1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN BỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT KẾT HỢP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG THÁI BÌNH

7 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 289,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN BỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT KẾT HỢP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG THÁI BÌNH Thái Thị Thái Nguyên * Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Ngu

Trang 1

LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN BỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT KẾT HỢP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG THÁI BÌNH

Thái Thị Thái Nguyên *

Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Hiện nay, trong công tác kế toán tài chính cũng như kế toán quản trị, vấn đề luôn được quan tâm trong kế toán chi phí đó là việc xác định đối tượng tập hợp chi phí cũng như phương pháp tập hợp chi phí là một trong những vấn đề trọng tâm của kế toán chi phí Vì vậy, với những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì việc doanh nghiệp lựa chọn phương pháp phân bổ chi phí là cần thiết Dựa trên kết quả nghiên cứu việc lựa chọn và sử dụng phương pháp phân bổ chi phí sản xuất kết hợp tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình, bài báo sẽ trang bị cho các nhà quản

lý đưa ra được các chiến lược kinh doanh, cải thiện cấu trúc chi phí với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất nói chung

Từ khóa: Phân bổ, chi phí chung, sản phẩm

Để tiến hành quá trình sản xuất và tạo ra sản

phẩm doanh nghiệp cần phải tập hợp chi phí

cho các khoản mục đối với từng sản phẩm

Tuy nhiên, có những khoản mục chi phí có

thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu

chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,

chi phí nhân công trực tiếp nhưng cũng có

những khoản mục chi phí không thể tập hợp

riêng được mà phải tập hợp chung sau đó kế

toán sẽ phân bổ cho từng đối tượng chịu chi

phí như chi phí sản xuất chung và đó cũng là

chi phí chung phát sinh trong quá trình sản

xuất hoặc là cả những khoản mục chi phí như

chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cũng

được tập hợp chung cho tất cả các sản phẩm

sau khi tập hợp mới phân bổ cho các sản

phẩm theo tiêu thức phù hợp Ngoài ra, chi

phí chung còn phát sinh trong nhiều lĩnh vực

khác như: Chi phí mua của hàng hóa nhập

kho, chi phí vận chuyển của hàng hóa tiêu

thụ Do vậy, tại sao phải phân bổ chi phí

chung? Điều này có thể được lý giải như sau:

Việc phân bổ chi phí chung có thể được phân

bổ với nhiều lý do, nhưng lý do chính mà các

doanh nghiệp sản xuất tiến hành phân bổ chi

phí chung đó là để tính giá trị hàng tồn kho và

tính giá vốn hàng bán, tính giá thành sản phẩm và ngoài ra còn nhiều lý khác nữa Việc phân bổ chi phí kết hợp cũng được xem là hữu ích trong việc định giá và các phương pháp phân bổ chi phí có thể được sử dụng như: Phương pháp giá trị thực tế thuần, ước lượng giá trị thực tế thuần khi có quá trình chế biến thêm, phương pháp số lượng, phân phổ chi phí theo phương pháp hệ số, phân bổ chi phí theo phương pháp tỷ lệ

Qua nghiên cứu thực trạng công tác phân bổ chi phí chung ở Công ty cổ phần xi măng Thái Bình, tác giả có đề xuất công ty có thể lựa chọn thêm một số phương pháp phân bổ chi phí khác có thể cung cấp các thông tin về chi phí chung phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí chính xác hơn Điều này thực sự hữu ích đối với những doanh nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau hoặc sản xuất

ra nhiều sản phẩm với quy cách, phẩm cấp khác nhau đồng thời có xây dựng hệ thống giá thành định mức cho từng sản phẩm hoặc hệ số quy đổi sản phẩm chuẩn Từ đó, nhà quản lý

có thể căn cứ vào các thông tin về chi phí, có các chính sách hoặc biện pháp tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp

Nghiên cứu tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình Quý III/2013 đã sử dụng các phương pháp phân bổ chi phí, mỗi phương pháp phân

Trang 2

bổ chi phí chung có thể đưa đến những kết

quả khác nhau Vì vậy, trong phạm vi bài viết

tác giả muốn đề cập đến việc lựa chọn và sử

dụng phương pháp phân bổ chi phí sản xuất

chung tại công ty cổ phần xi măng Thái Bình

TRAO ĐỔI VÀ THẢO LUẬN

Hiện nay, tại Công ty cổ phần xi măng Thái

Bình có thể lựa chọn một trong các phương

pháp phân bổ chi phí kết hợp, mỗi phương pháp

sẽ mang lại những kết quả khác nhau khi xác

định chi phí chung phân bổ cho đối tượng chịu

chi phí, cụ thể việc áp dụng một trong các

phương pháp sẽ được thực hiện như sau:

Thứ nhất: Phương pháp giá trị thực tế thuần

Việc sử dụng phương pháp giá trị thực tế

thuần (được hiểu như phương pháp phân bổ

theo doanh thu), chi phí chung sẽ được phân

bổ theo giá trị thực tế thuần của mỗi sản phẩm

ở điểm phân chia Giá trị thực tế thuần là

doanh thu ước lượng của mỗi sản phẩm ở

điểm phân chia hoặc có thể sử dụng giá thị

trường tại điểm phân chia để phân bổ Tuy

nhiên, nếu sản phẩm được chế biến tiếp tục

trước khi đưa ra thị trường thì khi đó cần phải

ước lượng giá trị thực tế thuần ở điểm phân

chia Có thể xem đây là phương pháp tính

ngược bằng cách lấy giá bán thị trường sau

khi chế biến thêm trừ đi chi phí chế biến

thêm Giá trị thực tế thuần ở điểm phân chia

được ước lượng bằng cách lấy doanh thu sau

quá trình chế biến thêm trừ đi chi phí chế biến

thêm Chi phí chung được phân bổ cho các sản phẩm theo tỷ lệ giá trị thực tế thuần ở điểm phân chia Có số liệu chi phí sản xuất và doanh thu tại Quý III/2013 của Công ty cổ phần xi măng Thái Bình để sản xuất xi măng trắng và xi măng xanh sử dụng nguyên vật liệu ban đầu là Clinke sau đó bỏ thêm chi phí nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất và sau điểm phân chia tại công ty không có quá trình chế biến tiếp tục

Việc phân bổ chi phí chung theo giá trị thực

tế thuần như sau:

+ Xi măng xanh: 95.971.815/(95.971.815 +

86.306.442đ + Phân bổ cho sản phẩm xi măng trắng:

15.129.771.720đ Căn cứ theo số liệu tính toán và dữ liệu của Bảng 1 ta có thể xác định được lợi nhuận gộp trên doanh thu như Bảng 2

Kết quả tính toán tại Bảng 2 cho thấy tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu của cả hai sản phẩm đều là 10,07% Điều này đã chứng minh một vấn đề quan trọng đó là: Tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu đều giống nhau cho tất cả các sản phẩm kết hợp có nghĩa là có sự tương xứng giữa chi phí đầu vào và doanh thu tạo ra của mỗi sản phẩm Đồng thời dòng chi phí chung được phân bổ qua tài khoản chữ T cho mỗi sản phẩm theo sơ đồ 1

Bảng 1: Tổng hợp doanh thu, chi phí chung của sản phẩm xi măng

(ĐV: VNĐ)

(Nguồn: Báo cáo phân tích chi phí sản xuất Quý III/2013 và tính toán của tác giả)

Trang 3

Bảng 2: Lợi nhuận gộp trên doanh thu Quý III/2013

( ĐV: VNĐ)

Trừ: CP chung được phân bổ 86.306.442 15.129.771.720 15.216.078.162

Tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu 10,07% 10,07% 10,07%

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp doanh thu theo sản phẩm Quý III/2013 và tính toán của tác giả)

11.810.865.924

86.306.442

B/s: 2.175.098.287

15.216.078.162

TK155_XM Xanh

TK621

TK622, 627

( ĐV: Đồng)

Sơ đồ 1: Phân bổ chi phí sản xuất qua sơ đồ chữ T

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp doanh thu theo sản phẩm Quý III/2013 và tính toán của tác giả)

Bảng 3: Phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm theo phương pháp số lượng Quý 3/2013

Phân bổ chi phí chung:

( Nguồn: Báo cáo chi phí sản xuất chung theo yếu tố Quý III/2013 và tính toán của tác giả)

Tuy nhiên, trong Quý III/2013 giá bán của

sản phẩm xi măng trắng và xi măng xanh là

khác nhau Trong đó, giá bán của xi măng

trắng là: 1.990.000đ/tấn còn giá bán của xi

măng xanh là: 680.000đ/tấn Điều này cho

thấy việc phân bổ chi phí chung theo tiêu thức

hiện vật là số lượng sản phẩm nhập kho (tấn)

là sẽ chia đều chi phí kết hợp cho hai sản

phẩm xi măng trắng và xi măng xanh Kết quả

của việc phân chia này sẽ phân bổ chi phí

chung cho 1 tấn xi măng trắng và 1 tấn xi

măng xanh là bằng nhau thông qua việc phân

bổ này dẫn tới việc xác định giá bán cho các sản phẩm là không chính xác Ngoài ra, do không xác định chính xác chi phí của từng loại sản phẩm xi măng nên khi xác định kết quả kinh cho từng mặt hàng sẽ không chính xác Do vậy, nếu tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình sử dụng phương pháp này để phân

bổ chi phí chung là không phù hợp với công

ty do giá bán của hai sản phẩm trên thị trường

Trang 4

này thường đơn giản, dễ áp dụng nhưng nếu

doanh nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản phẩm

thì không nên sử dụng phương pháp này vì độ

chính xác không cao

Thứ ba: Phương pháp ước lượng giá trị

thực tế thuần khi có quá trình chế biến thêm

Trong thực tế, không phải tất cả các sản phẩm

đều được bán ở điểm phân chia, một số sản

phẩm phải chế biến thêm trước khi đưa ra thị

trường Nếu ở điểm phân chia không có

doanh thu người ta phải ước lượng giá trị thực

tế thuần bằng cách lấy doanh thu ở điểm bán

ra sau khi chế biến thêm trừ đi chi phí chế

biến thêm Giá trị thực tế thuần được sử dụng

để phân bổ cũng giống như giá trị thị trường

thực tế tại điểm phân chia

Thông qua số liệu thu thập và số liệu tính toán

về dòng chi phí – quá trình chế biến thêm của

sản phẩm xi măng tại công ty cổ phần xi

măng Thái Bình sẽ được thể hiện qua sơ đồ 2

Qua nghiên cứu cho thấy trong Quý III/2013

tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình đối

với sản phẩm xi măng trắng cần bổ sung chi

phí chế biến thêm là: 2.175.098.287 đ, do bỏ

ra chi phí chế biến thêm nên giá bán của xi

măng trắng tăng lên và doanh thu của xi măng

trắng tăng lên là: 17.665.346.932 đ và của xi

măng xanh là: 95.971.815đ, khi đó việc phân

bổ chi phí chung cho hai sản phẩm được thể hiện ở Bảng 4

Kết quả tính toán tại Bảng 4 cho thấy tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu của cả hai sản phẩm đều là 23,74% Điều này cũng giống như phương pháp thứ nhất đã chứng minh một vấn

đề quan trọng đó là: Tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu đều giống nhau cho tất cả các sản phẩm kết hợp có nghĩa là có sự tương xứng giữa chi phí đầu vào và doanh thu tạo ra của mỗi sản phẩm mặc dù có sản phẩm phải bỏ thêm chi phí chế biến nhưng đồng thời doanh thu bán ra cũng tăng cho nên tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu là giống nhau giữa các sản phẩm NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

Về ưu điểm:

Với các phương pháp phân bổ chi phí chung được công ty lựa chọn và sử dụng là tương đối phù hợp, đơn giản dễ tính, dễ thực hiện

Về bản chất các phương pháp phân bổ chi phí chung nói trên như phương pháp giá trị thực

tế thuần hoặc giá trị thực tế thuần có quá trình chế biến thêm cuối cùng cho kết quả là tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu đều giống nhau cho tất cả các sản phẩm kết hợp có nghĩa là có

sự tương xứng giữa chi phí đầu vào và doanh thu tạo ra của mỗi sản phẩm

15.490.248.645

2.175.098.287 - Chi phí chế biến thêm

95.971.815

Giá thị trường của Xi măng xanh ở điểm phân chia

Xi măng xanh có giá thị trường:

95.971.815

Điểm phân chia

15.216.078.162 - Chi phí kết hợp

trước điểm phân chia

Giá trị thực tế thuần của Xi măng trắng tại điểm phân chia ( 15.665.346.932 - 2.175.098.287)

Xi măng trắng có giá thị trường:

17.665.346.932

( ĐV: Đồng)

Sơ đồ 2: Dòng chi phí – quá trình chế biến thêm sau điểm phân chia

(Nguồn: Báo cáo phân tích chi phí sản xuất Quý III/2013 và tính toán của tác giả)

Trang 5

Bảng 4: Phân bổ chi phí theo phương pháp giá trị thực tế thuần khi có quá trình chế biến thêm

( ĐV: Đồng)

xanh

Xi măng trắng Tổng cộng

(2).- Chi phí tăng thêm từ điểm phân chia đến điểm

bán ra

2.175.098.287 2.175.098.287

(3).- Giá trị thực tế thuần ước lượng tại điểm phân

chia [ (1) – (2)]

95.971.815 15.490.248.645 15.586.220.460

(4).-Phân bổ chi phí kết hợp

4a._(95.971.815/15.586.220.460x15.216.078.162) 93.692.672 93.692.672 4b._(15.490.248.645/15.586.220.460x15.216.078.162) 15.122.385.490 15.122.385.490 (5).- Cộng chi phí kết hợp [(4a) + (4b)] 93.692.672 15.122.385.490 15.216.078.162 (6) - Lợi nhuận gộp [(3) – (5)] 2.279.143 367.863.155 370.142.298 (7).- Tỷ lệ lợi nhuận gộp [ (6)/(3)] (%) 23,74 23,74 23,74

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp doanh thu theo sản phẩm, báo cáo chi phí sản xuất chung theo yếu tố Quý

III/2013 và tính toán của tác giả)

Về nhược điểm:

Bên cạnh những ưu điểm thì việc áp dụng

phương pháp phân bổ chi phí kết hợp của

công ty hiện nay cũng không tránh khỏi

những bất cập như sau:

- Dữ liệu thu thập liên quan đến chi phí chung

tổng hợp chi phí cho tất cả các khoản mục

Do vậy, việc thu thập dữ liệu thường xuyên

và được kiểm tra định kỳ với dữ liệu lớn

trước khi phân bổ việc tập hợp chi phí không

chính xác dẫn tới kết quả không chính xác

- Hơn nữa, chi phí tập hợp chưa có sự tách

biệt giữa định phí và biến phí tổng hợp và

phân bổ theo doanh thu bán ra Ngoài ra, nếu

trong kỳ sản phẩm xuất bán nhiều nhưng sản

xuất ít, lượng tồn kho của kỳ trước chuyển

sang nhiều thì việc lựa chọn và sử dụng

phương pháp phân bổ hiện tại của công ty sẽ

có nhiều bất cập

- Chưa phù hợp với những doanh nghiệp có quy

trình công nghệ phức tạp, sản xuất nhiều loại

sản phẩm giống nhau có quy cách, phẩm cấp

khác nhau hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

- Trong trường hợp doanh nghiệp có xây

dựng hệ thống định mức chi phí cho từng

khoản mục đối với từng sản phẩm hoặc có hệ

số của sản phẩm chuẩn thì để chính xác hơn

trong công tác phân bổ chi phí kết hợp có thể sử dụng phương pháp phân bổ chi phí theo phương pháp hệ số hoặc theo phương pháp tỷ lệ

Từ những phân tích nói trên những ưu điểm

và nhược điểm hiện nay trong công tác lựa chọn phương pháp phân bổ chi phí kết hợp Tác giả đưa ra kiến nghị về việc bổ sung các phương pháp phân bổ chi phí sản xuất kết hợp tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất nói chung

là phương pháp hệ số và phương pháp tỷ lệ:

Thứ nhất phương pháp hệ số:

Điều kiện áp dụng:

+ Quy trình công nghệ sản xuất đơn giản hoặc phức tạp, trên quy trình công nghệ tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau

+ Đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình công nghệ

+ Đối tượng tính và phân bổ chi phí là từng loại sản phẩm khác nhau

+ Đơn vị có xây dựng hệ số quy đổi của các sản phẩm về sản phẩm chuẩn

Nội dung phương pháp:

Bước 1: Quy đổi các sản phẩm thành sản

phẩm chuẩn thông qua hệ số quy đổi của từng sản phẩm

Trang 6

Tổng

sản

lượng

quy đổi

= Σ (Số lượng

từng loại sản phẩm

x Hệ số quy đổi từng) sản phẩm

Bước 2: Tính chi phí cho một sản phẩm chuẩn

Chi phí đơn vị sản phẩm chuẩn = Tổng chi

phí sản xuất/Tổng số lượng sp chuẩn

Bước 3: Tổng chi phí phân bổ cho từng loại

sản phẩm

Chi phí đơn vị cho từng sản phẩm = Chi phí

đơn vị sp chuẩn X hệ số quy đổi

Thứ hai: Phương pháp tỷ lệ

Điều kiện áp dụng:

+ Quy trình công nghệ giản đơn hoặc phức

tạp, trên cùng một quy trình công nghệ tạo ra

nhóm sản phẩm trong đó mỗi sản phẩm trong

nhóm có quy cách, phẩm cấp khác nhau

+ Đối tượng kế toán tập hợp chi phí là toàn bộ

quy trình công nghệ

+ Đối tượng tính và phân bổ chi phí là từng

sản phẩm trong nhóm

+ Đơn vị có xây dựng hệ thống định mức chi

phí tiên tiến

Nội dung phương pháp

+ Bước 1: Xác định tổng chi phí định mức

của cả nhóm sản phẩm

Tổng chi

phí định

mức nhóm

sản phẩm

= Σ Số lượng từng loại sản phẩm

x Định mức chi phí của từng loại sp

+ Bước 3: Xác định chi phí thực tế của từng

sản phẩm trong nhóm

Chi phí thực tế

của sản phẩm i = Chi phí thực tế của nhóm

sản phẩm

x Tỷ lệ chi phí sản phẩm i

KẾT LUẬN

Do tính chất của quá trình sản xuất kết hợp, không thể tách chi phí chung cho từng sản phẩm bằng bất cứ căn cứ tính trực tiếp nào

Do đó, nếu chi phí chung được phân bổ để sử dụng cho mục đích ra quyết định thì khi doanh nghiệp lựa chọn sử dụng phải thấy được các giới hạn của nó Việc doanh nghiệp lựa chọn phương pháp nào để phân bổ chi phí kết hợp phải phản ánh hợp lý lợi ích kinh tế nhận được từ các sản phẩm kết hợp thì phương pháp đó mới được chấp nhận cho mục đích của công tác lập báo cáo tài chính hoặc cho những quy định hoặc hợp đồng dựa trên cơ sở chi phí Thông qua bài viết này, tác giả không chỉ muốn đề cập đến những phương pháp phân bổ chi phí kết hợp mà hiện tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình áp dụng mà thực chất đó cũng là vấn đề quan tâm trong công tác phân bổ chi phí kết hợp không chỉ của công ty cổ phần xi măng Thái Bình nói riêng cũng như các công ty sản xuất

xi măng nói chung, rộng lớn hơn đó là của toàn bộ các doanh nghiệp đang thực hiện sản xuất sản phẩm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Công (2010), Lý thuyết và thực hành kế toán tài chính, Nxb Đại học Kinh tế quốc

dân, Hà Nội

2 PSG.TS Phạm Văn Dược, TS Huỳnh Lợi

(2009), Mô hình và cơ chế vận hành kế toán quản trị, Nxb Tài chính, Hà Nội

3 Nguyễn Khắc Hùng (2011), Kế toán chi phí,

Nxb Lao động, Hà Nội

4 Số liệu điều tra tại Công ty cổ phần xi măng Thái Bình

5 Võ Văn Nhị (2004), Hướng dẫn thực hành kế toán CPSX và tính ZSP trong doanh nghiệp, Nxb

Tài chính, HN 6.http://www.ximangthaibinh.vn/Home/default.aspx

7 http://www.ftmsglobal.edu.vn/nghe-thuat-quan-ly-chi-phi

Trang 7

SUMMARY

SELECTING AND USING THE ALLOCATED METHOD OF COMBINED

PRODUCTION COST AT THAI BINH CEMENT JOINT STOCK COMPANY

Thai Thi Thai Nguyen *

College of Economics and business Administration – TNU

Currently, the accounting and financial work as well as administration accountancy is an issue interested in cost accountancy This is determination of cost gathering subjects as well as cost gathering method Therefore, with costs related to many cost subjects, it is necessary for the Company to choose the cost allocated method It is based on results on selection and use of the allocated method of combined production cost at Thai Binh Cement Joint Stock Company, the research paper will equip for managers able to make decision in business strategies, improvement

of cost structure with purpose of profit maximization at Thai Binh Cement Joint Stock Company in particular and production companies in general

Keywords: Distribution, general expenses, products

Ngày nhận bài:15/8/2014; Ngày phản biện:30/8/2014; Ngày duyệt đăng: 15/9/2014

Phản biện khoa học: TS Vũ Thị Hậu – Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh - ĐHTN

Ngày đăng: 21/06/2018, 19:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w