Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, muốn tồn tại vững, phát triển và củng cố uy tín của mình, mỗi doanh nghiệp phải vận động tích cực, phát huy tìm tòi mọi biện pháp giảm thiểu chi phí và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bởi để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay các doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin về thị trường về nguồn khách trên cơ sở các thông tin về cung, cầu và giá cả trên thị trường giúp cho doanh nghiệp tìm ra cơ cấu sản phẩm tối ưu, xác định được giá bán hợp lý đảm bảo vừa tận dụng được nguồn lực hiện có, vừa mang lại lợi nhuận cao. Để thực hiện tất cả các điều nói trên yếu tố con người đóng vai trò quan trọng hơn cả, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng lao động luôn được các doanh nghiệp quan tâm thích đáng. Vì vậy đề tài "Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty khách sạn du lịch ROYAL là đề tài em lựa chọn cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp".
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, muốn tồn tại vững, pháttriển và củng cố uy tín của mình, mỗi doanh nghiệp phải vận động tích cực,phát huy tìm tòi mọi biện pháp giảm thiểu chi phí và không ngừng nâng caohiệu quả kinh doanh Bởi để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranhnhư hiện nay các doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin về thị trường vềnguồn khách trên cơ sở các thông tin về cung, cầu và giá cả trên thị trườnggiúp cho doanh nghiệp tìm ra cơ cấu sản phẩm tối ưu, xác định được giá bánhợp lý đảm bảo vừa tận dụng được nguồn lực hiện có, vừa mang lại lợi nhuậncao Để thực hiện tất cả các điều nói trên yếu tố con người đóng vai trò quantrọng hơn cả, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng lao động luôn được cácdoanh nghiệp quan tâm thích đáng Vì vậy đề tài "Nâng cao hiệu quả sử dụnglao động tại Công ty khách sạn du lịch ROYAL là đề tài em lựa chọn chochuyên đề thực tập tốt nghiệp"
2 Mục đích và nhiệm vu của đề tài.
Mục đích: Đề tài tập trung nghiên cứu kỹ hơn đặc điểm của lao độngtrong khách sạn, hiệu quả sử dụng lao động tại khách sạn của Kháchsạn du lịch ROYAL, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng lao động tại Công ty khách sạn du lịch ROYAL
Trang 23 Đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là: vấn đề lao động và sử dụnglao động trong kinh doanh khách sạn, với các đặc điểm và giải pháp nâng caohiệu quả sử dụng lao động
* Phạm vi: Chỉ nghiên cứu những vấn đề lao động và hiệu quả sử dụnglao động ở phạm vi vi mô tức là ở một doanh nghiệp cụ thể ở đây là Công tykhách sạn du lịch ROYAL Về tình hình số liệu khách sạn chuyên đề cũng chỉgiới hạn trong một thời gian nhất định năm 2001, 2002 và 1 vài năm tới
* Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp phân tích:
Nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo về thực trạng sửdụng lao động trong tình hình phát triển hoạt động du lịch từ đó rút ra cáchướng đề xuất
+ Phương pháp thống kê:
Từ việc nghiên cứu chỉ tiêu giữa các năm em sử dụng phương phápthống kê để so sánh về số tương đối và số tuyệt đối từ đó đưa ra kết luận tìnhhình sử dụng lao động tại Công ty
Ngoài các phương pháp trên đề tài còn áp dụng phương pháp đối chiếu
so sánh hệ thống các thông tin điều tra thực tế kết hợp các phương phápnghiên cứu sẽ làm tăng thêm tính chính xác và thuyết phục cho đề tài
4 Kết cấu của chuyên đề:
Chương I: Cơ sở lý luận về lao động và hiệu quả sử dụng lao động trongkinh doanh khách sạn
Chương II: Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty khách sạn dulịch ROYAL
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO
ĐỘNG TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN
1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn.
1.1 Kinh doanh khách sạn
Nhu cầu của con người là vô tận khi một nhu cầu nào đó của họ đượcthoả mãn thì trong họ lại nảy sỉnh ra một nhu cầu khác ở mức độ cao hơn Vìvậy "Đẳng cấp nhu cầu" của Maslon là một trong những học thuyết nhận thức
về động cơ thúc đẩy con người Nó cho rằng khách hàng suy nghĩ trước khihành động, thông qua quá trình ra quyết định hợp lý Maslow đề cập tới nămphạm trù về nhu cầu:
bổ sung
Quan niệm một cách đầy đủ nhất thì kinh doanh khách sạn là một hìnhthức kinh doanh dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về nghỉ ngơi, ăn uống,vui chơi, giải trí và các nhu cầu khác của khách du lịch trong thời gian lưu lạitạm thời ngoài nơi ở thường xuyên của họ tại các điểm du lịch và mang lại lợiích kinh tế cho cơ sở kinh doanh
Trang 4Từ định nghĩa trên ta thấy kinh doanh khách sạn có ba chức năng cơ bản:Chức năng sản xuất: Trực tiếp tạo ra sản phẩm dưới dạng vật chất Chứcnăng lưu thông: Bán sản phẩm có được của mình hoặc của người khác.
Chức năng tiêu thụ sản phẩm: Tạo ra các điều kiện để tổ chức tiêu dùngsản phẩm ngay tại khách sạn
1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn
Hoạt động kinh doanh khách sạn chịu phụ thuộc vào điều kiện tàinguyên du lịch ở các vùng du lịch
Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng dulịch Vì khách du lịch với mục đích sử dụng "tài nguyên" du lịch mà nơi ởthường xuyên không có Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng vàmức độ kết hợp với loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa \ đặc biệt trongviệc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia Vì vậy,kinh doanh khách sạn muốn có khách để mà phục vụ từ đó thu lợi nhuận thìbản thân khách sạn phải "gắn liền" với tài nguyên du lịch Nói cách khá tàinguyên du lịch là điều kiện tiên quyết đầu tiên mà các nhà kinh doanh kháchsạn cần chú ý đến Ví dụ như quy mô của khách sạn tại một thời điểm phụthuộc vào sức hấp dẫn của tài nguyên, thứ hạng khách sạn chịu sự tác độngcủa giá trị tài nguyên, loại khách sạn phụ thuộc vào loại tài nguyên Nhưngnhư vậy "gắn liền" không có nghĩa là ở đâu có tài nguyên thì ở đó mọc lênnhững khách sạn với những kiến trúc hiện đại, mà nó còn phụ thuộc vào đặcđiểm của tài nguyên du lịch đó để thiết kế, xây dựng khách sạn cho phù hợp,
nó không chỉ phù hợp với tài nguyên du lịch, mà nó còn phải phù hợp với nhucầu của khách khi họ đến điểm du lịch đó
- Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư banđầu và đầu tư cơ bản tương đối cao
Đặc điểm này xuất phát từ tính cao cấp của nhu cầu về du lịch và tínhđồng bộ của nhu cầu du lịch Cùng với những nhu cầu đặc trưng của du lịchnhư nghỉ ngơi, chữa bệnh, hội họp, giải trí được đáp ứng chủ yếu bởi tàinguyên du lịch, khách du lịch hàng ngày còn cần thoả mãn các nhu cầu bìnhthường thiết yếu cho cuộc sống của mình Ngoài ra trong thời gian đi du lịch
Trang 5khách du lịch còn tiêu dùng những dịch vụ bổ sung nhằm làm phong phú chochuyến đi và gây hứng thú cho họ Vì vậy để đáp ứng những nhu cầu cần phảixây dựng một hệ thống đồng bộ các công tình, cơ sở phục vụ, các trang thiết
bị có chất lượng cao Phải đầu tư khách sạn ngay từ đầu để khách sạn khônglạc hậu theo thời gian, thoả mãn được nhu cầu của khách Làm được điều đóthì khách sạn phải đầu tư một dung lượng vốn lớn
Ngoài lượng vốn trên, khách sạn còn cần một lượng vốn cho chi phí tiềnđất, giải phóng mặt bằng, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, cấp thoát nước, bưuchính viễn thông, đường xá, khắc phục tính thời vụ (đối với các khách sạn cótính thời vụ), rồi vốn để duy trì hoạt động ban đầu cho tới khi thu được lãi Đầu tư cơ bản thuộc chi phí cố định gồm sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ Tỷtrọng chi phí cơ bản cao Chi phí biến đổi trong một đêm không lớn nhưng chiphí cố định ở mọi lúc, mọi nơi nó chịu sức ép của cạnh tranh Vì điều kiện vậtchất tham gia vào quá trình kinh doanh không được sai sót mà nó phải tuyệtvời ngay từ đầu
Vậy kinh doanh khách sạn đòi hỏi chi phí đầu tư cơ bản liên tục do đây
là loại chi phí cho chất lượng Ngành kinh doanh khách sạn phải làm cho cái
áo luôn luôn hợp mốt trong mọi trường hợp
- Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếptương đối cao
Do nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng và có tính cao cấp,hay nói một cách khác sản phẩm khách sạn không có tính khuôn mẫu Chonên không thể dùng người máy để thay thế con người được mà phải sử dụngchính con người để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách và mức độ phục vụphải cao Mà dịch vụ thì chủ yếu dùng lao động sống đó là con người Do yêucầu cao cấp của khách cho nên các nhà kinh doanh khách sạn phải nâng caochất lượng sản phẩm đặc biệt là thái độ của nhân viên phục vụ Vì sự thoảmãn bằng sự cảm nhận, sự mong chờ Hay ta có công thức tương đương:
S = P - E
Trong đó E là một đại lượng tương đối ổn định chịu ảnh hưởng của nhân
tố khách quan và chỉ phụ thuộc vào nhân tố chủ quan Vậy muốn tăng S thì
Trang 6phải đẩy P lên Mà P là sự cảm nhận Đó là sự cảm nhận bằng cơ quan giácquan của khách khi bắt đầu đến khách sạn Muốn tăng P thì các nhà kinhdoanh khách sạn tập trung vào 2 yếu tố: con người và cơ sở vật chất kỹ thuật.Cho nên con người là một trong những nhân tố để nâng cao chất lượng sảnphẩm cụ thể là thái độ phục vụ của nhân viên trong quá trình kể từ khi kháchđến khách sạn cho đến khi khách rời khỏi khách sạn Để thoả mãn nhu cầucủa khách du lịch thì cần có sự chuyên môn hoá trong phân công lao động dẫnđến đòi hỏi nhiều lao động trực tiếp hơn Hơn nữa thời gian kinh doanh phụthuộc vào tiêu dùng của khách do đó lao động phải làm việc 24/24 giờ tạothành những ca kíp làm việc và do thiên hướng là nâng cao tính đa dạng củasản phẩm nên có xu hướng số lao động ngày càng tăng.
