Đề tài nghiên cứu “Xây dựng Gói giải pháp Tài chính kích thích Kinh tế với mục tiêu chống suy giảm tăng trưởng giai đoạn 2009 – 2010” được nhóm nghiên cứu của Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam triển khai bước đầu đã nhận được sự quan tâm và đánh giá đúng mức về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết đối với nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn khó khăn hiện tại. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài đã tổ chức các hội thảo khoa học và thảo luận trực tiếp với các chuyện gia kinh tế của các cơ quan, tổ chức liên quan và đã nhận được sự cộng tác và phản hồi tích cực từ các cơ quan này. Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật, phương pháp tính toán và cung cấp những tài liệu quý báu của các chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách trường Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà nội, Đại học kinh tế quốc dân, Ủy Ban giám sát Tài chính Quốc gia, Học Viện Ngân hàng, Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương – Bộ Kế hoạch Đầu tư và các cơ quan ban ngành khác trong quá trình xây dựng đề tài này.
Trang 1BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
XÂY DỰNG GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH
KÍCH THÍCH KINH TẾ VỚI MỤC TIÊU CHỐNG SUY GIẢM
TĂNG TRƯỞNG GIAI ĐOẠN 2009 – 2010
Trưởng ban nghiên cứu: TS Bùi Khắc Sơn
Ths Đặng Duy CườngThs Hoàng Anh TuấnThs Nguyễn Thu PhươngNguyễn Mai ThanhNguyễn Thị Việt HàNguyễn Xuân KhánhNguyễn Thanh HuệHoàng Ánh Ngọc
Hà nội 12-2008
Trang 2Mục lục
Danh mục các Hình vẽ 5
Danh mục bảng biểu 6
Danh mục các từ viết tắt trong đề tài 7
Lời cảm ơn 9
Lời nói đầu 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 11
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 11
1.1.1 Khái niệm, bản chất và bối cảnh triển khai gói giải pháp tài chính 11
1.1.2 Mục đích, nội dung của gói phải pháp tài chính 13
1.2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 14
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia triển khai Gói giải pháp 14
1.2.2 Vai trò của cơ chế bảo hiểm tiền gửi trong việc ngăn ngừa khủng hoảng và triển khai Gói giải pháp của các quốc gia 28
1.2.3 Kết luận từ kinh nghiệm quốc tế triển khai Gói giải pháp 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 32
2.1 THỰC TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM 32
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 32
2.1.2 Xuất nhập khẩu và nhập siêu 32
2.1.3 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 35
2.1.4 Thị trường chứng khoán 36
2.1.5 Vấn đề tỷ giá 37
2.1.6 Thâm hụt cán cân vãng lai 38
2.1.7 Tình hình thực trạng hệ thống ngân hàng 39
2.2 DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2010 45
2.2.1 Tăng trưởng 45
2.2.2 Lạm phát 46
2.2.3 Thu hút FDI 50
Trang 32.2.4 Xuất nhập khẩu 50
2.2.5 Chính sách thắt chặt tiền tệ có điều tiết linh hoạt được duy trì 51
2.2.6 Cán cân vãng lai và cán cân thanh toán 53
2.2.7 Thâm hụt ngân sách chính phủ 54
2.2.8 Vấn đề an sinh xã hội 55
2.3 SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP 56
2.4 MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐƯỢC CỦA GÓI GIẢI PHÁP 59
2.4.1 Mục tiêu 59
2.4.2 Yêu cầu đạt được 59
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG ĐỀ XUẤT VỀ GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNHKÍCH THÍCH KINH TẾ 62
3.1 MÔ HÌNH GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH KÍCH THÍCH KINH TẾ 62
3.1.1 Đối với khu vực sản xuất 63
3.1.2 Đối với khu vực thương mại dịch vụ 65
3.1.3 Đối với khu vực tài chính ngân hàng 66
3.2 CHI PHÍ CHO GÓI GIẢI PHÁP 69
3.2.1 Cơ sở cho việc tính toán giá trị gói giải pháp 69
3.2.2 Phương pháp áp dụng 70
3.2.3 Dữ liệu sử dụng ước lượng Gói giải pháp 87
3.2.4 Giá trị Gói giải pháp và phân bổ Gói giải pháp theo khu vực 88
3.3 CƠ CHẾ PHÊ DUYỆT VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 96
3.3.1 Phê duyệt Gói tài chính 96
3.3.2 Trách nhiệm của các Bộ, ngành cơ quan được giao thực thi gói giải pháp 96
3.3.3 Nguồn tài chính thực hiện Gói giải pháp 97
3.3.4 Cơ chế giám sát thực hiện 98
3.4 NHỮNG RỦI RO CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP 98
3.4.1 Rủi ro khách quan 98
3.4.2 Rủi ro chủ quan 99
3.4.3 Phương pháp giảm thiểu rủi ro 101
Trang 4CHƯƠNG 4
KẾT LUẬN 103
4.1 Gói giải pháp cần được công bố chính thức trong thời gian sớm nhất để phát huy tối ưu những mục tiêu đề ra 103
4.2 Gói giải pháp chỉ thực hiện trong ngắn hạn đúng với vai trò “kích thích” 104
4.3 Định kỳ và đột xuất cần tổng kết, đánh giá việc triển khai Gói giải pháp nhằm có những điều chỉnh thích hợp 104
4.4 Những giới hạn của Gói giải pháp do Nhóm nghiên cứu đề xuất 105
4.5 Về vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc triển khai Gói giải pháp 105
Phụ lục 01 107
Phụ lục 02 115
Phụ lục 03 119
Phụ lục 04 121
Phụ lục 05 124
Phụ lục 06 125
Phụ lục 07 127
Danh mục tài liệu tham khảo ……… 128
Trang 5Danh mục các Hình vẽ
Hình 3 Giá trị mua thuần của khối đầu tư nước ngoài trên sở GDCK TPHCM 37
Hình 4 Tỷ giá công bố VND/USD - Tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng -Tỷ giá giao dịch tương lai 6 tháng và 1 năm 38
Trang 6Danh mục bảng
Bảng 3 Dự báo chỉ số giá của một số loại hàng hóa trên thế giới
Bảng 10 Quy mô gói kích cầu và lộ trình giải ngân theo tính toán của Phương pháp 3 89
Bảng 14 Tổng giá trị giao dịch mua lại giấy tờ có giá thông qua thị
Trang 7Danh mục các từ viết tắt trong đề tài
Trang 8Lời cảm ơn
Đề tài nghiên cứu “Xây dựng Gói giải pháp Tài chính kích thích Kinh tế với
mục tiêu chống suy giảm tăng trưởng giai đoạn 2009 – 2010” được nhóm nghiên
cứu của Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam triển khai bước đầu đã nhận được sự quan tâm
và đánh giá đúng mức về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết đối với nền kinh tế củaViệt Nam đang trong giai đoạn khó khăn hiện tại Trong quá trình nghiên cứu, nhómthực hiện đề tài đã tổ chức các hội thảo khoa học và thảo luận trực tiếp với các chuyệngia kinh tế của các cơ quan, tổ chức liên quan và đã nhận được sự cộng tác và phản hồitích cực từ các cơ quan này
Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹthuật, phương pháp tính toán và cung cấp những tài liệu quý báu của các chuyên giaTrung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách trường Đại học kinh tế - Đại học quốc gia
Hà nội, Đại học kinh tế quốc dân, Ủy Ban giám sát Tài chính Quốc gia, Học Viện Ngânhàng, Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương – Bộ Kế hoạch Đầu
tư và các cơ quan ban ngành khác trong quá trình xây dựng đề tài này
Cuối cùng nhóm nghiên cứu đề tài xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm nghiên cứu làm việc, cám
ơn các phòng ban nghiệp vụ tại Trụ sở chính Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam về việc chia
sẻ thông tin, số liệu, các phương pháp tính toán bao gồm Phòng Giám sát 1, PhòngNghiên cứu Tổng hợp và Hợp tác Quốc tế
Thay mặt nhóm nghiên cứu
TS Bùi Khắc Sơn
Trưởng ban nghiên cứu
Tổng Giám đốc Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam
Trang 9Lời nói đầu
Khủng hoảng và suy thoái nền kinh tế toàn cầu đã và đang gây nhiều khó khăn chorất nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Tăng trưởng GDP 9tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 6,52%, thấp hơn tốc độ cùng kỳ năm ngoái là 8,16%.Triển vọng tăng trưởng cả năm 2008 được dự báo sẽ duy trì ở mức xấp xỉ 6,5%, thấphơn nhiều so với mức 8,5% năm 2007 và thấp hơn so với mức chỉ tiêu 7% Quốc hội đãđiều chỉnh hồi giữa năm Vấn đề này đang là vấn đề rất thời sự, được sự quan tâm đặcbiệt của chính phủ cũng như các cơ quan quản lý, nghiên cứu phát triển kinh tế của nhiềuquốc gia trên thế giới
Ở nước ta, gần đây cũng đã có một số giải pháp từ việc chống lạm phát cho đếnchống suy thoái của chính phủ được triển khai nhưng chưa có các tính toán hiệu quả cụthể Xuất phát từ thực trạng đó, việc đưa ra gói giải pháp tài chính kích thích nền kinh tế
là cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Một số nước trong khu vực cũng như trên thế giới đã đưa ra được gói tài chínhkích thích nền kinh tế và đã bước đầu đạt được những thành công nhất định ví dụ như:Trung Quốc (568 tỷ USD), Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, TháiLan, Mỹ (700 tỷ USD,) và các nước Châu Âu
Với tinh thần như vậy, nhóm nghiên cứu của Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam kếthợp với các chuyên gia kinh tế của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các bộ ngành liênquan khác đã tập trung nghiên cứu ứng dụng các phương pháp tính toán có độ chính xáccao, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của các nước đã và đang triển khai thực hiện góigiải pháp tài chính này để đưa ra gói giải pháp tài chính phù hợp với tình hình cụ thể củanước ta hiện tại Mục tiêu của gói giải pháp là kích thích kinh tế cho 3 khu vực chính gồmkhu vực sản xuất, khu vực thương mại dịch vụ và khu vực tài chính ngân hàng Nhómnghiên cứu hy vọng đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ đóng góp phần nào vào quá trìnhquản lý phát triển nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh suy thoái toàn cầu theo định hướngcủa Chính phủ
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm, bản chất và bối cảnh triển khai gói giải pháp tài chính
Gói giải pháp tài chính là một phần trong các công cụ chống suy thoái kinh tếcủa một quốc gia trong một giai đoạn nhất định Gói giải pháp có thể được áp dụng vàomột hoặc một nhóm ngành cụ thể hoặc cả nền kinh tế nhằm ngăn chặn đà suy thoái,tránh khủng hoảng kinh tế và tiếp tục phát triển bền vững
Để hiểu rõ hơn về gói giải pháp tài chính, chúng ta cần hiểu rõ các vấn đề liênquan đến suy thoái kinh tế và khủng hoảng kinh tế
Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của
Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm(nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Tuy nhiên, địnhnghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia(NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế “là sự tụt giảm hoạt độngkinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng” Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suygiảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu
tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảmphát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì lạm phát đình đốn (đìnhlạm) Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế
Trên thực tế, giải thích một cách ngắn gọn, khủng hoảng kinh tế là tình trạng mấtkiểm soát của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như sản lượng (tăng trưởng), giá cả (lạm phát),tiền tệ (lãi suất, cung tiền), ngoại hối (tỷ giá), thất nghiệp …
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳkinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không thường xảy
Trang 11ra Nhiều tranh luận về việc chính phủ có nên can thiệp để điều hòa kinh tế (học thuyếtkinh tế vĩ mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ kinh tế (lý thuyết chu kỳ kinh tế thực),hoặc thậm chí là tạo ra chu kỳ kinh tế (chủ nghĩa tiền tệ).
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôinổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằngcác kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theochu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh)
Những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyếtchu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhấtcao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúnggây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn
Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây rasuy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩachúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụngkhông hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát
Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấukinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở
Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém
Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới trong 50 năm gần đây đã xẩy ra một số cuộckhủng hoảng kinh tế sau đây:
- Năm 1973 thế giới đã xẩy ra cuộc khủng hoảng năng lượng (chủ yếu là xăngdầu) với giá dầu thô đã tăng lên tới hơn 100 USD/thùng Cuộc khủng hoảng này
đã làm nhiều nước nhập khẩu xăng dầu điêu đứng, làm kinh tế thế giới trì trệtrong vài năm
- Năm 1985 thế giới đã xẩy ra cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế trên phạm vi toàncầu; trong đó nền kinh tế thế giới với mô hình chủ yếu từ nền kinh tế đại công
Trang 12nghiệp cơ khí (với đặc trưng là công nghiệp cơ khí máy móc to lớn, cồng kềnh
và ô nhiễm môi trường) chuyển sang nền kinh tế dịch vụ với đặc trưng chủ yếu
là công nghệ cao, năng suất cao, sạch và thân thiện với môi trường Sau cuộckhủng hoảng này, một số nước đã có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp từnền kinh tế đại công nghiệp cơ khí sang nền kinh tế dịch vụ nên đã chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế rất thành công với tốc độ cao như Hoa Kỳ, NhậtBản, Ireland, Singapore, Hàn Quốc…
- Năm 1997 đã xẩy ra cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu á (điển hình nhất
là ở Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc Sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệnày, một số nước đã cải tổ nền kinh tế, đổi mới cơ cấu kinh tế, đặc biệt là đổimới nền tài chính – tiền tệ quốc gia; áp dụng chính sách tiền tệ phù hợp; áp dụng
tỷ giá ngoại hối linh hoạt; tăng dự trữ ngoại tệ mạnh; phát triển nền kinh tế theođịnh hướng xuất khẩu; giảm dần nhập siêu, tiến tới cân bằng thương mại và xuấtsiêu Điển hình trong việc khắc phục khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 1997
và sau đó tiếp tục phát triển nền kinh tế với chất lượng mới và ở trình độ cao hơn
là các nước Thái Lan và Hàn Quốc
Với lập luận nền kinh tế thế giới phát triển theo chu kỳ thì trong năm 2009 nềnkinh tế thế giới sẽ xảy ra cuộc khủng hoảng Trên thực tế, từ tháng 9/2008, thế giới đãchứng kiến những vụ sụp đổ của những ngân hàng lớn nhất thế giới cùng tình trạng suythoái tại Mỹ và một số quốc gia phát khác Bên cạnh đó, tình trạng lạm phát tăng cao,mất giá đồng nội tệ, tăng trưởng kinh tế suy giảm ở các quốc gia đang phát triển cũngminh chứng cho nguy cơ khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang hiện hữu
1.1.2 Mục đích, nội dung của gói phải pháp tài chính
Đối mặt với suy giảm kinh tế và nguy cơ khủng hoảng kinh tế, một gói các giảipháp đồng bộ là rất cần thiết để đưa nền kinh tế thoát khỏi đà suy thoái trước mắt, đồngthời kích thích nền kinh tế tăng trưởng trở lại, từng bước thúc đẩy nền kinh tế phát triểnbền vững Mục đích của gói giải pháp tài chính trong ngắn hạn là hỗ trợ về mặt tài
Trang 13chính cho các thành phần trong nền kinh tế nhằm chống suy giảm tăng trưởng trongmột giai đoạn nhất định.
Gói giải pháp tài chính có thể nhằm hỗ trợ để tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất vàxuất khẩu (vốn, thị trường, tỷ giá, thuế,…); kích cầu đầu tư và tiêu dùng (đầu tư nhànước và doanh nghiệp); thực hiện các chính sách tài chính và tiền tệ (tỷ giá, lãi suất, cácchính sách thuế); tái cấu trúc nhằm làm lành mạnh hóa hệ thống các trung gian tàichính (sáp nhập, mua lại, cơ cấu lại nợ…) Gói giải pháp tài chính phải được thực hiệnsong song với các chính sách an sinh xã hội Ngoài ra, công tác tổ chức điều hành, giámsát thực hiện và can thiêp của nhà nước cũng rất quan trọng (dự báo nắm chắc tình hình,các thủ tục (đầu tư XDCB, nhất là đất đai, hoàn thuế…)
1.2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia triển khai Gói giải pháp
Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính có dấu hiệu từ cuối năm 2007 đầu 2008,nhiều nước đã thực hiện những gói giải pháp kích thích kinh tế mà chủ yếu là kích cầutiêu dùng và tăng chi tiêu chính phủ nhằm đưa đất nước thoát khỏi vòng xoáy suy thoái
từ Mỹ Đến giờ, đã có nhiều nước công bố và thực hiện các gói giải pháp tài chínhnhằm vực dậy nền kinh tế, tránh rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế Các quốc gia từChâu Mỹ, Châu Âu, Châu Á và một số nước trong khu vực Đông Nam Á đã công bốGói giải pháp tài chính tại quốc gia mình
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả đề tài đã lựa chọn quốc gia nghiên cứuchuyên sâu về Gói giải pháp dựa theo một hoặc một số các tiêu chí sau: i) quốc gia cóGói giải pháp đồng bộ, đã bắt đầu triển khai và đem lại kết quả nhất định được các quốcgia khác học tập theo; ii) quốc gia trong khu vực có một số đặc điểm kinh tế xã hộitương tự với Việt Nam Với nguyên tắc trên, đề tài nghiên cứu giới thiệu kinh nghiệmmột số quốc gia sau:
1.2.1.1 Kinh nghiệm triển khai gói giải pháp của Mỹ
Trang 14Xuất phát điểm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay có nguyênnhân sâu xa từ nước Mỹ, việc sửa chữa sai lầm cũng bắt đầu từ nước này Quốc hội Mỹ
đã thông qua bản kế hoạch dày 200 trang, trong đó những điểm chính của kế hoạch baogồm:
- Chống khủng hoảng: Bộ Tài chính được sử dụng khoản tiền 700 tỷ USD theo
từng giai đoạn để mua nợ xấu của các tổ chức tài chính Trong đó, 250 tỷ USD
sẽ được cấp ngay lập tức trong đợt đầu
- Tăng trần bảo hiểm tiền gửi: mức tiền bảo hiểm tối đa của FDIC đối với các tài
khoản tiết kiệm của người dân trong các ngân hàng tạm thời tăng từ mức100.000 USD lên mức 250.000 USD FDIC cũng tạm thời có quyền vay tiềnkhông hạn chế từ Bộ Tài chính để bù đắp cho khoản tiền bảo hiểm tăng thêmnày
Điều khoản này nhằm mục đích tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thốngngân hàng và như thế sẽ không ồ ạt đi rút tiền
- Bảo vệ người nộp thuế: nếu Chính phủ Mỹ thua lỗ vì trả giá quá cao cho các
khoản nợ xấu, đạo luật yêu cầu Tổng thống phải đề xuất một kế hoạch thu hồivốn trong trường hợp kế hoạch này thua lỗ trong vòng 5 năm kể từ ngày có hiệulực Bộ Tài chính được phép có cổ phần sở hữu trong các doanh nghiệp tham dựchương trình
- Cắt giảm thuế:
Mở rộng chương trình ưu đãi thuế năng lượng tái sinh đối với các cánhân và doanh nghiệp, bao gồm việc chiết khấu thuế đối với việc muacác tấm pin nhiên liệu mặt trời Chương trình cắt giảm thuế này có trị giá
17 tỷ USD
Tiếp tục gia hạn thêm một số chương trình cắt giảm thuế đã hết hạn,trong đó có các loại tín dụng thuế nghiên cứu và phát triển dành cho các
Trang 15doanh nghiệp và tín dụng thuế cho cá nhân Chương trình kéo dài 2 nămnày trị giá 42 tỷ USD.
thuế tối thiểu lựa chọn (AMT), loại thuế mà 24 triệu hộ gia đình ở Mỹ sẽphải nộp tổng số tiền thuế thu nhập 62 tỷ USD vì sự giàu có của họ
- Các quy định kế toán mới: Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Mỹ (SEC) có thẩm
quyền đình chỉ các tiêu chuẩn kế toán điều chỉnh theo thị trường – các quy địnhđòi hỏi các công ty định giá tài sản của họ tại mức giá thị trường hiện tại, thay vìgiá dự kiến Các tập đoàn ở Phố Wall đã phàn nàn rằng quy định này là phi thực
tế vì buộc họ phải định giá hàng tỷ USD nợ xấu bất động sản ở mức bèo bọt,khiến thị trường mất niềm tin nghiêm trọng vào ngành tài chính, làm cho khủnghoảng thêm trầm trọng
- Chương trình bảo hiểm: Bộ Tài chính sẽ thành lập một chương trình bảo hiểm
dành cho các tài sản xấu của các doanh nghiệp với mức phí do các doanh nghiệptrả dựa trên mức độ rủi ro của tài sản
Hạn chế lương thưởng cho các lãnh đạo doanh nghiệp: Lương thưởng chocác doanh nghiệp bán tài sản hoặc mua bảo hiểm của Chính phủ Mỹ theochương trình này sẽ bị hạn chế
- Thành lập hai ủy ban giám sát:
Ủy ban thứ nhất có tên Ủy ban Ổn định Tài chính sẽ bao gồm Chủ tịchFED, Chủ tịch Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán (SEC), Giám đốc Cơquan Tài chính Địa ốc Liên bang, Bộ trưởng Bộ Nhà đất và Phát triển đôthị, Bộ trưởng Bộ Tài chính
Ủy ban thứ hai là một ủy ban của Quốc hội bao gồm 5 thành viên do lãnhđạo Thượng viện và Hạ viện chỉ định trong số các thành viên của haiđảng Ủy ban Ổn định tài chính phải báo cáo lên ủy ban này
Trang 16- Chi phí: Theo tính toán của Liên ủy ban về thuế, các điều khoản về thuế trên có
thể khiến thu nhập từ thuế của Chính phủ Mỹ giảm 110 tỷ USD trong vòng 10năm tới Hãng tin CNBC thì cho rằng, chi phí cho các điều khoản mới về thuếtrong kế hoạch sẽ là 150 tỷ USD
Kế hoạch nói trên là hành động can thiệp mạnh nhất của Chính phủ Mỹ vào nềnkinh tế nước này từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay Kế hoạch được đưa ra trong bốicảnh khủng hoảng tài chính ở Mỹ khiến hàng loạt tập đoàn lớn trong ngành tài chínhkhông chỉ ở Mỹ mà còn ở châu Âu phá sản, bị quốc hữu hóa hoặc thâu tóm
Sự thắt chặt tín dụng do các ngân hàng mất niềm tin trong việc cho vay đã khiếnkinh tế toàn cầu nói chung, và các nền kinh tế đầu tàu của thế giới nói riêng giảm tốcmạnh mẽ, thậm chí có nguy cơ rơi vào suy thoái
Kế hoạch này là ý tưởng của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson và Chủ tịchCục Dự trữ Liên bang Mỹ FED đưa ra ngày 19/9 và đã được Quốc Hội Mỹ thông quađầu tháng 10 Sau một tháng thực hiện, Bộ Tài chính Mỹ đã đưa ra quyết định thay đổi
kế hoạch giải ngân gói 700 tỷ USD để giải cứu hệ thống tài chính Mỹ , theo đó Bộ Tàichính Mỹ sẽ duy trì khoản 250 tỷ USD để mua cổ phiếu của các ngân hàng Mỹ, tiếp tụcbơm tiền vào hệ thống tài chính để hỗ trợ khối này, đồng thời sẽ hỗ trợ thị trường tíndụng tiêu dùng, bơm vốn cho các khoản vay mua ôtô và cho sinh viên vay
Tuy nhiên, do khủng hoảng kinh tế diễn ra ở mức trầm trọng nên tác động củagói kích thích kinh tế và việc cắt giảm lãi suất không diễn ra như mong đợi Trong tâmcủa gói kích thích là nâng đỡ cầu tiêu dùng từ khu vực hộ gia đình Nhưng theo khảo sátthì phần lớn khoản hoàn thuế TNCN được các cá nhân sử dụng để chi trả các nghĩa vụ
nợ (54%), tiết kiệm (29%) Chỉ 17% số tiền này được các cá nhân sử dụng cho tiêudùng Do vậy việc cắt giảm lãi suất gần tới mức 0 hiện nay chưa tạo được chuyển biếntích cực trong nền kinh tế
Tổng thống mới đắc cử của Mỹ đang dự định đề xuất một gói kích thích kinh tếmới, trị giá khoảng 675 đến 775 tỷ USD Gói kích thích kinh tế này nhằm mục tiêu tăng
Trang 17chi tiêu chính phủ và cắt giảm thuế Tăng chi tiêu chính phủ sẽ được tập trung vào đầu
tư cơ sở hạ tầng như đường cao tốc, giao thông công cộng, chi bảo hiểm y tế, trợ cấpthất nghiệp Chi phí cắt giảm thuế sẽ chiếm khoảng 40% giá trị gói kích thích kinh tế.trong đó việc hoàn thuế cho người lao động và miễn trừ chi phí cho khu vực sản xuất,kinh doanh nhằm khuyến khích đầu tư, tạo công ăn việc làm Mục đích cuối cùng củagói kích thích này sẽ nhằm kích thích cầu tiêu dùng bằng cách giảm động cơ tiết kiệmcủa khu vực hộ gia đình trên cơ sở hạn chế các bất ổn, rủi ro gắn với thất nghiệp, y tếcộng đồng Khuyến khích đầu tư, tạo công ăn việc làm luôn được song hành (dù ở mứchạn chế hơn), vì chỉ khi nhiều công ăn việc làm được tạo ra thì việc kích cầu mới bềnvững
1.2.1.2 Kinh nghiệm triển khai gói giải pháp của Anh
Cũng nhằm tránh lan rộng của khủng hoảng nhà từ Mỹ, ngay sau khi gói cứu trợcủa Mỹ được công bố, ngày 8/10/2008, Thủ tướng Anh cũng công bố gói cứu trợ củanước này trị giá 500 tỷ bảng Gói cứu trợ được đưa ra 48 giờ sau khi chỉ số chứngkhoán hàng đầu của Anh, FTSE100, ghi nhận sự sụt giảm lớn nhất từ năm 1987 Nộidung kinh phí được phân bổ như sau:
- 50 tỷ bảng dành hỗ trợ các khoản đảm bảo và khoản vay của ngân hàng
- 250 tỷ bảng Chính phủ cam kết đảm bảo các khoản vay liên ngân hàng bằngcách đảm bảo chúng;
- 200 tỷ bảng được dùng cho các ngân hàng vay vốn ngắn hạn thông qua cácchương trình thanh khoản đặc biệt của Ngân hàng Anh, hỗ trợ thanh khoản chocác thị trường Hỗ trợ các ngân hàng trong kế hoạch tăng vốn thông qua Quỹ táicấp vốn Ngân hàng mới được hình thành, trong đó 25 tỷ bảng sẽ được cung cấpngay và thêm 25 tỷ bảng nếu cần thiết
Tuy nhiên, trong số 500 tỷ bảng, chỉ có 400 tỷ bảng là tiền mặt, 100 tỷ bảng làcác khoản tín dụng ngắn hạn Nhóm giải pháp này nhằm tránh cho bong bóng cho vay
Trang 18của ngân hàng Anh vỡ, củng cố cơ sở vốn của các ngân hàng thương mại và tăng niềmtin của giới đầu tư.
Bên cạnh đó, Cơ chế Bồi thường Dịch vụ Tài chính Anh (FSCS) đã thực hiện cảicách chính sách BHTG sau sự đổ vỡ của ngân hàng Northern Rock Nâng hạn mức bảohiểm tiền gửi cho tất cả các khoản tiền gửi ngân hàng từ 35.000 bảng lên 50.000 bảng
từ 7/10/2008 nhằm bảo vệ những người gửi tiền tại nước này và tránh dòng tiết kiệmchảy tới những nước láng giềng trong khối EU cam kết bảo hiểm toàn bộ cho nhữngngười gửi tiền
Ngày 24/11/2008, Chính phủ Anh công bố gói giải pháp bổ sung trị giá 20 tỷbảng bắt đầu thực hiện từ nay đến tháng 4/2010 để khuyến khích tiêu dùng và giảm tốc
độ suy thoái Nguồn vốn huy động cho gói cứu trợ này được trích từ 2 nguồn trái phiếuchính phủ và tăng thuế thu nhập đối với người giàu từ 40-45% từ năm 2011 Trong đó,một khoản 3 tỷ bảng sẽ được dành cho các dự án chi tiêu công lớn như nâng cấp hệthống đường sá, trường học, nhà ở
1.2.1.3 Kinh nghiệm triển khai gói giải pháp của Malaysia
Chính Phủ Malaysia đưa ra gói giải pháp kích thích kinh tế trị giá 7 tỷ Ringit(2,2 tỷ USD) trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang rơi vào suy thoái mạnh mẽ hồiđầu tháng 10/2008 Malaysia - nước vốn được xem là khá phụ thuộc vào kinh tế Mỹ -
là nước đầu tiên tại Đông Nam Á nhắc đến gói giải pháp kinh tế Mục đích của gói giảipháp kích thích kinh tế này của Malaysia là củng cố và kích thích tăng trưởng kinh tế,gây dựng niềm tin trong công chúng ở thời điểm thách thức suy thoái kinh tế là lớn nhấtđối với nước này kể từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á cách đây một thập kỷ
Chính phủ Malayxia nhấn mạnh những biện pháp mạnh mẽ sẽ được thực hiện đểkhẳng định Chính phủ quan tâm lớn đến phúc lợi xã hội và quyền lợi của người dâncũng như thúc đẩy niềm tin khối doanh nghiệp tư nhân Các mục tiêu của gói giải phápkinh tế theo đó sẽ bao gồm cải thiện môi trường kinh doanh khối tư nhân; tăng cườngphúc lợi xã hội
Trang 19Điểm đặc biệt là khoản tiền dùng cho giải pháp kích thích kinh tế này được thu
từ các khoản tiết kiệm có nguồn gốc từ hoạt động cắt giảm trợ cấp nhiên liệu mà nướcnày đã phải bỏ ra khá nhiểu tiền trong một thời gian dài khi giá dầu trong nước liên tụcgia tăng Bên cạnh đó Chính phủ Malaysia cũng sẽ thực thi chính sách mở rộng điềuhành linh hoạt và mở rộng tiền tệ và thực thi một số dự án tác động lớn làm thay đổinền kinh tế
Khoản tiền 7 tỷ Ringit được chi cho gói giải pháp sẽ được phân bổ:
- 1,2 tỷ giúp người dân đang gặp khó khăn về nhà ở được xây dựng và sửa chữa.Tổng số có 25.000 căn hộ giá trung bình và thấp sẽ được trao cho những đốitượng này 600 triệu sẽ được dùng vào kênh hỗ trợ các dự án nhỏ trong lĩnh vựcđiện đường trường trạm, cầu cống
- 500 triệu dùng hỗ trợ trường học, bệnh viện, đường xa ở khu vực thành thị
- 500 triệu hỗ trợ khu vực nông thôn
- 300 triệu sẽ được phân bổ cho quỹ cải thiện kỹ năng cho người lao động theonhu cầu của doanh nghiệp
- Một khoảng tiền lớn trị giá 1,5 tỷ ringit sẽ được sử dụng để lập quỹ đặc biệt hỗtrợ doanh nghiệp khu vực tư nhân nhằm cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợcác doanh nghiệp này được vay vốn
- 200 triệu sẽ được phân bổ cho chương trình hỗ trợ thanh niên và thành lập các cơ
sở kinh doanh mới quy mô nhỏ và vừa
Các hoạt động dự kiến triển khai thuộc phạm vi gói kích thích tăng trưởng tậptrung chủ yếu vào các dự án phát triển, cải thiện doanh nghiệp tư nhân trong ngànhcông nghiệp xi măng, sắt thép xây dựng và ngành sản xuất vốn đã bị chậm phát triển vàcạnh tranh khiến cho mờ nhạt trong thời gian qua
Trang 20Với gói giải pháp kích thích kinh tế này, Chính phủ sẽ cho phép các cá nhân vàcác công ty nước được mua bất động sản trị giá từ 500.000 ringit và cao hơn nữa màkhông phải chờ sự phê duyệt của Ủy ban Đầu tư nước ngoài cho các mục đích sử dụng
cá nhân
1.2.1.4 Kinh nghiệm Nhật Bản
Nhật Bản đã thực hiện 2 gói giải pháp tài chính tháng 8 và tháng 10:
Cuối tháng 8/2008, Nhật Bản cũng đã công bố một chương trình kích thích cả
gói trị giá 11.700 tỷ yên (khoảng 110 tỷ USD) nhằm đối phó với tình trạng giá năng
lượng và nguyên liệu thô tăng cao
- Gói hỗ trợ này chủ yếu tập trung vào các biện pháp hỗ trợ tài chính cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản, hiện đang bị tác động mạnh bởi giáxăng dầu và giá lương thực tăng cao Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thuộc diệnnày đang phải đối mặt với khủng hoảng tín dụng do các ngân hàng hạn chế chovay vì lo ngại các doang nghiệp này bị phá sản
Kế hoạch này bao gồm cả những biện pháp giúp đỡ người tiêu dùng, các công ty
và người nông dân đối phó với chi phí nhiên liệu cao và cuộc khủng hoảng tài chính.Với những biện pháp có liên quan đến cho vay chiếm tỷ lệ rất lớn trong gói kinh tế11.700 tỉ yên này, dự kiến chính phủ Nhật Bản sẽ phải tăng chi ngân sách thêm 2.000 tỉyên Nhật cũng xem xét khả năng giảm thuế thu nhập
Trong khoản kích thích kinh tế cả gói, 400 tỷ Yên sẽ được sử dụng để thúc đẩychương trình bảo đảm tín dụng của Chính phủ nhằm tăng quỹ cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, hiện chiếm khoảng 99% tổng số doanh nghiệp ở Nhật Bản
- Gói kích thích kinh tế lần thứ 2 trị giá 26.900 tỷ yên (khoảng 274 tỷ USD) củaNhật được công bố ngày 30/10/2008 nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cựccủa cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với đời sống của người dân nướcnày
Trang 21Trong số 5.000 tỷ yên được chi bằng tiền mặt trong gói kích thích kinh tế trên,Chính phủ Nhật Bản sẽ dành 2.000 tỷ yên (khoảng 20 tỷ USD) để trợ cấp trực tiếp chocác hộ gia đình Ước tính 1 hộ gia đình 4 người được nhận 60.000 yên (610 USD)
Chính phủ cũng hỗ trợ việc làm cho 600.000 người không có việc làm ổn định,bằng cách khuyến khích các doanh nghiệp tuyển những người này, đồng thời, cắt giảmthuế cho các khoản cho vay nhà đất; đề nghị các công ty phục vụ công giảm mức tăngphí; tăng ngân sách và nhân sự cho việc chăm sóc người già và trẻ em; mở rộng đảmbảo tín dụng khẩn cấp cho các doanh nghiệp nhỏ lên 20.000 tỷ yên; mở rộng các khoảncho vay khẩn cấp của các tổ chức tài chính của chính phủ lên 10.000 tỷ yên; thực hiệnchương trình cải cách thuế trung hạn nhằm bảo đảm chi phí an sinh xã hội trong bốicảnh số người già tăng nhanh Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng để dành 1.000 tỷ yên
để thúc đẩy kinh tế các địa phương
Để huy động nguồn tài chính cho chương trình kích thích kinh tế trên, Chính phủNhật sẽ tránh phát hành trái phiếu bù lấp thâm hụt ngân sách, nhằm không làm trầm
trọng thêm những khó khăn về tài chính mà sẽ dựa vào dự trữ lấy từ ngân sách đặc
biệt để cung cấp tài chính cho gói kích thích kinh tế này.
Theo đánh giá của các nhà kinh tế khu vực tư nhân, gói kích thích kinh tế mới sẽ
có tác dụng làm dịu bớt những ảnh hưởng ngay lập tức của cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu đối với nền kinh tế Nhật Bản, nhưng không thể thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
về lâu dài Theo nhiều chuyên gia kinh tế dự đoán gói kích thích kinh tế mới sẽ giúpGDP của Nhật Bản tăng thêm 0,4-0,5% Tuy nhiên, để đạt được sự tăng trưởng lâu dài,Nhật Bản cần thực hiện các biện pháp như thực hiện chính sách thuế ưu đãi đối với cáccông ty nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển, khuyến khích đầu tư vốndoanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty
Chính phủ Nhật Bản cũng dự định sẽ thực hiện cắt giảm thuế và các biện phápkích thích kinh tế khác trong vòng 3 năm tới, sau đó tiến hành cải cách hệ thống thuế,bao gồm tăng thuế tiêu dùng từ mức 5% hiện nay, nhằm bảo đảm nguồn thu cần thiết
Trang 221.2.1.5 Kinh nghiệm Hàn Quốc
Nền kinh tế Hàn Quốc phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu nên đã chịu tác động rấtlớn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có tâm điểm xuất phát từ thị trường Mỹ.Sau sự hoảng loạn phố Wall và sự sụp đổ của nhiều ngân hàng tại Mỹ, kinh tế HànQuốc có nguy cơ dần rơi vào suy thoái Hai tháng kể từ vụ Lehman Brother tuyên bốphá sản, Chính phủ Hàn Quốc chính thức cho biết nền kinh tế nước này đang bị tổnthương và sẽ khẳng định sẽ tiến hành thêm một số giải pháp quan trọng Trong khi đó, NHTW Hàn quốc cam kết nhằm bảo vệ nền kinh tế lớn thứ 4 Châu Á này thoát khỏinhững chấn động lớn từ những xáo trộn tài chính toàn cầu Đây là lý do cơ bản cho mộtgiải pháp kích thích kính tế đầu tiên của Chính phủ Hàn Quốc trị giá 14 nghìn tỷ won(tương đương với 11 tỷ USD) được công bố hôm 3 tháng 11 năm 2008 Và cùng với nó
là một gói cứu trợ trị giá là 130 tỷ USD tương đương với khoảng 14% GDP để hỗ trợthị trường bảo hiểm và ngân hàng với trị giá là 130 tỷ USD Theo kế hoạch, nguồn tàitrợ cho các biện pháp trên được lấy từ việc phát hành trái phiếu chính phủ
Mục đích chung của các biện pháp kích thích kinh tế kể trên là nhằm: (i) đảmbảo an toàn cho nền kinh tế; giảm thiểu nguy cơ suy thoái và (ii) tạo đà thúc đẩy tăngtrưởng trở lại trong ngắn hạn Chính phủ Hàn Quốc hy vọng sẽ vực dậy nền kinh tế vàđưa mức tăng trưởng kinh tế lên 4% trong một vài năm tới
Trên cơ sở các mục tiêu nói trên, Chính phủ Hàn Quốc sẽ phân bổ gói cứu trợkinh tế cụ thể như sau Đối với gói cứu trợ kinh tế trị giá 14 nghìn tỷ won ($11 tỷ), 11nghìn tỷ won sẽ dành cho chi tiêu công năm 2009 và 3 nghìn tỷ won là dành cho việccắt giảm thuế Bộ Tài chính nước này tăng mạnh quy mô mua bán trái phiếu để canthiệp vào thị trường ngoại hối, bảo lãnh cho các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở các tổchức tài chính trong nước Ngoài ra, Chính phủ nước này cũng cam kết chi 100 tỷ USDvào thị trường bảo hiểm và 30 tỷ USD cho các ngân hàng
Nhận thức sâu sắc những hệ lụy của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối vớithị trường tài chính-ngân hàng, Chính phủ Hàn Quốc, song song với việc triển khai gói
Trang 23cứu trợ kinh tế, đã có giải pháp thiết thực hỗ trợ thị trường bảo hiểm và ngân hàng,mạch máu của nền kinh tế
1.2.1.6 Kinh nghiệm Trung Quốc
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong năm 2008 dự kiến chỉ đạt9,3%, là mức thấp nhất trong 5 năm qua do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tàichính hiện nay Kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh khiến các nhà sản xuất trong nướccũng suy yếu, trong khi chi phí cho nguyên liệu thô tiếp tục tăng Theo thông kê, hơn40.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc gặp khó khăn trong xuất khẩu, 67.000doanh nghiệp phá sản trong 6 tháng đầu năm 2008, kéo theo khoảng 25 triệu lao động
bị cắt giảm Nếu không có những điều chỉnh kịp thời, dự báo năm 2009, kinh tế TrungQuốc còn tiếp tục gặp khó khăn, tốc độ tăng trưởng có thể giảm chỉ còn 8% hoặc thấphơn nữa
Trước tình hình này, ngày 9/11/2008, Chính phủ Trung Quốc đã công bố mộtGói kích thích kinh tế trị giá 4.000 tỷ Nhân dân tệ (tương đương với 586 tỷ USD) chiếmkhoảng 30 % GDP nhằm: (i) thúc đẩy kinh tế phát triển và (ii) kích thích tiêu dùngtrong nước Khác với Mỹ, kích cầu nội địa của Trung Quốc đặt mục tiêu vào kích cầuđầu tư công cộng
Dự kiến, gói kích thích kinh tế này sẽ được giải ngân trong giai đoạn từ nay đếnnăm 2010 (100 tỷ NDT sẽ được sử dụng ngay trong quý 4-2008) Gói kích thích kinh tếnày bao gồm nhiều biện pháp khác nhau, như nới lỏng tín dụng, cắt giảm thuế, giánhiên liệu và tăng chi tiêu vào cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tiêu dùng nội địa
Gói kích thích này sẽ được chi tiêu trong 2 năm tới để tài trợ những chương trìnhtrong 10 lĩnh vực quan trọng sau đây:
- Một là, đẩy nhanh xây dựng công trình an cư đảm bảo đời sống của người dân.
Giải pháp này nhằm vào mở rộng diện thí điểm cải tạo nhà xuống cấp ở nôngthôn và khuyến khích xây nhà ở cho người có thu nhập thấp Tổng vốn đầu tư là
280 tỷ NDT, chiếm 7% tổng giá trị của gói kích cầu
Trang 24- Hai là, đẩy nhanh xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Theo đó, Chính phủ đẩy
mạnh đầu tư vào nông thôn ở các lĩnh vực như: đường sá, công trình thủy lợi,mạng lưới điện…Giá trị đầu tư ban đầu là 370 tỷ NDT, chiếm 9,25% tổng giá trịcủa gói kích cầu
- Ba là, tăng cường xây dựng cơ sở quan trọng như: đường sắt, đường bộ (quốc
lộ), sân bay…với số vốn là 1800 tỷ NNDT, chiếm tới 45% tổng giá trị của góikích cầu
- Bốn là, Trung Quốc cũng dành 40 tỷ NDT cho phát triển y tế, văn hóa, giáo dục,
và được tập trung cho những vùng nông thôn còn lạc hậu
- Năm là, Trung Quốc dành 350 tỷ NDT để bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái.
- Sáu là, đẩy nhanh điều chỉnh cơ cấu và tự chủ đổi mới với một khoản ngân sách
là 160 tỷ NDT nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đẩy nhanh điều chỉnh cơcấu và tự chủ đổi mới
- Bảy là, đẩy nhanh các công tác tái thiết sau thiên tai ở tỉnh Tứ Xuyên, nơi xảy ra
động đất với tổng vốn là 1000 tỷ NDT, chiếm tới 25% tổng giá trị gói kích cầu
- Tám là, thực hiện kích cầu tiêu dùng thông qua việc nâng cao thu nhập dân cư tại
khu vực nông thôn và thành thị thông qua việc tăng trợ cấp bảo hiểm, nâng caomức lương cơ bản và trợ cấp sinh hoạt cho người thu nhập thấp Bên cạnh đó,Chính phủ kêu gọi và có biện pháp để các doanh nghiệp ngừng cắt giảm nhâncông
- Chín là, cải cách hệ thống thuế VAT nhằm vào các đối tượng là doanh nghiệp và
người tiêu dùng (khoảng 120 tỷ NDT)
- Mười là, tăng cường hỗ trợ tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chính phủ
Trung Quốc kết hợp giữa chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ nớilỏng nhằm đạt mục tiêu kinh tế đã đề ra Với giải pháp này, các ngân hàng
Trang 25thương mại được yêu cầu bảo đảm việc cho vay đối với khu vực tiêu dùng quantrọng; khuyến khích tăng cường bảo lãnh tín dụng đối với khu vực DNNVV
Là một nền kinh tế chuyển đổi với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh vào bậc nhấtthế giới, nền kinh tế Trung Quốc có những điểm tương đối tương đồng với nền kinh tếViệt Nam Do đó, cách triển khai gói giải pháp kích thích kinh tế của nước này có thể làmột tham khảo tốt đối với nền kinh tế nước ta
Gói 10 giải pháp kích cầu mà Trung Quốc đưa ra cho thấy sự phản ứng nhanhtrước những diễn biến của cuộc khủng hoảng và việc tính toán thực hiện khá cụ thể,cách làm bài bản và quyết liệt, được thể hiện trên các mặt:
- Đặt mục tiêu cơ bản của gói giải pháp là duy trì tăng trưởng, điều chỉnh cơ cấu
và mở rộng nhu cầu nội địa, thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu Với địnhhướng không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt mà còn tính toán đến cơ sở pháttriển lâu dài, một phần không nhỏ trong gói giải pháp dành cho việc đổi mới cơcấu kinh tế theo hướng hiện đại và các lĩnh vực được lựa chọn là các lĩnh vựcnóng bỏng đối với công cuộc phát triển bền vững của Trung Quốc hiện nay
- Gói giải pháp kích cầu của Trung Quốc được huy động từ nhiều nguồn, trong đóchủ yếu là từ khu vực ngoài Chính phủ Cụ thể là, trong 4000 tỷ NDT kích cầutrong nước thì chỉ có 1180 tỷ NDT là đầu tư của Chính phủ, phần còn lại đượchuy động từ doanh nghiệp, địa phương và toàn xã hội Căn cứ vào tình hình thực
tế và mục đích đầu tư, nguồn vốn sẽ được huy động từ các nguồn tương ứng
- Các dự án đầu tư được xác định theo thứ tự ưu tiên Ở Trung Quốc, các dự ánxây dựng cơ sở hạ tầng đã được Ủy ban Cải cách và Phát triển xác định là dự áncấp quốc gia có sức hấp dẫn lớn, theo đó sẽ thúc đẩy các ngân hàng thương mạitiến hành cho vay Cách làm này sẽ giảm thiểu những quyết định, phương hướngđầu tư vội vàng, thiếu cân nhắc kỹ lưỡng do thời gian gấp, yêu cầu đầu tư khẩncấp
Trang 26- Trung Quốc rất chú trọng đến khâu tổ chức thực hiện và giám sát Với mỗi nộidung của gói giải pháp, Trung Quốc tính toán cụ thể lượng vốn cần thiết cũngnhư thời điểm, giai đoạn giải ngân Để đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch và mụcđích đề ra, Chính phủ thành lập 24 tổ kiểm tra với sự tham gia của Ủy ban Cảicách và Phát triển, cùng các bộ, ngành liên quan tiến hành giám sát việc thựchiện các dự án Các tổ kiểm tra này đến từng đại phương, từng công trình đầu tưthực tế, kiểm tra tiến độ, chất lượng để đảm bảo không lãng phí, không xảy rahiện tượng tham nhũng và tình trạng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả Đồng thời,Trung Quốc cũng huy động các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia chốngtham nhũng, chống thất thoát vốn đầu tư
1.2.1.7 Kinh nghiệm Đài Loan
Tăng trưởng kinh tế giảm sút do sức cầu trong nước và xuất khẩu giảm, xuấthiện tình trạng đổ vỡ ngân hàng và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao lên mức 4,37%, vào tháng10/2008, Đài Loan đã công bố các giải pháp kích thích kinh tế (2,51 tỷ USD kích thíchtiêu dùng; 125 tỷ USD cho đầu tư công) nhằm các mục tiêu sau: (i) Thúc đẩy tiêu dùngnội tệ nhằm tăng sức cầu tiêu dùng; (ii) Gia tăng đầu tư công nhằm hỗ trợ sức cầu đầutư; (iii) Duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính và (iv) Tạo ra 200.000việc làm Gói giải pháp này chiếm khoảng 33% GDP
Nội dung cụ thể của các giải pháp kích thích kinh tế như sau:
- Kích thích tiêu dùng nội địa trị giá 2,51 tỷ USD: Chương trình phát phiếu muahàng cho người dân, mỗi người được hưởng hơn 100 USD để mua hàng
- Tăng cầu đầu tư thông qua chi tiêu công: Xây dựng chương trình hỗ trợ chi tiêu
và đầu tư công trị giá 125 tỷ USD Chương trình hướng tới mục tiêu đầu tưChính phủ tăng 5% trong vòng 04 năm tới Nội dung đầu tư công tập trung vàoxây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng
Trang 27- Chuyển sang bảo hiểm toàn bộ: Chương trình bảo hiểm không giới hạn được mởrộng sang cả tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi liên ngân hàng Thời hạn kết thúc bảohiểm toàn bộ là 31/12/2009.
Kinh nghiệm đáng chú ý của Đài Loan trong việc chống suy giảm kinh tế, lấy lại
đà tăng trưởng kinh tế chính là triển khai chương trình bảo hiểm toàn bộ đối với tiền gửingoại tệ và tiền gửi liên ngân hàng Tất cả các giải pháp kinh tế suy cho cùng đều cầnhướng đến mục tiêu bảo vệ quyền lợi của người dân Người dân có yên tâm về cáckhoản tiết kiệm của mình thì mới dám tham gia vào chương trình kích thích tiêu dùngnội địa mà Chính phủ đề ra ở trên
1.2.2 Vai trò của cơ chế bảo hiểm tiền gửi trong việc ngăn ngừa khủng hoảng và
triển khai Gói giải pháp của các quốc gia
Những bất ổn thị trường tài chính toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ thị trường chovay cầm cố nhà ở Mỹ và nay không dừng lại ở biên giới nước Mỹ, cuộc khủng hoảngtài chính này tác động mạnh đến các khu vực khác trên thế giới Hàng loạt ngân hàngtại Châu Âu lâm vào tình trạng phá sản Đồng tiền một số quốc gia tại Châu Mỹ Latinh,Châu Á mất giá tới 30% so với đôla Mỹ trong thời gian ngắn Đã xuất hiện tình trạngkhủng hoảng niềm tin của người gửi tiền tại một số quốc gia Châu Á như Hồng Kông(ngân hàng BEA Hồng Kông), Đài Loan (Chinfon Bank)
Đứng trước bối cảnh đó, Chính phủ và nhiều cơ quan chức năng của hàng loạtquốc gia trên thế giới đã có những động thái nhằm ổn định tình hình, trấn an người gửitiền, giảm thiểu hậu quả của khủng hoảng, trong đó vai trò của tổ chức Bảo hiểm tiềngửi đã được phát huy Các công ty Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đã thực hiện nhiềubiện pháp khác nhau như: tiếp nhận xử lý các tổ chức tài chính có vấn đề, nâng hạn mứcchi trả bảo hiểm tiền gửi, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm tiền gửi, hoặc công bốchính thức về tình hình tài chính ổn định của quốc gia, v.v Bên cạnh đó, việc nâng caoniềm tin của công chúng vào hệ thống bảo hiểm tiền gửi có vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 28Theo kinh nghiệm quốc tế trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, việc tăngcường vai trò của cơ chế bảo hiểm tiền gửi, nâng hạn mức bảo hiểm tiền gửi hoặcChính phủ công bố bảo hiểm toàn bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trìniềm tin của công chúng
Đơn cử như Mỹ, gói giải pháp tài chính 700 tỷ USD được thông qua do có 2 thayđổi quan trọng so với bản đề xuất ban đầu là mở rộng các chương trình ưu đãi thuế, làm
rõ quy tắc kế toán điều chỉnh theo thị trường và tăng trần bảo hiểm tiền gửi của Tậpđoàn Bảo hiểm Liên bang Mỹ (FDIC) từ mức 100.000 USD lên mức 250.000 USD Sauhơn 75 năm hoạt động, FDIC đã xây dựng được một quỹ BHTG lên tới 52 tỷ USD Tuynhiên, với việc xử lý hàng loạt ngân hàng đổ vỡ, hiện tại số dư quỹ chỉ còn 35 tỷ USD.Điều này cho thấy trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, quỹ BHTG dù lớn nhưngkhông thể tự mình giải quyết đổ vỡ ngân hàng Tổ chức BHTG cần nhận được sự hỗ trợtài chính của các cơ quan có thẩm quyền nhằm thực hiện tốt vai trò bảo vệ người gửitiền, xử lý đổ vỡ hiệu quả trong trường hợp hệ thống tài chính gặp khó khăn
Các quốc gia Châu Âu cũng có những phản ứng hết sức mau lẹ và tích cực Ngày7/10/2008, các Bộ trưởng tài chính 27 nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) đã họp vànhất trí tăng giá trị bảo hiểm tiền gửi, theo đó hạn mức bảo hiểm tối thiểu được nâng lên50.000 EUR, đồng thời cam kết hỗ trợ các định chế tài chính để đối phó với cuộc khủnghoảng hiện nay Ngoài việc cam kết mức bảo hiểm tối thiểu, một số nước trong Liênminh còn gia tăng hạn mức bảo hiểm để đảm bảo an toàn cho tiền gửi của người gửitiền như: Ngày 3/10/2008 Chính phủ Anh tuyên bố nâng hạn mức bảo hiểm từ 35.000GBP lên 50.000 GBP; ngày 5/10/2008, Thủ tướng Đức tuyên bố sẽ bảo đảm toàn bộtiền gửi của người dân tại các ngân hàng, khoảng 500 tỉ EUR, Bộ trưởng tài chính Áocông bố Chính phủ sẽ tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi nhằm giảm tình trạng rút tiền củadân chúng và ngăn chặn dòng tiền chảy sang Đức; ngày 8/10/2008, Hy Lạp cũng quyếtđịnh nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi từ 20.000 EUR lên 100.000 EUR trongvòng 3 năm
Trang 29Đối với các nước Châu Á, đơn cử như Đài Loan, CDIC Đài loan đã lập tức tănghạn mức bảo hiểm gấp đôi lên 3 triệu Đài tệ (khoảng 90.000USD) khi có dấu hiệukhủng hoảng tài chính tại Mỹ Một thời gian ngắn sau đó, Đài Loan công bố chính sáchbảo đảm toàn bộ cho các khoản tiền gửi ngân hàng nhằm trấn an dân chúng Hạn mứcBHTG mới sẽ được giữ nguyên ngay cả sau khi chính sách bảo đảm toàn bộ cho cáckhoản tiền gửi của khách hàng tại các nhà băng tư nhân và trong nước hiện nay hết hiệulực vào 31/12/2009 Nhiều nước khác trong khu vực cũng nâng hạn mức bảo hiểm nhưIndonexia (tăng cao gấp 20 lần lên 200.000USD), Singapore và Malayxia bảo hiểmtoàn bộ cho các khoản tiền gửi ngân hàng đến hết 2010.
Trong giai đoạn hiện nay, nâng cao niềm tin công chúng vừa là yêu cầu trướcmắt, vừa mang mục tiêu dài hạn Thông tin đến với công chúng phải nhất quán và minhbạch, tạo sự tin tưởng của người dân vào các cơ quan Chính phủ cũng như vào hệ thốngngân hàng và cơ quan bảo vệ người gửi tiền
1.2.3 Kết luận từ kinh nghiệm quốc tế triển khai Gói giải pháp
Nhận định chung của các quốc gia xây dựng khi xây dựng và triển khai Gói giảipháp tài chính kích thích kinh tế là khủng hoảng tài chính đã không tác động đến mộthoặc một nhóm quốc gia riêng lẻ, xu hướng cho thấy diễn biến kinh tế thế giới đã vàđang tiếp tục có biểu hiện xấu đi Vì vậy, việc các quốc gia triển khai các Gói hỗ trợ tàichính tổng thể nhằm ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng đã trở thành xu hướng chung.Danh sách các quốc gia chính thức công bố Gói giải pháp đang tiếp tục tăng lên, trong
đó có các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Thái Lan
Tùy vào năng lực tài chính quốc gia, mức độ tác động của khủng hoảng và quy
mô nền kinh tế, các quốc gia xác định cho mình Giá trị Gói giải pháp tài chính phù hợp.Theo quan sát của Nhóm nghiên cứu, các Gói giải pháp có giá trị dao động từ 5% GDPđến 33% GDP
Hầu hết các Gói giải pháp được nghiên cứu đều hướng đến toàn bộ hoặc một sốmục tiêu chính là i) khôi phục niềm tin của thị trường, của dân chúng vào nền kinh tế
Trang 30từng quốc gia; ii) thúc đầy tăng trưởng kinh tế và ngăn ngừa tình trạng suy thoái; iii)duy trì sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng, tránh tình trạng đổ vỡ dây chuyền;iv) tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội
Về cơ bản, các Gói giải pháp hướng tới các nội dung: i) giảm thuế nhằm hỗ trợgiảm bớt khó khăn cho hệ thống doanh nghiệp; ii) cải thiện cơ sở hạ tầng, đặc biệt làcác công trình giao thông, y tế, giáo dục; iii) hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho ngườitiêu dùng, tăng lương, trợ cấp thất nghiệp nhằm đảm bảo an sinh xã hội; iv) tăng hạnmức bảo hiểm tiền gửi hoặc chuyển sang chi trả không giới hạn trong một thời giannhất định nhằm ngăn ngừa tình trạng hoảng loạn và duy trì niềm tin của dân chúng vào
hệ thống tài chính ngân hàng
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ SỰ CẦN THIẾT
TRIỂN KHAI GÓI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH
2.1 THỰC TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Với biểu hiện suy thoái kinh tế diễn ra ở khắp các châu lục trên thế giới, các nềnkinh tế Châu Á trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức Tăngtrưởng GDP cả năm 2008 ước tính đạt 6,23%, thấp hơn tốc độ cùng kỳ năm ngoái là8,48% Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng đóng góp 2,65 điểm phầntrăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm
Giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng trước giảm 0,68% Nhìn chung,giá tiêu dùng cả năm 2008 tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khác thường so với xuhướng giá tiêu dùng các năm trước Giá tăng cao ngay từ quý I và liên tục tăng lên trongquý II, quý III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm (so với tháng trước, tháng 10 giảm0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%) nên giá tiêu dùng tháng 12 năm
2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng22,97%
Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) dự báo với môi trường kinh tế toàn cầu đang xấu đi,tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ giảm hơn nữa xuống chỉ còn 5% trong năm 2009
và sang năm 2010 sẽ phục hồi đà tăng trưởng theo triển vọng của nền kinh tế thế giới
2.1.2 Xuất nhập khẩu và nhập siêu
2.1.2.1 Về xuất khẩu
Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tính chung cả năm 2008, kim ngạch hànghoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 Nhìn chung, kimngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu dogiá trên thị trường thế giới tăng
Trang 32Tăng trưởng của Việt Nam đang theo hướng dựa vào xuất khẩu, như con đường
mà các nước công nghiệp mới trong khu vực đã đi qua cách đây khoảng 30 năm (HànQuốc, Đài Loan) Đối với các nền kinh tế đang phát triển và quy mô kinh tế nhỏ, đây làhướng đi tương đối hiệu quả Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình phát triển hướng tớixuất khẩu là khả năng chịu ảnh hưởng lớn từ biến động của kinh tế thế giới Hiện nay,
do tỷ trọng xuất khẩu/GDP của Việt Nam khá lớn nên đây là khu vực sẽ hứng chịunhiều ảnh hưởng tiêu cực từ việc thắt chặt chi tiêu tiêu dùng từ cuối 2008 và sang năm
2009
Bài học từ cuộc khủng hoảng Châu Á 1997 cho thấy nhiều nước đã thay đổiquan điểm không để tăng trưởng quá phụ thuộc vào xuất khẩu và hướng tăng trưởngdựa trên các nguồn nội lực trong nước Bảng số liệu dưới đây cho thấy Phillippines,Indonesia, Hồng Kông đã giảm dần sự phụ thuộc của tăng trưởng với xuất khẩu trongmột thập kỷ qua, như vậy khả năng tác động xấu của cầu xuất khẩu sẽ hạn chế hơn.Trong khi đó, tỷ lệ xuất khẩu/GDP của Việt Nam năm 2007 đã tăng cao so với năm
2001 (68%) và tỷ lệ xuất khẩu cả năm 2008 còn cao hơn so với năm 2007 (ước tính trên70%)
Bảng 1: Tỷ lệ xuất khẩu/GDP của một số nước châu á
Trang 33Việc áp dụng mạnh mẽ các biện pháp kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng khôngthật cần thiết, trong đó áp dụng cả tăng thuế và các biện pháp phi thuế đã góp phầngiảm tỷ lệ nhập khẩu trong những tháng qua nhưng vẫn ở mức cao Tính chung cả năm
2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm
2007, chậm hơn một chút so với tốc độ tăng xuất khẩu Điều này cho thấy hiệu quả nỗlực giảm nhập siêu đã phát huy tác dụng trong những tháng cuối năm 2008
2.1.2.3 Về nhập siêu
Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007, bằng27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu Có thể thấy giá trị nhập siêu càng về cuối năm cànggiảm Tuy nhiên, tổng giá trị nhập siêu cả năm 2008 của Việt Nam vẫn khá cao
Hình 1: Tình hình nhập siêu năm 2008
(đơn vị: tỷ USD)
2.278 2.779 3.284 3.227
1.906
0.728 0.753
0.258 0.237
0.7 0.45 0.5 0
0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5
Tháng 1
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
Trang 34tư sẽ phải điều chỉnh để tránh rơi vào tình trạng quá phụ thuộc các mặt hàng nhậpkhẩu”.
2.1.3 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tiếp tục đạt kết quả cao TheoTổng Cục Thống kê, nếu tính cả 3,7 tỷ USD vốn đăng ký tăng thêm của 311 dự án đượccấp phép từ các năm trước thì năm 2008 cả nước đã thu hút được 64 tỷ USD vốn đăng
ký, gấp gần 3 lần năm 2007, đạt mức cao nhất từ trước tới nay Vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài thực hiện năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007 Vốn đầu
tư nước ngoài trong các dự án được cấp giấy phép mới năm nay tập trung chủ yếu vàolĩnh vực công nghiệp và xây dựng (54,1%), dịch vụ (45,5%)
Tuy nhiên, xu hướng vốn FDI thực hiện so với cam kết ngày càng giảm thể hiện
ở tỷ lệ giải ngân đạt mức thấp Trong giai đoạn 2000-2004, tỷ lệ giải ngân đạt tới 85%
Từ 2005 trở lại đây tỷ lệ này ngày càng giảm và năm 2008, con số ước tính chỉ vàokhoảng 18%, mức rất thấp so với trước đây
Hinh 2: Tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với đăng ký (%) 85
Trung bình
GĐ 2004
2008
Dự kiến 2009
%
Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư
Một số rủi ro đối với việc thu hút và giải ngân vốn FDI đối với Việt Nam:
Trang 35- Khả năng hấp thụ vốn hạn chế: cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, hệ thốngthông tin liên lạc) chưa đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, nguồn nhân lực yếukém làm cản trở công tác triển khai thực hiện vốn.
- Trong cơ cấu đầu tư, FDI vào bất động sản chiếm tỷ trọng lớn Cụ thể, trongtổng số 64 tỷ vốn FDI cấp phép trong năm 2008, có đến 32,6 tỷ USD đầu tư vàolĩnh vực công nghiệp và xây dựng (chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký) Cần lưu ýbài học bong bóng thị trường bất động sản Singapore vừa qua do đầu tư quá lớnvào khu vực này, trong khi thị trường bất động sản nước láng giềng Malaysiakhông bị tác động nghiêm trọng do chính sách rào cản thuế chống đầu cơ nhàđất FDI vào bất động sản lớn đặt ra các rủi ro như: i) khai thác sử dụng lợi thế
về tài nguyên trong nước, ii) bong bóng thị trường bất động sản thế giới đặt raquan ngại về tính khả thi trong việc triển khai và giải ngân của các dự án bấtđộng sản
- Do kinh tế toàn cầu đang suy thoái nên nguồn vốn FDI trong năm 2009 chỉ đặtmục tiêu thu hút 30 tỷ USD vốn FDI – gần bằng 50% vốn FDI đăng ký của năm
2008 Tuy nhiên con số này vẫn được xem là không dễ đạt được trong bối cảnhnhiều dự báo cho rằng kinh tế thế giới khó có thể phục hồi trước quý 3 và quý 4năm 2009
2.1.4 Thị trường chứng khoán
Ngày 10/12/2008, Vn-Index rớt xuống dưới ngưỡng 300 điểm, xuống mức đáymới 286,85 điểm - mức thấp nhất trong hơn 2 năm qua Tính theo giá đóng cửa ngày31/12/2008, tổng giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu đang niêm yết trên cả 2 sànđạt khoảng hơn 225.000 tỷ đồng (tại thời điểm kết thúc năm 2007 là khoảng 494.000 tỷđồng) Như vậy, trong năm 2008, giá trị vốn hóa của thị trường đã sụt giảm hơn 54%(tương đương 15,4 tỷ USD) so với cuối năm 2007 Nếu không tính các cổ phiếu niêmyết trong năm 2008 thì giá trị mất đi là 314.000 tỷ đồng
Do ảnh hưởng từ cuộc khung hoảng tài chính quốc tế cũng như những biến độngkinh tế tại Việt Nam khiến thị trường Việt Nam không còn thực sự hấp dẫn, các nhà đầu
tư nước ngoài trong năm 2008 đã cơ cấu lại danh mục đầu tư và cắt giảm danh mục đầu
tư Trong tháng 10, khối đầu tư nước ngoài bán ròng hơn 1.500 tỷ đồng, tháng 11 bánròng hơn 570 tỷ đồng và xu thế bán ròng này tiếp tục nửa đầu tháng 12 Viêc bán ròng
Trang 36và rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài đã và có thể tiếp tục tạo nên sức ép đối vớiđồng Việt Nam trong năm 2009
Hình 3 : Giá trị mua thuần của khối đầu tư nước ngoài
2 286
c-16/1/2009
0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000 18000 20000
Mua thuần - Nhà ĐTNN Toàn thị trường
Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước
2.1.5 Vấn đề tỷ giá
Chính sách tỷ giá đã được điều chỉnh theo hướng nới lỏng biên độ giao động tỷgiá, tạo điều kiện cho các thành phần tham gia nền kinh tế chủ động hơn trong giao dịchngoại tệ Xu hướng mất giá được kiểm soát của đồng VND trong năm 2008 được thểhiện rõ trên thị trường giao dịch giữa các ngân hàng Trong năm 2008, tỷ giá công bốcủa NHNN đã giảm khoảng 3,5%, tỷ giá giao dịch giữa các ngân hàng đã giảm khoảng7,2%, tỷ giá giao dịch tương lai 6 tháng sụt giảm khoảng 8,8% và 1 năm giảm khoảng10,6% Vấn đề tỷ giá thực của VNĐ đang được quan tâm do:
- Tốc độ lạm phát của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nền kinh tế lớn trên thếgiới, điều này tác động đến sức mua thực tế của VNĐ tuy nhiên giá trị VNĐkhông có thay đổi tương ứng;
Trang 37- Trước diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, xuất hiện tình trạng khan hiếmUSD và USD tăng giá so với một loạt các đồng tiền trên thế giới (ví dụ: từ đầunăm 2008 đến nay, đồng won mất giá 30% so với USD: đồng peso của Mexico
và đồng real của Brazil mất giá từ 18% đến 20% so với USD) Nếu duy trì VNĐ
ở mức cao, năng lực cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam sẽ giảm, đồngthời tác động đến việc kiểm soát nhập siêu trong thời gian tới
- Tín hiệu trên thị trường ngân hàng cho thấy, gần đây, sau mỗi lần nâng biên độhoặc nâng tỷ giá công bố của Ngân hàng nhà nước, tỷ giá giao dịch trên thịtrường vẫn tiệm cận với trần giá trị cho phép; giá bán ra ngoại tệ tại các ngânhàng thương mại cũng đạt trần biên độ; chênh lệch giá mua vào và giá bán ra lànhỏ, thể hiện nhu cầu ngoại tệ lớn, nhưng tỷ giá công bố lại giảm
Hình 4: Tỷ giá công bố VND/USD - Tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng
Tỷ giá giao dịch tương lai 6 tháng và 1 năm
/083/21
/084/18
/085/16
/086/13
/087/11
/088/ 08 9/ 08 10/3/0
Nguồn: Reuters
2.1.6 Thâm hụt cán cân vãng lai
Chỉ tiêu “Thâm hụt cán cân vãng lai/GDP” của Việt Nam năm 2008 dự báo ởmức rất cao, khoảng 13% (tăng mạnh so với tỷ lệ 9,8% của năm 2007) Đây là dấu hiệuđáng lo ngại do theo mức đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), mức thâm hụt tàikhoản vãng lai/GDP vượt quá 5% được coi là không lành mạnh Tỷ lệ tại Việt Nam hiện
Trang 38nay sẽ tạo gánh nặng lên các nguồn bù đắp thâm hụt từ vay nợ nước ngoài, dự trữ ngoạihối.
- Đầu tư tăng cao hơn so với tiết kiệm cũng là nguyên nhân gây thâm hụt cán cânvãng lai mặc dù tỷ lệ tiết kiệm/GDP vẫn tăng đều hàng năm, tuy nhiên dấu hiệu đầu
tư nóng bắt đầu từ 2007 khiến tỷ lệ đầu tư/GDP tăng vọt
- Kiều hối và các khoản thu nhập đầu tư từ nước ngoài giảm
2.1.7 Tình hình thực trạng hệ thống ngân hàng 1
2.1.7.1 Quy mô nguồn vốn – huy động vốn
1 Các phân tích, đánh giá trong mục này sử dụng số liệu của BHTGVN do các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Trang 39Tốc độ tăng trưởng về vốn của các ngân hàng có dấu hiệu chậm lại trong năm
2008 do phần lớn các ngân hàng đã hoàn thành tăng vốn điều lệ trong năm 2007
Tăng trưởng Tổng nguồn vốn và Vốn tự có
Q1 2006 Q3 2006 Q1 2007 Q3 2007 Q1 2008 Q3 2008
%
Vốn huy động Huy động từ dân cư và các TCKT
Tại thời điểm tháng 11/2008, tổng nguồn vốn hệ thống ngân hàng tăng khoảng14% so với cuối năm 2007 (so sánh với mức tăng 52% trong năm 2007) Vốn huy động
từ dân cư và các tổ chức kinh tế của các ngân hàng đạt khoảng 1.295 nghìn tỷ đồng,tăng khoảng 15% so với cuối năm 2007 Như vậy, so sánh với năm 2007, vốn huy động
từ thị trường này tăng không đáng kể (vốn huy động từ dân cư và các TCKT đã tăng49% trong năm 2007) Trong thời gian tới, khi lãi suất huy động tại các ngân hàng được
dự báo sẽ tiếp tục giảm thì việc huy động vốn của ngân hàng sẽ gặp khó khăn
Điểm đáng chú ý là trong những tháng đầu năm 2008, mặc dù lãi suất tăng rấtcao, tốc độ tăng trưởng vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế tăng chậm lại.Điều này cho thấy cần phải xem xét niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng
Điểm đáng lưu ý nữa trong năm 2008 là cơ cấu nguồn vốn huy động mất cân đối
rõ rệt ở nhiều ngân hàng, thể hiện rủi ro thanh khoản lớn Tỉ lệ vốn huy động từ các tổchức tín dụng khác tại một số ngân hàng chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huyđộng Tỉ lệ trung bình toàn hệ thống là khoảng 17,5% nhưng một số ngân hàng có tỉ lệrất cao đến hơn 90% Việc huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng, ngoài tính bất
Trang 40ổn về lãi suất, kì hạn ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của ngân hàng, tính an toàn của
cả hệ thống ngân hàng cũng cần phải được xem xét, tránh đổ vỡ hàng loạt
Đến nay, 9 ngân hàng cổ phần chưa đáp ứng đủ số vốn điều lệ tối thiểu đã có kếhoạch tăng vốn đúng theo quy định Tuy nhiên, với tình hình kinh tế chung còn nhiềukhó khăn, thị trường chứng khoán giảm, các ngân hàng tăng vốn theo nhiều cách chỉ đểđáp ứng yêu cầu về vốn theo quy định có thể không mang lại sức mạnh về tài chínhthực sự cho các ngân hàng
2.1.7.2 Hoạt động tín dụng
- Tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ giảm mạnh từ cuối năm 2007, đạt âm tại thờiđiểm quý 3/2008 so với quý 2/2008 So với mức tăng 49% trong năm 2007, thì trong 11tháng đầu năm 2008, tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng thương mại tăng thấp hơnnhiều, đạt 15,2%, tương đương 1.128 nghìn tỷ đồng
Tăng trưởng Tổng dư nợ
0.76
7.38 6.09 8.99 10.82
-2 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
Q1 2006 Q3 2006 Q1 2007 Q3 2007 Q1 2008 Q3 2008
%
Từ đầu năm đến nay, lãi suất cho vay, sau khi được đẩy cao lên đến 21%/năm đãgiảm xuống còn khoảng 12%-13% tại thời điểm cuối tháng 12/2008 nhưng việc tiếp cậnvốn của các doanh nghiệp được đánh giá là khó Nguyên nhân chính được cho là xếphạng tín nhiệm của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những khó khăn của