Tại Việt Nam, với sự quan tâm của Nhà nước, với sự cố gắng và sự hợp tác của các nhà nghiên cứu, kĩ thuật, công nghệ, hy vọng chúng ta sẽ đạt được nhiều kết quả trong lĩnh vực nghiên cứu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
******
VŨ THỊ KHÁNH LINH
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VẬT LIỆU
POLYVINYL ANCOL/TINH BỘT KHOAI TÂY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
******
VŨ THỊ KHÁNH LINH
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VẬT LIỆU
POLYVINYL ANCOL/TINH BỘT KHOAI TÂY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Người hướng dẫn khoa học
TS CHU ANH VÂN
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự lỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo, gia đình và bạn bè Để có được thành quả ngày hôm nay, trước
hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Chu Anh Vân về sự
nhiệt tình và hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn thầy cô trong khóa Hóa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện và thời gian cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Cuối cùng tôi xin gửi đến bố mẹ, người thân, bạn bè lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc, những người luôn động viên, khuyến khích, giúp tôi có đủ nghị lực vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận của mình
Mặc dù đã nỗ lực nhưng thời gian và kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Khánh Linh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASTM American Standard Testing Method ISO International standard organization KLPT Khối lượng phân tử
SEM Kính hiển vi điện tử quét
TBKT Tinh bột khoai tây
TGA Phân tích nhiệt trọng lượng
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Quan hệ giữa kích thước hạt và bề mặt riêng của nanoclay 6
Bảng 1.2 Polyme PVA thương mại 14
Bảng 1.3 Blend TB- PVA thương mại 17
Bảng 3.1 Tính chất cơ lý của vật liệu PVA/TBKT/nanoclay 24
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cấu trúc của montmorillonit 3
Hình 1.2 Amylozơ (A) và amylopectin (B) trong tinh bột 16
Hình 1.3 Cơ chế phân hủy PVA bằng PVADH 19
Hình 2.1 Quy trình sản xuất vật liệu PVA/TBKT 20
Hình 3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng nanoclay tới độ bền kéo đứt của vật liệu 25
Hình 3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng nanoclay tới độ dãn dài của vật liệu 25
Hình 3.3 Cấu tạo hóa học của vật liệu PVA/TBKT/nanoclay 26
Hình 3.4 Ảnh SEM của PVA/TBKT/2% nanoclay (a); PVA/TBKT/3% nanoclay (b) 27
Hình 3.5 Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu màng PVA/TBKT/nanoclay 28
Hình 3.6 Giản đồ phân tích nhiệt vật liệu PVA/TBKT 29
Hình 3.7 Mẫu màng phủ đất trong 0 – 10 ngày 30
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Nanoclay 3
1.1.1 Khái niệm nanoclay 3
1.1.2 Cấu trúc sét hữu cơ 3
1.1.3 Tính chất của sét hữu cơ 3
1.1.4 Ứng dụng của sét hữu cơ 4
1.2 Giới thiệu chung về polyme nanocompozit 4
1.2.1 Khái niệm về vật liệu polyme nanocompozit 4
1.2.2 Phân loại và đặc điểm của vật liệu polyme nanocompozit 6
1.2.2.1 Phân loại 6
1.2.2.2 Đặc điểm của vật liệu polyme nanocompozit 7
1.2.3 Những ưu điểm của vật liệu polyme nanocompozit 7
