1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển thị trường ngoại hối tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO

60 444 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển thị trường ngoại hối tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Tác giả Hoàng Viết Đạt
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU1,Tính tất yếu của đề tài Hiện nay trong các hoạt động buôn bán quốc tế ít nhất phải có một bên tham gia sử dụng ngoại tệ.Còn nếu đồng tiền của các bên tham gia không đổi được

Trang 1

BẢNG TÓM TẮT TỪ TIẾNG VIỆT

1 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations

2 WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization

3 IMF Quỹ tiền tệ thế giới International Moneytary Fund

4 TTNH Thị trường ngoại hối

5 NHTW Ngân hàng trung ương

6 NHTM Ngân hàng thương mại

8 EURO Đồng tiền Châu Âu European Currency

9 VND Đồng Việt Nam

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1,Tính tất yếu của đề tài

Hiện nay trong các hoạt động buôn bán quốc tế ít nhất phải có một bên tham gia

sử dụng ngoại tệ.Còn nếu đồng tiền của các bên tham gia không đổi được thì các bên phải thỏa thuận sử dụng đến một ngoại tệ chuyển đổi tự do để giao dịch với nhau.để thực hiện các ý đồ riêng lẽ nhưng chính đáng này,các bên tham gia phải tìm gặp nhau để gặp gỡ thương lượng Do vậy cần phải có một nơi thực hiện chuyển đổi từ đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác,tức là đòi hỏi phải có thị trường ngoại hối.Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng,mà qua đó mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể tiến hành trực tiếp với nhau

Thị trường ngoại hối ở Việt Nam là một thị trường rất mới đang phát triển mạnh

mẽ, sau khi gia nhập WTO có rất nhiều thách thức và cơ hội cho thị trường này Cùng với nhiều biện pháp tài chính khác đây là một công cụ, một biện pháp của chính phủ nhằm điều tiết nền kinh tế vĩ mô

Việt Nam là một đất nước đang trong công cuộc công nhiệp hóa ,hiện đại hóa chúng ta đang hội nhập vào xu hướng toàn cầu hoá của nền kinh tế nhân loại.Do vậy phát triển thị trường ngoại hối là 1 yêu cầu cấp bách.Tuy nhiên, gắn liền với phát triển thị trường ngoại hối đòi hỏi công tác quản lí ngoại hối ở VN cũng phải được nâng cao.Nếu không quản lí ngoại hối để các đồng ngoại tệ mạnh trên thị trường quốc tế xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường ngoại hối VN, khi đó lòng tin của người dân vào đồng nội

tệ sẽ giảm, họ sẽ có su hướng cất giữ đồng ngoại tệ;nội tệ mất giá, từ đó ảnh hưởng đến

tỉ giá, gây gia lạm phát dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế quốc dân.Quản lí ngoại hối sẽ giúp NHNN kiểm soát được các luồng ngoại tệ chảy ra chảy vào đất nước;điều tiết được

tỉ giá sát với tỉ giá trên thị trường phù hợp với cung - cầu ngoại hối tránh xảy ra tình

trạng trên.Theo cách xem xét đó ,đề tài “phát triển thị trường ngoại hối tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO’’được chọn để nghiên cứu.

Trang 3

3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài n

TTNH là thị trường giao dịch mang tính chất quốc tế Phạm vi hoạt động của nó không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi trên quốc tế nhằm phục vụ nhu cầu mua bán,giao dịch về ngoại tệ Sự phát triển mạnh mẽ của phương tiện thông tin liên lạc tạo điều kiện thực hiện các cuộc đoàn thoại thế giới nhanh chóng và tức thời với mọi TTNH đang mở cửa tạo nên mạng lưới của thị trường rộng khắp trên toàn thế giới

Nghiên cứu thị trường ngoại hối Việt Nam sau khi gia nhập WTO Thị trường này bao gồm

- Đối tượng giao dịch của thị trường: Giao dịch ngoại tệ và các giấy tờ có giá trị như ngoại tệ

-Thành phần tham gia: các nhà môi giới, ngân hàng, doanh nghiệp và các cá nhân

4, Phương pháp nghiên cứu

TTNH cũng là một thị trường,nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ.vì vậy cũng đòi hỏi người nghiên cứu phải áp dụng nhiều phương pháp để tìm hiểu và phân tích thị trường luôn luôn biến động này.Qua các kênh thông tin đại chúng ,đài,báo… từ đó với những kiến thức có được người nghiên cứu phải tổng hợp,đánh giá thị trường.Đề tài được tiếp cận theo phương pháp tổng hợp và phân tích theo các số liệu thu thập được để làm cơ sở phát triển của đề tài

5, Nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài có kết cấu ba phần

Chương I: Những vấn đề chung về thị trường ngoại hối và kinh nghiệm quốc tế

về phát triển thị trường ngoại hối

Chương II: Thị trường ngoại hối Việt Nam

Chương III: Một số giải pháp phát triển thị trường ngoại hối Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

1.1 Thị trường ngoại hối

1.1.1 Khái niệm,đặc điểm và các thành phần tham gia

cụ quan trọng để Nhà Nước thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô

1.1.1.2 Đặc điểm của thị trường ngoại hối

+ Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế

Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế do chênh lệch mức giờ của từng khu vực, thịtrường hoạt động gần như liên tục trừ ngày nghĩ truyền thống Về mặt lý thuyết, từ khi đóng cửa các thị trường Châu Âu, giao dịch có thể được tiến hành ở New York, Tokyo Phạm vi hoạt động của thị trường ngoại hối của nó không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi quốc tế nhằm phục vụ cho các nhu cầu mua bán, giao dịch về ngoại tệ Sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc tạo điều kiện thực hiện các cuộc đàm thoại thếgiới nhanh chóng và tức thời với toàn bộ thị trường hối đoái đang mở cửa, dẫn đến việc quốc tế hóa việc yết giá nói riêng và hoạt động của thị trường ngoại hối nói chung

+ Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục

Thị trường hối đoái hoạt động liên tục suốt ngày đêm 24giờ/ngày trên các khu vực khác nhau của thế giới

Trang 5

+ Không có địa điểm cụ thể.

Thị trường ngoại hối hoạt động ở bất cứ nơi đâu Không giới hạn không gian và khoảng cách.có thể là ở trung tâm giao dịch,ở ngoài trung tâm giao dich

+ Các giao dịch mua bán được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: telex, điện thoại, máy vi tính

+ Trong bất cứ giao dịch ngoại hối nào thì ít nhất cứ một đồng tiền đóng vai trò làm ngoại tệ

+ Ngôn ngữ sử dụng trên thị trường rất ngắn gọn, mang nhiều quy ước nghiệp vụ rất khó hiểu với người thường

+ Doanh số hoạt động trên thị trường ngoại hối rất lớn

+ Giá cả hàng hoá của thị trường ngoại hối chính là tỷ giá hối đoái được hình thành một cách hợp lý, linh hoạt dựa trên quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường Do

đó, thị trường ngoại hối rất nhạy cảm không chỉ với các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm xã hội., mức tăng sản xuất, tỷ lệ lạm phát, sự biến động của lãi suất mà còn chịu

sự tác động của các sự kiện chính trị - xã hội như: biểu tình, thiên tai, chiến tranh…

1.1.2 Hàng hóa của thị trường ngoại hối

Hàng hóa được mua bán trên thị trường hối đoái là ngoại hối Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để thanh toán giữa các quốc gia Tùy theo quan niệm của Luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoại hối không giống nhau Về cơ bản, ngoại hối gồm 5 loại sau:

+ Ngoại tệ là tiền của nước khác lưu thông trong một nước Ngoại tệ bao gồm: ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng Ngoại tệ trong khi lưu thông thanh toán quốc tế tồn tại dưới các hình thức của các phương tiện lưu thông tín dụng Ví dụ: séc, hối phiếu, điện chuyển tiền và thư chuyển tiền Các phương tiện thanh toán này thể hiện chủ yếu các quan hệ giữa các ngân hàng Các ngân hàng chuyển chúng cho các ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài Nghiệp vụ thanh toán thực hiện bằng cách chuyển một số tiền

từ tài khoản của ngân hàng ủy thác vào tài khoản của ngân hàng nhận ủy thác Sau đó số tiền này được ghi vào tài khoản của người hưởng lợi quy định trên các phương tiện thanh toán đó

Ngoại tệ tín dụng là các phương tiện không có giá trị nội tại mà chỉ là dấu hiệu của tiền tệ Các ngoại tệ tín dụng là kết quả của hợp đồng mua bán hàng hóa và nghiệp

vụ của các ngân hàng tạo ra

Trang 6

+ Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ: hối phiếu, lệnh phiếu, thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, thẻ tín dụng, thư tín dụng ngân hàng.