- Hoạt động kinh doanh khách sạn chịu sự tác động của tính quy luật
Do khách sạn xây dựng thường gắn với tài nguyên du lịch, mà tàinguyên du lịch phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu nên việc kinh doanh diễn ratheo mùa Ví dụ đối với khách sạn xây dựng ở vùng ven biển thì công việckinh doanh diễn ra chủ yếu vào mùa hè Do quy luật tâm sinh lý của conngười như: ăn ngủ chỉ diễn ra ở một số thời điểm trong ngày, do đó yêu cầu
về các dịch vụ cũng diễn ra ở một số thời điểm do đó yêu cầu các nhà quản lýphải chấp nhận quy luật mà có cách đối ứng cho phù hợp
2 Đặc điểm lao động trong kinh doanh khách sạn.
2.1 Đặc điểm của bản thân lao động trong kinh doanh khách sạn
- Lao động trong khách sạn thường là quá trình sử dụng lao động thủcông, chủ yếu là lao động chân tay, trực tiếp phục vụ khách Các khâu trongquá trình phục vụ rất khó áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như cơ giớihoá, tự động hoá Nói như vậy, có nghĩa là ngoài lao động sản xuất chế biếnmón ăn là lao động sản xuất vật chất, lao động sản xuất trong khách sạn chủyếu là thực hiện các dịch vụ Các dịch vụ này được tạo ra nhằm thoả mãn nhucầu thiết yếu cũng như nhu cầu đặc trưng của khách du lịch Đặc trưng củadịch vụ được biểu hiện rõ nét ở sản phẩm lao động trong khách sạn Để đánhgiá chất lượng phục vụ còn phụ thuộc vào người tiêu dùng
Sản phẩm dưới dạng dịch vụ không phải là sản phẩm được thiết kế từtrước và không có tính lặp lại Do đó khó khăn trong đánh giá kết quả làm
Trang 7việc, người ta không thể đếm được số lượng khách hàng trong một ca làmviệc của một nhân viên để đánh giá mà phải xem trong số khách hàng mànhân viên phục vụ có bao nhiêu người hài lòng.
- Lao động trong khách sạn đòi hỏi độ chuyên môn hoá tương đối cao.Tính chuyên môn hoá hiểu theo cách 1: Đó là tính chuyên môn hoá theo các
bộ phận Trong khách sạn có nhiều bộ phận mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm
vụ khác nhau Cho nên khi tuyển dụng nhân viên phải theo chuyên ngành vàđược đào tạo chuyên sâu Điều này dẫn đến khó khăn trong việc thay thế lẫnnhau giữa các nhân viên trong các bộ phận Vậy có nghĩa là định mức laođộng trong khách sạn cao
Do vấn đề chủ quan khác mà gây ra thiếu hụt đột xuất của khách sạn Màcác nhà kinh doanh khách sạn mong muốn chi phí lao động giảm Vậy kháchsạn cần đảm bảo một số lượng nhân viên hợp lý và có khả năng lấp chỗ trốngkhi khách sạn hoạt động vào thời điểm đông khách
+ Tính chuyên môn hoá theo cách 2: Theo thao tác kỹ thuật: Tức làngười ta có xu hướng chuyên môn hoá theo cung đoạn phục vụ Vì muốn chấtlượng phục vụ cao thì khả năng mắc lỗi phải giảm Cho nên người nhân viênphải làm quen với một công việc Điều này gây khó khăn cho nhà kinh doanhkhách sạn khi mà nhân viên cứ phải làm 1 công việc sẽ rất nhàm chán
Khi tính chuyên môn hoá càng cao thì định mức lao động càng cao Điềunày ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Muốn tăng hiệu quả kinh doanh thìgiảm chi phí lao động
- Thời gian lao động trong khách sạn phụ thuộc vào thời gian tiêu dùngcủa khách
Thời gian làm việc trong khách sạn thường tương ứng với việc đến và đicủa khách Khách sạn dường như làm việc 365 ngày trên 1 năm, 24h trên 1ngày và không có thời gian đóng cửa Đặc điểm này gây khó khăn trong quảntrị nhân sự: đòi hỏi ngốn lượng lao động lớn cho nên khó khăn trong công tácphân công lao động, ảnh hưởng tới việc tính lương, giờ công một cách chínhxác, công bằng Ngoài ra còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống riêng củangười lao động khiến họ không có điều kiện tham gia nhiều vào các hoạt động
Trang 8xã hội Do đó, khách sạn phải có chế độ lương thưởng hợp lý để đảm bảoquyền lợi cho người lao động, giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao.
- Cường độ lao động cao đồng thời phải chịu môi trường tâm lý phứctạp
Đại đa số lao động trong khách sạn đều có quan hệ trực tiếp với khách,
từ lễ tân cho đến các bộ phận buồng, bàn, bar, họ phải thường xuyên tiếp xúcvới nhiều đối tượng khách với các đặc điểm khác nhau về dân tộc, sở thích,
cơ cấu xã hội (giới tính, tuổi, vị trí xã hội), nhận thức phong tục tập quán vàlối sống Khi tiếp xúc với nhiều dạng khách khác nhau, khách khó tính cũng
có, khách dễ tính cũng có, hơn nữa không phải lúc nào người lao động cũng ởtrong trạng thái thoải mái Do vậy để phục vụ đạt chất lượng cao người laođộng phải có sức chịu đựng về tâm lý để luôn làm vừa lòng khách Ngoài ra ởmột số nghiệp vụ điều kiện lao động tương đối khó khăn họ phải làm việctrong những môi trường cám dỗ về mặt vật chất và có khả năng mắc bệnhtruyền nhiễm vao ví dụ như massage, tắm hơi Tính phức tạp đó đòi hỏi ngườilao động phải rèn luyện phẩm chất tâm lý xã hội cần thiết và có lòng yêu nghề
để điều chỉnh tình cảm của mình trong quá trình phục vụ khách Nhận thứcđược điều này các nhà quản lý cần có chính sách ưu đãi về lương thưởng đốivới những người lao động làm việc trong môi trường lao động phức tạp đểgiúp họ yên tâm làm việc
Tóm lại yêu cầu của khách đối với các dịch vụ khách sạn cũng rất khácnhau Do vậy đòi hỏi khách sạn phải nghiên cứu nắm bắt được yêu cầu củakhách để làm thoả mãn tối đa nhu cầu của họ Nếu không coi trọng vấn đềnày sẽ dẫn tới việc sử dụng lãng phí sức lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật,giảm sút chất lượng phục vụ và cũng chính là nguyên nhân làm giảm hiệu quảkinh doanh
2.2 Đặc điểm về cơ cấu lao động trong khách sạn
Cơ cấu lao động trong khách sạn là tập hợp những nhóm xã hội củangười lao động trong tập thể cũng như các mối quan hệ giữa các nhóm đó Cóhai loại cơ cấu cơ bản trong tập thể người lao động, đó là:
Cơ cấu dân cư
Trang 9Cơ cấu về trình độ nghiệp vụ.
