thú và say mê làm bài thi hơn

IV Phương hướng thời gian tới

Tiếp tục bồi dưỡng và thường xuyên nhắc nhở các em tham gia làm bài tập trắc nghiệm về từ vựng cũng như về tất cả các điểm ngữ pháp khác Quan tâm giúp đỡ kịp thời khi các em có khó khăn

Tổ chức hội thảo chuyên đề về “Rèn luyện kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm tiếng dạng bài tập Vocabulary”

Trang 36

V Kết luận

Qua việc áp dụng các biện pháp như: khai thác tính tư duy của học sinh, khả năng vận dụng kiến thức tiếng Anh trong khi làm bài tập, phân tích từng nội dung, ý chính trong mỗi dạng bài tập, cũng như giúp học sinh rèn luyện kỹ năng phán đoán khi làm bài thi Hơn thế nữa, hình thành thói quen làm bài tập trắc nghiệm tiếng Anh và giúp học sinh tự tin hơn mỗi khi tham gia làm bài

Ưu điểm: giúp học sinh hoàn toàn có thể tự tin khi làm bài tập trắc

nghiệm, biện pháp thực hiện khá đơn giản, dễ áp dụng đối với giáo viên và học sinh kể cả học sinh vùng sâu, vùng xa

Hạn chế: Đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, chỉ những giáo viên rèn luyện

đầy nhiệt huyết, còn học sinh phải thường xuyên thực hành, kiên nhẫn và yêu thích bộ môn tiếng Anh mới thực hiện được

Trên cơ sở đó bản thân chúng tôi cố gắng nêu ra các kinh nghiệm mà mình đã trực tiếp hướng dẫn học sinh tham gia làm bài trong thời gian qua, nhằm chia sẻ các kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh và kết quả của các kỳ thi

Trang 37

CÁCH CHỌN ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM ĐÚNG NHẤT DẠNG BÀI TẬP

“Because <=>Because of” và “Although <=> despite/ In spite of”

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Tổ tiếng Anh Trường THPT Phú Tâm

A Đặt vấn đề

Ngày nay tiếng Anh được sử dụng rộng rãi và phổ biến trên toàn thế giới Trong tất cả các kỳ thi, tiếng Anh là môn thi chính, bắt buộc Theo xu hướng đổi mới về dạng đề thi trong những năm gần đây, các em học sinh phải thi theo hình thức trắc nghiệm vì vậy nhiều học sinh chưa quen với dạng đề thi Các em phải đối mặt với một trong hai tình huống, không kịp giờ hoặc không thể hiểu được câu đó, theo tôi, các em có thể làm theo các cách sau: Khi làm bài (nhất là gặp các câu dài, phức tạp) ta hãy xem xét đồng thời một lúc 4 chọn lựa, từ ngoài vào trong, nếu thấy chọn lựa nào khác với 3 cái kia thì ta loại ngay rồi xét tiếp các đoạn tiếp theo nếu có 1 chọn lựa khác với 2 cái kia thì loại tiếp Cuối cùng chỉ còn lại 2 chọn lựa thì ta xem coi chúng khác nhau chỗ nào mà xoáy vào chỗ khác nhau đó để suy luận đúng sai

Qua nhiều năm giảng dạy, tôi thấy rằng một trong những nguyên nhân của vấn đề là học sinh không quan sát được tổng thể câu hỏi Những dữ kiện đề bài cho trước là mấu chốt quan trọng để chọn được đáp án đúng Muốn làm được, các em phải nắm vững cấu trúc, cách dùng và quy tắc chuyển đổi

B Giải quyết vấn đề

Trong chương trình học tiếng Anh ở bậc THPT, dạng bài tập “Because

<=> Because of” và “Although <=> despite/ In spite of” là một trong những cấu trúc mà các em học sinh thường gặp trong các đề kiểm tra kiến thức tiếng Anh Nhiều học sinh không nhớ khi nào thì sử dụng Trong phạm vi bài viết này, tôi xin hướng dẫn các em học sinh cách phân biệt, lựa chọn được phương án đúng

Có nhiều người thường nhầm lẫn hoặc không chú ý đến khi nào dùng

“because” và khi nào dùng “because of” Cả “Because” và “because of” đều là

từ dùng khi ai đó muốn nói về 1 nguyên nhân nào đó, cả 2 từ này đều có nghĩa là

Trang 38

+ “Because of” thì đứng trước 1 danh từ hay 1 cụm danh từ (Rút gọn cho mệnh đề)

Ví dụ 3: I cannot go out because of the rain

noun

Ví dụ 4: I love you because of your intelligence

noun

I Quy tắc chuyển từ “Because” sang “Because of”

- Khi chuyển từ Because sang Because of ta phải làm sao cho không còn mệnh đề nữa bởi vì theo sau Because of chúng ta phải đi tìm một danh từ, cụm danh từ, danh động từ bỏ vào đó