+ Các chứng khoán có giá trị bằng ngoại tệ: cổ phiếu, trái phiếu công ty, công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc

+ Vàng, bạc, kim cương, ngọc trai, đá quý…được dùng làm tiền

+ Tiền của Việt Nam dưới các hình thức sau: tiền của Việt Nam ở nước ngoài dưới mọi hình thức khi quay lại Việt Nam, tiền Việt Nam là lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác

Như vậy, ngoại hối là những phuơng tiện thanh toán thể hiện dưới dạng ngoại tệ hoặc các khoản phải thu, phải đổi bằng ngoại tệ kể cả vàng theo tiêu chuẩn quốc tế

Các thành phần tham gia

- Các ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng lớn đến

sự vận động của thị trường ngoại hối họ kinh doanh trên danh nghĩa thay mặt cho khách hàng hay cho chính bản thân

Ngân hàng tiến hành giao dịch ngoại hối với hai mục đích: Thực hiện kinh doanh cho chớnh mỡnh và cho khách hàng

+ Giao dịch kinh doanh cho chính mình

+ Cung cấp dịch vụ cho khỏch hàng Chẳng hạn, ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ bảo hiểm vốn cho các doanh nghiệp trước sự biến động của tỷ giá Mặt khác, đây là một nghiệp vụ để ngân hàng tối đa hoá lợi nhuận bằng cách tận dụng thời cơ “Mua rẻ - bán đắt’’ Các ngân hàng thương mại áp dụng hai loại tỷ giá Loại tỷ giá bán buôn áp dụng trên thị trường liên ngân hàng và tỷ giá bán lẽ áp dụng đối với các giao dịch có doanh số nhỏ của khách hàng

Các ngân hàng thương mại là hạt nhân của thị trường ngoại hối, giữ vai trò quan trọng trên thị trường ngoại hối Các ngân hàng thương mại lớn có các chi nhánh, đại lý ở nước ngoài Họ kinh doanh ngoại hối là chủ yếu, còn các ngân hàng khác đóng vai trò phụ thuộc vào hoạt, động kinh doanh dưới sự chỉ đạo của các ngân hàng thương mại lớn Các ngân hàng này có, nhiệm vụ điều chỉnh mức dự trữ của từng loại ngoại tệ khác nhau Các ngân hàng thương mại, chủ yếu là mua đi bán lại các loại ngoại tệ hoặc là các giao dịch có tính chất đầu cơ

- Các ngân hàng trung ương: Với tư cách là người canh giữ hệ thống tiền tệ ngân

hàng và người chủ của dự trữ ngoại hối quốc gia, các ngân hàng trung ương đôi khi là

Trang 7

thành phần cơ bản trên thị trường ngoại hối đoái thông qua hành vi can thiệp trên thị trường

Các ngân hàng trung ương vẫn thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối với hai tư cách:

- Ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán ngoại tệ để cân bằng hoạt động của các khách hàng của mình chủ yếu là cỏc ngân hàng thương mại

- Giám sát hoạt động của thi trường trong khuôn khổ quy định của luật pháp Sự can thiệp của ngân hàng trung ương nhằm để giúp nâng giá hoặc giảm giá đồng tiền bản

tệ khi nó ở mức có thể làm tổn hại đến chính sách tiền tệ quốc gia hoặc để triệt tiêu hiện tượng đầu cơ trên thị trường

- Các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp có chức

năng kinh doanh xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp này vừa là chủ thể có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng thương mại quốc tế, vừa là chủ thể cung ngoại tệ khi có các khoản thu về việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ…Các doanh nghiệp này được xem như là chủ thể hình thành nên khối lượng muavà bỏn ngoại hối lớn nhất trên thị trường ngoại hối

- Các nhà môi giới: Người môi giới thực hiện các lệnh mua bán ngoại hối theo

yêu cầu của khách hàng và hưởng phí Các nhà môi giới nắm vững tỷ giá của nhiều thị trường Vì vậy, tại các trung tâm tài chính quốc tế thường có một số nhà môi giới ngoại hối giúp các ngân hàng thương mại thực hiện lệnh mua và bán ngoại hối, từ đó cung cấp

tỷ giá chào bán và tỷ giá chào mua cho khách hàng một cách nhanh nhất và ưu việt nhất

và nhận một khoản phí môi giới Cụ thể, các nhà môi giới là những trung gian giữa các ngân hàng và là trung gian giữa ngân hàng và khách hàng, qua đó góp phần tích cực vào hoạt động của thị trường bằng cách làm cho cungvà cầu tiếp cận với nhau

- Các cá nhân hay nhà khinh doanh: Nhóm thành viên này bao gồm những công

dân trong và ngoài nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để phục

vụ cho hoạt động đầu tư, cho vay, đi công tác hay đi du lịch ở nước ngoài hoặc khi nhận được các khoản lợi tức đầu tư hay chuyển tiền

1.1.3 Vai trò của thị trường ngoại hối

Cân đối các nhu cầu mua bán ngoại tệ

Thị trường ngoại hối tạo ra cơ chế hữu hiệu đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại hối phục vụ cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác Thể hiện, thị trường ngoại hối hoạt động liên tục và mang tính toàn cầu

Trang 8

nên đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của bất kỳ người mua, người bán nào đều có thể được đáp ứng ngay lập tức Khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ , sự tham dự của các ngân hàng và các nhà đầu cơ đó gúp phần giải quyết sự mất cõn đối đó thông qua việc điều chỉnh tỷ giá cân bằng của thị trường hoặc thông qua đầu cơ ngoại tệ.

Phòng chống rủi ro tỷ giá

Ngày nay đa số các nước trên thế giới đều áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi nên tỷ giá hối đoái luôn luôn biến động Sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các chủthể Các công ty xuất nhập khẩu, công ty đa quốc gia và các cá nhân có nguồn thu, nguồn chi ngoại tệ trong tương lai chịu ảnh hưởng rủi ro rất lớn về sự biến động của tỷ giá hối đoái Do vậy, các chủ thể này cần thiết phải áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế những rủi ro này Thông qua các nghiệp vụ mua bán kỳ hạn, quyền chọn…của thị trường ngoại hối sẽ giúp cho các công ty, doanh nghiệp phòng ngừa được rủi ro

Tạo ra thu nhập cho người sở hữu ngoại tệ

Các ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường ngoại hối chủ yếu là giao dịch cho chính mình Các ngân hàng chủ yếu tiến hành các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (Acbít) giữa các thị trường để thu lời qua việc mua ở thị trường này giá rẻ hơn

và bán lại ở thịtrường kia giá cao hơn Không chỉ có các ngân hàng mà các công ty, doanh nghiệp và cá nhân cũng có thể thu lời thông qua hoạt động đầu cơ ngoại tệ Ngoài

ra, thị trường ngoại hối còn giúp các nhà đầu tư chuyển đổi ngoại tệ phục vụ cho việc đầu tư vào thị trường có mức lãi dự tính cao

1.2 Nội dung hoạt động của thị trường ngoại hối

1.2.1 Thị trường tiền gửi

Thị trường tiền gửi là nơi thực hiện giao dịch vay và cho vay các loại ngoại tệ với những thời hạn xác định kèm theo một khoản tiền gửi thể hiện qua lãi suất Tại thị trường này các ngân hàng và khách hàng của họ tiến hành các giao dịch về ngân quỹ, tức là vay ngoại tệ thiếu và cho vay ngoại tệ thừa

1.2.1.1 Thị trường tiền gửi chính xác

Trên thị trường tiền gửi thỏa mãn nhu cầu vốn trong các hình thức vay - gửi các loại ngoại tệ khi có cung, cầu với bất kỳ khối lượng nào và mức thời gian từ một ngày đến 5 năm hoặc lâu hơn

Kỳ hạn chính xác đây là kỳ hạn được ký cụ thể trong các hợp đồng giao dịch

Trang 9

K h n chính xác th hi n th i h n thanh toán úng h n và ỳ ạ ể ệ ờ ạ đ ạ đế ạn h n (tr trả ướ c

ho c tr sau ặ ả đều ch u ph t lãi) M c ph t lãi tùy thu c vào m i quan h gi a ngân hàngị ạ ứ ạ ộ ố ệ ữ

và khách hàng và nhu c u v n trên tr trầ ố ị ường

Ở thị trường tiền gửi có hình thức vốn vay một ngày: Hình thức vay vốn một

ngày nhằm thỏa mãn vốn kinh doanh của chủ thể kinh tế

Bảng 1.1 Thời gian để trả tiền

Nguồn: ngân hàng Techcombank

1.2.1.2 Thị trường ti n g i thông qua lãi su t ề ử ấ

Lãi suất được hiểu là giá phải trả hay nhận được từ khoản đi vay hay đi gửi bằng ngoại tệ Như vậy, các mức lãi suất này xác định chi phí hay thu nhập có liên quan đến việc sử dụng tiền (ngoại tệ) trong một thời gian nhất định

Thị trường này liên quan đến loại tiền và thời gian đây là hai nhân tố quan trọng của thị trường này.mỗi loại tiền đều có mức lãi xuất khác nhau quy định ở các ngân hàng.và tùy thời gian gửi dài hay ngắn đều quyết định đến lãi xuất này

1.2.2 Thị trường mua bán ngoại tệ giao ngay

Thị trường này các giao dịch mua và bán được thực hiện ngay,việc mua và bán được tiến hành ngay lập tức theo tỷ giá không công bố.thời gian hoạt động của thị trường này là liên tục,bất kể thời gian.24/24h nơi thực hiện giao dịch không có cụ thể,có thể giao dịch ở bất cứ nơi đâuThị trường thỏa thuận tùy ý không có địa điểm cụ thể, thời gian 24/24 h ,Thị trường theo phiên giao dịch tại phòng lớn

Tỷ giá được được công bố theo ngân hàng,nhưng mức tỷ giá ở thị trường này là không cố định không theo một tỷ giá nhất định.tỷ giá được đặt ra là do người bán và người mua thỏa thuận với nhau

Thỏa thuận tùy ý là thỏa thuận mỗi giao dịch hay mỗi hợp đồng áp dụng một tỷ giá và tỷ giá này không công bố Theo phiên ấn định là tỷ giá được chiếu theo tỷ giá do

Trang 10

người tổ chức phiên đưa ra

Ngày giá trị của thị trường ngoại hối được tuân theo hai nguyên tắc sau

Ngày thỏa thuận tùy ý tuân thủ nguyên tắc J+2 đối với tất cả hợp đồng ký vào bất

kỳ thời điểm nào trong ngày Chỉ áp dụng J+2 đối với tất cả các hợp đồng (lệnh mua bán đưa ra) ký trước 12 giờcủa ngày tổ chức theo phiên

1.3 Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối

1.3.1 Giao dịch giao ngay

1.3.1.1 Khái niệm

Giao dịch giao ngay là việc mua bán một số lượng ngoại tệ được thực hiện giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán

Các giao dịch giao ngay được thực hiện giữa ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng, giữa các tổ chức tín dụng với nhau và giữa các tổ chức tín dụng với các

tổ chức khác và cá nhân Trong đó, ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung tâm trong việc tạo thị trường nhằm mục đích kinh doanh của mình hoặc phục vụ co khách hàng

1.3.1.2 Các điều kiện của giao dịch

Trong giao dịch giao ngay, thỏa thuận giao dịch giữa hai bên thường bao gồm một sốđiều kiện mua bán như: tỷ giá mua bán, số lượng giao dịch, địa điểm chuyển tiền đến, chuyển tiền đi vào ngày thanh toán…Sau khi cam kết giao dịch, các bên có thể xác nhận lại bằng văn bản hoặc ký kết hợp đồng chi tiết Thông thường việc giao dịch được hoàn tất bằng thỏa thuận qua điện thoại là có đủ tính pháp lý

1.3.1.3 Ngày giá trị

Ngày giá trị là khoảng thời gian thực hiện việc chuyển tiền đến các tài khoản có liên quan Đó là ngày mà các khoản ngoại hối phải được trả cho các bên tham gia giao dịch Ngày giá trị còn được gọi là ngày thanh toán

Có các loại ngày giá trị sau:

T+0:Thanh toán trong ngày

T+1:Sau một ngày làm việc

T+2: Sau hai ngày làm việc

Trang 11

Phương tiện giao dich.

Giao dịch giao ngay được thực hiện qua các phương tiện giao dịch như: telex, điện thoại, hệ thống mạng vi tính hoặc có thể tiếp nhận trên thị trường tập trung Hai bên thỏa thuận với nhau các điều kiện mua bán và sau đó xác nhận lại bằng văn bản

1.3.1.4 Tỷ giá giao ngay

Là tỷ giá được thỏa thuận từ ngày hôm nay nhưng việc thực hiện thanh toán xảy

ra vào ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợp đồng

Các ngoại tệ được mua bán lẫn nhau thông qua việc niêm yết tỷ giá hay cơ chế tỷ giá chéo Trong giao dịch liên ngân hàng thì tỷ gía giao ngay được niêm yết theo

Kiểu Mỹ: Số lượng (giá cả) đô la Mỹ cho một đồng ngoại tệ

Kiểu Châu Âu: Số lượng ngoại tệ so với một đôla Mỹ

Ví dụ: Công ty Việt Nam có Đôla Mỹ nhưng cần đến Yên Nhật để thanh toán hàng nhập khẩu từ Nhật Bản nên phải sử dụng tỷ giá giao ngay USD/VND và JPY/VND

+Khi đổi kiểu yết giá từ trực tiếp sang gián tiếp hay từ kiểu Mỹ sang kiểu Châu

Âu, thứ tự tỷ giá mua bán phải thay đổi ngược lại Giá mua kiểu Mỹ đổi thành giá bán kiểu Châu Âu và ngược lại

Chú ý: Trong giao dịch giao ngay, tỷ giá giao dịch ngân hàng đưa ra luôn thay đổi tùytheo tình hình thực tế về cung cầu trên thị trường Giao dịch được thực hiện theo

tỷ giá do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận Ở Việt Nam, tỷ giá giao ngay trên thị trường ngoại hối chính thức được xác định theoquan hệ cung cầu về ngoại tệ nhưng nằm trong giới hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam căn cứ vào tình hình cụ thể trong từng thời kỳ để quy định giới hạn này cho phù hợp

Trang 12

1.3.2 Giao dịch mua bán có kỳ hạn

1.3.2.1 Khái niệm

Giao dịch ngoại hối có kỳ hạn là một giao dịch trong đó hai bên sẽ cam kết mua bánvới nhau một lượng ngoại tệ theo một tỷ giá xác định tại một thời điểm sau đó hay sau một thời hạn xác định kể từ ngày ký kết giao dịch

Trong giao dịch kỳ hạn, mọi điều kiện mua bán được ký kết vào ngày giao dịch, việc giao nhận tiền chỉ được thực hiện vào ngày giá trị đã thỏa thuận trên cơ sở kỳ hạn mua bán Giao dịch hối đoái kỳ hạn có thể được thực hiện trên thị trường tập trung hoặc không tập trung qua các phương tiện giao dịch như: điện thoại, mạng máy tính… Ở Việt Nam, chỉ có các ngân hàng thương mại đủ điều kiện mới được phép giao dịch có kỳ hạn với một số khách hàng và các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế là pháp nhân Việt Nam Các giao dịch phải được ký hợp đồng chi tiết nếu không giao dịch qua mạng máy tính

1.3.2.2 Ngày giá trị kỳ hạn

Trong giao dịch có kỳ hạn, ngày giá trị được xác định sau một thời gian nhất định (thời hạn của giao dịch) kể từ ngày giá trị giao ngay của giao dịch giao ngay cùng thời điểm giao dịch Để xác định ngày giá trị có kỳ hạn, đầu tiên phải xác định ngày giá trị giao ngay có hiệu lực thích hợp, sau đó cộng với thời hạn tương ứng của giao dịch Hay Ngày giá trị =Ngày giá trị giao ngay+Thời hạn tương ứng của giao dịch (1,2,3,6,9,12 tháng)

1.3.2.3 Tỷ giá có kỳ hạn

Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thỏa thuận ngay từ ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị trao ngay Tỷ giá có kỳ hạn do các Ngân hàng niêm yết có thể theo hai cách: Yết giá trực tiếp hoặc yết giá gián tiếp Trên thị trường cách yết giá kiểu Swap được sử dụng phổ biến Theo phương pháp này, ngân hàng sẽ yết tỷ giá giao ngay và mức swap Mức swap là chênh lệch tỷ giá hối

Trang 13

đoái giữa tỷ giá có kỳ hạn và tỷ giá giao ngay hay còn gọi là điểm kỳ hạn Vì tỷ giá bao gồm hai loại là tỷ giá bán và tỷ giá mua nên về nguyên tắc, mức swap được yết theo điểm gồm mức swap mua và mức swap bán Số viết trước là mức swap mua và số viết sau là mức swap bán

Swap = swap mua / swap bán

Tỷ giá có kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay ± Swap

Chú ý:

Nếu trong mức swap, mức swap mua nhỏ hơn mức swap bán thì:

Tỷ giá có kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay - mức swap

Nếu trong mức swap, mức swap mua lớn hơn mức swap bán thì:

Tỷ giá có kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + mức swap

1.3.3 Giao dịch tương lai

1.3.3.1 Khái niệm

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai đối tác mua bán một số lượng đồng tiền định sẵn vào thời điểm ký kết hợp đồng và ngày giao hàng được ấn định sẵn trong tương lai được thực hiện tại sở giao dịch

Thực chất của giao dịch giao sau chính là giao dịch có kỳ hạn nhưng được chuẩn hoávề: Loại ngoại tệ giao dịch, trị giá hợp đồng và thời hạn giao dịch

1.3.3.2 Đặc điểm của hợp đồng tương lai

Đặc điểm nổi bật của hợp đồng tương lai là tính tiêu chuẩn hóa cao Các điều khoản được tiêu chuẩn hóa cao trong hợp đồng giao sau là: tên hàng, sốlượng (độ lớn hợp đồng), thời gian giao hàng và địa điểm giao hàng Loại ngoại tệ giao dịch: Tại Sở giao dịch Chicago-CME, các ngoại tệ được giao dịchlà: CAD, EUR, JPY, GBP, AUD

và CHF Khối lượng ngoại tệ giao dịch: được quy định đối với từng loại đồng tiền Chẳng hạn, Hợp đồng Yên Nhật là 12.500.00, với AUD là 100.000… Ngày thanh toán

cụ thể trong tương lai Ngày thứ 4 của tuần thứ ba của các tháng 3,6,9,12

1.3.3.3 Địa điểm giao dịch

Việc giao dịch được diễn ra trên sàn giao dịch theo nguyên tắc đấu giá Các thành viên tham gia giao dịch phải là thành viên của sở giao dịch

Trang 14

Những người tham gia vào thị trường này đều phải đóng một khoản ký quỹ, trả chi phí giao dịch tại công ty môi giới và sau đó khoản này được ký gửi tại công ty thanh toán bù trừ Nếu trong quá trình công ty thanh toán bù trừ điều chỉnh theo thị trường làm cho khoản ký quỹ của người mua và người bán tiền tệ giao sau xuống một mức nào

đó thì họ phải đóng bổ sung

1.3.3.4 nguyên tắc thanh toán

Việc thanh toán được thực hiện thông qua công ty thanh toán bù trừ của sở giao dịch.Tính tiền hoa hồng trên từng thương vụ mua bán Khách hàng có thể kết thúc hợp đồng vào bất cứ lúc nào trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng bằng cách ký một hợp đồng khác ngược lại với hợp đồng đang có Chuẩn hoá hợp đồng giao sau (IMM – CHICAGO)