- Đặc điểm về cơ cấu dân cư: Cơ cấu dân cư là tập hợp nhóm người laođộng theo tuổi tác, giới tính, dân tộc và thành phần xã hội
+ Cơ cấu lao động theo độ tuổi: Trong khách sạn độ tuổi trung bình củangười lao động tương đối thấp Lao động nữ thường ở tầm tuổi từ 20-30 tuổi,tập trung chủ yếu ở các bộ phận lễ tân, bàn, bar Nam giới ở độ tuổi 20-40tuổi thường được bố trí ở các bộ phận lái xe, bảo vệ, bếp Tuy nhiên độ tuổilao động còn phụ thuộc vào từng nghiệp vụ và từng chức vụ lao động có độtuổi trung bình cao thường được bố trí ở bộ phận quản lý vì có sự đòi hỏinhiều kinh nghiệm trong nghề, còn ở những khu vực cần giao tiếp trực tiếpvới khách người ta sử dụng lao động có độ tuổi tương đối thấp Tuy nhiên khilựa chọn lao động người ta thường tuyển chọn lao động có độ tuổi khá chênhlệch để có khả năng xếp xen kẽ trong quá trình làm việc chẳng hạn nhữngngười có kinh nghiệm lâu năm trong nghề khi làm việc với những người trẻtuổi sẽ truyền đạt kinh nghiệm cho những người trẻ
+ Cơ cấu lao động theo giới tính: Trong kinh doanh khách sạn lao động
nữ thường chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nam nhưng xu hướng hiện nay việctuyển có chiều hướng ngược lại
Cũng như cơ cấu lao động về độ tuổi, cơ cấu giới tính của lao động trongkhách sạn cũng thay đổi theo từng nghiệp vụ và từng chức vụ Ở bộ phậnngoại cảnh thì thường 100% là nữ, ở tổ bảo vệ, bảo dưỡng thì thường 100% lànam Nói chung tuỳ theo tính chất kinh doanh của khách sạn mà có sự phânchia lao động theo giới tính khác nhau Xu hướng cơ cấu lao động hiện naycũng có nhiều thay đổi là sự trẻ hoá lực lượng lao động trong khách sạn, cũngnhư trình độ văn hoá và ngoại ngữ ngày càng được nâng cao - Cơ cấu vềtrình độ nghiệp vụ: là tập hợp những nhóm người lao động theo trình độnghiệp vụ, theo nghề nghiệp, theo thâm niên công tác Xuất phát từ nhu cầucủa khách du lịch, kinh doanh khách sạn sử dụng nhiều ngành nghề, do đó mà
cơ cấu nghiệp vụ trong khách sạn có thể chia thành 2 nhóm:
+ Nghiệp vụ đặc trưng cho hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịchnhư lễ tân, buồng, bàn, bếp, bar
Trang 10+ Nghiệp vụ chuyên môn của một số ngành khác có liên quan đến hoạtđộng kinh doanh du lịch: kế toán, ngân hàng, bưu điện, bác sĩ và một sốngành nghề chuyên môn kỹ thuật: lái xe, sửa chữa điện nước So với các hoạtđộng kinh doanh khác, cơ cấu xã hội theo trình độ nghiệp vụ trong kinh doanhkhách sạn có một số nét cơ bản.
Trong kinh doanh khách sạn có hai nhóm xã hội lớn nhất đó là trí thức
và công nhân, trong đó công nhân chiếm tỷ trọng lớn hơn
Trình độ văn hoá của người lao động trong khách sạn không đòi hỏi caolắm vì khách sạn sử dụng nhiều lao động chân tay là chủ yếu Lao động cótrình độ đại học thường bố trí ở bộ phận lễ tân và quản lý
Riêng về trình độ nghiệp vụ luôn đòi hỏi người lao động ở mức độ thuầnthục có phong cách ứng xử và giao tiếp tốt
Tóm lại, nghiên cứu kỹ những đặc điểm này sẽ cho phép khách sạn xâydựng được cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ hoạt động kinh doanh cũngnhư trong toàn khâu, từng bộ phận và đó cũng là điều kiện tiền đề cho côngtác quản lý và sử dụng lao động đạt hiệu quả cao
2.3 Đặc điểm của quá trình tổ chức và quản lý
- Tính chu kỳ
Tính chu kỳ của quá trình tổ chức và quản lý lao động thể hiện ở chỗ làviệc phân công bố trí lao động không phải lúc nào cũng như nhau, mà nóthường diễn ra ở một số thời điểm du lịch khi đó khách sạn sẽ phải tuyểnthêm nhân viên hoặc cũng có thể cho nhân viên nghỉ việc nếu đó không phải
là thời vụ du lịch, điều này đặc biệt thấy rõ ở những khách sạn ven biển Hơnnữa tính thời vụ còn bị ảnh hưởng tâm lý của con người đó là con người ta chỉ
có thể ăn, ngủ, vui, chơi giải trí ở một số thời điểm trong ngày, tháng, năm
do đó việc quản lý lao động phải hết sức được chú trọng và đáng quan tâm
- Tính luân chuyển:
Tính luân chuyển lao động trong khách sạn thể hiện ở chỗ, một nhânviên được tuyển vào một bộ phận nào đó và sau một số năm công tác, hayứng với một số tuổi nhất định thì họ sẽ phải chuyển sang bộ phận khác Ví dụnhư một nhân viên làm ở bàn, bếp đến một độ tuổi nào đó (30 tuổi trở lên) thì
Trang 11họ sẽ chuyển làm nhân viên buồng hoặc bếp Tuy nhiên, ứng với mỗi lần luânchuyển như vậy họ phải được đào tạo nghiệp vụ một cách khoa học để có thểđảm bảo được chất lượng sản phẩm.
Trang 123 Phân loại lao động trong khách sạn.
Như ta đã biết xuất phát điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động làchi phí và kết quả lao động Qua nghiên cứu đặc điểm lao động ở khách sạn tathấy được với từng bộ phận, từng hoạt động kinh doanh cụ thể thì các chi phílao động bỏ ra và kết quả đạt được là khác nhau
Vậy để có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động chung ở kháchsạn, ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động ở từng bộ phận Các bộ phậnnày được phân chia theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào hoạt động kinh doanh, lao động trong khách sạn được phânchia thành các bộ phận
+ Lao động thực hiện hoạt động kinh doanh lưu trú: bao gồm các laođộng thực hiện các dịch vụ về lưu trú
+ Lao động thực hiện các hoạt động kinh doanh ăn uống: bao gồm laođộng ở các bộ phận bếp, bàn, bar
+ Lao động thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ khác bao gồmmassage, karaoke
- Căn cứ vào mức độ tác động vào quá trình kinh doanh của khách sạn +Lao động gián tiếp: Gồm những lao động hỗ trợ cho quá trình sản xuất kinhdoanh như cán bộ quản lý: ban giám đốc nhân viên hành chính, thống kê, tài
Tổ chế biến: nhân viên chế biến món ăn, giải khát
Tổ sửa chữa: nhân viên điện nước
Tổ dịch vụ: nhân viên phục vụ các dịch vụ khác
- Căn cứ vào yêu cầu của công tác quản lý lao động trong khách sạn
Trang 13+ Lao động trong biên chế
+ Lao động ngoài biên chế
4 Hiệu quả sử dụng lao động trong kinh doanh khách sạn.
4.1 Khái niệm:
Hiệu quả sử dụng lao động là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng tronghoạt động kinh tế của mọi ngành kinh tế quốc dân nói chung và ngành kinhdoanh khách sạn nói riêng Nó phản ánh kết quả và trình độ sử dụng lao độngcủa từng đơn vị, qua đó mà thấy được hiệu quả lao động chung của từngngành và của toàn xã hội
Hiệu quả sử dụng lao động được hiểu là chỉ tiêu biểu hiện trình độ sửdụng lao động thông qua quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh với chi phí lao động để đạt được kết quả đó chỉ tiêu nay có thểđược mô tả bằng công thức sau:
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
H =
Trong đó: H là hiệu quả sử dụng lao động
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh biểu hiện ở các chỉ tiêu về sốlượng sản phẩm, mức doanh thu, lợi nhuận
Chi phí lao động biểu hiện ở thời gian lao động, tiền lương
Vậy bản chất của việc sử dụng lao động có hiệu quả trong kinh doanhkhách sạn là cùng với một chi phí lao động bỏ ra làm sao tạo ra được nhiềulợi nhuận tăng doanh thu và đảm bảo được chất lượng phục vụ Hay nói mộtcách khác là phải tiết kiệm và mọi sự tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thờigian Thời gian lao động ở đây không chỉ là thời gian lao động trong doanhnghiệp mà còn tiết kiệm thời gian lao động cho toàn xã hội Nâng cao hiệuquả lao động trong ngành kinh doanh khách sạn, không thể phục vụ kémngười tiêu dùng không để khách mất nhiều thời gian chờ đợi với ý nghĩa toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong ngànhphải đảm bảo tiết kiệm chi phí tiêu dùng của khách, tiết kiệm thời gian chongười tiêu dùng phải phù hợp với lợi ích của xã hội, nhưng cũng phải đảmbảo lợi ích cho doanh nghiệp tức là doanh thu phải bù đắp chi phí và doanh
Trang 14nghiệp có lãi Mâu thuẫn này thể hiện một cách khách quan, đòi hỏi phải cóphương hướng giải quyết nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay.