1.3 Vật liệu polyme phân hủy sinh học 8
1.3.1 Giới thiệu về polyme phân hủy sinh học 8
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy sinh học 9
1.3.2.1 Ảnh hưởng của cấu trúc polyme 9
1.3.2.2 Ảnh hưởng của hình thái polyme 10
1.3.2.3 Ảnh hưởng của chiếu xạ và xử lý hóa học 10
1.3.2.4 Ảnh hưởng của khối lượng phân tử polyme 10
Trang 81.3.3 Tác nhân gây phân hủy sinh học 11
1.3.3.1 Vi sinh vật 11
1.3.3.2 Enzym 12
1.3.4 Ứng dụng polyme phân hủy sinh học 12
1.3.4.1 Ứng dụng trong y học 12
1.3.4.2 Ứng dụng trong nông nghiệp 13
1.3.4.3 Bao bì 13
1.3.5 Blend PVA/TBKT 14
1.3.5.1 PVA 14
1.3.5.2 Tinh bột 15
1.3.5.3 Blend Tinh bột – PVA 17
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 20
2.1 Nguyên liệu 20
2.2 Cách tiến hành 20
2.3 Các phương pháp phân tích cấu trúc, tính chất của màng polyme PHSH 21 2.3.1 Phương pháp xác định độ bền cơ học 21
2.3.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) 21
2.3.3 Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) 22
2.3.4 Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Xác định tính chất cơ lý của vật liệu PVA/TBKT/nanoclay 23
3.2 Cấu trúc hình thái của vật liệu 26
3.3 Bước đầu chế tạo màng phủ nông nghiệp có khả năng phân hủy 30
KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 91
MỞ ĐẦU
Ngày nay các vật liệu trên cơ sở polyme như: chất dẻo, cao su, sợi keo dán, sơn… đã gắn bó mật thiết với mọi ngành, mọi lĩnh vực của sản xuất và sinh hoạt của con người do những tính chất ưu việt của nó (độ bền cao, khả năng uốn dẻo, độ dãn dài, độ bền kéo đứt cao) mà khó có vật liệu nào có thể đáp ứng được Với sự phát triển của ngành công nghiệp hóa dầu, sự nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme rất được quan tâm và chú ý Thông qua các con
số thống kê ta mới thực sự đánh giá hết tầm quan trọng của vật liệu polyme Nếu chỉ tính riêng năm 1996, bình quân đầu người tại các nước công nghiệp phát triển sử dụng 80 – 100 kg polyme, còn các nước đang phát triển là 1 – 10
kg và con số này hiện nay vẫn không ngừng tăng lên Như vậy, vật liệu polyme với sự phong phú về chủng loại và đa dạng về tính chất đã có mặt ở khắp mọi lĩnh vực của cuộc sống, là một bước đột phá mới cho các ngành chế tạo vật liệu
Ước tính mỗi năm có thêm khoảng 20 – 30 triệu tấn polyme trên thế giới và nếu không có biện pháp xử lý hữu hiệu thì con số này sẽ ngày càng tăng lên Bản thân rác thải polyme không tự gây ra độc hại nhưng số lượng rác thải ngày càng tăng lên và không phân hủy được sẽ là môi trường cho các loại sinh vật, côn trùng mang mầm bệnh sinh sôi và phát triển gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Chính vì thế trong những năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới
đã tập trung nghiên cứu điều chế và ứng dụng vật liệu polyme dễ phân hủy khi thải ra môi trường, nhằm mục đích ngăn ngừa sự ô nhiễm môi trường Polyme dễ phân hủy được dùng chủ yếu để sản xuất các vật dụng như bao bì, túi đựng, màng che phủ đất, bầu ươm cây giống…các vật dụng này sau khi không sử dụng sẽ bị phân hủy không gây ô nhiễm môi trường sống Polyme
Trang 102