- Khi đổi, mệnh đề chính giữ nguyên

- Khi đổi “Because” sang “Because of” → Thì của động từ phải hoà hợp

với thì của động từ ở mệnh đề chính

1 SUBJECT giống nhau → bỏ đi, Verb biến thành Gerund

Ex: He had an accident because he drove too fast → because of driving

Ex: I couldn’t understand because he spoke too fast → because of his

speaking too fast

3 There + BE + NOUN → NOUN

Sau khi bỏ "there", bỏ "to be" (was) chỉ còn lại danh từ

Ex: Because there was a storm, → Because of the storm,

4 NOUN + TO BE + ADJ → a, an , the + ADJ + NOUN

- Sau khi bỏ "to be" (is) thấy có danh từ và tính từ nên ta chỉ việc đưa tính

từ lên trước danh từ

Ex: I couldn’t go to school because the weather was bad → because of

the bad weather Noun Adj

Adj Noun

5 PRONOUN + TO BE + ADJ → Tính từ sở hữu + NOUN

Ex: They are treated badly because they are poor → because of their

poverty Pro Adj tính từ sở hữu Noun

Trang 39

6 NOUN + VERB → THE + NOUN + OF + NOUN

Ex: Women have more free time because labour saving devices were invited

Noun Verb

because of the invention of labour saving devices Ex: Many women went to work because World War II broke out

there was World War II

→ because of World War II

7 Ta có thể dụng cụm "the fact that" đặt vào trước mệnh đề để biến mệnh

đề đó thành một "danh từ" cách này chỉ nên áp dụng khi các bước trên không làm được

Ex: Because he is tall, he can reach the book on the shelf

→ Because of the fact that he is tall,

II Cách chuyển từ though/ although sang despite/ in spite of:

Although, though: mặc dù: + mệnh đề: là một mệnh đề trạng ngữ chỉ sự đối lập

Despite / in spite of: mặc dù: + đứng trước 1 danh từ hay 1 cụm danh từ

- Cách chuyển đổi tương tự các bước chuyển từ Because sang Because of Ex: Although Nam is tall, he cannot reach the book on the shelf

→ Despite / In spite of being tall, Nam cannot reach the book on the shelf

C Kết luận

Trên đây là những kinh nghiệm của tôi về cách giúp học sinh chọn đáp án

trắc nghiệm đúng nhất dạng bài tập “because <=> because of” và “although

<=> despite/ in spite of” Tôi hi vọng nó sẽ giúp học sinh làm tốt các dạng bài

tập này trong các bài thi

Trang 40

CÁCH CHỌN ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM ĐÚNG NHẤT

DẠNG BÀI TẬP “COMPARATIVE”

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Trần Thị Thanh Tú Trường THCS và THPT DTNT Vĩnh Châu

I Đặt vấn đề

Tiếng Anh đang ngày càng trở thành một môn học quan trọng bởi tính hữu dụng của nó trong thời đại mới Tuy nhiên, vì là một ngôn ngữ nước ngoài nên sự khó khăn trong quá trình tiếp thu là không thể tránh khỏi, đặc biệt là các

kĩ năng Nghe (Listening), Nói (Speaking), Đọc (Reading), Viết (Writing) và

nhất là phần Ngữ pháp (Grammar)

Chắc hẳn chúng ta đều biết, thực hành, làm bài tập là bước quan trọng để học sinh củng cố kiến thức và ghi nhớ các cấu trúc, các công thức Tuy nhiên, không phải cứ thực hành máy móc mà tiến bộ được, mà ở mỗi cấu trúc, mỗi bài tập cần được thực hành có bài bản, có trình tự thích hợp thì mới hiệu quả Không cần phải tìm hiểu nghĩa của từng câu từng chữ mà vẫn làm bài được Tùy vào yêu cầu và dạng bài tập, nếu có phương pháp, học sinh sẽ có thể làm bài nhanh

và chính xác

II Giải quyết vấn đề

Ở các bài tập so sánh, theo phương pháp truyền thống, học sinh phải thuộc lòng các công thức thì mới có thể làm đúng được dạng bài tập này Chính

vì vậy, không ít học sinh phải học vẹt, học nhồi nhét sao cho thuộc được tất cả công thức ở các dạng so sánh Sự đa dạng về công thức làm cho phần lớn học sinh bị nhầm lẫn, thậm chí không thuộc được công thức nào dẫn đến tình trạng chán học, học nhiều mà vẫn thấy vô cùng khó khăn vì số lượng công thức đa dạng

Bên cạnh đó, các kỳ thi môn tiếng Anh ở các trường THPT càng ngày càng phổ biến dạng bài tập trắc nghiệm Nếu học sinh không nhớ công thức dạng so sánh thì các em vẫn có thể chọn được đáp án chính xác Như vậy phải cần những phương pháp nào, làm sao để chọn được một cách đúng nhất ? Bài

tham luận này xin được chia sẻ một số cách hướng dẫn cho học sinh chọn đáp

án trắc nghiệm đúng nhất cho dạng ngữ pháp so sánh (Comparatives)

1 Đối với dạng so sánh bằng (Equality), công thức chung là:

S 1 + be/ V + as + adj / adv + as + S 2 + (aux)

S 1 + negative V + as/so + adj / adv + as + S2 + (aux)

E.g: He is not as/so old as my father (is)

E.g: He drives as carefully as I (do)

Ngày đăng: 22/06/2018, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w