4.2 Các chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
* Yêu cầu đối với các chỉ tiêu:
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng trong mỗi doanh nghiệp là cần thiết, thôngqua chỉ tiêu về hiệu quả lao động của doanh nghiệp mình so sánh với kỳtrước, so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành các doanh nghiệp trongcùng địa bàn, để thấy rõ việc sử dụng lao động của doanh nghiệp mình đã tốthay chưa, từ đó phát huy những điểm mạnh khắc phục những điểm yếu trongviệc tổ chức, quản lý và sử dụng lao động để đạt được hiệu quả sử dụng laođộng cao hơn Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong từng doanh nghiệpkhông thể nói một cách chung chung mà phải thông qua một hệ thống các chỉtiêu đánh giá năng suất lao động bình quân, lợi nhuận bình quân trên mộtnhân viên, hiệu quả sử dụng thời gian lao động ngoài các chỉ tiêu trên, dựatrên cơ sở chi phí lao động ta còn có hiệu quả sử dụng lao động qua các chỉtiêu doanh thu trên 1000đ tiền lương, lợi nhuận thu được trên 1000 đ tiềnlương Tuy nhiên các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động phải đảmbảo các yêu cầu sau:
+ Các chỉ tiêu phải được hình thành trên cơ sở nguyên tắc chung củaphạm trù hiệu quả kinh tế Nó phải phản ánh được tình hình sử dụng lao độngsống thông qua quan hệ so sánh về kết quả kinh doanh với chi phí về lao độngsống
+ Các chỉ tiêu phải cho phép đánh giá một cách chung nhất toàn diệnnhất, bao quát nhất, hiệu quả sử dụng lao động trong khách sạn Vì vậy phải
có chỉ tiêu tổng hợp trong hệ thống Mặt khác nhằm đánh giá một cách cụ thểhơn sâu sắc hơn đòi hỏi trong hệ thống chỉ tiêu phải có các chỉ tiêu bộ phậnqua những chỉ tiêu này có thể đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trên từng
bộ phận Từ đó rút ra được những biện pháp đúng đắn để nâng cao hiệu quả
sử dụng lao động ở toàn doanh nghiệp
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có mối quan hệ khăng khít để thông qua hệthống chỉ tiêu đó, doanh nghiệp có thể rút ra những kết luận đúng đắn về tìnhhình sử dụng lao động
Trang 15+ Hệ thống các chỉ tiêu này phải thống nhất với nhau để đảm bảo tínhchất so sánh được hiệu quả sử dụng lao động giữa các bộ phận trong mộtdoanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong ngành với nhau.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
- Các chỉ tiêu đánh giá chung
+ Chỉ tiêu về năng suất lao động (W)
Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân cho ta thấy, trong một thời giannhất định (tháng, quý, năm) thì trung bình một lao động tạo ra doanh thu làbao nhiêu
+ Chỉ tiêu về lợi nhuận bình quân (N):
Trang 16đánh giá, so sánh hiệu quả sử dụng lao động ở từng bộ phận, từ đó có biệnpháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động ở từng bộ phận.
- Ngoài ba chỉ tiêu cơ bản trên, còn một số chỉ tiêu bổ sung nhằm đánhgiá hiệu quả sử dụng lao động
+ Bộ phận quản lý: Đánh giá hiệu quả sử dụng ở bộ phận này rất khókhăn và phức tạp vì kết quả của hoạt động này phụ thuộc rất nhiều vào cácnhân tố khác, và sự biểu hiện của nó phải qua một thời gian dài, chi phí laođộng ở bộ phận này mang tính trí óc Do đó hiệu quả sử dụng lao động đượcđánh giá trước tiên ở kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
+ Đối với tổ kế toán: Hiệu quả lao động được đánh giá qua việc thựchiện công tác kế hoạch thống kê, phân tích kết quả của các hoạt động sản xuấtkinh doanh theo đúng nguyên tắc, chế độ thể lệ về công tác kế toán tài vụ củanhà nước
+ Tổ lễ tân: Chất lượng lao động ở tổ này được đánh giá thông qua trình
độ sử dụng ngoại ngữ, thái độ phục vụ và khả năng am hiểu tâm lý khách,năng suất lao động
Trang 17Công thức:
= (6)
+ Tổ buồng, Tổ giặt là: Được đánh giá thông qua chỉ tiêu về số phòngtrên một nhân viên phục vụ, mức độ vệ sinh sạch sẽ của phòng và năng suấtlao động
+ Tổ bàn, ba bếp: Chất lượng phục vụ người tiêu dùng là chỉ tiêu để đánh giáhiệu quả sử dụng lao động của tổ, cụ thể thể hiện ở những việc như sau: Cungcấp cho khách hàng những sản phẩm ăn uống đủ về số lượng, đảm bảo vềchất lượng với giá cả hợp lý Hình thức phục vụ nhanh chóng kịp thời, tiếtkiệm thời gian, thái độ tư cách nhân viên phải lịch sử, vui vẻ, nhiệt tình, trangthiết bị phải đảm bảo sạch sẽ
+ Tổ tu sửa: Chất lượng của công việc được đánh giá qua các chỉ tiêu về
số giờ máy móc chạy an toàn trong ngành, số ngày an toàn trong năm và trình
độ kỹ thuật của nhân viên trong tổ
+ Tổ dịch vụ khác: Hiệu quả sử dụng lao động của tổ chức đánh giáthông qua các chỉ tiêu
Trang 18chân tay đơn giản không cần sự trợ giúp của máy móc thì chỉ cần những laođộng có trình độ thấp và trung bình.
Vậy phân công lao động hợp lý sẽ giúp khách sạn tránh được tình trạnglãng phí nhân lực, tiết kiệm chi phí sức lao động và ngược lại nếu không thìdẫn đến lãng phí sức lao động, sử dụng lao động không hiệu quả dẫn đếnnăng suất lao động giảm
+ Định mức lao động phải là định mức lao động trung bình tiên tiến cónghĩa là mức công việc mà muốn thực hiện được phải có chút ít sáng tạo, cốgắng phấn đấu tuy nhiên không quá khó nhưng cũng không phải ai cũng làmđược, như vậy sẽ dẫn đến chán nản hoặc trây lười dẫn đến hiệu quả sử dụngkhông cao Tuy nhiên để xây dựng một định mức lao động hợp lý không phải
là dễ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
+ Quản lý lao động bằng các hình thức trả lương khuyến khích lao độnglàm việc bằng các chế độ thưởng phạt Quản lý lao động theo hình thức phâncông lao động theo ca kíp, theo tổ đội
Trong khách sạn tổ chức trả lương thường theo 2 hình thức:
Lương theo sản phẩm và theo cấp bậc thời gian
+ Tuyển chọn và đào tạo lao động
Thông thường thì đối với khách sạn mới thành lập việc tuyển chọn laođộng từ bên ngoài là điều không tránh khỏi Đối với các khách sạn đang hoạtđộng thì việc tuyển chọn từ bên ngoài là cần thiết trong trường hợp không có
đủ người hoặc không có người đủ khả năng đảm nhiệm chức vụ hoặc vị trínào đó Nếu tuyển chọn không kỹ tuyển chọn sai, tuyển theo cảm tính hoặctheo một sức ép nào đó sẽ dẫn đến hậu quả về kinh tế xã hội
Đào tạo để trang bị kiến thức hoặc thêm kiến thức về trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ cho người lao động
+ Quy trình công nghệ: Một cái máy muốn chạy tốt thì các bộ phận của
nó phải hoạt động đều đặn, ăn khớp với nhau có nghĩa rằng để chất lượngphục vụ khách sạn cao thì không có nghĩa là các bộ phận hoạt động rời rạc,không ăn khớp mà chúng phải phụ thuộc vào nhau, có quan hệ mật thiết vớinhau, nhận được mọi thông tin khác của nhau Hơn nữa do đặc điểm của sản
Trang 19phẩm khách sạn mà mối quan hệ mật thiết giữa các bộ phận trong khách sạnquyết định đến năng suất lao động.
+ Các công cụ đòn bẩy kinh tế
Tiền lương là số lượng tiền là người lao động nhận được sau một thờigian làm việc nhất định hoặc sau khi đã hoàn thành một khối lượng công việcnào đó Tiền lương là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ nhất đối với người lao động vìtiền lương là một phần thu nhập quốc dân dành cho tiêu dùng cá nhân biểuhiện dưới dạng tiền tệ được phân phối cho người lao động căn cứ vào sốlượng mà mỗi người đã cống hiến Nhưng để tiền lương thực sự trở thành đònbẩy kinh tế thì công tác tổ chức tiền lương phải được xét trên 2 khía cạnh: quỹlương và phương án phân phối lương
Quỹ tiền lương: Đây là tổng số tiền mà cơ sở kinh doanh dùng để trảlương cho người lao động sau một thời gian lao động nhất định, quỹ nàynhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vìđược xác định theo chế độ lương khoán bao gồm 2 hình thức khoán là khoántheo thu nhập hạch toán và theo tổng thu nhập
+ Đối với hình thức khoán theo thu nhập
Tổng thu nhập = Tổng doanh thu - Giá trị nguyên vật liệu hàng hoá - Chiphí khác ngoài lương
Sau đó tổng thu nhập được phân chia như sau: Một phần dùng để trảlương đó là quỹ lương
Quỹ tiền lương thực tế = * Tổng thu nhập thực tế
Trong đó: Đơn giá lương khoán =
Phần còn lại được phân phối cho các quỹ: Nộp ngân sách, nộp quỹ tậptrung của ngành, lập quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi khen thưởng Đốivới hình thức khoán theo thu nhập hạch toán
Thu nhập hạch toán = Tổng thu nhập trích nộp ngân sách - Trích nộp cơquan quản lý cấp trên
Quỹ tiền lương thực tế = Thu nhập hạch toán thực tế - Quỹ phát triển sảnxuất theo ĐM - Quỹ phúc lợi xã hội theo ĐM
Trang 20Thực hiện cơ chế khoán tiền lương theo hai phương pháp trên là phù hợpvới thực trạng nền kinh tế nước ta Mỗi khách sạn tuỳ theo tình hình cụ thể vàđặc điểm của mình mà áp dụng chế độ lương khoán nào cho phù hợp.
