1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người chăm ở phường 17, quận phú nhuận, thành phố hồ chí minh

100 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 696,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNGBảng 1: Các khu vực cư trú của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh Bảng 2: Dân số người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 2009 Bảng 3: Trình độ học vấn chia theo giới tí

Trang 1

HÀ NỘI, năm 2018

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ VĂN BỮU

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH KÉ CỦA NGƯỜI CHĂM Ở PHƯỜNG 17, QUẬN PHÚ NHUẬN,

THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ: XÃ HỘI HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG DANH

MỤC BIỂU DANH MỤC HÌNH

ẢNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16

1 Một số khái niệm cơ bản 16

2 Hướng tiếp cận các lý thuyết trong nghiên cứu 21

3 Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu 24

4 Giả thuyết nghiên cứu 27

5 Khung phân tích 27

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂN KINH TẾ-VĂN HÓA- XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHĂM 28

1 Quá trình hình thành cộng đồng người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh 28

2 Đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội, văn hóa và tôn giáo „31 3 Cộng đồng người Chăm ở Phường 17, Quận Phú Nhuận 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC 43

1 Đặc điểm về mẫu điều tra 433

2 Mức sống hiện nay so với 8 năm trước tại địa bàn nghiên cứu 466

3 Đặc điểm sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng 4847

4 Các nguồn lực và sự ảnh hưởng đến sinh kế 522

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 733

1 Kết luận 733

2 Khuyến nghị 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 843

Trang 3

- Hội CCB Hội Cựu chiến binh

- Hội LHPN Hội Liên hiệp Phụ nữ

- Hội LHTN Hội Liên hiệp Thanh niên

- NGTKVN Niên giám thống kê Việt Nam

-QĐNDVN Quận đội Nhân dân Việt Nam

- TCTKVN Tổng cục thống kê Việt Nam

- TTGTVL Trung tâm giới thiệu việc làm

- YESRCENTER Trung tâm Hướng nghiệp, Dạy nghề và Giới

thiệu việc làm Thanh niên

-BMTTQVN Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Các khu vực cư trú của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh

Bảng 2: Dân số người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 2009

Bảng 3: Trình độ học vấn chia theo giới tính

Bảng 4: Nhóm tuổi của các thành viên trong hộ chia theo giới tính

Bảng 5: Sự thay đổi mức sống của hộ hiện nay so với 8 năm trước

Bảng 6: Đánh giá mức sống hiện nay của hộ

Bảng 7: Đặc điểm sinh kế của các thành viên hộ gia đình hiện nay

Bảng 8: Trình độ học vấn và tình trạng đi học của các thành viên trong hộ gia đìnhBảng 9: Nhóm nghề thạo nhất và nhóm nghề đang làm hiện nay

Bảng 10: Tình trạng sức khoẻ, hành vi sức khoẻ và BHYT của các thành viên hiện nay

Bảng 11: Mức độ tuân thủ chế độ hành lễ tôn giáo và những ảnh hưởng của chúng đối với việc làm, học hành của các thành viên trong gia đình

Bảng 12: Những sự giúp đỡ của chính quyền trong 12 tháng qua

Bảng 13: Đánh giá về sự thay đổi một số dịch vụ công cộng và phúc lợi XH tại cộng đồng hiện nay so với 8 năm trước

Bảng 14: Loại nhà của hộ gia đình 8 năm trước và hiện nay

Bảng 15: Các tiện nghi vật chất của hộ gia đình người Chăm hiện nay

Trang 5

DANH MỤC BIỂU

Biểu 1 : Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % nam nữ của người Chăm phường 17 Biểu 2: Biểu đồ thể hiện trình độ học vấn chia theo tỉ lệ % các cấp học Biểu 3: Biểu đồ thể hiện loại nhà của hộ gia dình chia theo tỉ lệ %

Trang 6

Hình 1: Ông Châu Văn Hai - Phó Trưởng Ban Dân tộc Thành phố trao quà cho Banquản trị Tiểu Thánh đường Hồi giáo phường 17

Hình 2: Tặng quà nhân tháng chay Ramadan 2015, cho đồng bào dân tộc Chăm trênđịa bàn quận Phú Nhuận

Hình 3: Thăm, tặng quà cho đồng bào dân tộc Chăm nhân dịp Tết Bính Thân năm

Hình 7: Trao quà cho đồng bào dân tộc Chăm phường 17 nhân dịp tết cổ truyền mậutuất năm 2018 (06/02/2018)

Hình 8: Nhân kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 20/11/2017) Chiều ngày 17/11/2017, Văn phòng Hội đồng nhân và Ủy ban nhân dânquận cùng đại diện Phòng Giáo dục và Đào tạo quận đã đến thăm hỏi, chúc mừng vàtặng quà cho 06 Giáo viên người dân tộc

Trang 7

(20/11/1982-MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Chỉ thị 06/2004/CT-TTg ngày 18/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ

và Thông báo số 396/TB-VPCP ngày 09/12/ 2015 về Kết luận của đồng chí NguyễnXuân Phúc tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 06/2004/CT-TTg củaThủ Tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh và phát triển kinh tế - xã hội, bảođảm an ninh - trật tự đối với đồng bào Chăm trong tình hình mới

Trong những năm gần đây, vấn đề sinh kế là mối quan tâm của nhiều quốcgia đang phát triểu cũng như các nước phát triển Chủ đề này thu hút sự quan tâmnghiên cứu, thảo luận của giới khoa học, những cơ quan và người làm chính sách.Sinh kế hay còn gọi tập quán mưu sinh của con người, khi nó biến đổi, buộc lối sống,văn hóa của dân tộc đó cũng như các công đồng dân tộc khác biến đổi theo Vì vậy,tác giả quyết định chọn Phường 17, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh làmđịa bàn nghiên cứu

Hiện nay, Phường 17 có 136 hộ người Chăm với 796 nhân khẩu, trong đónam chiếm số đông với 419 người, nữ 377 người chiếm 7,63% dân số của phường.Người Chăm là một cộng đồng thiểu số có những tính chất đặc thù về văn hoá truyềnthống và tôn giáo Cộng đồng dân tộc Chăm ở đây theo tín ngưỡng Islam Các lễnghi tôn giáo vẫn còn chi phối rất lớn đến đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hóa xãhội trong cộng đồng dân tộc Chăm, và phần lớn các hoạt động trong đời sống củamỗi thành viên Mô hình cư trú và hoạt động sinh kế chịu ảnh hưởng đậm nét của cácyếu tố văn hoá và tôn giáo

Người Chăm là một cộng đồng thiểu số có những tính chất đặc thù về vănhoá truyền thống và tôn giáo Cộng đồng dân tộc Chăm ở đây theo tín ngưỡng Islam,lấy kinh Qur’an làm nền tảng giáo lý tối cao Lễ nghi tôn giáo vẫn còn chi phối rấtlớn đến đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hóa xã hội trong cộng đồng dân tộc Chăm,phần lớn các hoạt động trong đời sống của mỗi thành viên Mô hình cư trú và hoạtđộng sinh kế chịu ảnh hưởng đậm nét của các yếu tố văn hoá và tôn giáo trên Về

Trang 8

mặt bằng dân trí và đời sống kinh tế của cộng đồng người Chăm vẫn còn tương đốithấp so với đồng bào Kinh Số ít là tri thức làm những công việc tốt có thu nhập cao,còn đa số người Chăm sống bằng các nghề lao động phổ thông như buôn bán, dệt vảithổ cẩm, phụ hồ, chạy xe ôm, bán hàng ăn theo khẩu vị của dân tộc và rất nhiều côngviệc khác mà chủ yếu trong khu vực phi chính thức, rất ít người làm việc trong khuvực chính thức nói chung, và khu vực nhà nước nói riêng.