dễ phân hủy cũng được dùng trong lĩnh vực bảo quản thực phẩm kể cả ở điều kiện tự nhiên cũng như làm lớp bao phủ thực phẩm bảo quản ở nhiệt độ thấp (trong tủ lạnh) Ngoài ra polyme dễ phân hủy do môi trường còn được sử dụng trong một số lĩnh vực khác như y tế (chất mang thuốc)
Do nhu cầu bảo vệ môi trường trước việc phát sinh ngày càng nhiều chất thải polyme khó phân hủy, lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng polyme dễ phân hủy sinh học ngày càng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên cũng cần phải thừa nhận rằng còn rất nhiều thách thức trong lĩnh vực này, đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ Tại Việt Nam, với
sự quan tâm của Nhà nước, với sự cố gắng và sự hợp tác của các nhà nghiên cứu, kĩ thuật, công nghệ, hy vọng chúng ta sẽ đạt được nhiều kết quả trong lĩnh vực nghiên cứu và sử dụng polyme dễ phân hủy sinh học Cũng chính từ những lý do này mà chúng tôi chọn tinh bột khoai tây – vật liệu dễ kiếm trên
thị trường để tiến hành nghiên cứu cứu đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp vật liệu phân hủy sinh học trên cơ sở polyvinyl ancol/tinh bột khoai tây”
Mục đích của đề tài:
Biến tính polyvinyl ancol bằng tinh bột khoai tây trong dung môi thích hợp, từ đó phối trộn hạt nano để tổng hợp vật liệu nanocompozit có khả năng phân hủy sinh học Thử nghiệm ứng dụng vật liệu polyvinyl ancol/tinh bột khoai tây (PVA/TBKT) làm màng phủ đất
Nội dung chính của đề tài:
- Xác định tính chất cơ lý của vật liệu PVA/TBKT/nanoclay
- Nghiên cứu cấu trúc hình thái và tính chất nhiệt của vật liệu PVA/TBKT
- Thử nghiệm làm màng che phủ đất
Trang 113
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Nanoclay
1.1.1 Khái niệm nanoclay
Nanoclay (còn gọi là nano khoáng sét) được cấu tạo từ các lớp mỏng, mỗi lớp có chiều dày từ 1 đến vài nanomet, có chiều dài từ vài trăm đến vài nghìn nanomet
Loại nanoclay đầu tiên được tìm thấy trên thế giới là montmorillon, ở Pháp, năm 1874
1.1.2 Cấu trúc sét hữu cơ
Sét hữu cơ (nanoclay hữu cơ) là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các khoáng có cấu trúc lớp thuộc nhóm smectit, đặc trưng nhất là bentonite
và các cation hữu cơ hoặc các hợp chất hữu cơ phân cực, đặc biệt là các amin bậc 1, bậc 2, bậc 3, bậc 4 có mạch thẳng, nhánh và vòng với các mạch có độ dài ngắn khác nhau
Hình 1.1 Cấu trúc của montmorillonit
1.1.3 Tính chất của sét hữu cơ
- Tính hấp phụ: Do sét hữu cơ có tính ưa hữu cơ nên sự hấp phụ xảy ra
chủ yếu đối với các phân tử hữu cơ trong môi trường lỏng hoặc khí Trong môi trường lỏng khả năng hấp phụ tăng khi điện tích lớp, khoảng không gian
Trang 124
của các lớp, kích thước alkyl amoni tăng và lượng cation hữu cơ trong sét đạt xấp xỉ mức độ bão hòa với dung lượng trao đổi cation
- Tính trương nở: Sét hữu cơ có khả năng trương nở tốt trong các dung
môi hữu cơ Khi được phân tán vào môi trường các chất hữu cơ, tính trương
nở làm tăng độ phân tán của các chất hữu cơ, do đó sét hữu cơ được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như làm chất chống sa lắng trong sơn, trong mực in, làm sạch nước bị ô nhiễm bởi dầu, mỡ
- Độ bền của sét hữu cơ: Độ bền của sét hữu cơ một phần là do lực hút