Quyền lựa chọn bao gồm quyền chọn mua và quyền chọn bán

Quyền chọn mua là quyền chọn cho phép người sở hữu nó có quyền (nhưng không bắt buộc) mua một số lượng ngoại tệ theo mức giá và trong thời gian xác định trước

Quyền chọn bán là quyền chọn cho phép người mua quyền chọn bán một lượng ngoại tệ nhất định theo giá thực hiện vào ngày giao hàng

1.3.4.2 Hình thức lựa chọn co hai hình thức Kiểu Mỹ hay kiểu Châu Âu

Kiểu Châu Âu chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn Kiểu Mỹ chỉ có thể thực hiện bất cứ lúc nào trước ngày đáo hạn

Ví dụ: Theo kiểu Mỹ quyền mua 1 triệu EURO với giá USD 0.3EURO từ ngày hôm nay cho đến ngày hết hiệu lực là ngày 20/03/2004 Quyền chọn bán Châu Âu là bán

10 triệu EURO với giá USD 0.2EURO đúng vào ngày 20/03/2004

1.3.4.4 Lệ phí quyền lựa chọn(Option Price)

Một công ty ký hợp đồng mua quyền chọn mua 1 triệu USD tại mức giá quyền

Trang 15

chọn 130JPY/USD Người bán hợp đồng thu một khoản phí quyền chọn là 50.000JPY Nếu hợp đồng đến hạn mà không xảy ra giao dịch thì chỉ có một luồng tiền xảy ra duy nhất đó là khoản phí quyền chọn mà người mua trả cho người bán Và thu nhập của người bán trong trường hợp này chỉ bằng phí quyền chọn thu được

Nếu tỷ giá giao ngay là 140JPY/USD, người mua quyết định tiến hành giao dịch lúc đó người bán phải chịu một khoản lỗ là:

- (140 - 130)*1.000.000 +50.000 = - 50.000JPY

Đây chính là khoản lãi của người mua quyền chọn

1.3.4.4 Nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn có hai nhân tố ảnh hưởn đến giá quyền chọn là: Tỷ giá giao ngay và Tỷ giá thực hiện

Thời gian thực hiện Sự biến động của tỷ giá

1.3.5 Nghiệp vụ hoán đổi

1.3.5.1 Khái niệm

Là nghiệp vụ qua đó hai bên tham gia trao đổi với nhau những chi phí tài chính

về các khoản nợ tương ứng của mỗi bên, tức là trao đổi giữa hai bên đối với lãi phải trả

và khoản lãi thu của một đồng tiền tính trên một lượng tiền gốc ngầm định thỏa thuận

Giao dịch trao đổi khoản lãi trả gọi là hoán đổi nợ

Giao dịch trao đổi khoản lãi thu gọi là hoán đổi tài sản

1.3.5.2 Các loại hoán đổi lãi suất

Hoán đổi Coupon là loại Hoán đổi lãi tính trên cơ sở lãi suất cố định cho lãi tính trên cơ sở lãi suất thả nổi

Ví dụ: Lãi suất cố định 12% với lãi suất thả nổi trên cơ sở lãi suất Libor 6 tháng Hoán đổi cơ bản là Hoán đổi lãi thả nổi tính toán trên hai cơ sở khác nhau với nhau

Ví dụ: Lãi suất thả nổi trên cơ sở lãi suất Libor 6 tháng với lãi suất thả nổi trên cơ

sở trái phiếu ngắn hạn của Mỹ

1.3.5.3 Lợi ích của hoán đổi lãi suất

Lợi ích từ việc hoán đổi này rất mang lại nhiều lợi ích cho cả người mua và người bán các lợi thu được như là,Giảm chi phí vay ,Tiếp cận vay ở thị trường nghiêm

Trang 16

ngặt Giao dịch hoán đổi lãi suất có thể được sử dụng để những người vay Phòng ngừa rủi ro

1.3.6 Swap tiền tệ

1.3.6.1 Định nghĩa

Hoán đổi ngoại tệ là giao dịch hoán đổi trong đó bên A trao đổi vốn gốc và tính lãi trên cơ sở lãi suất cố định trên một đồng tiền với vốn gốc và lãi tính trên cơ sở lãi suất cũng cố định nhưng của một đồng tiền khác

1.3.6.2 Các bước thực hiện có các bước thực hiện sau

Bước 1: Trao đổi vốn gốc ban đầu

Bước 2:Trao đổi lãi trên cơ sở giá trị gốc của từng đồng tiền

Bước 3: Trao đổi gốc ngược lại

1.3.6.3 Tác dụng của hoán đổi ngoại tệ

+ Giúp người vay giảm chi phí vay trên những thị trường khó tiếp cận

+ Giúp người vay thâm nhập và vay trên thị trường vốn nước ngoài với chi phí thấp

1.3.7 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

1.3.7.1 Nghiệp vụ khách hàng

Trong nghiệp vụ này ngân hàng là người tạo thị trường, xác định và niêm yết tỷ giá Khi nhận được lệnh của khách hàng, ngân hàng sẽ bù trừ các lệnh Phần chênh lệch cuối cùng, ngân hàng sẽ tìm cách xử lý sao cho có lợi nhất

1.3.7.2 Nghiệp vụ Acbít

- Là nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ dựa trên sự chênh lệch giá giữa các thị trường khác nhau để thu lợi

- Nghiệp vụ Acbít xuất hiện lần đầu tiên trên thị trường giao ngay bằng cách mua

ở thịtrường giá thấp và bán ở thị trường giá cao do đó ngân hàng có thể thu lợi từ sự chênh lệch tỷ giá

- Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ Acbit cần phải có các điều kiện sau

Khối lượng giao dich phải lớn

Trang 17

Phải có mạng lưới đại lý rộng khắp

Hệ thống thông tin hiện đại đảm bảo thông tin nhanh, chính xác, kịp thời

Phải có đội ngũ cán bộ giỏi, có trình độ am hiểu thị trường

- Phân loại Acbit

+ Acbít hai điểm: được thể hiện khi có sự chênh lệch rõ ràng về tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai địa điểm khác nhau

+ Acbít ba điểm: Nhìn bề ngoài chưa thấy được sự khác nhau trong tỷ giá giữa các thị trường nhưng có thể nhìn thấy sự chênh lệch tỷ giá thông qua tỷ giá chéo

1.4 Thị trường ngoại hối Thái lan,Trung quốc và một số bài học đối với Thị trường ngoại hối Việt Nam

1.4.1 Thị trường ngoại hối Thái Lan

Thái Lan được xem là nơi châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại châu Á vào năm 1997-1998 Lúc đó, nhiều người không tin điều tồi tệ như vậy lại có thể xảy ra Tuy nhiên, sau khi có đủ thời gian suy nghĩ, có thể thấy rằng khủng hoảng là điều tất yếu và một trong những nguyên nhân chính là do các nước trong khu vực đã quá vội vã trong việc tự do hóa tài khoản vốn và áp dụng cơ chế cố định tỷ giá (Yusuf 2000) khi mà nền kinh tế chưa thực sự ổn định, khu vực tài chính ngân hàng còn bộc lộ nhiều yếu kém cộng với những cải cách khác chưa được thực hiện theo tiến trình tự do hóa tài chính nêu trên Ở Thái Lan, khi tài khoản vốn được tự do cộng với kỳ vọng quá lớn của các nhà đầu tư và sự lỏng lẻo trong việc kiểm soát các khoản nợ vay đã làm cho dòng vốn ồ ạt chảy vào Chỉ trong 10 năm từ 1987-1996, đã có đến 100 tỷ đôla được đổ vào Thái Lan Nghiêm trọng hơn, trên 70% số tiền này là vốn vay với hơn nửa là vay ngắn hạn do các tổ chức tài chính, nhất là các công ty tài chính trong nước vay để đầu tư dài hạn và bất động sản chiếm một tỷ trọng không nhỏ (Alba 1999) Thêm vào đó, với tỷ giá được giữ gần như cố định ở mức 25 Baht ăn 1 đôla quá lâu khi mà thâm hụt thương mại kéo dài đã làm cho áp lực giảm giá đồng Baht ngày càng gia tăng.Những chỉ số kinh tế vĩ mô đẹp mắt tồn tại trong thời gian dài như: tốc độ tăng trưởng bình quân 9,5%, thất nghiệp được giữ ở con số dưới 2%, dự trữ ngoại hối tăng bình quân 26,2% với 35 tỷ đô-la được mua thêm, trong khi tốc độ tăng cung tiền chỉ là 18,7% và tỉ lệ lạm phát bình quân 4,7%, năm cao nhất chỉ là 6% , dường như đã đánh lừa được mọi người Tuy nhiên, điều gì phải đến đã đến Áp lực của những khoản nợ đến hạn, áp lực của thâm hụt ngoại thương liên tục đã vượt quá sức chịu đựng của nền kinh tế, nhu cầu ngoại tệ gia tăng đột biến Mặc dù đã bán ra gần 15 tỷ đôla trong gần 40 tỷ dự trữ ngoại

Trang 18

hối, nhưng Thái Lan đã không đủ sức giữ được tỷ giá Đồng baht bị phá giá và khủng hoảng xảy ra với những hậu quả khôn lường.Sau cuộc khủng hoảng này, tuy có một số biện pháp xiết chặt, nhưng nhìn chung tài khoản vốn vẫn coi như được tự do cộng với một cái mới là tỷ giá được thả nổi Điểm đáng chú ý nhất của Thái Lan là sau khi phá giá đồng Baht, thặng dư thương mại ngày càng gia tăng Hơn thế nữa, dòng vốn nước ngoài đang quay trở lại ngày một nhiều hơn Hệ quả tất yếu của điều này là áp lực tăng giá đồng tiền trong nước tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu Sự lo lắng đã biến thành hành động cụ thể khi mà vào ngày 18/12/2006, Thái Lan đã quyết định áp dụng các biện pháp hành chính nhằm hạn chế dòng tiền đổ vàoHậu quả tức thời là ngay ngày thứ Ba hôm sau, thị trường chứng khoán sụt giảm 15%, mức cao nhất kể từ năm 1990 (Financial Times, 20/12/2006 lo sợ 1 cuộc khủng hoảng xảy ra ngay ngày hôm sau quyết định này đã được dỡ bỏ trong sự lúng túng đối với vấn đề đang cần giải quyết.

1.4.2 Thị trường ngoại hối trung quốc

Cũng giống một số nước khác, vào năm 1994, Trung Quốc đã cố định tỷ giá 8,28 nhân dân tệ đổi 1 đôla Mỹ Điều thú vị ở đây là khác với nhiều nước Đông Á, với tỷ giá này, đồng nhân dân tệ đã bị định giá thấp, nhưng tạo được lợi thế xuất khẩu gia tăng

Cộng với những yếu tố thuận lợi khác, một kết quả hết sức mỹ mãn đối với Trung Quốc là kể từ đó thặng dư mậu dịch và dữ trữ ngoại hối liên tục gia tăng Con số

kỷ lục được thiết lập vào năm 2006 với thặng dư ngoại thương lên đến 177,6 tỷ đôla (Bloomberg TV, 08/01/2007), dự trữ ngoại hối vượt 1.000 tỷ đôla Với sức mạnh về ngoại thương và số tiền có sẵn trong tay, Trung Quốc đã khiến cho tất cả các đối tác thương mại, kể cả Hoa Kỳ phải e ngại Có lẽ, một trong những vấn đề được tranh luận nhiều nhất trên chính trường nước Mỹ là vấn đề tỷ giá giá đồng Nhân dân tệ Có thể việc không thuyết phục được Trung Quốc nới lỏng chính sách tỷ giá như kỳ vọng mà

Bộ trưởng Bộ Tài chính John Snow phải từ chức để lại gánh nặng cho người kế nhiệm Henry Paulson (Thực ra, vào cuối tháng 07/2005, để chuẩn bị món quà cho chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Trung Quốc đã quyết định bỏ chế độ tỷ giá cố định, cho phép đồng Nhân dân tệ dao động linh hoạt hơn Nhưng điều này có vẻ vẫn chưa làm hài lòng các chính trị gia cũng như các nhà đầu tư Thực tế cho thấy, sau

18 tháng, đồng Nhân dân tệ chỉ tăng giá vào khoảng 6%, thấp hơn mức người ta kỳ vọng rất nhiều.).Hơn thế nữa, nhờ khoản tiền dữ trữ ngoại hối dồi dào mà Trung Quốc

có thể chi ra cả trăm tỷ đô-la để biến các ngân hàng thương mại nhà nước với tình trạng tài chính yếu kém trở thành những ngân hàng có khả năng cạnh tranh được biết đến qua những vụ phát hành cổ phiếu ra công chúng hết sức rùm beng trong hai năm qua Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc có được vị thế như hiện nay mà song song với quá trình cải cách kinh tế, họ đã thực hiện một quá trình cải cách và tự do hóa tài

Trang 19

chính một cách hợp lý qua 5 giai đoạn khác nhau mà bắt đầu bằng việc tự do hóa lần đầu tiên trong những năm 1978-1986, đến giai đoạn tự do hóa và mở cửa ngành tài chính sau khi gia nhập WTO vào năm 2001.

Trong quá trình tự do hóa tài chính của mình, không phải lúc nào cũng suôn sẻ đối với Trung Quốc, sau cuộc khủng hoảng năm 1997, sức ép phá giá lên đồng Nhân dân tệ rất nhiều, nhưng nhờ sức mạnh sẵn có của nền kinh tế cộng với một lượng ngoại

tệ dữ trữ tương đối lớn (gần 150 tỷ đôla) mà Trung Quốc đã thành công trong việc duy trì chính sách tỷ giá của mình Điều này cũng đã giúp Đông Á không chìm sâu vào khủng hoảng

Điều đáng chú ý ở đây là trong vòng 10 năm qua, Trung Quốc đã tung ra số Nhân dân tệ bằng 40% cung tiền để mua vào gần 1.000 tỷ đôla giá trị ngoại tệ mạnh, nhưng lạm phát bình quân chưa đến 1%, trong khi tốc độ tăng cung tiền lên đến 16% và tốc độ tăng dữ trữ ngoại hối trên 24% Nhiều người lý giải vấn đề này là do đồng Nhân dân tệ đang mạnh, người ta muốn cất giữ nó (bằng tiền mặt) hoặc chuyển ra nước ngoài

để chờ khi nó lên giá mới bán ra Đây là một trong những điều lo ngại của Trung Quốc

Dù sao, với vị thế của mình, Trung Quốc đang thực hiện một tiến trình cải cách tỷ giá hối đoái và tự do hóa tài chính một cách chủ động

Một trong những sai lầm lớn nhất gây ra cuộc khủng hoảng năm 1997 là việc Thái Lan đã mở tài khoản vốn quá sớm làm cho một dòng nợ, nhất là nợ ngắn hạn khổng lồ đổ vào kết hợp với chính sách cố định tỷ giá ở mức cao, đồng tiền kém sức cạnh tranh, thâm hụt thương mại gia tăng làm cho vấn đề trầm trọng hơn

Trái lại, thành công của Trung Quốc có được là do nước này đã định giá đồng tiền ở mức thấp tạo ra lợi thế cạnh tranh ngoại thương cộng với một tiến trình cải cách thương mại và cải cách tài chính hợp lý

1.4.3 Chính sách tiền tệ và quản lý ngoại hối của NHTW Chi lê và những bài học kinh nghiệm

Xây dựng và điều hành CSTT là một phần quan trọng trong hoạt động của NHNN Việt Nam CSTT cũng liên quan mật thiết đến chính sách quản lý ngoại hối, mà một bộ phận chính của nó là là quản lý quĩ dự trữ ngoại hối quốc gia Đề án Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 xác định rõ

"Tạo lập các điều kiện cần thiết để sau năm 2010 NHNN chuyển sang điều hành CSTT theo cơ chế lạm phát mục tiêu" "Gắn kết chặt chẽ điều hành nội tệ với điều hành ngoại tệ" Vì vậy những bài học kinh nhiệm của Chi lê trong việc chuyển đổi sang điều hành theo lạm phát mục tiêu và quản lý dự trữ ngoại hối có thể giúp NHNN xác định những định hướng trong quá trình xây dựng NHTW hiện đại

Trang 20

Chính sách tiền tệ và quản lý dự trữ ngoại hối của NHTW Chi lê

Việc tìm kiếm một CSTT hiệu quả là một nhu cầu thực tế và cấp bách của Chilê trong những năm 80 của thế kỷ trước NHTW Chilê đã sử dụng chính sách tỷ giá cố định và chính sách biên độ tỷ giá và CSTT trong giai đoạn trên không đem lại kết quả khả quan cho nền kinh tế: lạm phát cao 20-30%, thâm hụt ngân sách, tăng trưởng kinh tế thấp Cuộc khủng hoảng trầm trọng vào 1982 đã buộc NHTW Chilê phải cải tổ việc xây dựng và điều hành CSTT, chuyển sang chính sách lấy lạm phát làm mục tiêu Lạm phát mục tiêu là một xu hướng quan trọng trong xây dựng và điều hành CSTT Theo thống

kê IMF, hiện nay có 22 nước đã đưa lạm phát mục tiêu vào điều hành (trong đó có 4 nước dùng lạm phát cơ bản và 18 nước dùng lạm phát danh nghĩa làm mục tiêu) và khoảng 50 nước trên thế giới cũng đang xây dựng các điều kiện cần thiết để đưa chính sách trên vào thực tế Chilê là một thí dụ điển hình trong việc chuyển đổi thành công sang điều hành CSTT lấy lạm phát làm mục tiêu

Sự phát triển của khuôn khổ thể chế kinh tế và chính sách mới ở Chilê trong 3 thập kỷ qua là nhân tố chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế từ giữa thập kỷ 80 đến nay Mô hình phát triển kinh tế mới được xây dựng trên 4 cơ sở nền tảng sau: ổn định kinh tế vĩ mô với vai trò độc lập của NHTW và tính lành mạnh của khu vực tài chính công; Luật NH đã đóng vai trò thúc đẩy khu vực tài chính lớn mạnh và hiệu quả; Cơ sở thể chế vững mạnh và ổn định; Nền kinh tế thị trường mở có tính cạnh tranh

Khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu giúp cho Chilê giảm được mức lạm phát từ trung bình xuống mức thấp và ổn định Quá trình trên được chia làm hai giai đoạn:

(a) Từ 1991 đến 2000: áp dụng lạm phát mục tiêu, nhưng chưa có khuôn khổ hoàn chỉnh: chưa có dự báo lạm phát và cam kết mạnh với dân chúng về mức lạm phát Trong giai đoạn này, NHTW đã thành công trong việc giảm mức lạm phát từ 20-30% xuống mức 1 con số NHTW Chilê đã xây dựng những điều kiện để xây dựng chính sách lạm phát mục tiêu hoàn chỉnh gồm những nội dung sau:

- Xây dựng vai trò độc lập của NHTW: độc lập trong xác định mục tiêu chủ chốt

và độc lập trong sử dụng các công cụ của CSTT

- Xây dựng tính độc lập của CSTT với CS tài khóa: không cho phép NHTW cấp tín dụng cho Chính phủ, hay nói cách khác phải có một chính sách tài khóa lành mạnh

- Xây dựng thị trường tài chính vững mạnh và có chiều sâu

(b) Từ năm 2000 đến nay, NHTW Chilê đã thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu hoàn chỉnh với mục tiêu là lạm phát danh nghĩa (hay chỉ số CPI) hàng năm là 3% (với biên độ +/-1%) Tham gia vào quá trình điều hành lạm phát mục tiêu hoàn chỉnh của Chilê gồm có: Hội đồng CSTT của NHTW Chilê quyết định lãi suất của CSTT;

Trang 21

Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính của NHTW Chi lê trong việc thực hiện chính sách tiền tệ Tác động vào tính thanh khoản trên thị trường nhằm duy trì lãi suất qua đêm liên ngân hàng dao động xung quanh lãi suất của chính sách tiền tệ bằng tín dụng qua đêm và tiền gửi qua đêm Khi cần thiết, NHTW sử dụng các nghiệp vụ đặc biệt như: mua lại (repos), hoán đổi, bán lại (anti-repos)

Thực hiện khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu hoàn chỉnh đã mang lại kết quả quan trọng là: uy tín về chính sách kiểm soát lạm phát đã được cải thiện, lạm phát ổn định và ở mức thấp, neo được kỳ vọng lạm phát, mối liên hệ lịch sử giữa giảm giá đồng tiền-lạm phát đã giảm tác động, hiệu quả và uy tín chính sách tiền tệ được tăng cường

Thả nổi tỷ giá là một trong những điều kiện tiên quyết để chính sách lạm phát mục tiêu thành công ở Chilê áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi đã tăng cường vai trò độc lập của chính sách tiền tệ, củng cố cho kỳ vọng lạm phát và xúc tiến quá trình phát triển của thị trường tài chính Quá trình chuyển dịch cũng được thực hiện dần dần: (i) Trước năm 1984 chính sách tỷ giá cố định; (ii) Từ 1984 đến 1999 chính sách biên độ tỷ giá; từ năm 1998 biên độ được nới lỏng dần và xóa bỏ các hạn chế dao dịch vốn; (iii) Tháng 9 năm 1999 Chilê áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi

Mặc dù thi hành chế độ tỷ giá thả nổi, NHTW Chilê vẫn có quyền can thiệp trong trường hợp đặc biệt Chế độ tỷ giá linh hoạt cho phép NHTW Chilê có được sự độc lập hoàn toàn trong hoạch định chính sách tiền tệ giúp neo kỳ vọng lạm phát; có hiệu quả hơn trong việc đối phó hiệu ứng chu kỳ; mối liên hệ lịch sử giữa tiền giảm giá với lạm phát giảm; tính linh hoạt của tỷ giá dẫn đến thị trường tài chính phát triển về chiều sâu

Quản lý dự trữ ngoại hối của NHTW Chilê được thực hiện theo những nguyên tắc sau:

- Cơ cấu đồng tiền trong dự trữ ngoại hối căn cứ vào: (i) việc giảm thiểu ảnh hưởng đến giá trị bảng cân đối tài sản của NHTW định giá bằng đồng tiền nội địa; (ii) yêu cầu ngoại tệ có tính thanh khoản cao Sử dụng cả hai nguyên tắc trên, NHTW đã xây dựng cơ cấu đồng tiền trong dự trữ ngoại hối như sau: USD – 60% (+/- 5%); Euro – 40% (+/- 5%) Trên thực tế, NHTW

Chilê đã duy trì cơ cấu đồng tiền trong dự trữ ngoại hối không thay đổi trong giai đoạn 1999 – 2006

- Dựa trên phương pháp Chi phí – Lợi ích để đánh giá mức độ dự trữ ngoại hối phù hợp, có tính đến các đặc điểm riêng của Chilê Phương pháp này dựa vào hai chỉ số: (i) chi phí biên: là chênh lệch giữa thu nhập kỳ vọng với chi phí tài trợ, ví dụ mức chênh lệch lãi suất trong nước của Chilê; (ii) lợi ích biên: tính bằng hiệu ứng ước lượng của một thay đổi dự trữ với xác suất xẩy ra và chi phí mất đi do 1 cuộc khủng hoảng tài chính

Trang 22

Trong khi chi phí biên có thể xác định tương đối đơn giản thì lợi ích biên được xác định bằng một mô hình phân tích phức tạp.Cuối năm 2003 kết quả của phép phân tích này dẫn đến NHTW Chilê bắt đầu một chương trình giảm mức dự trữ ngoại hối (ngược lại với xu thế ở các nước đang phát triển là tìm cách tăng dự trữ ngoại hối của NHTW)

- NHTW Chilê không có trách nhiệm giải trình trước Tổng thống, Quốc hội, Chính phủ khi dự trữ ngoại hối thay đổi do tỷ giá thay đổi Do thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi (NHTW chỉ điều tiết trong trường hợp đặc biệt như sau vụ khủng bố 11/9/2002) dẫn đến đồng pêsô biến động mạnh, bảng cân đối tài sản NHTW mất cân đối nghiêm trọng, NHTW Chilê đang phải đối diện với khoản lỗ 4 tỷ USD do các khoản thu thấp hơn các khoản chi Nếu không có nguồn tiền bổ xung từ Bộ Tài chính, dự trữ ngoại hối của NHTW Chilê sẽ giảm 4 tỷ USD trong thời gian tới Mặc dù vậy, NHTW Chilê cho rằng đây là cái giá phải trả để đạt được mục tiêu của CSTT là lạm phát mục tiêu Ngoài ra điều quan tâm của các nhà hoạt động chính trị cũng như công chúng Chilê không phải là dự trữ ngoại hối của NHTW mà là mức lạm phát, tốc độ phát triển kinh tế, chỉ số thất nghiệp

Chilê đã đạt được những thành quả quan trọng sau: trong thập kỷ 90, Chilê là một trong những quốc gia tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới, thu hẹp chênh lệch thu nhập tính theo đầu người giữa Chilê và các quốc gia phát triển 30% trong vòng

20 năm; Chilê duy trì chính sách tài chính công vững mạnh, thặng dư ngân sách trong hầu hết 20 năm qua; phát triển được hệ thống ngân hàng, thị trường vốn vững mạnh và

có chiều sâu

Những bài học rút ra từ kinh nghiệm điều hành CSTT và quản lý dự trữ ngoại hối của Chilê:

Về điều hành CSTT:

- Việc tìm kiếm một khuôn khổ CSTT hiệu quả là cần thiết đối với mỗi quốc gia

- Lựa chọn CSTT lấy lạm phát làm mục tiêu là xu hướng chung hiện nay trên thế giới

- Tuy nhiên để khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu đạt hiệu quả, quốc gia đó phải có những điều kiện nhất định phù hợp với lạm phát mục tiêu Một trong những điều kiện đó là:

+ Phải có một chính sách tỷ giá thả nổi gắn liền với tự do hóa tài khoản vốn + Mức độ độc lập nhất định trong điều hành của NHTW

+ Phải dự báo được lạm phát, nhất là lạm phát kỳ vọng

Trang 23

+ Phải có sự đổi mới động bộ và hỗ trợ của các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt

là chính sách tài khóa phải lành mạnh

Về quản lý dự trữ ngoại hối:

- Trong quản lý dự trữ ngoại hối NHTW phải đảm bảo và bám sát những nguyên tắc đặt ra, đối với Chilê là hai nguyên tắc như đã nêu trên

- Việc xác định mức dự trữ ngoại hối phải đảm bảo cân bằng giữa chi phí và lợi ích có được từ dự trữ đó

Khả năng Việt Nam chuyển sang điều hành CSTT theo cơ chế lạm phát mục tiêu: Đối với Việt Nam, để có thể chuyển sang cơ chế lạm phát mục tiêu vào năm

2010 NHTW cần phải đổi mới đồng bộ trong điều hành CSTT và điều hành chính sách

tỷ giá NHNN cần lập 1 lộ trình cụ thể cho việc đưa lạm phát mục tiêu vào thực hiện Những bước cụ thể bao gồm:

- Hoàn chỉnh Luật Ngân hàng để NHNN có đầy đủ quyền lực pháp lý, được quyền kiểm soát vốn, có tính độc lập trong điều hành CSTT

- Đổi mới mô hình tổ chức trong điều hành CSTT, đặc biệt là tăng cường vai trò

và hiệu quả của Hội đồng tư vấn CSTT

- Tăng tính hiệu quả của CSTT: xác định cơ chế chuyền dẫn CSTT, xác định khả năng dự báo lạm phát, xây dựng các mô hình dự báo lạm phát

- Tăng cường sự ủng hộ và lòng tin của thể chế chính trị và quần chúng vào NHNN Để đạt được yêu cầu trên, NHNN cần nâng cao tính minh bạch và truyền thông trong điều hành chính sách tiền tệ

- Theo kinh nghiệm của Chilê, cần chia quá trình xây dựng chế độ lạm phát cơ bản thành 2 giai đoạn Giai đoạn 1 (ở Chilê từ 1991 đến 2000) có tác dụng xây dựng các điều kiện cho giai đoạn 2, khi sẽ phải thực hiện 1 mục tiêu lạm phát và thả nổi hoàn toàn

tỷ giá Trong giai đoạn 1, mặc dù đã tuyên bố lạm phát mục tiêu nhưng NHNN vẫn phải quản lý tỷ giá ngoại tệ, nhưng sẽ mở dần biên độ dao động tỷ giá và xây dựng thị trường tài chính phát triển với đầy đủ các công cụ phái sinh Trong giai đoạn này NHNN vẫn có thể xác định mục tiêu khác như tốc độ tăng trưởng

- Xác định rõ nguyên tắc trong quản lý dự trữ quản lý ngoại hối và đưa những nguyên tắc trên ra công khai, cụ thể hóa trách nhiệm của NHNN bằng các văn bản pháp luật

Phòng CSTT&QLVKD - Vụ CSTT

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 24

Hiện nay nên kinh tế Thái lan,Trung quốc và chi lê rất mạnh điều đó cũng thể hiện việc giao dịch với các nước khác cũng rất lớn,đòi hỏi công tác quản lý ngoại hối của họ đã phát triển rất mạnh mẽ nhằm kiểm soát hoạt động ngoại hối của hai thị trường rất phát triển này.Thái lan và trung quốc đều là hai quốc gia có nguồn thu ngoại tệ rất lớn.làm cho nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài rất nhiều vì vậy chính sách của hai quốc gia này phải nhạy bén với tình hình kinh tế thế giới

Điều kiện kinh tế chính trị và xã hội nước ta có nhiều điểm tương đồng và cũng

có nhiều điểm khác biệt với hai quốc gia đó vì vậy chúng ta có thể rút ra những bài học

từ hai quốc gia đó là

Bài học 1: Trung quốc đã phá giá đồng nội tệ ,điều này đã tạo ra động lực xuất khẩu rất lớn.xuất khẩu đã mang lại cho Trung quốc một nguồn thu ngoại tệ rất lớn.nhưng liệu với Thị trường ngoại hối Việt Nam hiện nay,việc Phá giá đồng tiền ngoại

tệ có phải là chính sách đúng đắn hay không,nếu không nó sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam rơi vào suy thoái

Bài học 2: Nhà nước quản lý thị trường ngoại hối rất chặt chẽ.được thông qua ngân hàng trung ương,công tác quản lý thị trường ngoại hối ở Việt Nam chưa được chặt chẽ.phải được sự quản lý của ngân hàng nhà nước.nhưng cũng không nên can thiệp quá sau vào tỷ giá của thị trường

Bài học 3 Từ Thái lan cho ta thấy công tác quản lý nợ cũng hết sức quan trọng.việc nợ quá nhiều có thể làm cho nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào bên ngoài khi tài khoản vốn được tự do cộng với kỳ vọng quá lớn của các nhà đầu tư và sự lỏng lẻo trong việc kiểm soát các khoản nợ vay đã làm cho dòng vốn ồ ạt chảy vào Chỉ trong

10 năm từ 1987-1996, đã có đến 100 tỷ đôla được đổ vào Thái Lan Nghiêm trọng hơn, trên 70% số tiền này là vốn vay với hơn nửa là vay ngắn hạn do các tổ chức tài chính, nhất là các công ty tài chính trong nước vay để đầu tư dài hạn và bất động sản chiếm một tỷ trọng không nhỏ (Alba 1999)

Bài học 4: Trong quá trình tự do hóa tài chính của mình, không phải lúc nào cũng suôn sẻ đối với Trung Quốc, sau cuộc khủng hoảng năm 1997, sức ép phá giá lên đồng Nhân dân tệ rất nhiều, nhưng nhờ sức mạnh sẵn có của nền kinh tế cộng với một lượng ngoại tệ dữ trữ tương đối lớn (gần 150 tỷ đôla) mà Trung Quốc đã thành công trong việc duy trì chính sách tỷ giá của mình Điều này cũng đã giúp Đông Á không chìm sâu vào khủng hoảng

Trang 26

CH ƯƠ NG 2

TH TR Ị ƯỜ NG NGO I H I T I VI T NAM Ạ Ố Ạ Ệ

2.1 Chính sách phát triển TTNH thời gian qua

2.1.1 Cính sách tiền tệ và ngân sách

- Việt Nam đã thông báo mục tiêu chính trong chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như: tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ bổ sung khác để quản lý lượng cung tiền

Việt Nam cũng áp dụng lãi suất tái chiết khấu thống nhất cho tất cả các ngân hàng thương mại kể từ năm 1999 Chính sách tín dụng tiếp tục được cải thiện để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về vốn cho tăng trưởng kinh tế phù hợp với các mục tiêu chính sách tiền tệ qua từng thời kỳ, đồng thời phát huy tối đa tiềm năng của các thành phần kinh tế Cơ chế tín dụng đã được sửa đổi theo hướng thông thoáng hơn, nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khác nhau, nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của các tổ chức tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng

- Việt Nam thông báo số liệu các doanh nghiệp quốc doanh nợ các ngân hàng thương mại Việt Nam và nợ xấu của các doanh nghiệp quốc doanh đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh, chiếm 3,67% tổng số cho vay của các ngân hàng Các định chế tài chính, bao gồm các ngân hàng thương mại quốc doanh, đã xây dựng quy chế cho vay của từng ngân hàng dựa trên các tiêu chí một cách khách quan Các định chế tài chính tự xem xét, quyết định và tự chịu trách nhiệm trong việc có cho vay các doanh nghiệp quốc doanh hay không theo các điều kiện có tính thương mại

- Từ năm 2001, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng những biện pháp

cơ cấu lại các ngân hàng thương mại quốc doanh với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động Chất lượng tài sản có, năng lực chuyên môn, và năng lực quản lý rủi ro đã được nâng cao Cho vay chính sách đã được tách ra khỏi các hoạt động tín dụng thương mại

và được giao cho ngân hàng chính sách xã hội; Các ngân hàng thương mại quốc doanh

đã xây dựng sổ tay tín dụng (từ khoảng cuối năm 2004); xây dựng hệ thống quản lý rủi

ro tín dụng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế Ngoài ra, các tổ chức tín dụng và các ngân hàng thương mại quốc doanh đã thiết lập một hệ thống kiểm toán nội bộ và một

Trang 27

Ban Kiểm soát chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động tài chính và kế toán của tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn trong hoạt động và thực hiện kiểm toán nội bộ định kỳ.

Ðể nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại quốc doanh, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã và đang chỉ đạo cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh và dự kiến sẽ cổ phần hóa hết các ngân hàng này cho đến năm 2010

2.1.2 Chính sách về ngoại hối và thanh toán

Việt Nam đã thay thế hệ thống tỷ giá cố định bằng cơ chế tỷ giá linh hoạt thả nổi

có quản lý Các trung tâm giao dịch ngoại hối đã được mở và thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã được thành lập Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tổ chức theo dõi cán cân thanh toán và trạng thái dự trữ ngoại hối và có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết Việc công bố tỷ giá giao dịch trung bình của đồng Việt Nam đối với USD trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trên cơ sở hằng ngày.Sau khi đã bình thường hóa quan

hệ tài chính với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Việt Nam đã từng bước đáp ứng các yêu cầu nêu tại Ðiều VIII, đã và đang thực hiện các biện pháp để thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam Các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã được tự do hóa

Việt Nam đã quy định nghĩa vụ tạm thời phải kết hối ngoại tệ với mục đích tập trung ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu về ngoại tệ cho nền kinh tế và đã nới lỏng dần yêu cầu kết hối này khi tình hình kinh tế được cải thiện Các biện pháp kiểm soát ngoại hối chỉ được áp dụng trong những trường hợp ngoại lệ,

do Chính phủ Việt Nam quyết định, nhằm duy trì an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia phù hợp với Ðiều lệ của IMF và Tài liệu của IMF số 144 (52/51) ngày 14-8-1952.Việt Nam khẳng định rằng các hạn chế đối với giao dịch vãng lai đã được bãi bỏ và không duy trì bất kỳ biện pháp nào trái với các cam kết của mình về các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác cũng như về thanh toán giao dịch vãng lai và chuyển tiền quốc tế.Việt Nam đã nới lỏng các giao dịch chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài

và việc vay nước ngoài của các tổ chức cư trú, chỉ duy trì một số hạn chế về (i) các giao dịch chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư của các tổ chức cư trú, việc chuyển vốn này phải được các cơ quan có thẩm quyền cho phép và phải trong phạm vi số ngoại tệ thuộc sở hữu của các tổ chức này; và (ii) thanh toán và hoàn trả các khoản vay nước ngoài của các tổ chức cư trú, các giao dịch này phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tuy nhiên, các doanh nghiệp được tự do ký các hợp đồng vay nước ngoài theo Nghị định số 134/2005/NÐ-CP ngày 1-11-2005 Nghĩa vụ đăng ký các hợp đồng trung

và dài hạn với Ngân hàng Nhà nước là vấn đề có tính thủ tục để phục vụ cho các mục đích thống kê và giám sát hoạt động vay nợ nước ngoài trung và dài hạn của các doanh

Trang 28

nghiệp và phối hợp với Bộ Tài chính để bảo đảm các khoản nợ nước ngoài của quốc gia trong phạm vi an toàn Ðại diện của Việt Nam lưu ý rằng theo Ðiều XII của GATS (Các hạn chế để bảo đảm an toàn cán cân thanh toán), những hạn chế như vậy có thể được xem xét áp dụng khi Việt Nam gặp phải những khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế Các quy định về ngoại hối của Việt Nam được IMF rà soát mỗi năm một lần, là một phần nội dung trong các đợt làm việc của Quỹ theo Ðiều IV trong Ðiều lệ của IMF.Việc hoàn trả các khoản vay và các khoản đầu tư vốn ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, phải theo Nghị định số 22/1999/NÐ-CP, đáp ứng các điều kiện về có giấy phép đầu tư ra nước ngoài; mở một tài khoản ngoại tệ đăng ký việc mở tài khoản

và các giao dịch chuyển vốn đầu tư Các giấy tờ cần thiết để xin giấy phép đầu tư ra nước ngoài

Các doanh nghiệp được phép đầu tư ra nước ngoài có thể chuyển lợi nhuận có được từ các khoản đầu tư của họ tại Việt Nam ra bất cứ nơi nào ở nước ngoài mà không phải thực hiện theo các thủ tục áp dụng đối với các doanh nghiệp Việt Nam.Hoặc có thể

mở các tài khoản ngoại tệ để thực hiện vay nước ngoài trung và dài hạn như quy định tại Ðiểm 2, Mục I, Chương V, Phần II của Thông tư số 01/1999/TT-NHNN ngày 16-4-

1999 về thực hiện Nghị định số 63/1998/NÐ-CP được phép mở tài khoản ngoại tệ cho các hoạt động khác trong các trường hợp đặc biệt.Về yêu cầu tự cân đối ngoại tệ đã được xóa bỏ theo Ðiều 67 của Nghị định số 24/2000/NÐ-CP ngày 31-7-2000 về thực hiện Luật Ðầu tư nước ngoài ở Việt Nam Chính phủ xem xét bảo đảm cân đối nhu cầu ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án đặc biệt quan trọng trong các chương trình của Chính phủ, và hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án cơ sở hạ tầng

và một số dự án quan trọng khác trong trường hợp các ngân hàng được phép giao dịch ngoại hối không thể đáp ứng tất cả các yêu cầu về ngoại tệ

Việt Nam sẽ thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với các vấn đề về ngoại hối theo các quy định của Hiệp định WTO, các tuyên bố và quyết định liên quan của WTO

có liên quan tới IMF và Việt Nam sẽ không áp dụng bất cứ luật, quy định hoặc các biện pháp nào khác, mà có thể hạn chế nguồn cung cấp ngoại tệ cho bất kỳ cá nhân hay doanh nghiệp nào để thực hiện các giao dịch vãng lai quốc tế trong phạm vi lãnh thổ của mình ở mức liên quan tới nguồn ngoại tệ chuyển vào thuộc cá nhân hay doanh nghiệp đó

2.1.3 chính sách thương mại dịch vụ liên quan lĩnh vực ngân hàng

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các tổ chức tín dụng nước ngoài có thể hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, hoặc ngân hàng 100% vốn nước ngoài; công ty tài chính liên doanh, hoặc công ty tài chính 100% vốn nước ngoài; công ty cho thuê tài

Trang 29

chính liên doanh, hoặc công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, thời hạn hoạt động không được quá 99 năm và không được vượt quá thời hạn hoạt động của ngân hàng mẹ ở nước ngoài Thời hạn hoạt động của văn phòng đại diện của một tổ chức tín dụng nước ngoài không được vượt quá thời hạn hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài đó Thời hạn hoạt động tối đa của công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, và công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài là 50 năm, và các giấy phép hoạt động này có thể được gia hạn

Ðóng góp của bên nước ngoài vào một ngân hàng liên doanh hoạt động với tư cách của một ngân hàng thương mại không được vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng, trong khi đó phần góp vốn của bên nước ngoài vào một tổ chức tín dụng phi ngân hàng liên doanh cần phải đạt ít nhất là 30% vốn điều lệ Tổng mức cổ phần của các tổ chức và cá nhân nước ngoài có thể được giới hạn ở mức 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam, trừ khi được pháp luật Việt Nam hoặc cơ quan

có thẩm quyền của Việt Nam cho phép.Về các điều kiện để một ngân hàng nước ngoài

có thể xin được giấy phép mở một chi nhánh tại Việt Nam, theo Luật Ngân hàng hiện hành và Luật Sửa đổi và Bổ sung một số Ðiều của Luật các Tổ chức Tín dụng, kể từ ngày 1-4-2007, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ được phép thành lập các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Một trong các điều kiện then chốt để mở một chi nhánh của một ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam là ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản có hơn 20 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở chi nhánh

Ðiều kiện then chốt để thành lập một ngân hàng liên doanh hoặc một ngân hàng 100% vốn nước ngoài là ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản có hơn 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở ngân hàng Ðối với loại hình công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, phải có tổng tài sản có hơn 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn Các điều kiện đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử Việt Nam khẳng định rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tuân thủ các quy định trong các Ðiều XVI và XVII của GATS khi xem xét đơn xin cấp giấy phép mới, phù hợp những hạn chế đã nêu trong Biểu cam kết về Dịch vụ của Việt Nam Về vốn tối thiểu đối với một chi nhánh ngân hàng nước ngoài bằng hoặc thấp hơn mức quy định đối với ngân hàng thuộc sở hữu trong nước được thành lập tại Việt Nam, Việt Nam đã cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động dựa trên vốn của ngân hàng mẹ cho mục đích cho vay

Một chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở các điểm giao dịch, các điểm giao dịch hoạt động phụ thuộc vào vốn của chi nhánh, nhưng không có hạn chế về số lượng các chi nhánh

Trang 30

2.1.3 Chính sách về dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác

Các cam kết về dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác được thực hiện phù hợp các luật và các quy định liên quan được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để bảo đảm sự phù hợp Ðiều VI của GATS và Ðoạn 2 (a) của Phụ lục về các Dịch vụ Tài chính.Theo nguyên tắc chung và trên cơ sở không phân biệt đối

xử, việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ ngân hàng và tài chính khác phải tuân theo các yêu cầu về hình thức pháp lý và thể chế liên quan

2.2 Thị trường ngoại hối tại Việt Nam trước khi ra nhập WTO

Trong những năm qua, mặc dù thị trường ngoại hối diễn biến khá phức tạp song

có thể khẳng định, 1 thành công quan trọng trong quản lí Nhà nước về điều hành hoạt động ngân hàng và điều hành CSTT đó chính là chính sách quản lí ngoại hối không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tiến trình chung của nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, hướmg tới phù hợp với thông lệ quốc tế và nguyên lí của kinh tế thị trường.Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng còn 1 số hạn chế cần khắc phục.Nhìn từ thực trạng hoạt động quản lí ngoại hối ở Việt Nam có thể thấy nổi bật lên 1 số điểm sau:

2.2.1 Về cơ chế điều hành tỉ giá

Từ đầu năm 1999 NHNN đã chính thức bỏ cơ chế điều hành tỉ giá theo kiểu bao cấp như trước đây, chuyển sang chỉ công bố tỉ giá giao dịch bình quân hàng ngày trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thay vì công bố tỉ giá chính thức như trước.Các NHTM chủ động quy định tỉ giá theo biên độ quy điịnh trên cơ sở tỉ giá do NHNN công

bố và yêu cầu kinh doanh của mình, cung cầu ngoại tệ trên thị trường

Biên độ quy định tỉ giá các NHTM được phép giao dịch cũng không ngừng được điều chỉnh phù hợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế và trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng theo hướng khuyến khích xuất khẩu.Nếu như trong giai đoạn đầu 1999-2000, khi mới thực hiện cơ chế này, NHNN còn quy định quá chi tiết các mức biên độ và biên độ quá hẹp, được coi là vẫn can thiệp quá sâu vào công việc kinh doanh của các NHTM, thì nó cũng dần dần được chỉnh sửa theo hướng nới rộng hơn và ít kì hạn chi tiết hơn; cụ thể như sau:

+ Trong giai đoạn từ 26-2-1999 đến 30-8-2001, NHNN quy định tới 12 kì hạn khác nhau: không kì hạn, kì hạn 30 ngày, từ 31 đến 44 ngày, … với biên độ tương ứng

từ 0, 10%, …, đến 3, 5%

+ Trong giai đoạn từ 1-9-2000 đến 17-9-2001; NHNN vẫn quy định 12 kì hạn, với mức biên độ bình quân giảm 1/2 so với trước

Ngày đăng: 06/08/2013, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1/: PGS.TS Đỗ Đức Bình và PGS.TS Nguyễn Thường Lạng,Nhà xuất bản Lao động –xã hội -Giáo trình kinh tế quốc tế : Chương 9.Thị trường ngoại hối. trang 367 Khác
2/Nguyễn Minh Kiều, tài liệu giảng dạy kinh tế Fulbring.trang 3-4 Khác
3/TS. Nguyễn Thị Mùi .2004. Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng . Nhà xuất bản xây dựng, trang 138 Khác
4/ GS.TS Lê Văn Tư.Ngân hàng và thị trường tài chính.,.Nhà xuất bản thống kê. trang 906-919 Khác
5/ Tác giả Trần Tiến:Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh thị trường ngoại hối - NXB Học viện ngân hàng.Chương 3: Các nghiệp vụ ngoại hối trong TTNH Khác
6/ Báo chứng khoán số 2 năm 2006”Những vấn đề đặt ra cho TTNH Việt Nam khi gia nhập WTO” trang77/ Một số trang Web Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TểM TẮT TỪ TIẾNG VIỆT - phát triển thị trường ngoại hối tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO
BẢNG TểM TẮT TỪ TIẾNG VIỆT (Trang 1)
Bảng 1.1 Thời gian để trả tiền - phát triển thị trường ngoại hối tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Bảng 1.1 Thời gian để trả tiền (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w