Là một cộng đồng khá khép kín, mối quan hệ giữa người Chăm Thànhphố Hồ Chí Minh nói chung và người Chăm ở Phường 17 Quận Phú Nhuận nóiriêng, mạng lưới xã hội này và sự trợ giúp đáng kể về vật chất của cộng đồng Islamthế giới có những ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực trong đời sống đối với người Chăm

Các chính sách của Trung ương, Tỉnh-Thành phố, Quận-Huyện, vàPhường-Xã đối với cộng đồng người Chăm từ khi đổi mới đến nay đã cải thiện đáng

kể về điều kiện cư trú, hoạt động sinh kế, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo và cácchế độ hổ trợ khác

Bên cạnh một số cải thiện về điều kiện vật chất và sinh kế ban đầu có tínhngắn hạn, mức độ cải thiện đời sống cao nhưng tính dài hạn vẫn còn là thách thứcphía trước, các chiến lược sinh kế truyền thống của người Chăm vẫn tồn tại một cáchdai dẳng, mức độ thâm nhập vào khu vực kinh tế chính thức vẫn chưa có nhiềuchuyển biến, trình độ học vấn của thế hệ trẻ người Chăm vẫn còn thấp hơn đáng kể

so với mặt bằng chung trong môi trường giáo dục khá thuận lợi như hiện nay ở mộtthành phố lớn

Một số vấn đề đặt ra là: Văn hoá truyền thống với mạng lưới cố kết chặtchẽ giữa các thành viên, các nhóm trong cộng đồng người Chăm có vai trò như thếnào trong việc định hình các chiến lược sinh kế của họ và giúp duy trì các hoạt độngsinh kế này? Giáo lý Islam và việc thực hành tôn giáo có thể tạo ra những trở lực nàotrong việc thâm nhập vào các khu vực phi truyền thống của người Chăm? Các nguồnlực cá nhân như giáo dục - đào tạo có phải là một hạn chế trong việc cải thiện sinh kế

Trang 9

của người Chăm? Các chính sách của Nhà nước có thể hỗ trợ đến đâu, trên lĩnh vực

gì, và tính hiệu quả ra sao đối với sinh kế của người Chăm? Mức độ tương tác giữacác yếu tố và vai trò của mỗi yếu tố đối với việc cải thiện sinh kế của người Chămnhư thế nào? Nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực tài chính, nguồn lựcvật chất tác động đến sinh kế như thế nào?

Ngày 25/02/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung ương đã tổ chức Hộinghị sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 06 của Thủ tướng Chính phủ Hội nghị đánh giánhững kết quả đã đạt được, những tồn tại, khuyết điểm, đồng thời đề ra nhữngphương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới Mặc dù có nhiều hoạt động tổng kết,đánh giá của chính quyền, tổ chức đoàn thể, chưa có những nghiên cứu một cách hệthống và toàn diện các vấn đề nêu trên Các nghiên cứu về người Chăm ở những bốicảnh khác nhau có thể cung cấp những gợi ý cho việc tìm hiểu những yếu tố ảnhhưởng trong vấn đề sinh kế của người Chăm một cách khoa học

Do vậy, đề tài mong muốn tìm hiểu và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đếnsinh kế từ thực tiễn đặt ra ở cộng đồng người Chăm Phường 17, Quận Phú Nhuận,Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu này cũng nhằm góp phần đánh giá việcthực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm và đưa ra một số khuyến nghị vàgiải pháp, góp phần tham vấn cho chính quyền trong việc cải thiện đời sống, nângcao thu nhập của cộng đồng dân tộc Chăm trong quá trình thực hiện chủ trương đạiđoàn kết toàn dân tộc

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu hiện nay của con người.Trên thực tế đã có nhiều chương trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướngđến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững Thực tế cho thấy, việc lựa chọn nhữnghoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố như: điềukiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng, yếu tố dân tộc, tôngiáo, tín ngưỡng Việc đánh giá hiệu quả các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu

rõ được những phương thức sinh kế của người dân có phù hợp với các điều kiện của

Trang 10

địa phương hay không? Các hoạt động sinh kế đó có bền vững, phát triển lâu dài và

ổn định hay không?

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đisâu phân tích về hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt chú ý đến đời sống của cưdân nghèo khổ Ý tưởng nghiên cứu về sinh kế xuất hiện nhiều trong các công trìnhnghiên cứu của các tác giả (R.Chamber, 1980), (F.Ellis, 2000) cho rằng khái niệmsinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân cũng như từng hộgia đình Hiện nay, các đề tài liên quan đến hoạt động sinh kế và bàn về cách thức đểxây dựng mô hình sinh kế bền vững cũng vô cùng phong phú Làm thế nào để lựachọn một sinh kế bền vững, hay nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là gì là những vấn

đề phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong giới hạn đề tài cho phép, chúng tôixin tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

Công trình Xây dựng lực lượng chính trị của Đảng trong các DTTS ở TP.

Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp do Nhà nghiên cứu Võ Công Nguyện làm

chủ nhiệm, có khách thể nghiên cứu là các DTTS tại TP Hồ Chí Minh (2016), là đềtài thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh Mục tiêu chính của côngtrình là nghiên cứu việc xây dựng lực lượng chính trị của Đảng trong các dân tộc, vìthế công trình tìm hiểu kỹ về các đặc tính nhân khẩu, nguồn nhân lực, các tổ chức xãhội trong cộng đồng để trên cơ sở ấy xem xét khả năng xây dựng lực lượng chínhtrị trong các cộng đồng này Với sự am hiểu sâu về đặc tính dân tộc, nhóm nghiêncứu đã đưa ra những phân tích lối sống, ứng xử của đồng bào DTTS, cùng các mốiquan hệ của họ với đoàn thể, chính quyền địa phương, cho thấy khung cảnh sinh hoạtcủa cộng đồng, sự cố kết cộng đồng dân tộc, cộng đồng tôn giáo, những thách thức

mà cộng đồng gặp phải trong phát triển như xu hướng toàn cầu hóa, dân chủ hóa,hợp tác xã hội (Võ Công Nguyện, 2016) Những phân tích và những số liệu củacông trình đã giúp cho tác giả hiểu rõ về cộng đồng DTTS nói chung và người Chăm

Trang 11

nói riêng tại TP Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thâm nhập khảo sát,phỏng vấn cộng đồng người Chăm đang sinh sống tại phường 17, quận Phú Nhuận.

Luận văn Cộng đồng người Chăm cư trú ở Thành phố Hồ Chí Minh của

Nguyễn Đệ (1990) đã giới thiệu khái quát về cộng đồng người Chăm Islam Thànhphố Hồ Chí Minh qua ba thành tố vật chất, văn hóa tinh thần, tổ chức xã hội - hônnhân gia đình Tác giả cũng đã nêu lên một thực trạng báo động về trình độ dân tríthấp, thanh niên không có nghề nghiệp ổn định, cộng đồng Chăm Islam còn nhiềuhạn chế trong việc tham gia các hoạt động xã hội như văn nghệ, thể dục thể thao, vui

chơi giải trí Tập trung vào lĩnh vực giáo dục, luận văn Vấn đề giáo dục của người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Thanh Lan (1997) đã phân tích

thực trạng giáo dục của người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn pháttriển Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số ý kiến nhằm phát triển đời sống giáo

dục của cộng đồng dân tộc này Đề cập đến những vấn đề rộng hơn, luận văn Hiện trạng kinh tế - xã hội của người Chăm ở TP HCM của Huỳnh Ngọc Thu (2002) đã

mô tả thực trạng kinh tế, xã hội của người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh và phântích lý giải những nguyên nhân kiềm hãm sự phát triển của cộng đồng Qua đó, tácgiả đã nhấn mạnh mặt bằng dân trí thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát

triển của cộng đồng người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có vấn đề sinh kế

Và tại hội thảo Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Những vấn đề kinh tế

- văn hóa - xã hội (2004), TS Thành Phần một lần nữa nhấn mạnh đến vấn đề giáo

dục của các dân tộc thiểu số qua báo cáo Tình hình giáo dục của dân tộc thiểu số ởbậc cao đẳng và đại học (trường hợp sinh viên dân tộc thiểu số theo học tại Thànhphố Hồ Chí Minh) cho rằng chính sách hỗ trợ việc đào tạo trí thức ở các dân tộc thiểu

số còn nhiều bất cập, chưa thật sự triển khai đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước

đề ra

Trang 12

Liên quan đến tôn giáo Islam trong cộng đồng người Chăm, công trình

Cộng đồng Hồi giáo (Islam) ở Thành phố Hồ Chí Minh và mối quan hệ với khu vực Đông Nam Á do GS Nguyễn Tấn Đắc làm chủ nhiệm (đề tài cấp Thành phố, 2000)

đã nghiên cứu quá trình du nhập của đạo Islam vào Việt Nam và sự hình thành cộngđồng này tại Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài phân tích mối quan hệ giữa cộng đồngIslam Thành phố Hồ Chí Minh với cộng Islam ở các khu vực khác trong cả nước vàcác mối quan hệ với các tổ chức Hồi giáo quốc tế Tác giả đã nêu ra ba đặc điểm nổibật của cộng đồng Chăm Islam Thành phố Hồ Chí Minh là tôn giáo, dân tộc vànghèo đói

Công trình Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm TP Hồ Chí Minh do

Phú Văn Hẳn làm chủ biên (TP Hồ Chí Minh, 2005) viết về đời sống văn hóa và xãhội của cộng đồng này Tập sách cũng cho biết trình độ học vấn thấp của cộng đồng,cho đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghề nghiệp và việc làmkhông ổn định và không bền vững của phần lớn người dân trong cộng đồng (Phú VănHẳn, 2005)

Bên cạnh các bài viết trên, còn có các bài báo cáo sơ kết, tổng kết công tácthực hiện đường lối chính sách đối với người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh, đólà:

Báo cáo kết quả thực hiện Thông tri 03-TT/TW ngày 17/10/1991 của Ban

Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác đối với đồng bào Chăm của Ban Dân

vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2003) Báo cáo nêu lên quá trình triển khaithực hiện Thông tri và công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và Chính quyền thànhphố trong việc triển khai tinh thần của thông tri này Báo cáo tập trung kiến nghị vớiTrung ương hai vấn đề chính là:

+ Về kinh tế, Nhà nước có chính sách đặc biệt ưu tiên trợ vốn, dạy nghề và

tạo việc làm cho đồng bào Chăm (và các dân tộc thiểu số khác); khuyến khích và cóchính sách miễn giảm thuế đối với các hộ người Chăm sản xuất tiểu thủ công nghiệp;

Trang 13

+ Về giáo dục, Nhà nước cần có chính sách giáo dục đặc biệt ưu tiên dành cho con em người Chăm (và các dân tộc thiểu số khác): Một là, miễn học phí toàn bộ cho học sinh Chăm từ mẫu giáo đến hết phổ thông trung học; Hai là, cấp học bổng

quốc gia cho tất cả các sinh viên dân tộc Chăm đang học đại học, cao đẳng và trung

học chuyên nghiệp Ba là, thống nhất chế độ chính sách hỗ trợ, ưu tiên trong giáo

dục đối với sinh viên, học sinh người dân tộc thiểu số ở miền núi cũng như miền

xuôi (không chỉ giải quyết cho dân tộc thiểu số ở miến núi); Bốn là, có chính sách

bảo trợ hoàn toàn cho việc tổ chức các lớp học tiếng dân tộc do cộng đồng dân tộc tổchức

Báo cáo Mặt trận và các đoàn thể với công tác vận động đồng bào Chăm trong tình hình mới - Vấn đề đào tạo cán bộ và xây dựng lực lượng cốt cán người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh Báo cáo chuyên đề của Phòng nghiên cứu Dân tộc

và tôn giáo Ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2005) đưa ra nhận xét

về những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc đối với ngườiChăm của Mặt trận và đoàn thể các cấp, trong đó yếu tố xây dựng và đào tạo cán bộ

là dân tộc Chăm được tập trung nhấn mạnh

Báo cáo kết quả 4 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của BCH Trung ương khóa IX về công tác dân tộc (2007) của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tập

trung đánh gia kết quả thực hiện nghị quyết của Trung uơng đối với dân tộc Hoa,Chăm và Khmer Báo cáo nhấn mạnh đến việc uu tiên đối với công tác chăm lo vềcác vấn đề an sinh xã hội đối với nguời Chăm và nguời Khmer là bộ phận cu dânnghèo của thành phố

Báo cáo kết quả khảo sát việc thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh (2009) của Vụ Dân tộc Ban Dân vận Trung uơng

sau đợt khảo sát thực tiễn tại 5 quận có đông nguời Chăm sinh sống đã đua ra nhiều

đề xuất phù hợp với các vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách dân tộcđối với nguời Chăm Cụ thể, báo cáo đã đề xuất một số kiến nghị với Thành ủy

Trang 14

Thành phố Hồ Chí Minh và Trung uơng là cần nhân rộng mô hình hỗ trợ cộng đồngnguời Chăm nhu ở Phuận Phú Nhuận, Quận 8 đã làm; tăng cuờng hơn nữa trong việcvận dụng Chỉ thị 123 về phát triển đảng viên là nguời có đạo và đồng thời là nguờidân tộc thiểu số; tập trung chăm lo về mặt giáo dục đối với trẻ em nguời Chăm; tăngcuờng công tác định huớng tập hợp trí thức, thanh niên, học sinh nguời Chăm vàocác tổ chức chính trị xã hội ở địa bàn dân cu

Báo cáo Số 78/BC-UBND ngày 15/12/2017 của UBND Phường 17, quận Phú Nhuận về Tình hình công tác dân tộc trên địa bàn Phường đã khái quát tình đời

sống, kinh tế, văn hóa xã hội của cộng đồng nguời Chăm, nguời Hoa sinh sống trênđịa bàn, những khó khăn, tồn tại và đề xuất, kiến nghị các chính sách cần quan tâmnhu:

Cần có kế hoạch và chính sách uu đãi đào tạo nguồn nhân lực nguời dântộc Chăm tại cơ sở

Cần thực hiện chính sách cử tuyển con em đồng bào dân tộc Chăm đi đàotạo nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học

Tiếp tục hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo; có các giải pháp hỗ trợ hữu hiệu đểnâng chuẩn hộ nghèo và xóa các hộ cần nghèo

Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa, phát triển thể dục thể thao.Chính sách y tế và dân số, chuơng trình y tế cộng đồng, phòng bệnh,khám sức khỏe và điều trị bệnh định kỳ, chăm sóc sức khỏe uu tiên đối với đồngbào dân tộc; nhất là đối với phụ nữ về sức khỏe gia đình, sức khỏe sinh sản (khámphụ khoa, phụ nữ mang thai, ) và trẻ em (tiêm chủng phòng bệnh.)

Những công trình nghiên cứu, tham luận khoa học, báo cáo về c hính sáchđối với nguời Chăm đuợc trình bày ở trên hầu hết đều quan tâm đến các vấn đề vềtôn giáo, phong tục tập quán; kinh tế, xã hội, chính sách và mối liên hệ giữa cộngđồng Islam Thành phố Hồ Chí Minh với khu vực Đông Nam Á Qua đó, các tác giảđều nhận định cộng đồng nguời Chăm Thành phố Hồ Chí Minh là một cộng đồng

Trang 15

dân tộc - tôn giáo và tôn giáo ảnh huởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế, vănhóa, xã hội của họ Nghèo đói và trình độ học vấn thấp cũng là một đặc điểm nổi bật

của cộng đồng này Đây là những tài liệu có giá trị đối với đề tài: Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người Chăm ở Phường 17 Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả

Trên phạm vi rộng hơn, một số nghiên cứu về sinh kế của đồng bào thiểu

số cũng đã nêu lên các kết quả, các hạn chế và các thách thức trong tuơng lai Đề tài

Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong - Quảng Trị của Hoàng Mạnh Quân (Đại học Nông

Lâm Huế) đã nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến luợcsinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đề tài cũng đua ra những điểm đuợc vàchua đuợc trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cậpđến việc xây dựng một chiến luợc sinh kế bền vững để nguời dân tự xây dựng vàphát triển chiến luợc sinh kế cho bản

thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tương lai

Công trình Biến đổi sinh kế của cộng đồng người Giao vùng lỏng hồ thủy điện Tuyên Quang từ sau tái định cư đến nay của PGS.TS Trần Văn Bình (2015) -

(Đại học Văn Hóa Hà Nội) đã phân tích, đánh giá sự thay đổi nguồn lực sinh kếtrước và sau tái định cư từ đó đưa ra những giải pháp giúp người Giao có cuộc sống

Trang 16

sinh kế bền vững, phù hợp với điều kiện của cộng đồng người Chăm hiện nay tại địabàn sinh sống

3.2 Mục tiêu cụ thể

Hiểu được những đặc điểm sinh kế và sự biến đổi của các hoạt động sinh

kế phổ biến của cộng đồng người Chăm qua hoạt động nghiên cứu thực tiễn; Phântích các yếu tố nhận thức, nguồn lực, học vấn, giới, văn hoá, tôn giáo, môi trườngsống ảnh hưởng đến cộng đồng người Chăm trong quá trình sinh kế

Đề xuất các giải pháp chính sách để thúc đẩy chiến lược sinh kế bền vững,phù hợp với các điều kiện cụ thể của cá nhân, hộ gia đình tại địa bàn người Chămđang sinh sống và làm việc

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế củangười Chăm Phường 17, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

đề tài tập trung chủ yếu vào các khu phố ở Phường 17, nơi có đông đảo người Chăm

cư trú Về mặt thời gian, đề tài tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng trong những năm gần đây

và tập trung phân tích mối quan hệ giữa sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng trong nămqua của hộ người Chăm

Trang 17

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

5.1.1 Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng trong hoạt động sinh kế chính của người dân tại địabàn nghiên cứu có những đặc điểm gì và thay đổi như thế nào?

Những biểu hiện chính của thay đổi đó gây ra như thế nào, nó có tác độngtiêu cực gì đến sinh kế của người dân, và ai là người dễ bị tổn thương nhất?

Người dân tại đây có nhận thức như thế nào trước những ảnh hưởng và cónhững giải pháp gì để thích ứng và phục hồi trước các tác động tiêu cực đến sinh kếcủa ngươi dân ở đây?

Các chính sách hỗ trợ/can thiệp của Nhà nước hiện có những yếu tố phùhợp/hoặc bất cập gì đối với việc sinh kế của người Chăm?

5.1.2 Giả thuyết nghiên cứu

Sự tác động của những yết tố tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật chất,

cơ sở hạ tầng, yếu tố dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng đối với sinh kế của người dân

Đa phần người dân tại địa bàn nghiên cứu chưa nhận biết đầy đủ về sựthay đổi của những yếu tố đó và khả năng thích ứng, thích nghi của người dân nơiđây còn mang tính nhất thời, ngắn hạn

Điều kiện về sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu hiện nay phầnlớn phụ thuộc vào buôn bán, làm thuê, và lực lượng trong độ tuổi lao động có trình

độ học vấn thấp

Chính sách hỗ trợ/can thiệp của Nhà nước luôn đi sau diễn biến thực tiễncủa những thay đổi đó, chưa phù hợp với hoàn cảnh thực tế của người dân trong việcthích nghi để thực hiện

Trang 18

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có

Với phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, đề tài tập hợp và phân tích cáctài liệu như sách, các báo cáo, số liệu thống kê, các văn bản nhất là các công trìnhnghiên cứu, các bài tham luận khoa học, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, thông tư,hướng dẫn về các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước từ Trung ương, Thànhphố, Quận và Phường có liên quan đến điều kiện sống, chính sách, cấu trúc dân số,kinh tế xã hội kể cả các yếu tố tôn giáo, dân tộc, tập quán, phong tục đến sinh kếngười dân nhằm xây dựng một bức tranh tổng quát về bối cảnh nghiên cứu, các cáchtiếp cận nghiên cứu, các luận điểm, luận cứ, các kết quả phân tích thực nghiệm, cáckhác biệt và tranh luận đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đềtài

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là phương pháp nghiên cứuđịnh lượng Bản hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này.Nguồn số liệu này được xử lý trực tiếp trên máy vi tính bằng chương trình phần mềmSPSS

Bản hỏi thu thập thông tin định lượng bao gồm những câu hỏi được xâydựng xoay quanh các vấn đề như:

o Các yếu tố nhân khẩu học và các đặc điểm kinh tế - xã hội cá nhân(tuổi, giới tính, tôn giáo, học vấn, chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp, thu nhập cánhân )

o Các đặc điểm kinh tế - xã hội hộ gia đình (cơ cấu hộ, nhà ở, tài sản, thunhập, quan hệ kinh tế, quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội, các mạng lưới xã hộikhác)

o Thực hành tôn giáo và nhận thức về vai trò tôn giáo trong người

Chăm

Trang 19

o Vai trò của chính quyền, cộng đồng, tổ chức tôn giáo.

o Đặc điểm sinh kế (loại hình kinh doanh, qui mô các nguồn lực: vốn, laođộng, loại sản phẩm, phạm vi hoạt động, thị trường, khá ch hàng, thu nhập, các ràocản/rủi ro/tổn thương/thích ứng

5.2.3 Phương pháp nghiên cứu định tính

Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hànhcác cuộc phỏng vấn sâu đối với một số hộ gia đình có các hoạt động sinh kế khácnhau và các điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trong số 100 hộ được phỏng vấnđịnh lượng, và đại diện cho chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội, vàtôn giáo nhằm hiểu sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định lượng khôngphù hợp hoặc bổ sung cho cách tiếp cận này

5.3 Chọn mẫu và xử lý thông tin

Khung mẫu sẽ là danh sách các hộ dân dân tộc Chăm có hộ khẩu thườngtrú tại ở Phường 17 Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: Phương pháp chọnmẫu như trên thỏa mãn được tính đại diện cho các hộ dân trên toàn địa bàn Tổng sốcác hộ dân được khảo sát định lượng là 100 hộ Ngoài ra, để có thông tin sâu về vấn

đề nghiên cứu, từ cách nhìn của người dân, cộng đồng và chính quyền, đề tài sẽ tiếnhành phỏng vấn sâu một số trường hợp đại diện cho các loại hình sinh kế và điềukiện kinh tế - xã hội khác nhau từ 100 hộ của nghiên cứu định lượng

Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS trong quan hệ 2

-3 biến số để chạy ra kết quả trong các bảng tương ứng với thông tin khảo sát Đối với

Trang 20

thông tin định tính, mã hoá trực tiếp các nội dung theo nhóm chủ đề và các đặc điểmđịa bàn cư trú, điều kiện kinh tế - xã hội của hộ gia đình và loại hình sinh kế

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Cung cấp cơ sở phương pháp luận cần thiết trong nghiên cứu thực nghiệmcác yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng dân tộc thiểu số trong thành phố,gắn với các hệ thống giá trị, niềm tin, phương thức, tập quán làm ăn truyền thống,mạng lưới xã hội trong môi trường của một đô thị lớn và thực hiện chính sách, từ cácquan điểm xã hội học

Nghiên cứu cũng giúp làm sáng tỏ hơn việc vận dụng những kiến thứcliên ngành trong nghiên cứu xã hội học Chỉ ra các yếu tố như học vấn, nghề nghiệp,kinh doanh, buôn bán, việc làm, sức khỏe và sự tác động đến sinh

kế

Góp phần cung cấp tư liệu tham khảo trong đào tạo, tập huấn hay cácnghiên cứu tiếp theo ở các địa bàn khác

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Cung cấp cho chính quyền phường những thông tin cần biết về các yếu tốảnh hưởng sinh kế của cộng đồng dân tộc Chăm, từ đó địa phương có thêm căn cứ đểđưa ra các chính sách hỗ trợ hợp lý, thiết thực Đồng thời, có thể phát triển các môhình để nhân rộng cho các địa phương, dân tộc khác

Nghiên cứu này góp phần kiến nghị, đề xuất với cấp trên trong việc xâydựng các chính sách thích hợp và cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền, các banngành, đoàn thể, và cộng đồng liên quan để hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng ngườiChăm

Ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào mô hình xóa đói giảm nghèo (đề ángiảm hộ nghèo, tăng hộ khá theo tiêu chí mới) đối với các cộng đồng dân tộc ít ngườicủa quận và thành phố

Trang 21

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa đề tài gồm 3 chương và 11 tiết

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Một số khái niệm cơ bản

Tổ chức Phát triển Toàn cầu của Vương quốc Anh (DFID) cho rằng sinh

kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lượcsinh kế, và kết quả sinh kế Có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ làvấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở mà còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các

Trang 22

quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng, các mối quan hệ xã hội, (Wallmann, 1984) Sinh

kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người cóđược kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũngnhư để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” Về cơ bản các hoạt động sinh

kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của

họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội

mà mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng

Sinh kế bền vững: Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo

cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Một sinh kếđược cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực

và cú sốc Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại vàtrong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên 1

Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phát huy được tiềm năng con người để từ

đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đươngđầu và vượt qua áp lực cũng như những thay đổi bất ngờ Không được khai thác hoặcgây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai Thực tế

là nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho thế hệtương lai 2 Theo nghĩa này thì sinh kế bền vững phải hội đủ các nguyên tắc sau: lấycon người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựatrên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, có tính tổngthể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động

Chiến lược sinh kế: Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết

hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lícác nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như

để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ 3

1 Chambers and Conway, 1991, P.6

2 Sách hỏi và đáp về BĐKH của GS.TSKH Trương Quang Học (chủ biên), Hà Nội - 2011

3 Chambers and Conway, 1991, P.6

Trang 23

Khung sinh kế bền vững: Khung sinh kế bền vững (Sustainable

Livelihoods Framework) là một phương tiện hữu ích để phân tích và tư duy về sinh

kế, giúp cho việc tổ chức nghiên cứu và xác định, thiết kế các họat động hỗ trợ Theokhung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống dựa vào những nguồn lựcsinh kế sẵn có trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương.Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng rủi ro như bão lụt, các khuynh hướng và tácđộng theo thời vụ 4

Khái niệm các nguôn von sinh kế

Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủquan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng,bao gồm: các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các thể chếchính sách mà xã hội quy định Các nguồn vốn đó được hiểu như sau:

Vốn con người: Con người là nguồn lực trung tâm Vốn con người bao

gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của cácthành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức nhận được hoặc kếthừa trong gia đình), những kĩ năng và năng khiếu của từng

4 Chambers and Conway, 1991, P.6

Trang 24

[5] Sách hỏi và đáp về BĐKH của GS.TSKH Trương Quang Học (chủ biên), Hà Nội - 2011

cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên tronggia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động Đây là yếu tố được xem như

là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng

và quản lí các nguồn vốn khác

Vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng,

người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin, tín ngưỡng, văn hóa,các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người thamgia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau Việc con người tham gia vào xãhội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trìnhtạo dựng sinh kế của họ Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích

mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từcác mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị, chuẩn mực Vốn xã hộicủa mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tươngtác giữa các cá nhân

Khả năng: Là nguồn lực, kỹ năng, kiến thức, ý thức và cơ sở vật chất,

phương tiện mà mỗi cá nhân, hộ gia đình hoặc cộng đồng có được nhằm giúp cho họ

có thể phòng ngừa, ứng phó và giảm thiểu rủi ro do thảm họa gây ra hoặc nhanhchóng khắc phục một thảm họa [5]

Nhận thức: Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện

thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết về thế giới khách quan Đó là nhữngkinh nghiệm từng trải trong cuộc sống hoặc thông qua quá trình học tập về một lĩnhvực nhất định sẽ đi vào tiềm thức và cùng với những kiến thức nhất

định của riêng mình các cá nhân sẽ nhận thức vấn đề một cách cụ thể và chính xác 5 6

Thích ứng: Là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với

hoàn cảnh hoặc môi trường xã hội, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn

thương do tác động (môi trường xã hội) và tận dụng các cơ hội do nó mang lại

5 Sách hỏi và đáp về BĐKH của GS.TSKH Trương Quang Học (chủ biên), Hà Nội - 2011

6 Sách hỏi và đáp về BĐKH của GS.TSKH Trương Quang Học (chủ biên), Hà Nội - 2011

Trang 25

[7]

Cộng đồng: Được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Cộng đồng là một từ

ghép của hai từ Theo nghĩa của từ điển Hán Việt: “Cộng” có nghĩa là chung và

“Đồng” có nghĩa là cùng Như vậy khái niệm cộng đồng có thể hiểu nôm na là cùngchung cái gì đó, có thể là lãnh thổ, kinh tế, văn hóa hoặc một khía cạnh, một thuộctính nhất định nào đấy của con người như là họ hàng, tình cảm 7

Tình trạng dễ bị tổn thương: Là một loạt các điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội, thể chế dẫn đến các tác động bất lợi đến khả năng của một cá nhân, hộ giađình hoặc cộng đồng trong môi trường sống và làm việc trên nhiều lĩnh vực khácnhau Tính dễ tổn thương này phụ thuộc vào các nguồn lực cá nhân như kỹ năng, taynghề, vốn, trình độ nhận thức, học vấn, độ tuổi, giới tính, tôn giáo 8

Đối tượng dễ bị tổn thương: Là tập hợp các nhóm người dễ bị ảnh

hưởng tiêu cực do sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã

7 Chambers and Conway, 1991, P.6

8 Sách hỏi và đáp về BĐKH của GS.TSKH Trương Quang Học (chủ biên), Hà Nội - 2011

Trang 26

hội Ở Việt Nam các nhóm người được xem là dễ bị tổn thương nhất đó là trẻ em, người già, phụ nữ, người nghèo, dân tộc thiểu số 9

2 Hướng tiếp cận các lý thuyết trong nghiên cứu

2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng

Là một trong những lý thuyết quan trọng và cơ bản nhất của ngành xã hộihọc, lý thuyết này gắn với tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như T.Parsons,E.Dukheim, R.K.Merton Có thể nói không có lý thuyết xã hội học nào lại đượcứng dụng nhiều trong nghiên cứu như lý thuyết cấu trúc chức năng Trong quan niệmcủa Talcott Parsons, cấu trúc (hay là kết cấu) là tổng thể những quan hệ nội tại tươngđối bền vững của các cá thể, các thành tố, còn chức năng là thứ vốn có của mọi sựvật, hiện tượng Ông cho rằng mọi thứ trong thế giới đều có chức năng của nó, còn

sự phụ thuộc giữa các chức năng đem lại không chỉ tính thống nhất mà cả sự cânbằng và trật tự cho tổng thể “Nhiệm vụ của xã hội học - theo Parsons là tìm ra cái gìđược ấn định sẵn cho cái gì trong hệ thống xã hội, có nghĩa là vạch ra vai trò của yếu

tố này hay yếu tố kia của cấu trúc trong sự sắp xếp, bảo tồn và hoạt động của hệthống” (E.A.Capionov, 2000:159) 10

Theo Talcott Parsons các điều kiện để giữ cho sự thống nhất của hệ thống

XH khi đối mặt với môi trường và những điều kiện để đảm bảo cho sự tồn tại của hệthống là: Hệ thống phải nối kết được với môi trường một cách hiệu quả và nó phảiduy trì được sự liên kết bên trong Từ đó dẫn đến bốn chức năng là thích nghi, theođuổi mục tiêu, liên kết, duy trì khuôn mẫu 11

Mọi vấn đề trong đời sống xã hội đều có một cấu trúc nhất định, do đó đềuđóng một vai trò khác nhau trong xã hội Từ cách ứng dụng vào nghiên cứu vĩ môcho đến nghiên cứu vi mô thì lý thuyết cấu trúc chức năng luôn phát huy được vai tròquan trọng của nó

9 Sách hỏi và đáp về BĐKH của GS.TSKH Trương Quang Học (chủ biên), Hà Nội - 2011

10 Mai Văn Hai (Chủ biên), 2009, Xã hội học Văn hóa, trang 75

11 Mai Văn Hai (Chủ biên), 2009, Xã hội học Văn hóa, trang 75

Trang 27

[13] Nhập môn của Bùi Quang Dũng, 2004, trang 105

Lý thuyết cấu trúc chức năng ứng dụng vào nghiên cứu mọi vấn đề của xãhội Xã hội như một thể thống nhất, trong xã hội luôn có sự vận động và biến đổi, sựbiến đổi của một yếu tố nào đó trong xã hội sẽ thay đổi các yếu tố khác dù nhỏ haylớn, sớm hay muộn

Việc sử dụng cách tiếp cận cấu trúc chức năng trong lĩnh vực nghiên cứunày nhằm xem xét các cấu trúc quan trọng như là những thành tố chủ yếu trong hệthống xã hội như gia đình, hệ thống kinh tế xã hội, môi trường, sinh kế và cácchức năng của các bộ phận này để lý giải sự mất ổn định dưới tác động của ngập lụtgây ra

lợi ích bản thân chứ không phải triển vọng giành thắng lợi; kiểu hành động địnhhướng mục tiêu hợp lý trong đó mục tiêu và phương tiện được lựa chọn một cáchhợp lý; kiểu hành động cảm tính được xác định bởi những tác động tình cảm lên chủthể hành động; kiểu hành động truyền thống bị dẫn dắt bởi phong tục và thói quen[14]

Tiếp cận lý thuyết hành động xã hội của Weber trong nghiên cứu này đểxem xét, lý giải hành động của con người là hành động trong mối quan hệ mang tính

xã hội với các tác nhân khác

Trang 28

[13] Nhập môn của Bùi Quang Dũng, 2004, trang 105

2.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân họcthế kỷ XVIII - XIX đại diện là các nhà xã hội học như: G.Simmel, Hormans, J.Elster.Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào việc cho rằng con người luôn hành động có chủ đíchnhằm tối đa hóa lợi ích Khi làm việc gì, người ta cũng suy nghĩ để lựa chọn phương

án nhằm sử dụng các nguồn lực có được để đạt được kết quả tối đa với chi phi thấpnhất Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyếtđịnh sử dụng phương tiện tối ưu nào mà đạt được kết quả cao trong một điều kiệnnguồn lực khan hiếm Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu để giảithích cho việc tại sao người dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa chọn phương thức sinh

kế hiện tại mà không phải lựa chọn phương thức sinh kế khác, với lựa chọn phươngthức đó liệu họ có đạt được hiệu quả tối đa trong cuộc sống hay không Ngoài raquan điểm về lựa chọn hợp lý sẽ được lồng ghép phân tích và vận dụng trong việcđưa ra các giải pháp cho một chiến lược sinh kế bền vững

Để dẫn dắt cuộc nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm sáng tỏ thực trạng củacác hoạt động sinh kế và các nguồn vốn sinh kế mà người dân có, các

Trang 29

lý thuyết trên được đưa vào áp dụng trong đề tài Lý thuyết cấu trúc chứcnăng nhằm tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo lát cắt của cơ cấu xã hội và chức năngcủa các thành tố trong hệ thống xã hội Phường 17, Quận Phú Nhuận, Thành phố HồChí Minh là là một cụm dân cư tồn tại với tư cách là một hệ thống xã hội, liên quanđến chính quyền, đoàn thể các cấp, tôn giáo, văn hóa tộc người và các nguồn lựckhác nhau, đóng vai trò thúc đẩy, kiểm soát, hạn chế trong mối tương tác bên trong

hệ thống và với hệ thống lớn hơn Do đó, hộ gia đình cũng tồn tại như một thànhphần của hệ thống và chịu tác động của môi trường xung quanh Lý thuyết hànhđộng xã hội giúp hiểu một cách hệ thống các loại hành động của con người như làchủ thể của hoạt động sinh kế và các hành động xã hội khác liên quan đến tôn giáo,văn hóa truyền thống của người Chăm trong cộng đồng và với bên ngoài Hơn nữa,các cá nhân còn là chủ thể của hoạt động sinh kế dựa trên sự lựa chọn hợp lý - mộtcách tiếp cận rộng rãi để hiểu được các hành vi kinh tế Việc lựa chọn các phươngthức sinh kế khác nhau dựa trên sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích, phù hợp vớinguồn vốn sinh kế mà họ có, bối cảnh của họ đang sống và lựa chọn có mang lại hiệuquả kinh tế cao, thu nhập có ổn định và cuộc sống có ổn định hay không Để qua đó,xây dựng mối liên hệ tác động qua lại giữa các biến số phục vụ cho đề tài nghiêncứu

12 Học thuyết chung về hệ thống của Bertalanffy, xuất bản 1956.

Trang 30

thực tại xung quanh mình đã được sử dụng cả trong khoa học tự nhiên, khoa học xãhội cũng như trong kỹ thuật Tư duy một cách hệ thống còn được nhìn nhận như mộthướng tiếp cận để giải quyết các vấn đề đặt ra 13 Thực tế cho thấy, hướng tiếp cậnnày đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của các ngành khoa học.

Như vậy, để đánh giá mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế củangười Chăm cần phải nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ các nhân tố gây ra nó,xác định đâu là nhân tố chính, đâu là tác nhân thứ yếu Tiếp cận hệ thống theo truyềnthống là cách đánh giá tổng hợp nhất về trường hợp này Tuy nhiên cách tiếp cận nàythường mang tính định tính

3.2 Quan điểm tổng hợp

Quan điểm tổng hợp nói lên sự tính hoàn hảo trong nghiên cứu Cho dùhoạt động của con người mang tính chủ quan theo tư duy trí tuệ nhưng con ngườicũng là một sinh vật tồn tại và phát triển theo quy luật tạo hóa của tự nhiên- xã hội,nên cuối cùng con người buộc phải nhận ra mình chỉ có thể hòa nhập vào thiênnhiên, bối cảnh xã hội hiện tại theo đúng quy luật phát triển khách quan của chínhcác điều kiện tự nhiên đó 14

3.3 Quan điểm phát triển bền vững

Đây là một quan điểm thuộc xã hội hiện đại khi quan niệm về phát triểnkhông đơn thuần chỉ là sự tăng trưởng về mặt kinh tế Quan điểm này ra đời sau mộtthời gian dài, sự phát triển được hiểu thiên lệch là sự tăng trưởng về mặt kinh tế đãgây nên những hậu quả nặng nề: sự phân hóa giàu nghèo một cách sâu sắc, biến đổikhí hậu, môi trường bị tàn phá nặng nề, sự nóng dần lên của trái đất những hậu quả

ấy do bởi những hoạt động phát triển của con người

Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môitrường những năm 70 của thế kỉ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.Phát triển bền vững được hiểu như là “sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn

13 http://www.enide.com

14 http://www.enide.com

Trang 31

hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của bản thânhọ” 15 Hoặc là “sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong khuôn khổphạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp” (chăm lo trái đất ) Phát triển bền vữngcũng có thể được hiểu là một sự phát triển lâu dài, phát triển đi đôi với việc làmphong phú các nguồn vốn sinh kế để từ đó dẫn đến các tác động tích cực tới đời sốngcủa con người Sự phát triển đó làm tăng khả năng chống chọi với những cú sốc, tổnthương do con người và tự nhiên gây ra.

Nói tóm lại, quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứngkiềng 3 chân: “kinh tế - môi trường - xã hội” 16 Đây cũng được xem là mục tiêu màcon người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm phát triểnsai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con người Quanđiểm này được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế của người dân vàxây dựng một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình sinh kế hiện tại - môhình sinh kế bấp bênh và thiếu tính bền vững17

4 Giả thuyết nghiên cứu

15 Báo cáo Bruland, 1987

16 Báo cáo Bruland, 1987

17 E.A Capionor, 2000:159

Trang 32

Dựa trên các tổng quan nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - văn hóa - xãhội - tín ngưỡng, tôn giáo - sinh kế của người Chăm và các yếu tố ảnh hưởng đếnsinh kế của họ, chúng tôi nêu lên một số giả thuyết nghiên cứu như sau:

Sinh kế của người Chăm chủ yếu dựa vào lao động đơn giản và mạng lưới

xã hội trong cộng đồng người Chăm nên hiệu quả thấp và ít ổn định

Người Chăm và các thực hành tôn giáo Islam là một trở ngại chính choviệc mở rộng sang các hoạt động sinh kế khác do không phù hợp với giáo luật

Học vấn thấp và không có tay nghề do đã hạn chế sinh kế của ngườiChăm trong khu vực kinh tế chính thức

Chính sách của Nhà nước có tác động tích cực đến việc hỗ trợ một số cơ

sở ban đầu nhưng chưa giúp cải thiện sinh kế theo chiều sâu

- Ở các cấpkhác nhaucủa Chínhphủ: Luậtpháp, chínhsách công,các động lựccác quy tắccông, cácđộng lực

- Chính sách

và thái độ vớikhu vực tưnhân

- Các thiếtchế công dân,chính trị vàkinh tế (Thịtrường, vănhóa)

Các chiến lược sinh kế

- Các tácnhân xã hội(Nam, nữ,

hộ gia đình,cộng

đồng )

- Các cơ sởtài nguyênthiên nhiên

- Cơ sở thịtrường-Tính đadạng

Các kết quả sinh kế

- Thu nhậpnhiều hơn

- Cuộc sốngđầy đủ hơn

- Giảm khả

thương-An ninh lươngthực được cảithiện

- Công bằng xãhội được cảithiện

- Công tác quản

lý nhà nướcđược cải thiện

về KT-VH -XH

- Khối đại đoànkết toàn dân tộcđược phát huy

Trang 33

(Nguồn Koss Neefjes, 2003)

Hình 1: Khung sinh kế bền vững

Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố ảnhhưởng đến sinh kế của người dân, những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế.Đồng thời khung sinh kế trong phần nghiên cứu này, chỉ tập trung nghiên cứu tổn thươngsinh kế, khả năng thích nghi Các yếu tố khác như nguồn vốn sinh kế, tính dễ bị tổn thươngcủa nguồn vốn sinh kế không đề cập đến Tuy nhiên các yếu tố này có thể được thảo luậntrong những nội dung liên quan như những yếu tố kiểm soát

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂN KINH TẾ-VĂN HÓA-XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHĂM

1 Quá trình hình thành cộng đồng người Chăm Thành phố Hồ

Chí Minh

1.1 Nguồn gốc lịch sử

Tộc người Chăm ở Việt Nam là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, chủnhân của nền văn hóa Chămpa cổ đại Địa bàn cư trú từ xa xưa của người Chăm là khu vựcduyên hải miền Trung Trong quá trình hình thành, trải qua những biến động của xã hội, một

bộ phận người Chăm di cư xuống phía Nam và sinh sống rải rác khắp các tỉnh Ninh Thuận,Bình Thuận, Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, An Giang

Vào đầu thế kỷ XX, do tình hình kinh tế khó khăn, một bộ phận người Chăm ởChâu Đốc, An Giang chuyển lên Sài Gòn tìm việc làm Và từ đó, ngày càng nhiều ngườiChăm ở An Giang nhập cư đến TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, còn có một bộ phận ngườiChăm ở các tỉnh khác chuyển vào thành phố sinh sống (Phan Văn Dốp và Vương HoàngTrù, 2011)

1.2 Địa bàn cư trú

Điểm quần cư đầu tiên của cộng đồng Chăm tại thành phố là khu vực Nancy(quận 1) và khu vực Hòa Hưng (quận 3), được hình thành từ những năm 1940 Theo tậpquán và để giúp đỡ nhau trên vùng đất mới, cộng đồng Chăm thường sống thành từng nhómkhi di cư lên thành phố, theo từng cộng đồng gốc, hoặc theo quan hệ thân tộc Vốn là nhữngngười quen buôn bán, phương tiện di chuyển chủ yếu là ghe thuyền, nên người Chăm khi

Trang 34

mới đến thành phố thường tập trung ở những khu vực gần kênh rạch, bờ sông và chợ thuậnlợi cho việc buôn bán và đi lại Ngày nay, các khu vực như chợ Nancy, chợ Phú Nhuận, chợNguyễn Văn Trỗi, rạch Nhiêu Lộc - Thị Nghè (quận 3), cầu Công

Lý, rạch Bến Nghé, rạch Ông Lớn (phường 1, quận 8) là những khu vực tập trung đông đồng bào Chăm sinh sống (Thành Phần, 2006)

Hiện nay cộng đồng người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài nhữngngười người Chăm theo đạo Bà Lamôn và Bàni có nguồn gốc từ miền Trung thì sốngười Chăm Islam có nguồn gốc từ An Giang và Tây Ninh cư trú tập trung thành 14khu vực và tiểu khu vực, phân bố rải rác ở các quận trong nội thành với số lượng nhưsau:

Bảng 1: Các khu vực cư trú của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Dân số

Theo thời gian, số người Chăm ngày càng đông hơn, đa số là những ngườiquê gốc ở Châu Đốc, An Giang Trong điều kiện sống mới, nhất là ở một đô thị lớnnhư Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh, người Chăm không sống tập trung thành làng (palei)

1 157B/9 Dương Bá Trạc P.1, Q.8 Masijd Anwar 1.206

Trang 35

như khi ở quê gốc mà sống tập trung thành từng cụm (Jammaah), quanh các thánhđường và xen kẽ với các dân tộc khác Sự gia tăng dân số của người Chăm ở thành phốdiễn ra không đều đặn Vào những năm 1940, chỉ có một số ít người Chăm vào SàiGòn tìm việc làm hoặc buôn bán Đến năm 1968 người Chăm ở Sài Gòn có dân sốkhoảng 6.500 người Trong giai đoạn từ năm 1975-1978, dân số người Chăm ở thànhphố giảm đi, vì nhiều người Chăm đã hồi hương về quê cũ An Giang sau khi miềnNam được giải phóng, hoặc di cư tham gia xây dựng các vùng kinh tế mới ở Đồng Nai,Bình Dương, Bình Phước Năm 1979, dân số người Chăm ở thành phố có khoảng gần3.000 người Chiến tranh biên giới nổ ra năm 1979, An Giang là một trong những tỉnhchịu nhiều ảnh hưởng, khiến cho việc hồi hương của người Chăm ở thành phố bị giánđoạn và họ lại phải quay lại thành phố Người Chăm ở thành phố dần tăng lên, cho đếnnăm 2009 là 7.819 người, chiếm 0,1% tổng dân số của TP Hồ Chí Minh, đông thứ tưsau người Việt, người Hoa và người Khmer (Phan Văn Dốp và Vương Hoàng Trù,2011).

1.4 Tổ chức cộng đồng

Tổ chức cộng đồng của người Chăm ở TP Hồ Chí Minh rất chặt chẽ, vì đa sốngười Chăm ở đây theo Islam Họ sống tập trung để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau đồngthời cũng để thực hành đức tin tôn giáo Trong thời gian đầu sinh sống tại thành phố,

Bảng 2: Dân số người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 2009

Trang 36

người Chăm Islam phải đến các thánh đường của người Ân, người Mã Lai để sinh hoạttôn giáo Mãi đến năm 1950, ngôi thánh đường đầu tiên của người Chăm mới được xâydựng, đó là thánh đường Jamiul Islamiyah tại số 459 đường Trần Hưng Đạo Đến nay(2015), tại thành phố có 9 ngôi thánh đường và sáu tiểu thánh đường, mỗi nơi đều cóban quản trị thánh đường và các đơn vị hành lễ để điều hành các công việc trong thánhđường và trong cộng đồng Ban quản trị có từ ba đến năm người, gồm có Giáo cả, Phógiáo cả, Thư ký, Ahly (Ahly là người làm nhiệm vụ truyền thông tin giữa cộng đồng vàBan Quản trị), Tuan (giáo viên dạy Kinh Qur’an) Ngoài các ban quản trị, tổ chức đạidiện cho toàn cộng đồng Islam ở thành phố là Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo TP.

Hồ Chí Minh Đây là cơ quan quản lý cao nhất, ngoài việc chăm lo về đời sống tôngiáo, phát huy giáo luật Islam, tổ chức này còn chăm lo về đời sống xã hội, cứu trợ,phát triển giáo dục cho cộng đồng Islam ở thành phố

2.Đặc điểm cơ bản về kinh tế - xã hội, văn hóa và tôn giáo của cộng đồng 2.1 Hoạt động kinh tế - xã hội

Nhìn chung, tình hình kinh tế của người Chăm còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh, số hộ nghèo và cận nghèo21 của người Chăm năm 2012 trên địa bàn thành phố là 192

hộ với 1.077 nhân khẩu22

Trước đây, nghề nghiệp truyền thống của người Chăm ở An Giang là đánhbắt cá, trồng trọt, buôn bán và dệt, trong đó nghề dệt của người Chăm là nghề nổi tiếngnhất Tuy nhiên, qua thời gian, với sự xuất hiện của dệt may công nghiệp, thì nghề dệttruyền thống Chăm không còn được hưng thịnh như trước Buôn bán là nghề hiện nayngười Chăm tham gia nhiều nhất, chủ yếu buôn bán vải và quần áo ở thành phố hoặcmang đi bán ở các tỉnh miền Tây Tuy là cư dân thành thị, nhưng đa phần kinh tế chưađược khá giả, học vấn thấp nên ngoài buôn bán người Chăm ở thành phố còn làmnhững nghề lao động tự do như nghề đạp xích lô, chạy xe ôm, tài xế, khuân vác Sốngười Chăm làm trong các cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị nhà nước không nhiều và

Trang 37

phần lớn những người này là người Chăm có gốc từ các tỉnh miền Trung vào thànhphố học tập và ở lại làm việc (Phan Văn Dốp và Vương Hoàng Trù, 2011).

Trong sinh hoạt tôn giáo người Chăm có ý thức cộng đồng khá cao, nhưngtrong đời sống kinh tế, tinh thần cộng đồng của họ lại “rất kém” Họ có thể sẵn sàng,tích cực giúp nhau tổ chức lễ hội, đình đám dù chẳng phải quan hệ thân thiết, nhưng để

giúp nhau làm kinh tế, mưu sinh thì họ lại rất thờ ơ, đố kị “về vật chất, nhìn chung người Chăm chưa sẵn sàng tiến đến làm giàu mà còn phải loay hoay chống chọi với tình trạng khó khăn rất đặc trưng: không phải do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, không phải do đất đai quá 18 19

cằn cỗi, mà do cách suy nghĩ nông cạn, thiếu sáng suốt và chưa thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự tị hiềm Sakhatai ” [23

2.2 Đặc trưng về tôn giáo

Chính căn cứ vào tôn giáo mà người ta phân biệt, định danh ba nhómngười Chăm khác nhau và cả ba nhóm này trong quá trình di cư và hội nhập đều hiệndiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, hình thành nên cộng đồng người Chăm Thành phố

Hồ Chí Minh Đa số người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ miềnTây Nam bộ (Châu Đốc - An Giang) theo đạo Islam hay thường gọi là Chăm Hồi giáohoặc Chăm Islam Số còn lại từ Nam Trung bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận) theo đạoBàlamôn hoặc đạo Bàni (Bàni cùng là một phái Hồi giáo nhưng không chính thống:Hồi Giáo đã bị pha trộn với các tập tục địa phương và tôn giáo cổ truyền của dân tộcChăm là đạo Bàlamôn) - Chăm không Hồi giáo hoặc Chăm Bàni Chính sự khác nhau

về tôn giáo này mà Chăm Hồi giáo và Chăm không Hồi giáo; giữa Hồi giáo Islam vàHồi giáo Bàni có nhiều điểm khác nhau về cơ cấu xã hội, kinh tế, văn hóa, tiếng nói vàchữ viết ảnh hưởng không ít đến ý thức cố kết, thống nhất cộng đồng dân tộc Tronghai bộ phận nói trên, thì bộ phận Chăm Islam chịu ảnh hưởng tôn giáo mạnh mẽ hơn

18 Trong giai đoạn 2012-2015 chuẩn hộ nghèo của TP Hồ Chí Minh là hộ có thu nhập dưới 12 triệu đồng/người/năm

và hộ cận nghèo những hộ có mức thu nhập bình quân từ 12 triệu đồng/người/năm đến 16 triệu đồng/người/năm, không phân biệt nội thành và ngoại thành.

19 Báo cáo của Văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình tăng hộ khá giảm hộ nghèo, Sở Lao động

Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh.

Trang 38

Islam là một tôn giáo không có giáo sĩ, nhưng giáo luật lại đặc biệt khắt khe; mọi tín

đồ phải tin tưởng tuyệt đối và hành xử theo kinh Cur’an Cùng với những trói buộckhắt khe của giáo luật Islam, người Chăm còn lệ thuộc vào nhiều thứ kiêng cữ, cấm kỵ

và tập tục của lễ nghi rườm rà Tất cả những yếu tố đó là lực cản lớn trong tiến trìnhhội nhập của người Chăm với 20

20 Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp 1991: Văn Hóa Chăm, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội

Trang 39

[24] Phú Văn Hẳn (chủ biên) 2005, Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm Tp Hồ Chí Minh,

Nxb Văn hóa dân tộc học, trang 26

cộng đồng các dân tộc anh em trong cuộc sống hiện đại ở Thành phố Hồ Chí Minh [24]

Tuy có sự khác biệt, phân chia thành ba nhóm tôn giáo và cũng từng cónhững mâu thuẫn, bất đồng, nhưng trong quá trình di cư và hội nhập, cùng sinh sốngvới các cộng đồng dân tộc khác, phải mưu sinh lập nghiệp ở một thành phố có nhiềuđiều kiện sinh sống nhưng cũng đầy bất trắc, các nhóm người Chăm phải cố kết vớinhau trên cơ sở ý thức chung về dân tộc, về cội nguồn lịch sử, về một cộng đồng Chăm

ở Thành phố Hồ Chí Minh, về quốc gia Việt Nam Chính sách tự do tín ngưỡng vànhững điều kiện sống mới cùng với những tác động của môi trường giao tiếp, trao đổivăn hóa giữa các cộng đồng dân tộc với nhau là cơ sở để đoàn kết chặt chẽ các nhómngười Chăm ở thành phố, giải tỏa dần những xung khắc tranh chấp tôn giáo một thờicòn tiềm ẩn, tạo nên một diện mạo mới của cộng đồng người Chăm Thành phố Hồ ChíMinh

Là những tín đồ thuần thành của đạo Islam, nên những quy tắc, nghi lễcủa tôn giáo được người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh tuân thủ khá nghiêm ngặt Họluôn thực hiện thống nhất 5 nguyên tắc căn bản trong giáo luật Islam như: Tin tưởngtuyệt đối vào Thượng đế duy nhất là Allah và Mumhammad là sứ giả của Ngài; Đọckinh cầu nguyện mỗi ngày 5 lần; Nhịn chay vào tháng Ramadan; Thực hành bố thí(Kazat); Mong muốn hành hương về thánh địa Mecca (nếu có điều kiện về sức khỏe vàtài chính)

2.3 Về đời sống văn hóa

Do sự xâm nhập rất sâu của đạo Hồi, phong tục tập quán của người ChămThành phố Hồ Chí Minh cũng như Nam bộ đã biến đổi một cách căn bản Trái ngượcvới những người Chăm Bani vẫn còn bảo lưu chế độ mẫu hệ, người Chăm Thành phố

Hồ Chí Minh đã chuyển sang phụ hệ một cách khá triệt để Ở đây, con trai phải đi hỏi

vợ, có thể ở rể hoặc không, nhưng các con phải theo họ cha Hôn nhân với người khácdân tộc cũng được chấp Thịt heo, thịt chó, thịt của những con vật bị cấm ăn, mỡ,huyết của động vật nói chung, đều phải kiêng ăn nghiêm ngặt Các loại thịt bò, gà, vịt

và những động vật được phép ăn đều phải do chính người Islam cắt tiết, bỏ máu và

Trang 40

[24] Phú Văn Hẳn (chủ biên) 2005, Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm Tp Hồ Chí Minh,

Nxb Văn hóa dân tộc học, trang 26

trong quá trình cắt tiết phải đọc một đọan kinh bằng tiếng Ả Rập thì mới được phépdùng Người Chăm Islam Thành phố Hồ Chí Minh không tổ chức tết Katê như ngườiChăm Jat mà tổ chức ăn tết riêng theo lịch của đạo Hồi, giống như Chăm Bani

Về ngôn ngữ, cũng có những biến thể và khác biệt với người Chăm Trung

bộ, tuy người Chăm hai miền vẫn có thể thông hiểu nhau, nhưng khác biệt về chữ viếtthì rất lớn: trong khi người Chăm Trung bộ sử dụng chữ Akhar Thrah bắt nguồn từmột hệ chữ Phạn ở Nam Ân Độ, thì người Chăm Islam chỉ học chữ Qur’an và Jawi sửdụng hệ thống mẫu tự Ả Rập [25]

Trong giao tiếp, người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh dùng tiếng mẹ đẻ

và tiếng Việt khá thông thạo; một số người nói được tiếng Malaysia, đặc biệt là ngônngữ Ả rập Vì theo đạo Islam, thanh thiếu niên Chăm có bổn phận phải học ngôn ngữ

Ả rập để hiểu biết giáo luật, nhưng do khó học, nên số người thông thạo không nhiều,thường là học để đọc kinh Co’ran hơn là học một ngôn ngữ giao tiếp Vấn đề ngônngữ, đặc biệt là chữ viết cổ truyền của dân tộc là vấn đề bức xúc của cộng đồng Chămhiện nay Dân tộc Chăm là dân tộc có chữ viết từ lâu đời, nhưng do biến cố lịch sử vàquá trình phân ly tộc người mà bị mai một dần Sự thay đổi môi trường sinh hoạt và sựlưu tán trong một thời gian dài đã làm cho ngôn ngữ giao tiếp giữa người Chăm miềnTrung và người Chăm Tây Nam bộ (do đã lâu không còn gắn bó với bản quán, thườngxuyên tiếp xúc với những người Malaysia và Khmer) có nhiều biến đổi, phong phúhơn, nhưng dường như không còn biết gì về thứ văn tự cổ truyền của dân tộc Viêckhôi phục và cải tiến chữ viết dân tộc bên cạnh công tác phát triển hệ thống giáo dụctheo ngôn ngữ là vấn đề phức tạp, còn có sự khác nhau giữa các nhóm người Chăm.Đây là vấn đề hết sức quan trọng, là chìa khóa giúp cho các thế hệ thanh thiếu niênChăm hôm nay và tương lai tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc

Người Chăm rất yêu thích hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhất là trong lĩnhvực ca múa nhạc Tuy nhiên do ảnh hưởng của giáo luật Islam mà loại hình hoạt độngnày có phần mờ nhạt Trước đây hoạt động văn hóa nghệ thuật của người Chăm chỉdừng lại trong nội bộ cộng đồng mình với mục đích phục vụ cho hoạt động tôn giáo, lễnghi Từ sau ngày giải phóng đến nay, hoạt động văn hóa nghệ thuật của người Chăm

Ngày đăng: 21/06/2018, 18:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w