VanderWaals giữa các mạch hữu cơ với bề mặt hạt sét Hiệu ứng này tăng nhanh theo chiều dài mạch hữu cơ, một phần khác là do độ bền nhiệt động học của các cation amoni bậc 4 trên bề mặt các hạt sét lớn hơn so với độ bền nhiệt động học của chúng được hiđrat hóa Do vậy sét hữu cơ tương đối ổn định nhiệt, nó có thể sử dụng ở nhiệt độ lên tới 250o
C
1.1.4 Ứng dụng của sét hữu cơ
Sét hữu cơ đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như:
Xử lý môi trường: sét hữu cơ là chất hấp phụ mạnh để loại bỏ dầu, chất hoạt động bề mặt và các dung môi như metyletyl xeton, t-butyl ancol và các chất khác
Chế tạo vật liệu polyme clay nanocompozit: hiện nay, ứng dụng quan trọng nhất của sét hữu cơ là trong lĩnh vực điều chế các polyme nanocompozit, sét hữu cơ chiếm 70% các loại vật liệu nano thương mại được dùng để điều chế các polyme compozit Sét hữu cơ cũng được sử dụng làm chất chống sa lắng trong môi trường hữu cơ do sét hữu cơ có khả năng trương
nở và tạo gel trong dung môi hữu cơ…
1.2 Giới thiệu chung về polyme nanocompozit
1.2.1 Khái niệm về vật liệu polyme nanocompozit
Vật liệu polyme nanocompozit là loại vật liệu gồm pha nền (polyme)
và pha gia cường ở các dạng khác nhau có kích thước cỡ nanomet (dưới 100
Trang 135
nm) Như vậy có thể hiểu, vật liệu polyme nanocompozit là vật liệu có nền là polyme, copolyme hoặc polyme blend và cốt là các hạt hay sợi khoáng thiên nhiên hoặc tổng hợp có ít nhất một trong 3 chiều có kích thước trong khoảng
Vật liệu polyme nanocompozit kết hợp được cả ưu điểm của vật liệu vô
cơ (như tính chất cứng, bền nhiệt,…) và ưu điểm của polyme hữu cơ (như tính linh động, mềm dẻo, là chất điện môi và khả năng dễ gia công…) Hơn nữa chúng cũng có những tính chất đặc biệt của chất độn nano điều này dẫn tới sự cải thiện tính chất cơ lý của vật liệu Một đặc tính riêng biệt của vật liệu polyme nanocompozit đó là kích thước nhỏ của chất độn dẫn tới sự gia tăng mạnh mẽ diện tích bề mặt chung khi so sánh với các compozit truyền thống [1] Bảng 1.1 là quan hệ giữa kích thước hạt và bề mặt riêng của vật liệu
Diện tích bề mặt riêng của vật liệu gia cường chính là bề mặt chung với polyme nền Diện tích bề mặt chung này tạo ra một tỷ lệ thể tích đáng kể của polyme có bề mặt chung với những tính chất khác biệt so với các polyme khối ngay cả khi ở tải trọng thấp Vật liệu nền sử dụng trong chế tạo polyme nanocompozit rất đa dạng, phong phú bao gồm cả nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn, thường là: nhựa polyetylen (PE), nhựa polypropylen (PP), nhựa polyeste, các loại cao su,…
Trang 14Các chất gia cường nhân tạo: các tinh thể như silica, CdS, PbS, CaCO3,… hay ống cacbon nano, sợi cacbon nano,…
1.2.2 Phân loại và đặc điểm của vật liệu polyme nanocompozit
1.2.2.1 Phân loại
Polyme nanocompozit nói chung hay cao su nanocompozit nói riêng được phân loại dựa vào số chiều có kích thước nanomet của vật liệu gia cường [2]:
- Loại 1: Là loại hạt có cả ba chiều có kích thước nanomet, chúng là
các hạt nano (SiO2, CaCO3,…)
- Loại 2: Là loại hạt có hai chiều có kích thước nanomet, chiều thứ ba
có kích thước lớn hơn, thường là ống nano hoặc sợi nano (thường là ống, sợi carbon nano) và được dùng làm phụ gia nano tạo cho polyme nanocompozit