Chế độ phân phối tiền lương
Khi thực hiện việc phân phối tiền lương để đảm bảo sự công bằng vàkhuyến khích người lao động cần dựa trên các yếu tố cơ bản:
* Trình độ tay nghề
* Hệ số thành tích
Trong đó thường tính 8 giời làm việc bằng một ngày công Những thờigian làm việc của người lao động lớn hơn 8 giờ thì phải quy đổi số thời gianlàm việc ngoài giờ ra ngày công theo hệ số thích hợp
Còn yếu tố bậc thợ, chức vụ là căn cứ để xây dựng mức lương cơ bản,mức lương cơ bản này khác nhau đối với các cấp bậc chức vụ khác nhau
Hệ số thành tích là yếu tố đánh giá chất lượng công việc của người laođộng Điều này quan trọng trong cách tính và xác định hệ số thành tích và sựchênh lệch giữa các hệ số này không nên quá nhỏ để tránh sự bình quân trongphân phối lương và cũng không quá lớn gây ra mức chênh lệch nhiều về thunhập của người lao động
Ngoài ra cần chú ý: Đối với một số chức danh có vai trò quan trọngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh như giám đốc khách sạn, kế toán trưởng,đón tiếp viên trưởng, quản đốc buồng, bếp trưởng thì phải được cộng thêmmột số ưu đãi
Đối với nhân viên làm việc trong môi trường độc hại như nhân viênbuồng, bếp, thì cộng thêm một số ưu đãi trong khi làm việc
+ Nội quy quy định của doanh nghiệp đối với người lao động: Mọidoanh nghiệp đề ra những nội quy quy định đều phải đảm bảo quyền lợi chongười lao động, công tác tổ chức lao động trong kinh doanh khách sạn du lịchcũng phải đảm bảo lợi ích cho người lao động
- Phân loại lao động trong khách sạn Đó là những nhóm người trong tậpthể lao động của đơn vị sản xuất kinh doanh được phân định và theo những
Trang 21tiêu thức cụ thể và mối quan hệ giữa những nhóm đó, nếu phân theo độ tuổithì đối với những ngành thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất thì độ tuổi trung bìnhcủa người lao động càng cao đó là một ưu thế, bởi vì người lao động cao tuổithường có nhiều kinh nghiệm sản xuất Nhưng đối với ngành kinh doanh dulịch nói chung và các ngành kinh doanh khách sạn nói riêng thì đó chưa hẳn là
ưu thế Nếu độ tuổi trung bình của người lao động quá trẻ thì thích hợp vớitính chất công việc phục vụ nhưng lại ít kinh nghiệm nghề nghiệp, còn nếu độtuổi trung bình quá cao thì nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp nhưng lại khôngphù hợp với tính chất công việc phục vụ, nói chung trong kinh doanh kháchsạn thì độ tuổi trung bình hợp lý là từ 20-30 tuổi đó là độ tuổi trung bìnhchung của toàn bộ khách sạn, còn đối với từng bộ phận bàn, lễ tân, độ tuổitrung bình thấp hơn so với các bộ phận buồng, bếp, quản lý, bảo vệ Nếu phântheo giới tính đó là những nhóm người tập thể lao động được phân định theotiêu thức giới tính Bởi tính chất của hoạt động kinh doanh khách sạn thuộclĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất sản phẩm chủ yếu là dịch vụ và nữgiới chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động, ở trong từng bộ phận tỷ lệ namgiới và nữ giới là khác nhau Thông thường nữ giới chiếm tỷ lệ cao ở bộ phậnbảo vệ, quản lý, bảo dưỡng nhưng không nên vì thế mà tuyệt đối hoá một bộphận thì toàn nữ giới còn bộ phận khác thì toàn nam giới mà nên xác định tỷ
lệ nam và nữ thích hợp với tính chất công việc ở từng bộ phận để đảm bảohiệu quả kinh tế cao
- Đội ngũ lao động là một trong những nhân tố tiền đề cho quá trình sảnxuất và là một trong những nhân tố có tác động tích cực nhất đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh Do vậy xây dựng một đội ngũ lao động hợp lý và có hiệuquả là mục tiêu quan trọng của công tác tổ chức quản lý lao động Với mộtđội ngũ lao động như thế nào là hợp lý và có hiệu quả Một đội ngũ lao độngbao giờ cũng cần hai mặt là số lượng và chất lượng
+ Về số lượng lao động: Một vấn đề đặt ra là phải căn cứ vào đâu để tínhtoán số lượng lao động hợp lý Một đội ngũ lao động có số lượng lao độnghợp lý tức là số lượng lao động đó vừa đủ so với khối lượng công việc khôngthừa không thiếu, chỉ có đảm bảo được mức lao động như vậy thì vấn đề sửdụng lao động mới đạt hiệu quả cao
Trang 22+ Chất lượng lao động thể hiện khả năng của người lao động về trình độhọc vấn trình độ chuyên môn nghiệp vụ tay nghề, trình độ ngoại ngữ, ngoạihình, khả năng giao tiếp mà còn phụ thuộc vào tính chất của từng công việc
mà họ có thể phát huy một cách tối đa khả năng của họ Để đảm bảo hiệu quảcông việc cao thì người lao động phải đáp ứng được các yêu cầu của côngviệc đối với người lao động về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ,ngoại ngữ, ngoại hình, khả năng giao tiếp Tuy nhiên ở mỗi khách sạn các yêucầu này là khác nhau
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Khách sạn có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đạimới Số lượng lớn thì cần sử dụng ít lao động chân tay và sử dụng nhiều laođộng có trình độ học vấn, tay nghề cao
Ngoài ra đối với từng bộ phận, lao động trong khách sạn chủ yếu là laođộng trực tiếp tuy nhiên trang thiết bị máy móc vẫn được áp dụng vào trongquá trình lao động ở những bộ phận nào mà trang thiết bị máy móc có thểthay thế được lao động thì bộ phận đó sử dụng ít lao động hơn và việc quản lý
sử dụng lao động ở bộ phận đó đơn giản hơn (ở bộ phận bếp chẳng hạn có bộphận rửa bát sẽ giảm được lao động rửa bát) Như vậy ở những bộ phận nhưthế áp dụng máy móc vào quá trình phục vụ khách thì việc thay thế lao độngbằng máy móc là cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động
- Các điều kiện khác:
+ Đối với nhân viên phục vụ trực tiếp thì việc ăn uống, sinh hoạt haymọi ưu đãi khác ngoài lương thưởng trong khách sạn là rất quan trọng nócũng có vai trò quyết định đến chất lượng phục vu Nếu người lao động cótinh thần sức khoẻ tốt thì họ làm việc sẽ có hiệu quả, hăng hái nhiệt tình trongcông việc hơn và ngược lại
b Nhân tố bên ngoài
- Nguồn khách đối với khách sạn: Khách với những đặc điểm về giớitính, quốc tịch, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội và những đặc điểm về tâmsinh lý là một yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng đội ngũ laođộng hợp lý thì cần phải nghiên cứu tìm hiểu tâm lý dân tộc, thành phần xãhội, độ tuổi, nghề nghiệp, khả năng thanh toán và tâm sinh lý của khách dulịch để xác định những yêu cầu đối với người lao động về độ tuổi, giới tính,
Trang 23trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, khả năng giao tiếp và xácđịnh hình thức phục vụ kỹ thuật phục vụ thích hợp một cách tương xứng vàđáp ứng được đúng và đầy đủ nhu cầu của khách, hiểu rõ ý muốn của khách
là điều kiện tiền đề để tổ chức lao động một cách tốt nhất và nó quyết địnhhướng đi trong thời gian tới của khách sạn - Các chính sách, chế độ của Đảng
và Nhà nước đối với người lao động: Chính sách bảo hiểm xã hội, quỹ phúclợi xã hội chế độ bảo hiểm người lao động nhằm đảm bảo lợi ích cho ngườilao động cũng như trách nhiệm của mỗi người lao động phải đóng góp Nógiúp cho việc sử dụng lao động có hiệu quả hơn, lao động làm việc năng suấthơn, sự trung thành lớn hơn, tinh thần được nâng cao hơn, làm giảm bớt khókhăn khi bị ốm đau, bệnh tật, khi về hưu Đối với tất cả những người chủ,lẫn công nhân đều phải đóng góp hàng tháng trên cơ sở thu nhập hàng thángcủa công nhân
- Luật pháp: Trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành luật laođộng với những quy chế quản lý nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động
Do đó việc chấp hành các quy chế đó phải được thực hiện ở mọi hình thứcdoanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệpliên doanh Để tránh những doanh nghiệp chỉ vì lợi ích trước mắt mà lợidụng người lao động bắt người lao động làm việc với cường độ cao gây chánnản kiệt sức cho người lao động
Luật pháp là cũng để bảo vệ người lao động giúp họ giải quyết nhữngmâu thuẫn, tranh chấp trong phạm vi làm việc của họ Do vậy luật pháp phải
rõ ràng và công minh, xử lý công bằng với mọi người
6 Ý nghĩa của lao động và quản lý sử dụng lao động trong kinh doanhkhách sạn
a Con người là yếu tố hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh
Trang 24b Chi phí cho lao động thường chiếm một phần đáng kể trong giá thành
du lịch Vì vậy cần sử dụng lao động tiết kiệm và có hiệu quả.
Hiện nay tiền lương cao nhất là ngành dầu khí, sau đó là bưu chính viễnthông rồi đến ngành hàng không và đến ngành du lịch Vậy cần phải sử dụnglao động không có người thừa, lực lượng quản lý phải có chuyên môn
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY KHÁCH SẠN DU LỊCH ROYAL.
1 Giới thiệu về công ty:
1.1 Lịch sử hình thành và một số đặc điểm của Công ty khách sạn dulịch ROYAL
1.1.1 Lịch sử hình thành
Công ty khách sạn du lịch ROYAL là một doanh nghiệp, được thành lậptheo Quyết định 49TC-CCG ngày 12/05/1991 của Tổng cục Du lịch
Tên giao dịch quốc tế: ROYAL tourism Hotel Company
Tên viết tắt: không có
Địa chỉ: Số 90- PhốCầu Gỗ- Quận Hoàn Kiếm- Hà Nội
Số điện thoại: 84-4-8.522.522
- Quá trình phát triển của khách sạn ROYAL có thể chia thành các giaiđoạn sau:
+ Giai đoạn mới thành lập: 1991- 1993
Là công ty mới thành lập thời gian hoạt động chưa dài vì vậy công ty đãgặp phải nhiều khó khăn trong việc thu hút khách hàng, thực hiện công táctuyể dụng, tìm hiểu và thâm nhập thị trường Hoạt động chính của công ty làkinh doanh lưu trú khách nội địa và khách quốc tế và tổ chức các tour du lịch.+ Giai đoạn 1993 đến nay
Giai đạon này các hoạt động của công ty đã dần đi vào ổn định và đã đạtđược một số kết quả nhất định Ban lãnh đạo công ty đã tìm ra phương hướng
để phát triển công ty Do nhu cầu phát triển về du lịch trong cả nước công ty
đã mở rộng phạm vi và quy mô kinh doanh
Đến nay công ty đã có 373 phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao, khách sạn đượcnâng cấp với đầy đủ thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình
độ nghiệp vụ cao, kinh nghiệm đã đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao củakhách du lịch trong và ngoài nước Do vậy năm 2000 công suất sử dụng
Trang 26buồng đạt 80% và tổng doanh thu đạt 36 tỷ đồng tăng 14% so với năm trước
và tăng 9% so với kế hoạch
1.1.2 Một số đặc điểm của công ty du lịch khách sạn ROYAL
- Đặc điểm về sản phẩm
Cũng như các khách sạn khác lĩnh vực kinh doanh chính của Công tykhách sạn du lịch ROYAL là kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống Ngoài racòn kinh doanh một số dịch vụ khác như:
+ Dịch vụ cho thuê văn phòng tổ chức đám cưới, hội nghị, hội thảo từ50-600 chỗ đầy đủ tiện nghi
+ Dịch vụ: tennis, giặt là, sauna, massage, karaoke, bia, bể bơi, mỹ nghệ,photocopy, cung ứng lao động cho nước ngoài
+ Thường xuyên tổ chức các chương trình du lịch, tham quan trong vàngoài nước
+ Làm dịch vụ visa, thông tin, vận chuyển đặt chỗ vé máy bay
+ Làm dịch vụ trên mạng Internet
- Đặc điểm về khách hàng
Ở đây chúng tôi xin nêu lên đặc điểm về khách hàng đến để tiêu dùngdịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống, còn không nói về khách hàng thuê vănphòng, khách hàng đến để tiêu dùng các dịch vụ tennis, bể bơi, massage,karaoke
+ Cơ cấu khách theo quốc tịch: Trước khi công ty mới đưa vào hoạtđộng thì khách sạn phục vụ chủ yếu là chuyên gia và gia đình chuyên gia vàkhách nội địa, nhưng đến nay khách đến công ty bao gồm cả khách quốc tế vànội địa
Trang 27B ng 1: S lảng 1: Số lượng khách quốc tế và nội địa ố lượng khách quốc tế và nội địa ượng khách quốc tế và nội địang khách qu c t v n i ố lượng khách quốc tế và nội địa ế và nội địa à nội địa ội địa địaa
Năm Chỉ tiêu ĐV 2000 2001 2001/2000
(%)
2002 2002/2001
(%) Tổng số khách Lượt khách 101.285 105.241 3,91 130.000 23,5 Khách nội địa - 95.188 97.830 2,8 115.000 17,6 Khách quốc tế - 6.097 7.411 21,55 15.000 102,4 Trong đó:
2001 là 24.759 lượt khách hay 23,5% trong đó khách nội địa tăng 17.170 lượtkhách hay 17,6%, khách quốc tế năm 2002 tăng so với năm 2001 là 7589 lượtkhách hay 102,4% Ở thị trường khách quốc tế thì có lượng khách TrungQuốc chiếm đa số và tăng nhiều nhất Còn số lượng khách Đài Loan và cácnước khác giảm có thể do nguyên nhân của cuộc động đất của Đài Loan vàcũng có ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính thị trường khách quốc tếnăm 2002 vẫn chủ yếu là khách Trung Quốc chiếm tỷ trọng 86% và chủ yếu
là khách đi du lịch bằng CMT Ngày khách tăng năm 2001 là 220.346 N/Ktrong đó ngày khách quốc tế là 15.102 N/K Năm 2002 là 260.000 N/K trong
đó ngày khách quốc tế là 20.000, song thời gian lưu trú bình quân của kháchquốc tế năm 2002 chỉ đạt 1,3 ngày/khách () trong khi năm 2001 thời gian lưutrú bình quân của khách quốc tế đạt 1,78 ngày/khách, năm 2000 là 1,08 ngày/khách
+ Về cơ cấu chi tiêu của khách Khách đến công ty chủ yếu là dùng dịch
vụ lưu trú (giá lưu trú gồm cả ăn sáng)
+ Về nguồn khách: Hiện nay khách đến công ty chủ yếu là tự đến cònnguồn khách thông qua các hãng lữ hành thì không nhiều Công ty nên quantâm đến vấn đề này để có thể khai thác tốt hơn khách của các hãng lữ hành
* Cơ cấu bộ máy tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận
Trang 28- Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận.
Khách sạn quản lý theo chế độ một thủ trưởng và mang tính chất tậptrung Ban giám đốc trực tiếp điều hành công việc khiến cho thông tin phảnhồi nhanh như tổ đội, bộ phận, từ đó giúp giám đốc đưa ra các quyết định vàgiải quyết công việc được nhanh chóng
+ Giám đốc công ty: Là người đứng đầu công ty, chịu trách nhiệmchung, thực hiện công tác đối nội và đối ngoại hoạt động kinh doanh của công
ty Công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, kế hoạch hoá, tài chính, dulịch, thương mại, tin học, phụ trách các phòng, trung tâm của công ty
+ Phó giám đốc công ty (2 người)
Giúp giám đốc và chịu trách nhiệm về công tác thi đua, khen thưởng, kỷluật Công tác đầu tư xây dựng cơ bản, công tác đảm bảo an toàn Theo dõimua sắm thay đổi trang thiết bị, tổ chức kiểm tra thực hiện các nội quy, quychế dân chủ lao động, thi đua khen thưởng, nâng bậc phụ trách các đơn vị tusửa, giặt là, bảo vệ nhà hàng, các kiốt cho thuê (các dịch vụ bên ngoài côngty)
Giúp giám đốc và chịu trách nhiệm về công tác hợp tác đầu tư liêndoanh, liên kết, tiêu chuẩn định mức sản phẩm, vật tư, nguyên liệu, công tácbảo hộ, bảo hiểm, vệ sinh, vui chơi giải trí, đào tạo và việc cổ phần hoá Giảiquyết sở hữu nhà ở cho cán bộ công nhân viên do công ty đang quản lý và sởhữu nhà đất của công ty do người nước ngoài thuê nhà ở, văn phòng làm việc.+ Phòng tổ chức hành chính
Làm công tác lao động tiền lương, quản lý hành chính 4 xe ô tô Làmcông tác quản lý cán bộ công nhân viên, hồ sơ Đánh giá khen thưởng, kỷluật cán bộ, thực hiện chế độ độ chính sách, tuyển dụng lao động theo yêu cầucủa các phòng ban, các bộ phận trong công ty
+ Phòng kế hoạch:
Tham mưu cho ban giám đốc công ty về xây dựng kế hoạch kinh doanhhàng năm, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, cơ cấu doanh số, định mức chi phí,định mức và điều chỉnh giá một cách linh hoạt thực hiện kiến thiết xây dựng
cơ bản của công ty
Trang 29+ Phòng kế toán:
Theo dõi, ghi chép chi tiêu của công ty theo đúng hệ thống tài khoản vàchế độ kế toán hiện hành của Nhà nước, quản lý thống nhất vốn bảo quản sửdụng và phát triển nguồn vốn đó Hàng năm tính khấu hao xem xét lợi nhuận
để đưa vào các quỹ của công ty
+ Phòng thị trường Du lịch:
Tham mưu cho ban giám đốc công ty về công tác thị trường du lịchchính sách khuyến khích kinh doanh và các biện pháp thu hút khách, tổ chứccác tour cho khách, ký kết các hợp đồng, đưa đón, hướng dẫn khách thamquan các tuyến, điểm du lịch
Nghiên cứu, đề xuất với ban giám đốc về chiến lược, sách lược kinhdoanh của công ty trong mỗi giai đoạn
Thực hiện việc tìm hiểu thị trường, tuyên truyền quảng bá và giới thiệusản phẩm của công ty với các đại lý lữ hành trong và ngoài nước nhằm thuhút khách, tối đa hoá lợi nhuận và bán các sản phẩm dịch vụ khác của côngty
Nghiên cứu thị hiếu khách hàng, mở rộng mối quan hệ bạn hàng trênphương châm đa dạng hoá bạn hàng
Thực hiện hợp đồng liên kết với các công ty du lịch hoặc khách sạntrong cả nước để khai thác các tour nội địa giữa 3 miền Bắc, Trung, Nam trênquan hệ hai chiều (gửi khách và nhận khách)
Giới thiệu với các công ty hiện đang hợp tác với mình để khai thác mảng
du lịch và các dịch vụ phục vụ khách du lịch theo các đối tượng như tour góikhép kín từng phần
Tổ chức kinh doanh lữ hành nội địa, các chương trình du lịch dài ngày.Liên kết phù hợp với các đơn vị cho thuê xe ôtô, đăng ký visa và lưu trú
để đảm bảo phục vụ tối đa các nhu cầu của khách
Liên kết với các đại lý bán vé máy bay
Thực hiện cùng một lúc hai công tác
Trang 30Đối nội: tìm hiểu tâm lý khách hàng.
Đối ngoại: Tìm hiểu thị trường du lịch, nắm bắt thông tin khách du lịchquốc tế vào Việt Nam, giá cả, số lượng khách theo từng thời điểm
+ Trung tâm công nghệ thông tin: Quản lý bảo dưỡng, sửă chữa vàhướng dẫn sử dụng các trang thiết bị điện tử trong khách sạn
+ Phòng kinh doanh: Tham mưu cho ban giám đốc về hoạt động kinhdoanh giúp ban giám đốc chỉ đạo kinh doanh và đề ra các phương hướng biệnpháp khắc phục nhược điểm
+ Đội bảo vệ: Bảo đảm trật tự, an ninh trong công ty, trông giữ xe chokhách và cán bộ công nhân viên công ty
+ Đội tu sửa: Sữa chữa tất cả cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn + Tổ
lễ tân: Khi khách đến khách sạn, hoặc gọi điện đến khách sạn đặt chỗ trước,thì người đầu tiên mà họ tiếp tục là những nhân viên lễ tân, do đó họ có ảnhhưởng rất lớn đến sự cảm nhận đầu tiên của khách (ấn tượng ban đầu) Trongcông việc thì họ đóng vai trò rất quan trọng, làm đại diện cho khách trongviệc mở rộng các mối liên doanh, liên kết, là cầu nối giữa khách du lịch vớicác bộ phận khác trong khách sạn, thay mặt cho khách sạn đáp ứng mọi nhucầu của khách, họ là trung tâm phối hợp các hoạt động của các bộ phận khácnhau, giúp cho các bộ phận hoạt động một cách đều đặn và có kế hoạch
+ Tổ phục vụ ăn uống (bàn, bar, bếp): Có chức năng thoả mãn tối đa nhucầu ăn uống của khách trong phạm vi có thể, do đó họ có trách nhiệm cụ thểsau: phải xây dựng thực đơn thật phong phú, tổ chức tốt các khâu mua hàng,nhập, lưu kho cất trữ, để tránh trường hợp thiếu nguyên vật liệu trong quátrình chế biến món ăn hoặc nguyên vật liệu thừa dẫn đến hỏng như vậy gâynên lãng phí Đặc biệt phải quan tâm đến khâu chế biến thức ăn và tổ chứcphục vụ khách vì qua đó nó quyết định đến chất lượng của sản phẩm ăn uống
và giữ được khách hàng
+ Tổ phục vụ các dịch vụ bổ sung: Tổ này có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầucủa khachs về Marketing, bể bơi, tennis, karaoke, cho thuê văn phòng đạidiện
Trang 311.2 Các điều kiện đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh
1.2.1 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
Với diện tích 3,6ha, trong đó diện tích đang sử dụng kinh doanh là 3,3
ha Với diện tích như vậy công ty chia làm 2 khu
Khách sạn ROYAL gồm N4, N5, N9 với tổng số 167 phòng, dùng đểphục vụ khách quốc tế và khách nội địa có khả năng thanh toán cao
Khách sạn ROYAL gồm N1, N2, N6, N10 với 206 phòng chủ yếu phục
vụ khách nội địa
- Đối với bộ phận đón tiếp: gồm lễ tân A và lễ tân B
+ Lễ tân A: thuộc N4 có tiền sảnh 50m diện tích quầy là 13m2 và cáctrang thiết bị cũng như lễ tân B Nhưng do khu lễ tân A chủ yếu đón kháchquốc tế nên có khác Quầy lễ tân được ốp bằng gỗ, mặt quầy bằng đá Trangthiết bị gồm có: 3 máy tính nối mạng, Fax, telex trực tiếp gọi ra nước ngoài,máy photocopy, đồng hồ treo tường của một số nước trên thế giới, tivi Sonybắt được 8 kênh của nước ngoài, nền trải thảm Bên cạnh đó còn có phòngkhách, quầy lưu niệm và quán bar rộng 17m2, kê 2 dãy ghế sofa đối diện nhaucùng một số bể cá, cây cảnh
+ Lễ tân B thuộc nhà 5, có diện tích sảnh là 35m2, quầy lễ tân 8m2, quầy
có chiều dài 2,6m và rộng 0,6m được làm bằng gỗ, mặt bàn bằng foocmicamàu trắng Phía sau la một tủ cao bằng gỗ với những ô vuông nhỏ đánh số đểđựng chìa khoá phòng Trang thiết bị gồm: 2 máy vi tính nối mạng liên kếtvới các bộ phận khác, 2 máy điều hoà nhiệt độ 2 chiều, điện thoại, 1 tivi màu,một bản đồ thành phố, một máy đếm tiền và hệ thống đèn chùm, đèn treo nhỏcùng một số bàn ghế bố trí xen kẽ với chậu cây cảnh
- Đối với bộ phận buồng: gồm khách sạn ROYAL với 7 toà nhà (373phòng, 789 giường)
+ Khách sạnROYAL: các phòng được trang bị hiện đại, dạt tiêu chuẩn 3sao, ở mỗi phòng đều có điệnt hoại gọi trực tiếp ra nước ngoài, tivi màu 24 inbắt được 8 kênh, tủ lạnh mini, điều hoà nhiệt độ, hệ thống nước nóng lạnh
Trang 32+ Khách sạn ROYAL, chủ yếu phục vụ khách nội địa, giá rẻ hơn nêntrang thiết bị trong phòng chưa đầy đủ.
- Đối với bộ phận phục vụ ăn uống
Công ty có 5 cơ sở phục vụ Bộ phận bếp: Có 3 khu vực
Restaurant N9: Có diện tích 50m2, có 2 bếp ga, 1 lò nướng bánh, bàn sửasoạn thực phẩm bằng gỗ bọc nhôm dày, bồn rửa, một tủ lạnh
Phòng bếp: Có diện tích 50m2, có 4 bếp ga to, 2 bếp ga nhỏ, 6 bếp ăn á,
6 bếp Âu, lò làm nóng thức ăn, lò rán, lò hấp hơi, 1 tủ lạnh, 2 máy hút gió, 4bồn rửa, tủ làm mát, 1 lò nướng bánh, hệ thống hút hơi nóng, tường bếp látgạch men trắng, nhà kho đựng đồ khô và gia vị
Nhà kính: Có 2 bếp thanh, 1 bếp ga, 2 tủ đông lạnh, 2 bàn đựng nguyênvật liệu chế biến, gạt gió, bồn rửa
- Đối với bộ phận phục vụ dịch vụ bổ xung:
Dịch vụ thể thao: 2 bàn bóng bàn, 1 sân tennis, 1 bể bơi
Cửa hàng kiốt bán tạp phẩm, đồ lưu niệm
Phòng massage, tắm hơi với trang thiết bị hiện đại
Dịch vụ giặt là có khu vực riêng với diện tích 70m2
Phòng karaoke, vũ trường
Đội xe: 2 Toyota
1.2.2 Điều kiện về lao động
Bảng 2 Tình hình nhân lực của công ty năm 2002
Trang 337 Là cán bộ quản lý, gián tiếp - 65
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công ty nói chung là nhiều tuổi nên
họ đều là những người có kinh nghiệm lâu năm và được đào tạo nghiệp vụ tạicác lớp du lịch từ 3-8 tháng nên trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộcông nhân viên trong khách sạn nói chung là tương đối cao
Trình độ tay nghề của nhân viên được chia theo từng nghiệp vụ:
Nhân viên buồng: bậc 5/5 chiếm tỷ lệ 70%
Nhân viên bàn, bar, bếp bậc 7/7 chiếm tỷ lệ 75%
Nói chung trình độ học vấn của nhân viên ở đây chưa cao song nhânviên ở đây đều có kinh nghiệm đúc kết từ nhiều năm làm việc phục vụ cácđoàn khách quan trọng và phục vụ khách quốc tế (các chuyên gia) Hơn nữatrong quá trình làm việc họ luôn học hỏi thêm những người được đào tạo quatrường học và tham gia vào các lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn
Trình độ ngoại ngữ vi tính: Trong ngành du lịch thì trình độ ngoại ngữcủa công nhân viên đặc biệt quan trọng Đó là điều kiện cần vì họ phải tiếpxúc nhiều với khách du lịch quốc tế trong giao tiếp Họ phải có trình độ ngoạingữ để đáp ứng yêu cầu trên và cần phải hiểu được phong tục tập quán cũngnhư tâm lý ngôn ngữ mình nói
1.2.3 Điều kiện về vốn:
Tổng số vốn của công ty đến năm 2002 là 14 tỷ 102 triệu đồng ViệtNam, trong đó vốn lưu động chiếm 30% tổng số vốn 4.782.000.000 VND,vốn cố định chiếm 70%: 9.320.000.000 VND Trong đó vốn ngân sách là9.110.000.000 VND và vốn tự bổ sung là 4.992.000.000 VND
1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty được thể hiện qua các chỉ tiêunhư là doanh thu, lợi nhuận, số lượt khách, số ngày khách, công suất sử dụng
Trang 34buồng phòng Qua việc so sánh kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm,chúng ta chúng ta rút ra những hạn chế, những mặt được của công tác tổ chứckinh doanh, từ đó có những biện pháp khắc phục nhằm tăng hiệu quả sản xuấtkinh doanh, đáp ứng mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, đồng thời có thể thoảmãn mức cao nhất nhu cầu của khách hàng Cụ thể ta xét các chỉ tiêu sau:
B ng 3 Tình hình khách c a khách s n (t n m 2000 ảng 1: Số lượng khách quốc tế và nội địa ủa khách sạn (từ năm 2000 đến 2002) ạn (từ năm 2000 đến 2002) ừ năm 2000 đến 2002) ăm 2000 đến 2002) đế và nội địan 2002)
Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2001/2000(%) 2002 2002/2001 (%)
1 Tổng số khách Lượt khách 101.285 105.179 +3,8 130.000 + 23,6 Khách quốc tế - 6.097 8.469 +38,9 15.000 + 77,1 Khách nội địa - 95.188 98.710 +3,7 115.000 + 16,5
2 Tổng số ngày
khách
Ngày khách 204.368 220.346 +7,8 260.000 + 17,99
Khách quốc tế - 10.686 15.102 +41,3 20.000 + 32,4 Khách nội địa - 193.682 205 244 +5,97 240.000 + 16,93
3 Thời gian lưu
Tổng số ngày khách cũng tăng theo, cụ thể: năm 2001 tăng 15.978 ngàykhách hay 7,8% so với năm 2000, trong đó khách quốc tế tăng 4416 ngày
Trang 35khách (41,3%) và khách nội địa tăng 11562 ngày khách (5,97%) Năm 2002tăng so với năm 2001 về số tuyệt đối là 39.654 ngày khách hay (17,99%)trong đó khách quốc tế tăng 4898 ngày khách (32,4%), và khách nội địa tăng34.756 ngày khách (16,93%).
Như vậy trong năm 2002 lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng
x 100%= 12% Song thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế chỉđạt = 1,3 ngày/khách mà ngày khách vẫn tăng
Năm 2001 lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng: x 100% = 7,9%
Thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế đạt = 2 ngày/khách
Như vậy muốn tăng thời gian lưu trú bình quân của khách thì khách sạncần có thêm các dịch vụ bổ sung khác như vũ trường, tennis, Casino … đểkéo dài thời gian lưu trú của khách, mặt khác khách sạn không ngừng cảithiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, phân lượng đội ngũ nhân viên phục vụ tronggiao tiếp đặc biệt là nhân viên ở những bộ phận trực tiếp cần trau dồi ngoạingữ Anh - Trung để có thể giao tiếp được với khách nước ngoài đặc biệt làkhách Trung Quốc Kéo dài thời gian lưu trú của khách là mục tiêu lâu dài màkhách sạn cần phải làm để tăng doanh thu cho khách sạn
* Về cơ cấu doanh thu của từng loại dịch vụ trong công ty
B ng 4 C c u doanh thu c a t ng lo i d ch v trong khách s nảng 1: Số lượng khách quốc tế và nội địa ơ cấu doanh thu của từng loại dịch vụ trong khách sạn ấu doanh thu của từng loại dịch vụ trong khách sạn ủa khách sạn (từ năm 2000 đến 2002) ừ năm 2000 đến 2002) ạn (từ năm 2000 đến 2002) ịa ụ trong khách sạn ạn (từ năm 2000 đến 2002)
Stt Chỉ tiêu Đơn vị 2000 Tỷ trọng 2001 Tỷ trọng 2002 Tỷ tọng
1 Tổng doanh
thu
Triệu đồng
26.821, 8
14.251,45 4
Nguồn: Báo cáo công tác kinh doanh năm 2001, 2002
Trong bảng trên ta thấy; doanh thu được tăng ở hầu hết các dịch vụ,trong đó dịch vụ lưu trú vẫn chiếm ưu thế Đặc biệt tăng cao ở dịch vụ ănuống do nhà ăn hội trường 2 được đưa vào sử dụng (chiếm 40%) tổng doanhthu với 14504 Triệu đồng (năm 2002) Tỷ trọng dịch vụ giữa các năm tuy
Trang 36không tăng giảm đồng đều nhưng điều đó vẫn nói lên mức chi tiêu của kháchđến khách sạn ngày càng tăng vì họ không chỉ tiêu dùng dịch vụ chính là lưutrú mà còn tiêu dùng các dịch vụ khác.
Năm 2002 tổng doanh thu ước 36 tỷ tăng 14% so với năm trước Doanhthu dịch vụ cho thuê văn phòng giảm nhiều do không có khách thuê và đầu tưcải tạo sửa chữa So với năm trước chỉ đạt 20% Doanh thu khác tăng cao docông ty mở dịch vụ thương mại và ứng dụng đầu tư công nghệ thông tin Haidịch vụ này ước thực hiện 2 tỷ và chiếm 40% doanh số của doanh thu khác.Đây là cố gắng lớn của công ty trong việc đầu tư mở rộng ngành nghề kinhdoanh tạo nguồn thu, tạo việc làm và tăng nộp ngân sách nhà nước
* Chỉ tiêu về vốn kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
B ng 5 Ch tiêu v v n v k t qu ho t ảng 1: Số lượng khách quốc tế và nội địa ỉ tiêu về vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ề vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ố lượng khách quốc tế và nội địa à nội địa ế và nội địa ảng 1: Số lượng khách quốc tế và nội địa ạn (từ năm 2000 đến 2002) đội địang kinh doanh c a công tyủa khách sạn (từ năm 2000 đến 2002)
t 2000 ừ năm 2000 đến 2002) đế và nội địan 2002
Stt Các chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2002
So sánh 2002/2000 Tăng
Trang 37đây là điều mà công ty quan tâm để có biện pháp xử lý, điều chỉnh cho thíchhợp.
Năng suất lao động bình quân của công ty năm 2002 tăng lên so với năm
2000 với định mức lao động bình quân cũng tăng theo nhưng cả 2 đều tăngkhông đều, chứng tỏ công ty chưa sử dụng lao động có hiệu quả Hơn nữamức tăng năng suất lao động năm 2002 so với 2000 là 12,36% lại tăng ít hơn
so với mức tăng thu nhập bình quân là 44,44%, đây là một điều chưa hợp lý
và nó cũng là một nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh
2 Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty khách sạn du lịch ROYAL.
2.1 Tình hình sử dụng lao động:
Đội ngũ lao động trong một khách sạn giữ một vai trò hết sức quan trọngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhân tố quyết định đến hiệu quả laođộng cũng như hiệu quả kinh doanh của khách sạn Nhân viên khách sạnchính là bộ mặt của khách sạn góp phần quan trọng tạo ra doanh thu, lợinhuận cho khách sạn Một khách sạn có thể tồn tại và phát triển được haykhông phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả lao động của từng bộ phận nhân viêntrong khách sạn
Ta xét tính toán sử dụng lao động của khách sạn qua các chỉ tiêu sau:Chỉ tiêu về số lượng lao động, về chất lượng lao động, việc phân công sắpxếp lao động tại các bộ phận và hình thức trả lương lao động tại khách sạn.2.1.1 Chỉ tiêu về số lượng lao động
Tổng số lao động hiện nay của công ty là 448 người với số buồng hiện
có là 372 phòng Như vậy tỷ lệ lao động bình quân trên 1 phòng là: