1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình hình thành chế độ ruộng công và những tác động tới thiết chế xã hội của người thái ở tây bắc cổ truyền

72 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ RUỘNG CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI THIẾT CHẾ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ RUỘNG CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI THIẾT CHẾ XÃ HỘI CỦA

NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC CỔ TRUYỀN

Thuộc nhóm ngành khoa học: Lịch Sử Việt Nam

Sơn La, năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ RUỘNG CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI THIẾTCHẾ XÃ HỘI CỦA

NGƯỜITHÁIỞTÂYBẮCCỔTRUYỀN Thuộc nhóm ngành khoa học: Lịch sử Việt Nam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.s Trần Thị Phượng, người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Chúng tôi xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam, khoa Sử - Địa, Trường Đại Học Tây Bắc lời cảm ơn chân thành vì đã quan tâm, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thư viện tỉnh Sơn La, Thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình thu thập tư liệu, nghiên cứu để hoàn thành đề tài này

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn đềtài không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúngtôi rất mong nhận sự đóng góp chân thành của quý thầy giáo, cô giáo và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng năm

Tác giả đề tài

Vũ Hoàng Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 8

5 Đóng góp của đề tài 8

6 Bố cục đề tài 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC TÂY BẮC 10

1.1 Lịch sử hình thành 10

1.2 Điều kiện tự nhiên 14

1.2.1 Về địa hình 14

1.2.2 Về sông ngòi, khí hậu 15

1.3 Tình hình kinh tế 17

1.3.1 Về nông nghiệp 17

1.3.2 Về công – thương nghiệp 19

1.4 Tình hình xã hội 20

Tiểu kết chương 1………24

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ VÀ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ RUỘNG CÔNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC 25

2.1 Quá trình người Thái định cư ở khu vực Tây Bắc 25

2.2 Quá trình hình thành chế độ ruộng công của người Thái ở Tây Bắc Error! Bookmark not defined 2.2.1 Ruộng huyết tộc (ná đẳm) 31

2.2.2 Ruộng toàn mường (ná háng mướng) 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 37

CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA RUỘNG CÔNG TỚI THIẾT CHỄ… 38

XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC 38

3.1 Tổ chức xã hội 38

Trang 5

3.2 Sự phân hóa xã hội 43

3.2.1 Đẳng cấp thống trị 44

3.2.2 Đẳng cấp bị trị 46

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 48

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoảng thế kỉ XIII, với việc người Thái định cư ở khu vực Tây Bắc đã đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội cổ truyền nơi đây Khi đến khu vực này và cho đến tận ngày nay người Thái được phân chia thành hai ngành Thái Trắng và Thái Đen Sự phân chia này là kết quả của một quá trình thiên di, xáo động trên những diễn biến lịch sử lâu dài và phức tạp Song, cho dù hiện nay có hai ngành Thái, nhưng sự chuyển hóa từ một nhóm Thái (Táy) cổ xưa nhất mà thiên di đi mỗi người một ngả Rồi trên địa vực cư trú của từng nhóm một tiếp xúc với điều kiện tự nhiên và đặc biệt chịu ảnh hưởng của các dân tộc xung quanh dần mất đi cái nguyên gốc của mình Và cũng từ đó xuất hiện các nhóm Thái ở mỗi địa phương khác nhau

Bản mường Thái đã tồn tại trên một đối tượng sản xuất chủ yếu là ruộng đất Cho nên ruộng đất bao giờ cũng có ý nghĩa tự nhiên và xã hội Xã hội Thái chưa bị hàng hóa và tiền tệ chi phối bởi vì kinh tế hàng hóa chưa phát triển Mọi hiện tượng, mọi quan hệ đều nảy sinh từ ruộng đất Bên cạnh những nét chung, vấn đề ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc cũng có đặc trưng riêng so với miền xuôi và các địa phương khác Người Thái có chung một loại hình cơ cấu kinh tế

và xã hội cổ truyền, đó là loại hình tổ chức xã hội theo chế độ “phìa tạo” Xã hội

đó phân chia địa hạt hành chính thành từng châu mường Mỗi một châu mường (tương đương như một huyện hiện nay) đã hình thành nên một bộ máy chính trị, bóc lột của một dòng quý tộc thế tập Mọi thể chế xã hội đều dựa trên sự phân

bố ruộng đất một cách trực tiếp Như vậy giữa chế độ sở hữu ruộng công và thiết chế xã hội của người Thái có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần được làm sáng tỏ

Chính vì vậy, để làm rõ hơn chế độ ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc

nhất là quá trình hình thành ruộng công chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Quá trình

hình thành chế độ ruộng công và những tác động tới thiết chế xã hội của người Thái ở Tây Bắc cổ truyền” Việc lựa chọn đề tài này có ý nghĩa khoa học và thực

tiễn như sau:

Trang 7

- Phác thảo lại tổ chức xã hội của người Thái truyền thống cũng như làm

rõ sự xuất hiện, phân hoá xã hội của người Thái thời kì này Đây là cơ sở để nghiên cứu xã hội của người Thái về sau, kể cả hiện nay

Về thực tiễn:

- Bổ sung thêm kết quả nghiên cứu về người Thái ở Tây Bắc nói riêng, người Thái ở Việt Nam nói chung đặc biệt về vấn đề nông nghiệp và ruộng đất

- Góp phần bảo tồn tri thức bản địa

- Làm tài liệu tham khảo và giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường Phổ thông, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học ở Tây Bắc

- Bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu làm đề tài, khóa luận chuyên sâu về Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Dân tộc học và Lịch sử địa phương

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất Việt Nam thời phong kiến nói chung, vấn đề ruộng đất của người Thái nói riêng, trong đó có thể kể đến một số công trình quan trọng sau:

2.1 Những nghiên cứu về ruộng đất người Thái Việt Nam nói chung

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Việt Nam

Trước hết phải kể đến cuốn “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp

thời Lê Sơ” của tác giả Phan Huy Lê (1959), qua tác phẩm này tác giả đã trình

bày khái quát những nét lớn về chính sách ruộng đất và tình hình kinh tế nông nghiệp của nước ta thế kỷ XV

Trong các thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, chúng ta thấy xuất hiện một số chuyên khảo lớn, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu vấn đề

Trang 8

ruộng đất – kinh tế nông nghiệp Việt Nam Trong đó đáng chú ý là cuốn “Tìm

hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” của tác giả Vũ Huy Phúc

(1977) Trong tác phẩm này tác giả đã hệ thống hóa những chính sách ruộng đất lớn của nhà Nguyễn, các biểu ngạch về tô thuế ruộng đất, những tác động qua lại

và hậu quả của chính sách ruộng đất đối với yêu cầu phát triển của lịch sử nửa đầu thế kỷ XIX

Đầu thập kỷ 80, tác giả Trương Hữu Quýnh đã hoàn thành một chuyên

khảo công phu và quy mô “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỉ XI – XVIII”

được chia thành 2 tập Trong đó, tác giả đã trình bày những nét chủ yếu về sự tiến triển của chế độ ruộng đất nước ta từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII Bên cạnh nguồn chính sử, tác giả còn huy động một nguồn tư liệu địa phương khá phong phú (bao gồm văn bia, minh chuông, gia phả ) Vì vậy, chuyên khảo này còn có

ý nghĩa trong việc cung cấp những tư liệu tham khảo có giá trị về vấn đề sở hữu ruộng đất dưới thời phong kiến

Trong nghiên cứu ruộng đất, tư liệu địa bạ đóng vai trò hết sức quan trọng Một trong những người đầu tiên nhận thức được giá trị to lớn của địa bạ trong nghiên cứu lịch sử ruộng đất Việt Nam là Giáo sư sử học Nguyễn Đức Nghinh Trên cơ sở địa bạ, tác giả đã thống kê, tính tỷ lệ ruộng đất công tư, đặc biệt là rút ra những nhận xét quan trọng trong sở hữu ruộng đất công, ruộng đất

tư ở nhiều địa phương thuộc đồng bằng Bắc Bộ - quy mô các xã thôn và các vấn

đề quan trọng về tình hình làng xã ở vùng đất này

Ở miền Bắc, những năm gần đây sưu tập địa bạ đồ sộ với 10.044 tập tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I đã bước đầu được nghiên cứu Các tập sách quy

mô giới thiệu địa bạ Hà Nội, Thái Bình, Hà Đông của nhà nghiên cứu Phan Huy

Lê, Nguyễn Đức Nghinh, Vũ Minh Giang đã lần lượt ra đời

Bên cạnh các cuốn sách và luận án nói trên, còn có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này được đăng trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh

tế, Dân tộc học của các tác giả: Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm, Vài nhận xét về

ruộng đất tư hữu ở Việt Nam thời Lý – Trần, Nghiên cứu lịch sử, 52/1964,

20-30 Nguyễn Hồng Phong, Vấn đề ruộng đất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt

Trang 9

Nam, Nghiên cứu lịch sử, 1/1959, 42-55 Trương Hữu Quýnh, Hai mươi lăm năm nghiên cứu vấn đề ruộng đất và phong trào nông dân trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, Nghiên cứu lịch sử 4/1981, 1-7; Làng Việt cổ truyền một số vấn đề ruộng đất và phong kiến hóa, Tạp chí khoa học, Đại học Tổng hợp Hà

Nội, 1/1987, 21-25; Vấn đề ruộng đất bỏ hoang ở đồng bằng Bắc Bộ buổi đầu

thời Nguyễn, Nghiên cứu lịch sử, 261/1992, 26-30; Trở lại vấn đề ruộng đất ở các vùng khai hoang thuộc đồng bằng Bắc Bộ thời phong kiến, Nghiên cứu lịch

sử, 3/1994, 2-5 Các bài viết trên đề cập đến rất nhiều vấn đề khác nhau trong chế độ ruộng đất ở Việt Nam thời phong kiến Điều này đã giúp tác giả có những nhận định ban đầu khi đặt chế độ ruộng đất của của người Thái ở Tây Bắc trong sự vận động của chế độ sở hữu ruộng đất của cả nước nói chung và bên cạnh các vùng miền khác nói riêng

2.2 Những nghiên cứu về ruộng đất người Thái nói riêng

Là vùng đất địa đầu của tổ quốc, khu vực Tây Bắc đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, với nhiều công trình chuyên sâu

Tác phẩm “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” do Đặng Nghiêm

Vạn chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội 1977, đây được coi là công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đề tài của nhóm tác giả Trong tác phẩm này đã làm

rõ được rất nhiều vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà nhóm đề tài nghiên cứu Ở phần thứ nhất là phần tổng hợp của các truyện kể bản mường từ khi người Thái

di cư vào Việt Namđể tìm đất đai, dựng bản mường cho đến thời kì bị thực dân Pháp thống trị Phần thứ hai: Lai lịch dòng họ Hà Công, lệ mường và luật mường Trong phần lệ mường, luật mường đều có những nội dung liên quan đến vấn đề ruộng đất như điều 1 trong lệ mường đã quy định về việc tranh chấp ruộng đất Chúng tôi đặc biệt chú trọng đến phần phụ lục của cuốn sách này khi

đã làm rõ vấn đề Tục lệ của người Thái Đen ở Thuận Châu được coi là một trong những trung tâm quan trọng của người Thái ở Sơn La với tên gọi châu Mường Muổi Phần phụ lục thứ 2 của tác phẩm này đã làm rõ được rất nhiều tên địa danh theo tiếng Thái cổ, cũng như những chú thích về những khái niệm

Trang 10

chung về xã hộiThái Thực sự, điều này vô cùng quý giá với đề tài của chúng tôi khi nghiên cứu về vấn đề ruộng đất của người Thái

Tác giả Cầm Trọng (1978) với “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” đã đi

sâu nghiên cứu cơ cấu kinh tế - xã hội cổ truyền, yếu tố chủ yếu đã kiến tạo nên cộng đồng người Thái Trên cơ sở đó đánh giá mức độ phát triển của xã hội cổ truyền của họ Từ đó tiếp tục nêu lên bước phát triển có tính nhảy vọt lớn lao về kinh tế - xã hội của cộng đồng người Thái khi đứng dưới lá cờ vinh quang của Đảng Cộng Sản Việt Nam Cuốn sách là cơ sở nền tảng quan trọng nhất để nhóm tác giả có thể tiến hành nghiên cứu đề tài này

Cầm Trọng (1987),“Mấy vấn đề cơ bản về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại

người Thái Tây Bắc Việt Nam” Nxb KHXH, Hà Nội Trong cuốn sách này đã

cung cấp cho tác giả những hiểu biết về rất nhiều thuật ngữ Thái liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đặc biệt ở phần 3: Sự phát triển của kinh tế - xã hội cổ truyền, với 3 chương tác giả đã làm rõ được sự phát triển của hoạt động sản xuất qua các thời kì từ chiếm đoạt đến kinh tế sản xuất, từ hình thức sở hữu của đẳm tới sở hữu của bản mường và làm rõ được xã hội cổ truyền Thái bước vào giai đoạn hình thành bộ máy thống trị - sự xuất hiện chế độ Phìa Tạo Xét về góc độ nghiên cứu các loại hình ruộng đất, trong tác phẩm này, tác giả đã làm rõ được quá trình xuất hiện, cách phân chia của loại hình ruộng đất đặc trưng trong xã

hội Thái cổ truyền là loại ruộng toàn mường “ná háng mướng”: “… mãi cho tới

thế kỉ XI – XII khi ngành người Thái Đen thiên di tới miền Tây Bắc nước ta… quyền sở hữu ruộng đất của các clan (chúa hướn – chúa đẳm) sau khi hòa tan vào quyền sở hữu chung vùng đất bản thì cũng tiến tới hòa tan vào quyền sở hữu chung của các vùng đất mường Hình thức “ruộng toàn mường” (ná háng mướng) xuất hiện Ruộng toàn mường không theo thể thức chia lẻ cho các gia đình nông dân mà theo công lao động đóng góp vào việc chung của mỗi gia đình đó Việc chung ấy cũng được biểu thị bằng thuật ngữ “việc mường” (via háng mướng) Các tạo sẽ căn cứ vào số công lao động cần thiết đề ra cho các bản Các bản sẽ phân bổ theo khả năng lao động của từng đơn vị thành viên của mình mà phân suất ruộng cần thiết cho họ Cách phân bổ này được coi là “sắp

Trang 11

đặt lại ruộng theo lệ cũ” (tánh ná) Và nguyên tắc của nó ban đầu rất được tôn trọng là “xếp đặt công, minh, hợp lí” – tánh lấng, châng, to” [30, tr 290,291]

Tác giả Khổng Diễn (1996),“Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc

miền núi phía Bắc”, Nxb KHXH, Hà Nội, trong chương 2, Một số vấn đề cơ bản

về kinh tế truyền thống đã nhắc đến các loại hình canh tác truyền thồng của một

số dân tộc tiêu biểu trong đó có dân tộc Thái, đặc biệt trong chương 3, Tổ chức

xã hội đã cung cấp cho tôi những hiểu biết về xã hội cổ truyền của 1 số dân tộc như Mông, Tày, Dao, Khơ Mú Từ đây tác giả có thể so sánh những điểm giống

và khác nhau trong cách thức tổ chức xã hội của các dân tộc này Nhóm tác giả đặc biệt lưu tâm đến mục 3.2, trong phần chương 3, vấn đề đất đai trong xã hội truyền thống Phần này tác giả đã đưa ra những nét đặc thù trong chế độ ruộng đất, cách thức phân chia các loại ruộng đất của người Mường, người Tày, Nùng,

người Thái Tác giả khẳng định: “Đối với người Thái, cho đến trước 1945, họ

chưa có khái niệm về tư hữu ruộng đất Việc quản lý ruộng đất tập trung vào bộ máy thống trị quí tộc ở các châu mường” [4, tr.186] Tác phẩm này ít nhiều đã

giúp tác giả có những nhận thức ban đầu về các loại hình sở hữu ruộng đất của người Thái, đồng thời có sự so sánh với các dân tộc khác để đưa ra những nét tương đồng, chỉ ra những đặc trưng của vùng người Thái nói chung, người Thái ở Sơn La nói riêng

Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu

văn hóa, chương trình Thái học Việt Nam, 1998, Văn hóa và lịch sử người Thái

ở Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, đây là công trình tập hợp rất nhiều

bài viết của các tác giả nghiên cứu về các vấn đề khác nhau trong đời sống kinh

tế, xã hội của người Thái trên khắp các vùng, miền Trong đó, bài viết số 18, Vài

nét về ruộng đất của dân tộc Thái ở Sơn La, Tây Bắc của tác giả Hà Văn Thu đã

đề cập đến vấn đề mà tôi đang nghiên cứu Tác giả đã đề cập đến 2 loại hình canh tác chủ yếu của đồng bào Thái nơi đây là nương và đồng ruộng, chỉ ra mối quan hệ giữa bộ máy thống trị và ruộng đất

Trần Bình (2001), “Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây

Bắc Việt Nam”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội đã đề cập đến ruộng đất của

Trang 12

người Thái ở Tây Bắc trong phần chương 6: Hoạt động kinh tế của người Thái ở Tây Bắc bao gồm cách thức phân chia ruộng đất, chế độ ruộng đất trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Về cơ bản, công trình này đã đề nhắc đến một số loại hình ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc trong đó khẳng định sự tồn tại phổ biến và vai trò quan trọng của ruộng toàn mường ở khu vực này

Tác giả Phạm Văn Lực (2011) trong cuốn “Một số vấn đề lịch sử văn hóa

Tây Bắc” Nxb ĐHSP đã viết về lịch sử hình thành Tây Bắc, khái quát về điều

kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của khu vực Tây Bắc Với tác phẩm này

đã giúp nhóm tác giả có thể làm rõ phạm vi không gian nghiên cứu

Tất cả các công trình nghiên cứu trên mặc dù đã đề cập đến vấn đề ruộng đất của người Thái trên những khía cạnh khác nhau nhưng đều là những tài liệu

vô cùng quý báu để nhóm tácgiả có thể hoàn thành được đề tài nghiên cứu

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới hạn thời gian: Với đề tài “Quá trình hình thành chế độ ruộng công

và những tác động tới thiết chế xã hội của người Thái ở Tây Bắc cổ truyền”,được giới hạn trong phạm vi thời gian cụ thể, rõ ràng từ khi người Thái

định cư ở khu vực Tây Bắc (khoảng thế kỷ XIII) đến trước năm 1858

- Giới hạn không gian: Với đề tài “Quá trình hình thành chế độ ruộng

công và những tác động tới thiết chế xã hội của người Thái ở Tây Bắc cổ truyền”, được giới hạn trong phạm vi khu vực Tây Bắc bao gồm: Sơn La, Lai

Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái và một số phần của Hòa Bình

- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung làm rõ quá trình hình thành chế

độ ruộng công và những tác động tới thiết chế xã hội của người Thái ở Tây Bắc

cổ truyền nhất là về tổ chức xã hội và sự phân hóa xã hội

Trang 13

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình hình thành chế độ ruộng công của người Thái ở Tây Bắc Từ đó làm rõ ảnh hưởng của ruộng công tới thiết chế xã hội của người Thái ở Tây Bắc cổ truyền

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được hoàn thành trên cơ sở vận dụng chủ yếu các phương pháp đặc trưng của bộ môn khoa học lịch sử như: phương pháp lịch sử và phương pháp logic, ngoài ra còn có phương pháp nghiên cứu liên ngành

4.2 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu lưu trữ: Báo cáo của chính quyền địa phương như Báo cáo

về khả năng đất đai của khu vực Tây Bắc, Báo cáo về tình hình ruộng đất ở Thuận Châu trước 1954 Các tác phẩm, bài báo của các tác giả, tập thể các tác giả được công bố ở các Nhà xuất bản, Tạp chí Các công trình địa chí ở địa phương Đây là nguồn tài liệu quan trọng, là cơ sở để xây dựng nên đề tài, là nguồn tài liệu tham khảo, cung cấp cho chúng ta thêm những thông tin về tình hình ruộng đất của người Thái ở Tây Bắc trước năm 1945 để hoàn thành đề tài

Nguồn tài liệu văn kiện Đảng, Nhà nước, Bộ, tài liệu của Đảng bộ tỉnh Sơn La,Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Đảng bộ huyện Mường La, Thuận Châu Nguồn tài liệu này giúp chúng tôi có định hướng nghiên cứu để giải quyết các vấn đề đề tài đặt ra

Nguồn tài liệu điền dã: Nguồn tài liệu này bổ sung thêm cho các nguồn tài liệu thành văn

Trang 14

Thứ ba, phác thảo lại tổ chức xã hội của người Thái truyền thống cũng như làm rõ sự xuất hiện, phân hoá xã hội của người Thái thời kì này Đây là cơ

sở để nghiên cứu xã hội của người Thái về sau, kể cả hiện nay

Thứ tư, bổ sung thêm kết quả nghiên cứu về Sơn La nói riêng, Tây Bắc nói chung đặc biệt về vấn đề nông nghiệp và ruộng đất

Thứ năm, góp phần bảo tồn tri thức bản địa

Thứ sáu, làm tài liệu tham khảo và giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường Phổ thông, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học ở Tây Bắc

Thứ bảy, bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu làm đề tài, khóa luận chuyên sâu về Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Dân tộc học và Lịch sử địa phương

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo, kết luận, đề tài được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về khu vực Tây Bắc

Chương 2: Quá trình địnhcư và hình thành chế độ ruộng công của người Thái ở Tây Bắc

Chương 3: Ảnh hưởng của ruộng công tới thiết chế xã hội của người Thái

ở Tây Bắc cổ truyền

Trang 15

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC TÂY BẮC

1.1 Lịch sử hình thành

Tây Bắc là vùng đất “địa đầu” của Tổ quốc, chủ yếu bao gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái và một số phần của Hòa Bình [14, tr.7]

Các vua Hùng từ thời dựng nước đã chia nước thành 15 bộ, Tây Bắc nằm

trong bộ Tân Hưng Trong Dư địa chí Nguyễn Trãi viết “Hưng Hóa xưa thuộc

bộ Tân Hưng”

Dưới triều đại nhà Lí (1010 – 1225), Tây Bắc thuộc châu Lâm Tây, Châu Đăng, đến triều đại nhà Trần (1226 – 1400), Tây Bắc thuộc đạo Đà Giang Vào cuối thời Trần, năm Quang Thái thứ 10 (1397) vùng đất này được đổi thành trấn

Thiên Hưng Trấn Thiên Hưng thời Trần có hai châu (phủ) là Gia Hưng và Quy Hóa

Đến thời hậu Lê (thế kỉ XV), theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Tây Bắc

thuộc phủ Gia Hưng, bao gồm 16 châu Thái: Mường Lò, Mường Tiến (hay còn gọi là Chiêu Tấn, đến năm 1909 thực dân Pháp đổi thành Than Uyên), Mường Tấc (Phù Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lay, Mường Tùng (Tùng Lăng), Mường Hoàng (Hoàng Nham), Mường Tiêng (Lễ Tuyền), Mường Chiềng Khem (Châu Khiêm), Mường Chúp (Tuy Phụ), Mường Mi (Hợp Phì) [14, tr.7]

Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập gồm 3 phủ đó là: Gia Hưng,

Quy Hóa, An Tây

Phủ Gia Hưng có 1 huyện, 5 châu, 42 động Đó là huyện Thanh Xuyên (sau đổi là Thanh Sơn) gồm 1 thôn, 2 động và các châu: Châu Việt, Châu Mai Địa bàn 5 châu này có 4 châu thuộc vùng đất Sơn La hiện nay là:

Châu Phù Hoa là cái tên được đặt từ thời Lê đến đầu thời Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) châu Phù Hoa đổi tên là châu Phù Yên bao gồm cả Bắc Yên ngày nay), như vậy tên huyện Phù Yên có từ bấy đến nay

Trang 16

Châu Mộc có từ đời Trần Theo Đại Nam nhất thống chí, Châu Mộc có 23

động, phía đông kéo dài đến hết Mai Châu (tỉnh Hòa Bình), phía tây đến Yên Châu, phía nam đến Quan Hóa (tỉnh Thanh Hóa), phía bắc đến châu Phù Hoa Năm Cảnh Thịnh thứ 36 (1775) thấy địa thế quá rộng anh em thổ tù lại không hòa thuận với nhau, nên triều đình đã chia Châu Mộc thành 3 châu: Châu Mộc,

Mã Nam (ở phía nam Sông Mã) và Đà Bắc (ở phía bắc Sông Đà) Như vậy, Châu Mộc thời hậu Lê có địa giới rộng hơn Mộc Châu ngày nay bao gồm các huyện Mộc Châu, huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và một phần của huyện Quan Hóa, Bá Thước (tỉnh Thanh Hóa) Thời nhà Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 17,

các động được đổi thành xã, các trấn được đổi thành tỉnh [14, tr.8]

Châu Việt có 3 động Thời Trần được gọi là Mang Việt (hay Mường Việt) Trần Minh Tông sau khi đánh Ngưu Hống đã đóng quân và gọi phủ này là Thái Bình Đầu thời Hậu Lê, phủ Thái Bình đổi thành Châu Việt Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) Châu Việt đổi thành Yên Châu, tên Yên Châu có từ bấy đến nay

Châu Thuận có 10 động Theo sách Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng

Bính Chính thì vào đầu thời Lê Cảnh Hưng (1740) thấy địa thế Châu Thuận quá rộng mới cắt đặt thêm 3 châu là Sơn La (hay Mường La), Mai Sơn, Tuần Giáo Như vậy, đất Châu Thuận vào thời hậu Lê gồm đất huyện Tuần Giáo của tỉnh Điện Biên và các huyện Mai Sơn và Mường La, Thị Xã Sơn La và Thuận Châu của tỉnh Sơn La hiện nay Địa danh “Sơn La” lần đầu tiên xuất hiện vào đầu thế

kỉ XVIII và với danh nghĩa là tên một châu được tách ra từ Châu Thuận

Châu Quỳnh Nhai, thời Hậu Lê thuộc phủ An Tây, trấn Hưng Hóa Thời Gia Long (1802 – 1819), 4 huyện và 16 châu thuộc Bắc Thành, trong đó phủ Gia Hưng có một huyện là Thanh Xuyên (sau đổi là Thanh Sơn) và 10 châu là: Thuận Châu, Sơn La, Tuần Giáo, Mai Sơn, Châu Việt, Ninh Biên, Mộc Châu,

Đà Bắc, Phù Yên, Mai Châu

Phủ Quy Hóa có các châu: Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Bàn, Thùy Vĩ, Yên Lập Phủ An Tây có 10 châu đó là: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Hợp Phì, Tuy Phụ và Khiêm Đến đời vua Lê Cảnh Hưng (1740 – 1768) có 6 châu là: Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ

Trang 17

Tuyền, Tuy Phụ và Khiêm bị triều đình phong kiến Mãn Thanh cướp mất, phủ

An Tây chỉ còn có 4 châu là: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Châu Lai và Châu Luân Thời Tây Sơn vua Quang Trung đã làm một biểu gửi vua Thanh đòi lại 6 châu bị cướp mất nhưng không được chấp nhận

Đến triều Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX), Tây Bắc được gọi là vùng “Thập Châu” thuộc tỉnh Hưng Hóa, cụ thể là các châu sau: Mường Lò, Mường Tiến (hay còn gọi là Chiêu Tấn, đến năm 1909 thực dân Pháp đổi là Than Uyên), Mường Tấc (Phù Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lay

Từ cuối thế kỉ XIX, trong quá trình bình định khu vực Tây Bắc, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị Sau khi thôn tính được Tây Bắc, thực dân Pháp từng bước thâu tóm quyền hành và áp đặt chế độ cai trị ở khu vực này Ngày 11/4/1900, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Yên Bái, bao gồm các châu: Trấn Yên, Văn Trấn, Văn Bàn, Lục Yên, Than Uyên

Đến ngày 10/10/1895, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ Tiểu quân khu Vạn Bú chuyển thành tỉnh Vạn Bú (Sơn La) Tỉnh Sơn La từng bước được thành lập như sau:

Ngày 24/5/1886, Tổng Trú sứ Trung – Bắc kì ra nghị định chuyển châu Sơn La (thuộc phủ Gia Hưng tỉnh Hưng Hóa) thành một cấp tương đương với cấp tỉnh, nhưng đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của một sĩ quan gọi là Phó công sứ

Ngày 9/9/1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đưa địa hạt Sơn La vào địa hạt của Đạo Quan binh 4 mới được thành lập, thủ phủ của đạo được đặt tại Sơn la

Ngày 27/2/1892, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định lập một tiểu quân khu (cercle) trực thuộc Đạo Quan Binh 4 Thủ phủ của tiểu quân khu này đặt tại Vạn Bú nên thường gọi là Tiểu quân khu Vạn Bú Địa bàn của tiểu quân khu Vạn Bú bao gồm: Phủ Vạn Yên với các Châu Mộc, châu Phù Yên; phủ Sơn

La với các châu Sơn La, Châu Yên, Mai Sơn, Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên (tất cả đều được tách ra từ tỉnh Hưng Hóa)

Trang 18

Ngày 10/10/1895, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ tiểu quân khu Vạn Bú chuyển thành tỉnh Vạn Bú, đồng thời nhập toàn bộ Tiểu quân khu phụ Lai Châu vào địa bàn tỉnh Vạn Bú, tỉnh lị Vạn Bú đặt tại Vạn Bú (Tiểu quân khu phụ Lai Châu được thành lập theo nghị định ngày 5/6/1893 của Toàn quyền Đông Dương gồm Lai Châu, Châu Luân, châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ vốn là đất của tỉnh Hưng Hóa tách ra)

Ngày 7/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định chuyển Tỉnh lị tỉnh Vạn Bú từ Vạn Bú về Sơn La Do đó ngày 23/8/1904,toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định đổi gọi tỉnh Vạn Bú thành tỉnh Sơn La Tỉnh Sơn La lúc

đó gồm có các châu: Châu Thuận, Mai Sơn, Châu Mộc, Mường La, Châu yên, Phù Yên, Tuần Giáo, Điện Biên, Châu Lai, Quỳnh Nhai, phủ Luân Châu Tên tỉnh Sơn La có từ đó nhưng địa bàn rộng lớn gồm toàn bộ tỉnh Sơn La và phần lớn tỉnh Lai Châu hiện nay

Ngày 12/7/1907, Toàn quyền Đông Dương ra nghị nghị định bãi bỏ Đạo Quan binh thứ 4, chuyển Lào Cai sang chế độ cai trị dân sự để thành lập tỉnh Lào Cai Địa bàn của tỉnh Lào Cai bao gồm các châu: Bảo Thắng, Thủy Vĩ do công sứ Pháp trực tiếp cai trị

Ngày 28/6/1909, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách các châu: Quỳnh Nhai, Điện Biên, Tuần Giáo, Lai Châu và phủ Châu Luân thành lập tỉnh Lai Châu Lúc này tỉnh Sơn La chỉ còn 6 châu: Sơn La (hay Mường La), Thuận Châu, Mai Sơn, Châu Yên, Châu Mộc, Phù Yên (cả Bắc Yên ngày nay)

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi (1954), để giúp đồng bào các dân tộc vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam, ngày 7/5/1955 đúng vào ngày kỷ niệm 1 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, khu

Tự Trị Thái – Mèo được thành lập (đến ngày 27/10/1962 đổi thành Khu Tự trị Tây Bắc), địa giới của khu bao gồm hai tỉnh Sơn La, Lai Châu, hai huyện Văn Chấn, Than Uyên của tỉnh Yên Bái và huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi (1975), Khu Tự tri Tây Bắc giải thể theo nghị quyết số 245 của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng, các tỉnh thuộc Khu Tự trị Tây Bắc trực thuộc Trung ương [14,tr.10]

Trang 19

1.2 Điều kiện tự nhiên

Tây Bắc chủ yếu bao gồm các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái Do đó, điều kiện tự nhiên của Tây Bắc vừa có đặc điểm chung của các tỉnh vùng núi phía Bắc, lại vừa có đặc thù riêng so với các địa phương trong

cả nước

1.2.1 Về địa hình

Tây Bắc có địa hình phức tạp, bị cắt xé bởi các dãy núi đá vôi nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, dài khoảng 180km, rộng 30km, cao trung bình từ 2000 – 3000m và vòng cung Sông Mã chạy từ Đông sang Tây cao trung bình từ 1200 – 1500m, cũng có đỉnh cao trên dưới 2500m, điển hình như Pu Luông cao 2800m so với mặt biển; Phan-xi-Phăng cao 3.114m so với mực nước biển

Toàn khu vực có hai cao nguyên lớn: Cao nguyên Sơn La hay còn gọi là Thảo nguyên Mộc Châu bằng phẳng dài 70km rộng 50km, cao 1050m so với mặt nước biển rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi và trồng cây công nghiệp Cao nguyên Sìn Hồ chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dài trên 200km, rộng khoảng 30 – 50km, độ cao trung bình từ 700 – 800m so với mặt nước biển Ngoài ra, Tây Bắc còn có một số cao nguyên vừa và nhỏ khác như: Cao nguyên Nà Sản chạy dài theo quốc lộ 6 dài khoảng 100km, rộng 60km, cao trung bình khoảng 600m so với mặt nước biển

Do sự kiến tạo của địa chất, sự đan xen giữa những dãy núi đá vôi hiểm trở với các dãy núi đất và các sông, suối lớn nhỏ đã tạo lên các thung lũng, phiêng đất đai màu mỡ phì nhiêu, chủ yếu là đất feralit, tơi xốp, giàu chất mùn,

độ chua (pH) từ 4,5 – 5,0 thuận lợi cho việc trồng rau mùa và lúa nước; đúng như các câu ca của đồng bào Thái đã nói: “Nhất Thanh (Điện Biên – Lai Châu), Nhì Lò (Mường Lò – Nghĩa Lộ), Tam Than (Than Uyên – Nghĩa Lộ), Tứ Tấc (Phù Yên – Sơn La) Trong đó, điển hình nhất là cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng dài khoảng 20km, rộng 5 – 6km; cánh đồng Mường Tấc (Phù yên) bằng phẳng rộng 660ha

Trang 20

1.2.2 Về sông ngòi, khí hậu

Trên địa bàn Tây Bắc còn có nhiều nguồn nước sông suối Sông Mã bắt nguồn từ miền Nam Trung Quốc chảy vào Sơn La qua địa phận huyện Sông Mã rồi vòng qua Lào vào Thanh Hóa ra biển Từ rất sớm trong lịch sử cư dân Việt

và Lào đã nhờ con sông này mà giao lưu, trao đổi cả về kinh tế, văn hóa Sách

Đại Việt sử ký toàn thư có nói đến các lái buôn người Việt theo đường sông Mã

mang muối, vải lên trao đổi, buôn bán với người Lào Lum, khi về họ mang theo nhiều hương liệu, ngà voi, sừng tê giác

Sông Đà bắt nguồn từ từ vùng Nam Mông Hóa, gần làng Sin Cai thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chảy vào nước ta ở Mường Lái qua Lai Châu vào Sơn La hợp với suối Nậm Na ở phía Bắc và Nậm Mức ở phía Nam theo hướng Tây Nam chảy qua địa phận các huyện: Mường Tè (Lai Châu), Mường Lay (Điện Biên), Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La, Mai Sơn, Mộc Châu (Sơn La), qua tỉnh Hòa Bình hội nhập với sông Hồng Trong lịch sử cũng như hiện nay sông Đà không chỉ là nguồn cung cấp nước cho đời sống, sản xuất mà còn là tuyến đường thủy huyết mạch đảm bảo cho sự giao lưu, trao đổi đặc biệt quan trọng của nhân dân trong vùng và giữa Tây Bắc với các địa phương miền xuôi

Ngoài hai con sông chính sông Mã, sông Đà, Tây Bắc còn có hàng nghìn con suối lớn, nhỏ chảy luồn lách quanh những gò đồi tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa nước, rau màu, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi

Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nắng nóng nhiều mưa, mùa khô

từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ

với mùa khô lạnh, ít mưa, khô hanh từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Thế nhưng, do ảnh hưởng của độ cao địa lí và địa hình nên khí hậu Tây Bắc cũng có sự phân chia thành những khu vực khác nhau:

Tiểu vùng khí hậu phía Bắc: bao gồm các huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu), Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai) Đặc điểm nổi bật của vùng này là ít bị ảnh hưởng của bão, nhưng lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa

Trang 21

Đông Bắc; vào mùa đông thường xuyên có băng giá, sương muối, nhất là vùng Bắc Hà, Sa Pa; mùa hè mát mẻ, đan xen gió Tây khô nóng

Tiểu vùng khí hậu dọc sông Đà: Bao gồm các huyện: Mường Lay (Điện Biên), Quỳnh Nhai, Mường La, Mai Sơn, Phù Yên, Bắc Yên (Sơn La) Đây là vùng mưa nhiều, lượng mưa trung bình trong năm là trên 2000mm; mùa đông

ấm, ít bị ảnh hưởng của sương muối

Tiểu vùng khí hậu phía Tây và Tây Nam: Bao gồm các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Yên Châu (Sơn La), huyện Điện Biên (Điện Biên) Đây là vùng bị ảnh hưởng trực tiếp của gió tây khô nóng, ít mưa hơn các vùng khác, lượng mưa trung bình trong năm là 1400mm, có nơi mưa 1200mm; mùa đông thường hay bị ảnh hưởng của sương muối, nhất là vùng cao nguyên Sơn La

Tiểu vùng khí hậu phía Đông và Đông Nam: Bao gồm hầu hết các huyện dọc sông Hồng của Yên Bái, Mộc Châu và phần còn lại của huyện Bắc Yên Đây là vùng chịu ảnh hưởng mạnh của bão và gió mùa Đông Bắc, ảnh hưởng của gió Tây nhưng không nhiều Địa hình thấp, mùa đông lạnh, thường hay có sương muối

Ngoài sự phân hóa theo không gian, khí hậu Tây Bắc còn có sự phân hóa

thường xuyên vẫn có băng giá, sương muối

Những lợi thế về vị trí địa lí, cùng sự đa dạng, phong phú của điều kiện tự nhiên đã tạo cho Tây bắc có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng đối với cả nước Tây Bắc không chỉ trù phú với đồng ruộng phì nhiêu, thảm rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt, trong lòng đất lại tiềm ẩn nhiều khoáng sản quý hiếm mà còn trở thành chiếc cầu nối cho sự giao lưu trao đổi giữa miền xuôi và miền ngược, Đông Bắc với thượng Lào và miền nam Trung Quốc Từ Sơn La trung tâm của Tây Bắc, theo quốc lộ 6, hoặc sông Đà đều có thể ngược Tuần Giáo lên Lai Châu, xuôi xuống Hòa Bình, sang Nghĩa Lộ một cách dễ dàng Đặc biệt từ Sơn La có thể giao lưu với thuận lợi với

Trang 22

tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào qua hai cửa khẩu Pa Háng (Mộc Châu), Chiềng Khương (Sông Mã)

Có thể nói, trong lịch sử cũng như hiện nay, Tây Bắc được coi là vùng đất

“Tam Mãnh” có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, qua Lào vào Vân Nam và

Hưng Hóa Đúng như Nguyễn Bá Thống đã nhận xét trong bài phú Thiên Hưng Tấn như sau:

“Qua ải ai Lao, liên lạc tiện đường, biên giới Vân Nam khống chế mọi

mặt Đây là nơi xung yếu của Bách Man, cửa ngõ của Lục Chiếu, che giữ cho Trấn như giậu như phên, án ngữ miền thượng du làm then làm chốt Lúa bát ngát ruộng, dâu, gai mơn mởn thành hàng Lông (thú), cánh (chim), ngà (voi),

da tràn ngập sang lán quốc Bạc, vàng, châu báu đầy dãy chốn biên cương ”

Năm 1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lên thăm Tây Bắc cũng đã khẳng định:

“ Tây Bắc là hòn ngọc ngày mai của tổ quốc Nước non, non nước đẹp

hơn tranh, nhìn không chán mắt ” [14, tr.13]

1.3 Tình hình kinh tế

Trước khi thực dân Pháp xâm lược (1858), đặc trưng kinh tế nổi bật của Tây Bắc là kinh tế nông nghiệp Cuộc sống của cư dân chủ yếu dựa vào hai ngành sản xuất chính: trồng trọt và chăn nuôi Công – thương nghiệp ở Tây Bắc hầu như chưa phát triển

Tuy nhiên, do tác động của yếu tố địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu nên nền kinh tế của Tây Bắc cũng có sự phân chia thành những ngành nghề và khu vực khác nhau khá rõ rệt

1.3.1 Về nông nghiệp

Vùng thấp, bao gồm các khu vực: cánh đồng Mường Tấc (phù Yên – Sơn La), Tông Lệnh, Chiềng Ly (Thuận Châu – Sơn La), Chiềng Hặc (Yên Châu – Sơn La), Mường Thanh (Điện Biên), Than Uyên (Lào Cai), Mường Lò (Yên Bái) và các phiêng đất ven sông Đà thuộc các huyện: Mường La, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Mã Có thể nói, đây là vùng kinh tế trọng điểm của khu Tây Bắc, ở đây nhìn chung dân cư đông đúc, đất đai bằng phẳng, màu

Trang 23

mỡ, nhiều ruộng nước Cho nên thế mạnh của vùng này là canh tác ruộng nước, cây trồng chính là lúa ruộng Ngoài ra, ở hầu hết các chân ruộng cư dân còn trồng các loại cây hoa màu như: rau, quả, bầu, bí, đậu, đỗ ; cây nông sản lấy mật, lấy sợi như: bông, gai, mía Khu vực này còn có nhiều thế mạnh trong việc phát triển chăn nuôi gia súc như: trâu, bò, ngựa, lợn ; gia cầm như: gà, vịt, ngan, ngỗng và chăn nuôi, thả cá trong các ao, ruộng

Tuy nhiên diện tích ruộng nhỏ, hẹp nhưng do cư dân Tây Bắc sớm biết đúc kết kinh nghiệm canh tác, làm mương phai dẫn nước vào ruộng; sử dụng phân bón trong sản xuất và thực hiện luân canh nên năng suất cao hơn so với làm nương rẫy ở các sườn đồi, núi

Vùng cao, chiếm phần lớn diện tích đất đai trong vùng, ở khu vực này chủ yếu là núi đá, có xen kẽ với núi đất, khí hậu mát mẻ , thế mạnh của vùng cao là sản xuất nương rẫy và phát triển chăn nuôi Có thể nói, từ rất sớm trong lịch sử

để duy trì cuộc sống cư dân Tây Bắc đã biết lợi dụng nương rẫy để tra lúa (lúa nương); trồng ngô, khoai, sắn và các loại cây hoa màu như: rau, quả, đậu, đỗ; cây nông sản như: bông, gai và một số loại cây ăn quả khác Trong điều kiện thiên nhiên ưu đãi, diện tích rộng nên sản phẩm thu được từ sản xuất nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong đời sống, của các dân tộc Cùng với sản xuất nương rẫy, ở vùng cao còn có thế mạnh về phát triển chăn nuôi gia súc như: trâu, bò, lợn; gia cầm như: vịt, gà, ngan, ngỗng tuy cách thức chăn thả còn rất lạc hậu, chủ yếu theo kiểu thả rông, sản phẩm thu được ít nhưng chăn nuôi cũng có vị trí quan trọng trong việc duy trì cuộc sống của nhân dân trong vùng

Dân tộc Thái là dân tộc có trình độ sản xuất phát triển sớm hơn các dân tộc khác trong vùng Tây Bắc, cuộc sống của họ cũng chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với hai ngành sản xuất chính: trồng trọt và chăn nuôi; cây lương thực chính là: lúa, ngô, khoai, sắn Ngoài hai ngành sản xuất chính trồng trọt và chăn nuôi, cuộc sống của cư dân Tây Bắc còn dựa vào khai thác lâm sản, săn bắn, hái lượm trong rừng, đánh bắt cá ở vên các sông, suối đúng như câu ca của người Thái:

“Cơm nước ở mặt đất Thức ăn ở trong rừng” [14, tr.14]

Trang 24

Tuy vậy, ngay trong từng khu vực cụ thểdo tác động của điều kiện tự nhiên, sự phong phú của cây trồng, vật nuôi và kinh nghiệm sản xuất lâu đời của cư dân, nên mỗi dân tộc ở Tây Bắc đều có thế mạnh riêng của mình trong việc phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông ngiệp trên những địa bàn khác nhau Điều này đã được khẳng định trong câu ngạn ngữ Thái:

“Xá ăn theo lửa

Thái ăn theo nước

Mông ăn theo sương mù” [14, tr.14]

Nhóm cư dân Nam Á (theo cách gọi miệt thị trước đây là Xá) bao gồm nhiều tộc người khác nhau: Kháng, La Ha, Xinh Mun, Mảng họ là những cư dân có biệt tài trong việc làm kinh tế nương rẫy ở ven các sườn núi có độ dốc

cao, theo kiểu truyền thống: “đao canh hỏa chủng”, dùng dao phát cỏ, cây sau

đó để khô dùng lửa đốt cháy lấy tro, đợi đến đầu mùa mưa dùng gậy, “chọc lỗ tra hạt” Họ còn biết căn cứ vào độ dốc của từng sườn núi để gieo trồng những

loại cây lúa, ngô, hoặc đậu, đỗ, khoai, sắn cho phù hợp Riêng đối với dân tộc Kháng ngoài việc làm nương rẫy, còn rất thành thạo trong việc đóng thuyền độc mộc, đánh bắt cá ở các sông, suối Chính người Thái cũng phải thừa nhận:

“Thuyền tốt không gì bằng thuyền Kháng” Ngoài ra họ còn có nhiều kinh

nghiệm trong việc khai thác lâm sản, săn bắt, hái lượm trong rừng, chăn thả gia súc

Từ rất sớm trong lịch sử, dân tộc Thái đã đạt đến trình độ cao về canh tác

ruộng nước thông qua hệ thống mương, phai để “dẫn thủy nhập điền” Nhờ vậy,

họ đã chủ động được tưới tiêu, làm cho sản xuất nông nghiệp ở loại hình ruộng nước và nuôi thả cá trong các ao, ruộng mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài

ra, dân tộc Thái cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc làm nương rẫy, khai thác lâm sản, săn bắn, hái lượm trong rừng và chăn thả gia súc

1.3.2.Về công – thương nghiệp

Công – thương nghiệp ở Tây Bắc hầu như chưa phát triển, sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp để trở thành một ngành kinh tế độc lập Ở một số địa phương trong vùng cũng đã manh nha những ngành nghề thủ công truyền thống, điển hình như: làm gốm ở Mường

Trang 25

Chanh (Mai Sơn – Sơn La), Mường Sại (Thuận Châu – Sơn La), Mường Quày (Tuần Giáo – Điện Biên), Bình Lư (Phong Thổ - Lai Châu) hoặc như Trấn Yên (Yên Bái); cùng các nghề dệt thổ cẩm, đan lát mây, tre và nghề mộc đã trở thành phổ biến trong đồng bào các dân tộc Tây Bắc Nhưng, sản phẩm hàng hóa ít, quy mô sản xuất nhỏ hẹp trong từng gia đình, đến khi thực dân Pháp xâm lược (1858) và suốt thời kì thuộc Pháp về sau, hoạt động giao lưu trao đổi hàng hóa ở Tây Bắc chưa thực sự là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa – tiền tệ mà nhiều dân tộc ở vùng sâu, vùng xa vẫn duy trì phương thức trao đổi truyền thống

Như vậy, bản của người Thái là một kiểu công xã nông nghiệp Trong

hình thái xã hội này, bản và mọi thành viên của bản và cũng là của mường bị

phụ thuộc vào mường bởi nghĩa vụviệc mường (vịa háng mường) Việc mường

là lao động công ích đảm bảo cho sự ra đời và tồn tại của mường Nội dung của việc mường bao gồm: khai phá ruộng đất, tham gia chinh chiến khi cần thiết, đắp phai, đào mương, làm ruộng giành ra phục vụ những nhu cầu cộng cộng của

mường (na ná háy hang chu: ruộng dân toàn mường đến làm), phục vụ nghi lễ,

tôn giáo tất cả những công việc đó được thực hiên dưới sự điều khiển của bộ máy quản lý của bản, của những chức dịch trong mường kể từ người đứng đầu

mường xuống đến tạo bản (người đứng đầu bản) Việc mường thực sự là nghĩa

vụ vì sự đóng góp của mỗi thành viên và của mỗi bản đảm bảo cho sự tồn tại của chính mình Bởi vì sự ra đời và tồn tại của mường mà tiêu biểu là quyền sở hữu

Trang 26

công cộng về ruộng đất và bộ máy quản lý bản mường bảo đảm cho bản, cho mỗi thành viên sản xuất có kết quả

Mường phìa (mường, lộng hay quén) là tổ chức xã hội hoàn chỉnh của

hình thái xã hội này Cơ sở tồn tại của nó là quyền sở hữu công cộng về ruộng đất trên một phạm vi, quy mô phù hợp với trình độ và lực lượng sản xuất

Mỗi mường có toàn quyền sở hữu phần ruộng đất và phạm vi cư trú của mình Không một ai, không một mường nào có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của mường khác Quan hệ giữa mường này với mường khác, với châu mường – đơn vị trên mường, kể cả những châu mường, có thời kỳ đã phát huy thế lực, ảnh hưởng trên toàn Tây Bắc như thời chúa Tà Ngần (Mường Muổi – thế kỷ XIV), Sa Khả Sâm (Mường Sang – thế kỷ XV), Bun Phanh (Mường La – thế kỷ XVIII) chỉ là quan hệ chịu thần phục, phải tiến cống

Tổ chức bộ máy của mường về căn bản giống nhau, có khác chỉ là tên gọi

Đứng đầu mường làphìa mường hoặc tạo lộng hay tạo quen Những người giữ

chức vụ này chỉ có thể là người thuộc dòng họ quý tộc của mường đó và có

quyền thế tập nếu người kế tục được hội đồng bô lão (hoóng thẩu ké) chấp nhận

Bên cạnh người đứng đầu mường là hội đồng bô lão (háng thẩu ké) Hội đồng bô lão là một hội đồng đại biểu cho dân trong mường, bao gồm một số chức dịch không thuộc dòng họ quý tộc nhưng có uy quyền với dân Hội đồng

bô lão gồm ba bộ phận:

Một: Hoóng thẩu ké do các ông Xổng (chức dịch không phải quý tộc đứng

đầu Xổng - đơn vị hành chính dưới mường) hợp lại

Hai: Hoỏng hé ho gồm các chức chuyên giúp việc, bảo vệ hay hầu cận người đứng đầu mường (thời bình thì nhập vào hệ thống tôn giáo)

Ba: Hoỏng mo nghe gồm các chức dịch chuyên làm lễ nghi, tôn giáo của

bản mường

Hội đồng bô lão ngoài nhiệm vụ thường xuyên giúp việc người đứng đầu mường, còn có quyền kiến lập hoặc phế truất người đứng đầu mường miễn là người được tiến cử phải thuộc dòng họ quý tộc trong mường

Trang 27

Dưới mường là Xổng và cuối cùng là bản Những người đứng đầu Xổng được gọi với những tên thứ tự như sau: ông Xổng thứ nhất được gọi là Sen, hay

Pẳn, ông Xổng thứ hai gọi là Pọng, thứ ba là ho luông

Ở bản, đứng đầu là tạo bản hay quan bản và người chuyên làm việc cúng

tế ở bản gọi là trá bản hoặc mo

Như vậy, trong buổi đầu thiên di vào Tây Bắc, vai trò và cơ cấu tổ chức của những bộ máy quản lý bản mường thể hiện rõ nét chức năng chủ yếu của nó

là bộ máy quản lý xã hội, bộ máy tổ chức và quản lý sản xuất Quá trình phát triển xã hội sau này, đó vẫn là chức năng cơ bản của bộ máy quản lý bản mường của người Thái Tây Bắc

Cùng với sự ra đời của bộ máy quản lý xã hội, xã hội người Thái Tây Bắc

đã xuất hiện một lớp người tách khỏi nhiệm vụ sản xuất để giữ nhiệm vụ quản lý bản mường Và sự xuất hiện tầng lớp người làm nhiệm vụ quản lý xã hội đầu tiên bắt đầu từ một vài dòng họ

Quắm tố mường, một tài liệu thành văn cổ mang tính chất sử thi của người

Thái Tây Bắc đã ghi: “ tới Mường Lò (Nghĩa Lộ, khoảng thế kỷ XI), các họ Lò, Lường, Vi (Vì), Đeo (Đèo), Cà và tất cả các họ khác ở dân Thái đã suy tôn họ Lường làm Mo, họ Lò làm tạo Đó là những dòng họ, là tầng lớp tôn giáo và quý

tộc đầu tiên trong xã hội người Thái Tây Bắc

Lợi dụng bộ máy quản lý bản mường vừa hình thành, tầng lớp quý tộc thống trị Thái đã nhanh chóng biến nó thành công cụ bóc lột, thành bộ máy thống trị để bóc lột quần chúng các dân tộc bằng mọi hình thức Đó là sự bóc lột thông qua quyền lực của bộ máy quản lý xã hội, của cộng đồng mà cơ sở của nó

là quyền sở hữu công cộng về ruộng đất Từ cơ sở này, xã hội người Thái Tây Bắc cũng bắt đầu quá trình phân hóa giai cấp Sự phân hóa giai cấp đầu tiên là

sự phân chia thành đẳng cấp – đẳng cấp quý tộc tức các dòng họ quý tộc, dòng

họ nắm thần quyền và tầng lớp bình dân tức toàn thể thanh niên không phải quý

tộc Sự phân hóa ấy ngày càng rõ rệt khi mà tầng lớp quý tộc chiếm đoạt một phần thành quả lao động chung, tức là bóc lột trực tiếp mọi thành viên của bản mường

Trang 28

Xã hội Thái đã phân hóa hai cực rõ rệt: quý tộc và nhà nước; nông dân và lao động Quý tộc nắm trong tay quyền lực, còn nông dân dân bị tước đoạt lao động trực tiếp hoặc gián tiếp Sự phân hóa ở đây khác với hình thái đã diễn ra trong các xã hội đã có Ví như giai cấp địa chủ muốn thành nó, trước tiên phải có nhiều ruộng Chúng là chủ ruộng tư, quyền sở hữu xác định trong các văn tự, chủ có quyền mua bán ruộng đất Còn người nông dân có thể làm nông nô, hoặc

tá điền muốn trở thành nó, phải có rất ít hoặc hoàn toàn tay trắng, đi lĩnh canh và nộp tô lao dịch hay hiện vật (thóc, tiền) cho địa chủ Trái lại, phìa tạo không chiếm lấy đối tượng lao động mà chiếm con người lao động Dân là của “tạo” vì

“tạo” là bản mường Và một khi đã chiếm được người lao động, vị tất đối tượng lao động phải biến thành lao động của tư Điều đó có lý do rất chính đáng, bản thân đối tượng lao động nếu không có sự tác động của bàn tay lao động sẽ không thành đối tượng lao động Ruộng sẽ không thể gọi là ruộng nếu không có người nông dân cày cấy Ở đây do có nhà nước mà quý tộc đã nắm toàn bộ sức lao động ở trong mường, dùng sức lao động ấy vào mục đích riêng về mặt nào

đó so với địa chủ, phìa tạo có phần nào đó lợi hơn rất nhiều địa chủ bởi địachủ chỉ có thể thu được phần địa tô của người tá điền không thể thu được con người cực khổ đó trái lại phìa tạo lấy được toàn bộ con người lao động Một kiểu bóc lột toàn dân ở trong các mường Tất nhiên trong khối toàn dân ấy đã phân thành

các tập đoàn bị bóc lột ở mức độ khác nhau Song tất đều giống nhau: “những

bày tôi của tạo” (pay khỏi tạo) hay là “người con của bản mường” (lụ bản, lụ mướng” “Con người” và “bày tôi” đều có một nghĩa giống nhau – bị bóc lột

Đây là lối vừa thống trị vừa bóc lột rất thâm hiểm Nó đánh thẳng vào quan hệ giữa người với người Nó trực tiếp bắt người ta phải cúi đầu chịu sự bất công

Nó không cần phải đi từ việc nắm chặt những đối tượng lao động để tước đoạt lao động, bắt người lao động phải tuân thủ, vì không có đối tượng sản xuất Nó

đi từ cái chung nhất là nhà nước, dùng cái chung đó để tước đoạt sức sản xuất

Đó chính là chìa khóa để mở ra những điều bí ẩn trong lòng phìa tạo

Trang 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, với một địa bàn cư trú rộng lớn: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào cai, Yên Bái và một phần của Hòa Bình Trên nhiều địa hình khác nhau, nhưng về khí hậu, sông ngòi khá thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp Nông nghiệp phát triển do trình độ sản xuất của dân tộc Thái phát triển sớm hơn các dân tộc khác trong vùng Tây Bắc cùng với đó là sự phát triển đạt đến trình độ cao về kĩ thuật canh tác ruộng nước thông qua hệ thống mương, phai: “Dẫn thủy nhập điền” Từ quá trình thiên di, định cư ở khu vực Tây Bắc người Thái bắt đầu thiết lập nên hệ thống tổ chức xã hội ở nơi đây với sự ra đời của các bản mường Cùng với quá trình định cư này chế độ sở hữu ruộng đất của người Thái cũng bước đầu được thiết lập với đặc trưng riêng biệt

Trang 30

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH ĐỊNH CƯ VÀ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ RUỘNG CÔNG

CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC

2.1 Quá trình người Thái định cư ở khu vực Tây Bắc

Đơn vị cư trú của người Thái được gọi là bản và mường Nhiều bản hợp thành một mường nhỏ và nhiều mường nhỏ hợp thành châu mường Ngay từ đầu các bản, mường đã phân bố tương đối đông đúc trên những vùng cư trú của ba nhóm địa phương :

1 Khu vực phía bắc – Những bản, mường của người Thái Trắng tập trung trong các thung lũng ruộng đồng màu mỡ Khoảng thế kỷ thứ XIII, Mường Lay dưới thời Lòm Lạnh Lạt Ma đã trở thành trung tâm của vùng này Lợi dụng sự phát triển của người Thái, quý tộc thống trị Mường Lay đã bành trướng thế lực khắp nơi Phía Bắc phát triển tới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Từ Mường

Tè ở phía đông kéo sang đầu Nặm U (Thượng Lào) ở phía tây Phía Nam phát triển dọc theo sông Đà từ Mường Chiên (Quỳnh Nhai) xuống đến miền đất tả

ngạn thuộc huyện Mường La ngày nay Người Thái có câu: “Miền xuôi nổi tiếng

vua Kinh, đầu sông Đà nổi tiếng Tạo Lay” (Lả púa tiếng pua Keo, hua Té tiếng

Tạo lay) để nói lên sự lớn mạnh của thế lực quý tộc Mường lay

2 Khu vực phía Nam – Sau đợt thiên di của người Thái Trắng từ Lào sang, bản mường bắt đầu xuất hiện Khoảng cuối thế kỷ thứ XIII đầu thế kỷ XIV, dưới thời chúa Nhọt Cằm, Mường Sang đã trở thành trung tâm của vùng này

Nhờ uy thế của quý tộc, Nhọt Cằm đã chia con cháu đi chiếm cứ khắp nơi Thế lực của quý tộc Mường Sang đã ảnh hưởng khắp khu vực rộng lớn – phía bắc đến miền đất thuộc Mường Vạt (Yên Châu), phía đông là đất Mường Tấc (Phù Yên), phía tây và tây nam là miền đất thuộc Mường Ét, Chiềng Cọ (Sầm Nưa – Thượng Lào) và phía nam bao gồm miền đất thuộc hai huyện Đà Bắc, Mai Châu thuộc Hà Sơn Bình ngày nay Người Thái thường ví Nhọt Cằm (pha – nha - Nhọt – chom - cằm) như “Then” (thần đứng đầu cõi trời) và có câu

nói rằng đó là: “Then của trần gian, con cháu của Pha Ngum, Pha Nghiêu”

(Then mường Lum, chẩu Pha Ngum, Pha Nghiêu)

Trang 31

3 Khu vực giữa – Sau khi Lạng Chượng thu phục được đất Mường Thanh, con cháu của ông đã nối nghiệp nhau thống trị đất này Càng về sau anh

em trưởng thứ của quý tộc càng trở nên bất hòa Lợi dụng tình trạng đó, các thế lực của quý tộc Mường Lay và người Lự ở Thượng Lào đã đánh đuổi quý tộc Thái đen ở Mường Thanh Con cháu Lạng Chượng phải dần dần về ở Mường Muổi Sau khi ổn định ở Mường Muổi khoảng thế kỷ XIII, thế lực của quý tộc ở đây lại bắt đầu bành trướng khắp vùng cư trú của người Thái Đen, kéo suốt từ vùng hữu ngạn sông Hồng sang sông Mã… Trung tâm Mường Muổi dưới thời chúa Lò Lẹt đã nổi tiếng trong vùng người Thái ở khắp miền Tây Bắc nói chung

Lò Lẹt lấy biệt hiệu là “Ngu Hấu” (hổ mang), người Thái gọi là “Pú chẩu Ngu

vợ cả Tạo Quạ vô cùng ghen tức Ngày đêm bà ta chỉ lo việc giết Lò Lẹt, để sau này con trai bà yên bề thay địa vị của chồng Biết trên một hốc cây đa ở chân núi kia có rắn hổ mang đang nuôi con rất dữ tợn Nhân một hôm vui đùa với các con trai, bà ta bèn nói dối và dỗ dành Lò Lẹt tới cây đa trèo lên bắt chim yểng trong hốc về chơi Biết bà cả đánh lừa con mình cho rắn hổ mang cắn chết, bà So chẳng những không sợ mà lại còn lập mưu cho Lò Lẹt phải tóm được rắn hổ mang đem về trình cha phân minh Bà bèn lấy bông đã bật cuốn khắp mình Lò Lẹt và dặn rằng: “…Con cứ đi bắt chim yểng trên hốc đá Nếu chẳng may không phải là chim mà lại là rắn, con cũng không lo Rắn cắn con, nhưng bông này sẽ cuốn vào răng vào lưỡi, con sẽ tóm cổ nó đem về cho mẹ ” Quả nhiên sự việc diễn ra đúng lời bà So Lò Lẹt ra đi và đem về theo một con rắn hổ mang to, thả ngay giữa nhà Tạo Quạ cùng bà cả sợ hết vía, nhảy qua cửa sổ, gieo mình

xuống gầm sàn chết Từ đó Lò Lẹt thay cha và lấy biệt hiệu là “hổ mang”

(Ngu Hấu) [29, tr.65]

Trang 32

Có lẽ quý tộc Thái Đen là thế lực thống trị địa phương đã sớm quy thuận triều đình Trong tập sử thi Táy pú xớc, đã sưu tầm được ở Mường La, ghi về sự

kiện “tạo” đất Mường Lò đã cùng “quan kinh” trông coi đất mường : “Mường

Lò để cho quan Kinh với con Tạo vào dựng” Và khi Lạng Chượng hành quân

qua sông Đà tiến sâu vào vùng Tây Bắc, Quám tố mướng Mường La có ghi là

“nhờ có binh của anh cả lên giúp” Theo các cụ, binh “anh cả” là quân của nhà

vua dưới xuôi

Sự quy thuận triều đình của các tù trưởng Thái Đen có lẽ đã được các sử

sách của các triều đại phong kiến Việt Nam xác nhận Chẳng hạn như “Việt sử

thông giám cương mục” có ghi: “Năm long chương thiên tự thứ 2 (1067) các tù trưởng “Ngưu Hống” và Ai Lao đem vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi tới cống” Căn cứ vào cuốn Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng Bình Chính viết

thế kỷ XVIII thì “Ngưu Hống” có chữ viết và phong tục giống người Ai Lao

Vậy Ngưu Hống trước hết là tên chỉ người Thái vì các tộc người ở Tây Bắc nơi

giáp Ai Lao chỉ có tộc Thái có chữ giống Ai Lao Hơn nữa “Ngưu Hống” là tên phiên âm chữ Hán, và sự phiên âm đó có hơi gần với tên “Ngu hấu” biệt hiệu của Lò Lẹt Hai tên này tuy xuất hiện ở hai thời điểm khác nhau (“Ngưu Hống”

ra đời thời Lý thế kỷ XI và “Ngu hấu” (Lò Lẹt) ở vào khoảng giữa thế kỷ XIII)

nhưng đều là biệt hiệu chỉ người Thái Vậy có thể Lò Lẹt đã là người tiếp tục lấy

tên “Ngu hấu” để thống nhất các bộ phận người Thái mới thiên di ở các nơi tới

Tây Bắc

Chính sự “tin dùng của triều đình” (pua Keo ha) đã tạo điều kiện thuận lợi cho thế lực Thái Đen ở trung tâm Mường Muổi phát triển nhanh chóng Khoảng thế kỷ XIV dưới thời Ta Ngần, Mường Muổi đã trở thành trung tâm thống nhất

bộ tộc Thái ở phía tây “Quám tố mướng” đã ghi về phạm vi ảnh hưởng của quý

tộc Mường Muổi đứng đầu là Ta Ngần như sau : “ Như vậy, Ta Ngần được

vua tin dùng Phạ nhấu (vua Lào) kinh nể (hướn pua ha, Pha nhấu hặc) vua Kinh ban cho làm “chúa” cai quản cả một vùng rộng lớn, những nơi có dân ở nhà sàn, mặc áo đỏ, bao gồm miền “Đất ba dải, miền chín lưu vực con sông và vùng đất nơi sông Đà gặp sông Hồng” Từ miền người Mọi, người Mang ở

Trang 33

Mường Pi, Mường Sang đến vùng đất thuộc đầu sông Thao nước đỏ Từ miền Châu Nhi, Châu Phụng, Che Lạn, Chiềng Luống đến tận đất đầu sông Mã đến những miền thượng sông Nặm U”

Đây là bước phát triển rất quan trọng của xã hội người Thái ở Tây Bắc

Đó là bước đầu tiên đã xóa bỏ được ranh giới giữa ba vùng cát cứ với các thế lực quý tộc khác nhau ở phía bắc và cực tây bắc với trung tâm Mường Sang và vùng giữa với trung tâm Mường Muổi Ba vùng cát cứ hình thành do hoàn cảnh lịch

sử của ba luồng thiên di của người Thái tới Tây Bắc Thời kỳ lịch sử này còn tăng cường thêm một bước, sự giao lưu văn hóa giữa tộc Thái với các tộc anh em khác trên miền Tây Bắc và các vùng lân cận khác

Trung tâm Mường Muổi với người đứng đầu là Ta Ngần còn quy tụ được tất cả vùng cư dân rộng lớn cư trú nhiều tộc người khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán về với chính quyền phong kiến trung ương tập quyền Như

Quám tố mường đã ghi :

“ Ta Ngần xây dựng bản, mường có lời khuyên răn mọi người: đầu bản

cuối mường đều là cánh phải, cánh trái của Mường Muổi Người đứng đầu các mường không được tranh giành nhau làm bản mường loạn lạc, dân đói khổ tan tác Hàng năm phải nộp cống vật cho Mường Muổi để “chúa” đem về xuôi dâng nhà vua” [40]

Từ bấy trở đi, cho dù vùng người Thái có bị phân thành từng châu mường, cho dù có núi non hiểm trở và nền kinh tế chậm phát triển (tự nhiên, tự túc, tự cấp), sự giao lưu giữa các châu mường có bị hạn chế Cho dù xã hội Thái cũng trải qua những năm tháng bị bọn đế quốc, phong kiến chia rẽ nhưng lịch sử người Thái ở miền Tây Bắc vẫn phát triển thành một khối Đó là một nhóm địa phương của một dân tộc ít người thuộc đại gia đình dân tộc Việt Nam Nó có màu sắc riêng của địa phương nằm trong sắc thái chung của dân tộc Việt Nam thống nhất

Cũng trải qua một thời kỳ lịch sử kéo dài hàng ngàn năm những nhóm cư dân nói tiếng Tày (Thái) cổ đã thiên di đi các nơi Rồi từ cuộc sống mỗi người một phương, các nhóm Thái cổ sống chung với các tộc khác lâu đời, không còn

Trang 34

nhớ được tổ tiên xa xưa nhất của mình Từ đó dần dần đã trở thành tộc người khác nhau như: Thái, Tày, Nùng, Giáy, Lào, Lự mà đến nay nếu chỉ xét riêng

về ngôn ngữ thì ta vẫn coi những nhóm này cùng một gốc Thái (Tày-Thái)

Những tộc người trong hệ ngôn ngữ Thái hiện nay phân bố rất rộng rãi ở miền Đông Nam Á mà điểm người Thái ở Tây Bắc (đối tượng nghiên cứu của chúng tôi) chỉ là một điểm rất nhỏ Nếu dân số Thái trên thế giới có 40 triệu, thì người Thái ở Tây Bắc chỉ có gần 40 vạn Tuy là điểm nhỏ, nhưng có tầm khá quan trọng vì nơi đây là một trong những miền đã chứng kiến sự sớm có mặt của người Thái Chỉ căn cứ vào nguồn văn học dân gian, nhất là nguồn truyền thuyết

và thần thoại Thái cũng có thể cho rằng, phải bắt đầu từ thời kỳ tiền nông nghiệp dùng cày trên ruộng nước, người Thái đã từng sinh tụ ở một số địa điểm trên miền Tây Bắc cổ vùng Mường Thanh Rồi từ những miền “đất tổ” xa xưa ấy chắc rằng họ đã di cư xuống phía nam bằng nhiều đợt khác nhau, mà hiện nay ta khó đoán định được về thời gian, mức độ và địa điểm họ tới từng đợt đó Song một điều chắc rằng trong các tộc người có gốc ở Nam Á hiện có mặt ở Tây Bắc như người La Ha, Kháng, Xinh Mun, Mường , đều có một lớp ngôn ngữ mang

yếu tố Thái cổ [29, tr 69]

Do đó địa bàn Tây Bắc cũng lại là nơi trở thànhvùng sớm chứng kiến sự tiếp xúc giữa người Thái với các tộc anh em khác Điều đó đã tạo cho họ có những yếu tố văn hóa khá độc đáo mà có thể kể ở đây một vài đặc trưng dễ nhận

ra Đó là sự cấu trúc nhà sàn có mái hai hồi hình khum tròn tựa mai rùa như kiểu của người Thái Đen Đó là lối mặc của phụ nữ Thái với chiếc váy dài, áo ngắn

xẻ ngực đính bộ cúc bạc hình con bướm, ve sầu, nhện, hoa , bó sát người làm

rõ đường nét của thân hình đầy đặn, cân đối và xinh xắn Đó là món ăn bằng chất bổ lấy từ khúc ruột non của những súc vật ăn cỏ nhai lại mà tiếng Thái gọi

là “nặm pịa” Đó là những điệu dân vũ của Thái Trắng ở miền Bắc mà đến nay

đã có những điệu như múa nón, múa sạp, múa quạt đã được nhiều nghệ sĩ nghiên cứu sử dụng và nâng cao thành những điệu vũ Việt Nam nổi tiếng trong nước và thế giới

Trang 35

Có thể nói chắc chắn hơn, đợt thiên di của người Thái từ Bắc xuống Nam được bắt đầu tiến hành từ khoảng các thể kỷ đầu thiên niên kỷ I sang đầu thiên niên kỷ II công nguyên Đợt thiên di này đã được ghi chép tương đối đầy đủ trong các nguồn tư liệu bằng chữ Thái cổ và đặc biệt chính xác khi chính các nguồn tư liệu này lại ăn khớp với những câu truyện truyền miệng của nhiều tộc người có tổ tiên từng tiếp xúc với tổ tiên người Thái Đó là những mũi thiên di của những nhóm Thái xưa đã từng sinh tụ ở miền đầu “sông Thao, nước đỏ” chuyển dịch về Nghĩa Lộ, Sơn La và phía nam tỉnh Lai Châu ngày nay Những nhóm Thái đã sinh tụ ở đầu sông Đà, sông Nậm Na thiên di tới Mường Lay, Phong Thổ cùng với những thủ lĩnh và cư dân nói tiếng Tạng – Miến Những nhóm Thái đã ở miền thượng sông “Nặm Khoọng, Nặm U, Mường Then – Bỏ

Té, Bó Rốm” thiên di vào lưu vực sông Mê Nam để lập ra Vương quốc Thái Lan hồi thế kỷ XIII; vào lưu vực sông Nặm Khoọng để lập ra vương quốc Lào hồi thể kỷ XIV và từ Lào một bộ phận họ di chuyển tới miền Tây Bắc nước ta

Những năm tháng của lịch sử đã đưa ông cha họ phải trải qua “những nẻo đường chinh chiến” trên một vùng đất đai rộng lớn Trên những bước đường chuyển dịch đó, cha ông họ đã từng va chạm với nhiều tộc người hoặc cũng hòa hợp với nhiều tộc người khác trên miền Nam Á Từ đó mà thấy rõ ràng rằng, trước khi tới Tây Bắc, những nhóm người Thái này vốn dĩ đã phân thành nhiều nhóm địa phương rất cách biệt Thậm chí có nhóm đã trở thành một tộc người riêng Nhưng đến miền Tây Bắc, các nhóm Thái địa phương đó lại có dịp tiếp xúc gần gũi nhau

Sự hình thành nhóm Thái Tây Bắc không thể chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn mà rõ ràng đã kinh qua lịch sử dân tộc học ở miền đất phía tây của tổ quốc Lịch sử người Thái không thể quên được vào thể kỷ XIV, trung tâm Mường Muổi đã thu hút tất cả các nhóm Thái Cũng từ đó trong xã hội

họ cũng dứt điểm việc các nhóm địa phương phát triển theo xu hướng tách thành tộc người riêng biệt Cho đến nay, mặc dù người Thái vẫn có các nhóm địa phương với hai ngành Thái Đen, Thái Trắng ở phía Bắc và phía Nam, nhưng rõ

Trang 36

ràng chỉ là một dân tộc mà tên thường gọi là “người Thái ở miền Tây Bắc Việt

Nam” Và theo đúng tên tự gọi của họ là “phủ Táy” (người Táy)

2.2 Quá trình hình thành chế độ ruộng công của người Thái ở Tây Bắc

2.2.1 Ruộng huyết tộc (ná đẳm)

Từ rất xa xưa, xã hội người Thái Tây Bắc đã trải qua giai đoạn đại gia phụ

hệ mà cơ sở của nó là quyền sở hữu công cộng về ruộng đất.Những tàn dư trong

lễ nghi, tôn giáo và ngay trong đời sống xã hội đã chứng minh điều đó

Khái niệm đầu tiên để chỉ quyền sở hữu công cộng về ruộng đất là ruộng huyết tộc (ná đẳm) Ruộng huyết tộc là tài sản chung của một hình thái xã hội

của người Thái gọi là “đẳm” “Đẳm” là một cộng đồng người cùng huyết thống

tính theo cha Cộng đồng người đó cư trú trong một ngôi nhà lớn từ 15 – 20 gian

gọi là nhà “đẳm” (hướn đẳm).Ngôi nhà đó, tập trung đến bốn, năm thế hệ với

hàng chục cặp vợ chồng của các thế hệ gồm hàng trăm nhân khẩu Đứng đầu

“đẳm” là một người đàn ông được gọi là “phủ cốc đẳm” (người đứng đầu đẳm)

hoặc “trưởng cốc” Người này có toàn quyền chi phối toàn bộ công việc của

“đẳm” Trên cơ sở quyền sở hữu chung về ruộng đất (ná đẳm) và những công cụ sản xuất chủ yếu (trâu bò, cày…) toàn “đẳm” cùng sản xuất, sở hữu chung sản

phẩm Rõ ràng đây là một hình thức của một đại gia đình phụ hệ Nó tồn tại trên

cơ sở của tổ chức xã hội người Thái Ngày nay trong nhiều vùng người Thái Tây

Bắc, “đẳm” đã trở thành khái niệm để chỉ tổ tiên xa xưa tính theo cha và ruộng

của những người chủ xa xưa đó

“Ruộng “đẳm” để ma “đẳm” đi làm Ruộng “đẳm” để ma “ đẳm” đến ăn”

(Ná đẳm vạy phi đẳm pay háy

Ná đẳm vạy phi đẳm pay kin).[38]

Lễ phái xửa còn cung cấp cho ta những hiểu biết khác, xem ra cũng hết sức quan trọng Đó là bước phát triển từ tổ chức thị tộc tiền hôn nhân thực hiện trên hai giai đoạn – cư trú riêng, cư trú bên nhà vợ, thị tộc huyết thống thuần khiết liên minh dưới dạng quần hôn ngoại tộc sang tổ chức hôn nhân một vợ, một

chồng, cư trú phía chồng - clan, tiền đề của chế độ quyền cha

Ngày đăng: 21/06/2018, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w