có các tính chất đặc biệt
Trang 157
- Loại 3: Là loại chỉ có một chiều có kích thước cỡ nanomet Vật liệu
dạng này thường có nguồn gốc là các loại khoáng sét, graphen
1.2.2.2 Đặc điểm của vật liệu polyme nanocompozit
Với pha phân tán là các loại bột có kích thước nano rất nhỏ nên chúng phân tán rất tốt vào trong polyme, tạo ra các liên kết ở mức độ phân tử giữa các pha với nhau cho nên cơ chế khác hẳn với compozit thông thường Các phần tử nhỏ phân tán tốt vào các pha nền, dưới tác dụng của lực bên ngoài tác động vào nền sẽ chịu toàn bộ tải trọng, các phần tử nhỏ mịn phân tán đóng vai trò làm tăng độ bền của vật liệu đồng thời làm cho vật liệu cũng ổn định ở nhiệt độ cao
Do kích thước nhỏ ở mức độ phân tử nên khi kết hợp với các pha nền
có thể tạo ra các liên kết vật lý nhưng có độ bền tương đương với liên kết hóa học về mặt vị trí, vì thế cho phép tạo ra các vật liệu có nhiều tính chất mới, ví
dụ như tạo các polyme dẫn có rất nhiều ứng dụng trong thực tế
Vật liệu gia cường có kích thước rất nhỏ nên có thể phân tán trong pha nền tạo ra cấu trúc rất đặc, do đó có khả năng dùng làm vật liệu bảo vệ theo
cơ chế che chắn (barie) rất tốt
1.2.3 Những ưu điểm của vật liệu polyme nanocompozit
So với vật liệu polyme compozit truyền thống, vật liệu polyme nanocompozit có những ưu điểm chính như sau [2]:
- Vật liệu nano gia cường hiệu quả hơn bởi vì kích cỡ của nó nhỏ hơn dẫn tới sự cải thiện đáng kể tính chất của nền (chỉ với một lượng nhỏ vật liệu gia cường) điều này làm cho vật liệu polyme nanocompozit nhẹ hơn, dễ gia công hơn
- Sự chuyển ứng suất từ nền sang chất độn hiệu quả hơn là do diện tích
bề mặt lớn và khả năng tương tác tốt giữa các pha
Trang 168
1.3 Vật liệu polyme phân hủy sinh học
1.3.1 Giới thiệu về polyme phân hủy sinh học
Phân hủy sinh học (PHSH) của nhựa phụ thuộc vào cấu tạo hóa học của vật liệu và vào thành phần của sản phẩm vật liệu mà không phải phụ thuộc và nguyên liệu đầu sản xuất ra chúng Do vậy, nhựa phân hủy sinh học có thể được chế tạo từ nhựa tự nhiên và nhựa tổng hợp Nhựa tự nhiên phân hủy sinh học trước hết đi từ các nguồn có sẵn (như tinh bột) và có thể được chế tạo hoặc bằng con đường tự nhiên hoặc con đường tổng hợp từ các nguồn sẵn có Nhựa tổng hợp phân hủy sinh học đi từ các nguồn không tái tạo – từ sản phẩm dầu mỏ Nhiều loại polyme được thông báo là “Phân hủy sinh học” nhưng thực tế là “Bẻ gãy sinh học” , “ Thủy phân sinh học” hoặc “ Phân hủy quang – sinh học” Những loại polyme khác nhau này được gọi dưới một tên chung là
“Polyme phân hủy trong môi trường” Các loại nhựa phân hủy sinh học được xem xét dưới góc độ cơ chế phân hủy.Các cơ chế đó là: Phân hủy sinh học; chôn ủ; phân hủy thủy phân sinh học; phân hủy quang – sinh học; và bẻ gãy sinh học
Các định nghĩa phân hủy sinh học được dùng ở đây để mô tả các quá trình phân hủy của “ Nhựa phân hủy sinh học” hiện nay đang có sẵn và đang được sản xuất
+ Phân hủy sinh học
ASTM định nghĩa phân hủy sinh học là khả năng xảy ra phân hủy thành CO2, khí metan, nước, các hợp chất vô cơ hoặc sinh khối, trong đó cơ chế áp đảo là tác động của enzym của vi sinh vật đo được bằng các thử nghiệm chuẩn trong thời gian xác định phản ánh được điều kiện phân hủy
Tốc độ phân hủy sinh học phụ thuộc nhiều vào độ dày và hình học của sản phẩm Tốc độ phân hủy nhanh thường xảy ra với màng mỏng Sản phẩm với kích thước dày như dạng tấm, khay đựng thực phẩm, dao, thìa, nĩa cần đến khoảng một năm để phân hủy
Trang 179
+ Chôn ủ
ASTM định nghĩa nhựa chôn ủ như sau: Đó là nhựa có khả năng xảy
ra phân hủy sinh học ở môi trường ủ như một phần của chương trình sẵn có, rằng nhựa sau đó không thể phân biệt bằng mắt trần được nữa, phân hủy thành CO2, nước, hợp chất vô cơ và sinh khối với tốc độ phù hợp với vật liệu
ủ (ví dụ như xenlulozơ)
+ Thủy phân – phân hủy sinh học và quang - phân hủy sinh học
Polyme thủy phân – phân hủy sinh học và quang – phân hủy sinh học bị
bẻ gãy bằng 2 giai đoạn Lúc đầu thủy phân hoặc phân hủy quang, sau đó là giai đoạn phân hủy sinh học Cũng có loại polyme tan trong nước và phân hủy quang riêng lẻ
+ Bẻ gãy sinh học
Nhiều loại polyme được thông báo “Phân hủy sinh học”, nhưng thực chất là bẻ gãy sinh học hoặc phân hủy không có tác động của vi sinh vật ít nhất ở giai đoạn đầu Người ta cũng nói đây là quá trình gãy vô sinh (lão hóa nhiệt) hoặc bẻ gãy quang (lão hóa bằng UV)
Polyme phân hủy sinh học là những polyme được tạo ra trong tự nhiên trong các chu kỳ sinh trưởng của các cơ thể sống, do vậy chúng cũng thuộc vào loại các polyme tự nhiên Việc tổng hợp chúng, nói chung, bao gồm các phản ứng trùng hợp phát triển mạch các monome, xúc tác hoạt hóa bằng enzym Các monome này được hình thành một cách đặc thù nội trong các tế bào nhờ các quá trình trao đổi phức tạp
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy sinh học
1.3.2.1 Ảnh hưởng của cấu trúc polyme
Các phân tử polyme gốc tự nhiên như protein, xenlulozo và tinh bột nói chung bị phân hủy trong môi trường sinh vật do bị thủy phân hoặc oxy hóa Chúng ta hoàn toàn không ngạc nhiên khi đa phần các polyme tổng hợp phân
Trang 1810
hủy sinh học chứa các liên kết dễ bị thủy phân, ví dụ như: liên kết amit – enamin, este, ure và uretan dễ bị các vi sinh vật và enzym hydrolytic phân hủy
1.3.2.2 Ảnh hưởng của hình thái polyme
Một trong những khác biệt cơ bản giữa protein và polyme tổng hợp là dọc theo các mạch polypeptit, protein không có các mắt xích lặp lại tương tự
Sự thiếu trật tự này là nguyên nhân làm cho mạch protein kém tạo kết tinh hơn Rất có thể là tính chất này đã làm cho protein dễ bị phân hủy sinh học Mặt khác các polyme tổng hợp mới nói chung, có mắt xích ngắn và độ trật tự cao đã làm tăng khả năng kết tinh, làm cho các nhóm có khả năng thủy phân khó tiếp cận với enzym Ta thấy rõ ràng là những polyme tổng hợp với mắt xích dài khó tạo ra cấu trúc tinh thể, nên dễ bị phân hủy sinh học
1.3.2.3 Ảnh hưởng của chiếu xạ và xử lý hóa học
Quá trình quang phân polyme bằng tia UV và tia tạo ra gốc tự do hoặc ion thông thường dẫn đến đứt mạch và liên kết ngang Phản ứng oxy hóa cũng xảy ra làm cho tình thế phức tạp thêm do việc phơi ra ánh sáng luôn luôn có mặt của oxy Nói chung điều này sẽ làm thay đổi khả năng phân hủy của vật liệu Trước tiên người ta chờ đợi khả năng gia tăng tộc độ phân hủy cho đến lúc hầu hết các phân đoạn polyme bị dùng hết, tiếp đến là phân hủy phần polyme hóa lưới với tốc độ chậm hơn
1.3.2.4 Ảnh hưởng của khối lượng phân tử polyme
Có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của KLPT polyme lên quá trình phân hủy sinh học Sự khác nhau cơ bản có thể thấy được đó là giới hạn sự thay đổi trong quá trình phân hủy, sự khác nhau về hình thái độ ưa nước và kị nước của polyme có KLPT khác nhau Vi sinh vật sản xuất ra enzym ngoại bào (làm phân hủy polyme tại nhóm cuối) và enzym nội bào (phân hủy polyme ngẫu nhiên dọc theo mạch) Người ta chờ đợi sự ảnh hưởng lớn của KLPT lên tốc độ phân hủy với trường hợp enzym ngoại bào và một ảnh hưởng nhỏ của KLPT trong enzym nội bào Chất dẻo giữ nguyên miễn dịch
Trang 1911
một cách tương đối với tấn công của vi khuẩn khi mà KLPT vẫn còn cao Nhiều chất dẻo như PE, PP và PS không ủng hộ sự phát triển của vi khuẩn Tuy nhiên hydrocacbon KLPT thấp lại bị vi sinh vật phân hủy Chúng bị vi sinh vật chiếm, bị “hoạt hóa” lên khi gắn với đồng enzym A và chuyển hóa thành tế bào ngay trong tế bào vi sinh vật Tuy nhiên quá trình này không thực hiện tốt trong môi trường ngoại bào và phân tử của chất dẻo quá lớn không chui vào trong tế bào được Vấn đề này lại không xảy ra với polyme tự nhiên như tinh bột và xenlulozơ vì chuyển hóa thành cấu tử KLPT thấp nhờ phản ứng enzym xảy ra ở bên ngoài tế bào sinh vật Tuy nhiên, sự phân hủy quang và phân hủy hóa học có thể sẽ làm giảm KLPT đến mức mà vi sinh vật
Nấm có mặt ở khắp mọi nơi Tầm quan trọng của chúng làm nhân tố gây suy giảm vật liệu là kết quả của tác động của enzym do chúng sản xuất ra Enzym đã phá hủy hợp chất sống để cung cấp thức ăn có trong thành phần của polyme Điều kiện nhất định, như độ ẩm cao cũng như sự có mặt của vật liệu cung cấp thức ăn là quan trọng cho sự phát triển tối ưu của nấm Nhóm nấm cho mục đích thử nghiệm trong lĩnh vực polyme tự nhiên và chọn để sử dụng trong quy trình thử nghiệm polyme tổng hợp là thuộc nhóm dị thể, không có sự giống nhau giữa chúng
Trang 2012
1.3.3.1.2 Vi khuẩn
Schyzomycetes, một loại vi khuẩn có vai trò quyết định trong mối quan
hệ với nấm, làm suy giảm polyme Vi khuẩn có thể là que tế bào đơn chiếc, khuẩn cầu hoặc khuẩn sợ xoắn Những loại khác có dạng mạch hoặc dạng sợi tóc Vi khuẩn có thể là ưa khí hoặc kị khí, ngược lại nấm cần thiết phải có không khí Phần lớn vi khuẩn không có chất diệp lục Hoạt động phân hủy của chúng cũng chỉ đơn thuần là sản xuất ra enzym, phá hủy các hợp chất không
ăn được để tạo ra thức ăn Vi khuẩn tồn tại trong đất là tác nhân quan trọng làm suy giảm vật liệu, đặc biệt ảnh hưởng đến tuổi thọ cây bông, sản phẩm
gỗ, phân hủy sợi
1.3.3.2 Enzym
Enzym thực chất là xúc tác sinh học có cơ chế hoạt động giống như xúc tác hóa học Khi giảm năng lượng hoạt hóa xuống, chúng có thể tăng tốc độ phản ứng Khi có mặt của enzym, tốc độ phản ứng có thể tăng lên 108 – 1020lần Đa phần các enzym là những protein cấu trúc dạng phức ba chiều
1.3.4 Ứng dụng polyme phân hủy sinh học
Các ứng dụng polyme phân hủy tập trung vào 3 lĩnh vực sau:
Vật liệu sinh học nói chung được sử dụng với các mục đích sau: