1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đề án LỘ TRÌNH DÁN NHÃN NĂNG LƯỢNG VÀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN HIỆU SUẤT NĂNG LƯỢNG (GIAI ĐOẠN 2010-2015)

36 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động dán nhãn năng lượng là biện pháp có hiệu quả nhằm đưa các địnhhướng chính sách của Chính phủ về tiết kiệm năng lượng áp dụng vào thực tiễn trên diệnrộng toàn quốc, tiến tới loạ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

Đề án

LỘ TRÌNH DÁN NHÃN NĂNG LƯỢNG VÀ XÂY DỰNG

TIÊU CHUẨN HIỆU SUẤT NĂNG LƯỢNG

(GIAI ĐOẠN 2010-2015)

Hà Nội, 5/2010

Dự thảo

Trang 2

MỞ ĐẦU

Theo số liệu thống kê, tổng nhu cầu năng lượng của các ngành kinh tế quốc dâncủa nước ta trong năm 2007 tương đương 30,1 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó sử dụngnăng lượng cho công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất (47%), tiếp đến là giaothông vận tải (30%), gia dụng và lĩnh vực khác (23%) Tốc độ tăng trưởng nhu cầu nănglượng cuối cùng trong giai đoạn 1990-2006 trung bình ở mức 12%/năm Hệ số đàn hồinăng lượng so với tăng trưởng GDP đang ở mức 1,6 (12,0/7,5) Ở các nước công nghiệpphát triển, các hệ số này nhỏ hơn 1, hay nói cách khác, kinh tế tăng trưởng chỉ đòi hỏi giatăng cung cấp năng lượng với tỷ lệ nhỏ hơn, giảm được chi phí đầu tư cho năng lượng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tiêu thụ nhiều năng lượng trong các lĩnh vực đangchiếm tỷ trọng lớn ở nước ta hiện nay Trước hết, đây là nhu cầu khách quan đảm bảocho sự phát triển kinh tế-xã hội với tốc độ cao trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá Pháttriển sản xuất công nghiệp, phát triển giao thông vận tải và mức sống không ngừng đượcnâng cao ở phần lớn các gia đình đã làm tăng nhanh nhu cầu năng lượng Chỉ tính riêng

về mặt dân số, với gần 86 triệu dân, hàng năm gia tăng thêm khoảng 1 triệu người, nhucầu năng lượng cho mục đích dân dụng chiếm tỷ trọng lớn trong điều kiện của một nước

có nền công nghiệp, dịch vụ chưa thực sự phát triển là điều dễ hiểu Tuy vậy, một lý dokhác không kém quan trọng là sự lãng phí trong sử dụng năng lượng còn lớn Thông tinhướng dẫn cho người tiêu dùng lựa chọn được những thiết bị tiết kiệm năng lượng đểdùng trong sản xuất cũng như cho mục đích gia dụng còn rất thiếu Phần lớn thiết bị côngnghệ đang sử dụng trong mọi lĩnh vực ở nước ta có hiệu suất năng lượng thấp hơn nhiều

so với thế giới; việc quản lý năng lượng chưa được chú ý đúng mức, sử dụng năng lượngtheo các thói quen chưa hợp lý, tổn thất năng lượng còn lớn ở cả hai phía – cung và cầu.Cường độ năng lượng trong sản xuất công nghiệp ở nước ta còn cao Để làm ra cùng mộtgiá trị kinh tế, sản xuất công nghiệp của nước ta cần sử dụng năng lượng nhiều hơn 1,5 –1,7 lần so với một số nước trong khu vực

Hoạt động dán nhãn năng lượng là biện pháp có hiệu quả nhằm đưa các địnhhướng chính sách của Chính phủ về tiết kiệm năng lượng áp dụng vào thực tiễn trên diệnrộng toàn quốc, tiến tới loại bỏ ra khỏi thị trường các phương tiện, thiết bị có công nghệlạc hậu, giảm cường độ năng lượng trong sản xuất, tiết kiệm năng lượng trong mọi hoạtđộng của xã hội Thực hiện dán nhãn năng lượng sẽ tạo ra sức ép thúc đẩy các nhà sảnxuất luôn phấn đấu đưa ra thị trường các sản phẩm có hiệu suất cao; buộc các nhà buônbán, nhập khẩu thiết bị phải chọn các sản phẩm đạt hoặc vượt tiêu chuẩn hiệu suất nănglượng đã quy định và đảm bảo các thông số ghi trên nhãn, giúp người tiêu dùng chọnđúng các các sản phẩm tiết kiệm năng lượng hoặc sản phẩm có hiệu suất năng lượngmong muốn đang lưu thông trên thị trường Với hàng triệu các sản phẩm sử dụng nănglượng có hiệu suất cao được dùng rộng rãi trong đời sống sẽ tổng hợp thành mức tiết

Trang 3

kiệm lớn, đưa lại hiệu quả kinh tế cao cho toàn xã hội Trong số các biện pháp thực hiện

sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, chương trình dán nhãn năng lượng được đánhgiá là chương trình rất thành công, đưa lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước trên thế giới

và khu vực, đặc biệt ở Mỹ (với nhãn có biểu tượng sao năng lượng nổi tiếng), các nướcthuộc EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Hoạt động dán nhãnnăng lượng, nhãn tiết kiệm năng lượng cũng đã được ghi trong Chương trình hành độnghợp tác năng lượng ASEAN, thông qua các kế hoach hợp tác 1999-2004 và 2004-2009

Tìm các biện pháp nâng cao hiệu suất năng lượng, tiết kiệm điện, tiết kiệm nhiênliệu cho các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng trong sản xuất công nghiệp, tronggiao thông vận tải cũng như trong sinh hoạt đời sống sẽ đem lại hiệu quả cao về kinh tế.Nghị Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngày tháng năm …đã quy định:

Tại Điều 37 về biện pháp quản lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đốivới phương tiện, thiết bị

Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệuquả đối với phương tiện, thiết bị như sau:

- Xây dựng và công bố tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất năng lượngtối thiểu của phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng;

- Dán nhãn năng lượng đối với các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng;

- Công khai thông tin cần thiết về sử dụng năng lượng của phương tiện, thiết bị;

- Loại bỏ phương tiện, thiết bị dưới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu

Tại Điều 38 quy định về tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệu suất nănglượng tối thiểu

- Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, mức hiệusuất năng lượng tối thiểu để kiểm soát hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị sửdụng năng lượng

- Việc xây dựng, công bố và điều chỉnh mức hiệu suất năng lượng tối thiểu đối vớicác phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải được tổ chức tối thiểu năm năm mộtlần và tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau:

a) Đáp ứng mục tiêu tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường;

b) Khuyến khích các cơ sở sản xuất trong nước đầu tư nghiên cứu, sản xuất, cungcấp cho thị trường các sản phẩm có hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng;

c) Phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, trình độ công nghệ của đấtnước, đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế

Tại Điều 39 quy định về dán nhãn năng lượng như sau:

- Phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng đưa ra thị trường phải được dán nhãnnăng lượng theo quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Trang 4

- Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị thực hiện việc dánnhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấpgiấy chứng nhận dán nhãn.

- Giấy chứng nhận dán nhãn được cấp sau khi phương tiện, thiết bị đã được thửnghiệm phù hợp với tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tại các phòng thử nghiệm

Tại Điều 40 quy định về quản lý phương tiện, thiết bị dưới mức hiệu suất nănglượng tối thiểu

- Phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng có mức hiệu suất năng lượng thấp hơnmức hiệu suất năng lượng tối thiểu phải loại bỏ theo danh mục và lộ trình do Thủ tướngChính phủ ban hành

- Không sản xuất, nhập khẩu phương tiện, thiết bị có mức hiệu suất năng lượngthấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu thuộc danh mục phương tiện, thiết bị phảiloại bỏ

Tại Điều 15 quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt độngxây dựng yêu cầu tổ chức, cá nhân tham gia tư vấn thiết kế, đầu tư, xây dựng, sở hữu cáctoà nhà có trách nhiệm thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quảnhư là:

- Sử dụng các vật liệu cách nhiệt được sản xuất và thử nghiệm phù hợp tiêu chuẩnquốc gia hoặc tiêu chuẩn nước ngoài về mức hiệu suất năng lượng được cơ quan nhànước có thẩm quyền công bố, thừa nhận áp dụng nhằm hạn chế truyền nhiệt qua tường,mái nhà, cửa ra vào và cửa sổ

- Sử dụng và lắp đặt các phương tiện, thiết bị có hiệu suất năng lượng cao đượcthiết kế, chế tạo, sản xuất phù hợp tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn nước ngoài vềmức hiệu suất năng lượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, thừa nhận ápdụng

Xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng và dán nhãn năng lượng cho một số sảnphẩm sử dụng năng lượng là nội dung một đề án của Chương trình mục tiêu quốc gia về

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2006-2015) đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt tại Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2006,thuộc nhóm vấn đề thứ ba: “Phát triển, phổ biến các trang thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệmnăng lượng, từng bước loại bỏ các trang thiết bị hiệu suất thấp” Đề án đã được triển khaithí điểm từ năm 2007 đến nay, nhưng gặp nhiều khó khăn trong phối hợp đồng bộ thựchiện giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và trình độ phát triển của thịtrường, làm hạn chế các kết quả mong muốn của hoạt động dán nhãn Các kết quả triểnkhai cũng cho thấy cần phải thay đổi hình thức thực hiện Chương trình từ việc dán thíđiểm nhãn tiết kiệm năng lượng thành dán nhãn năng lượng (bao gồm nhãn năng lượngcung cấp thông tin so sánh và nhãn lượng xác nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng) để

Trang 5

việc triển khai được linh hoạt và không nhầm lẫn khái niệm khi tất cả các sản phẩm đềuphải tham gia dán nhãn theo lộ trình.

Bên cạnh việc dán nhãn, quá trình áp dụng các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượngvới mức hiệu suất năng lượng tối thiểu sẽ là biện pháp hành chính mạnh đã được nhiềunước trên thế giới áp dụng nhằm từng bước loại bỏ ra khỏi thị trường các sản phẩm cóhiệu suất năng lượng thấp, tiêu tốn nhiều năng lượng khi sử dụng

Các thiết bị được nhắm tới để quy định tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu

và dán nhãn năng lượng trước tiên sẽ là các thiết bị gia dụng phổ biến, có sử dụng nănglượng Các thiết bị chiếu sáng (đèn ống, đèn compact, chấn lưu, choá đèn…), quạt, bơmnước, thiết bị nghe nhìn, điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, bình đun nước nóng, nồi cơm điện,bếp ga v.v… sẽ dự định được dán nhãn năng lượng Người dân sẽ có định hướng để lựachọn mua sắm, thay thế các thiết bị trong nhà bằng các thiết bị có hiệu suất năng lượngcao, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sinh hoạt sẽ dần kiểm soát được

về mặt công nghệ Vấn đề còn lại chỉ là ý thức sử dụng tiết kiệm của người tiêu dùng

Ngoài các thiết bị dân dụng phổ biến (đèn, điều hoà nhiệt độ…), việc kiểm soát sửdụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong lĩnh vực công sẽ được thực hiện thông quadán nhãn cho các thiết bị văn phòng (máy tính và màn hình, máy in, máy phôtô côpy,máy fax…) Chính phủ cần có quy định bắt buộc các cơ quan nhà nước khi lắp mới hoặcthay thế thiết bị cho công sở chỉ được dùng các thiết bị đã được dán nhãn, có hiệu suấtcao; xây dựng thói quen cho cán bộ công chức chỉ bật điện khi sử dụng thiết bị, tắt điệnkhi ra khỏi phòng v.v…, thực hiện “xanh hoá” công sở theo nghĩa tiết kiệm năng lượng,

cơ quan nhà nước phải trở thành người tiên phong trong sử dụng năng lượng tiết kiệm vàhiệu quả, làm gương tốt cho toàn xã hội noi theo

Động cơ điện cũng là đối tượng được dán nhãn năng lượng Cải thiện hiệu suấtchiếu sáng, sử dụng các động cơ điện, bơm nước, nồi hơi, áp dụng rộng rãi các giải phápcông nghệ có hiệu quả cho động cơ, máy nén khí, cải thiện chu trình trao đổi nhiệt v.v…

sẽ mang lại kết quả tiết kiệm năng lượng to lớn trong sản xuất công nghiệp

Trong tương lai, nhãn năng lượng cũng cần áp dụng cho các phương tiện đi lạinhằm tác động và điều chỉnh hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tronglĩnh vực giao thông vận tải

Xây dựng một lộ trình toàn diện cho hoạt động dán nhãn năng lượng, áp dụng mứchiệu suất năng lượng tối thiểu trình Chính phủ để được phê duyệt và quyết định ban hành

là bước đi cần thiết trong điều kiện Chương trình mục tiêu quốc gia về Sử dụng nănglượng tiết kiệm và hiệu quả đã đi được gần nửa giai đoạn 10 năm, đã phát triển đượcnhiều hoạt động theo diện rộng, đã đạt được nhiều kết quả từ các dự án thí điểm cho đến

Trang 6

thời điểm hiện nay Một lộ trình cụ thể được xác lập, được Chính phủ thông qua và quyếtđịnh ban hành sẽ là chỗ dựa mạnh mẽ về pháp lý để đưa hoạt động dán nhãn năng lượng

đi vào quy củ, ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việcchuẩn bị các điều kiện cần thiết cho dán nhãn và thực hiện dán nhãn; hướng sự chú ý củacác nhà chế tạo, nhập khẩu, buôn bán thiết bị sử dụng năng lượng vào việc tích cực đưa

ra thị trường các thiết bị tiết kiệm năng lượng, hiệu suất cao; hướng các doanh nghiệp,người dân, người quản lý các công trình xây dựng dân dụng, người đứng đầu các cơ quannhà nước … hưởng ứng tích cực hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.Theo kinh nghiệm của các nước, thực hiện thành công dán nhãn năng lượng sẽ là yếu tốtích cực đóng góp cho việc hoàn thành các mục tiêu của quốc gia về tiết kiệm năng lượngđược xác lập trong các chương trình dài hạn về bảo tồn năng lượng, về sử dụng nănglượng tiết kiệm và hiệu quả

Chương I

SỰ TĂNG TRƯỞNG NHU CẦU CUNG CẤP NĂNG LƯỢNG

TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ

I.1 Tình hình báo động về tăng trưởng nhu cầu năng lượng

Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi sự gia tăng nhu cầu năng lượng cho sản xuấtcông nghiệp, cho các phương tiện giao thông vận tải và cả cho các thiết bị hiện đại sửdụng năng lượng trong các hộ gia đình khi mà điều kiện sống của xã hội ngày càng đượccải thiện Những yếu tố này dẫn đến nhu cầu năng lượng của nước ta tăng nhanh hơn tốc

độ tăng trưởng của nền kinh tế Mặc dù hiện nay đang có sự suy giảm trong phát triển củakinh tế thế giới nhưng triển vọng tăng trưởng kinh tế của nước ta trong trung hạn là khảquan Nếu trong giai đoạn 2009-2018, GDP tăng trưởng khoảng 7,5%/năm và hệ số đànhồi nhu cầu sử dụng năng lượng trên GDP là 1,6 như đã xảy ra trong thập kỷ qua thì nhucầu năng lượng sẽ tăng khoảng 12%/năm, nhu cầu đầu tư cho năng lượng vẫn chiếm tỷtrọng lớn Với tốc độ tăng trưởng như vậy, nhu cầu năng lượng sẽ tăng gấp đôi trongkhoảng 10 năm tới với tổng năng lượng tiêu thụ cuối cùng xấp xỉ 80 triệu TOE vào năm2018

Nhu cầu điện năng tăng hơn ba lần trong giai đoạn 1999-2008 được sản xuất từcác nguồn nhiên liệu và năng lượng sơ cấp trong nước với chi phí tương đối thấp Tiêuthụ năng lượng thương mại cuối cùng của Việt Nam vào năm 1998 chỉ vào khoảng 10,8triệu Toe, tăng lên đến khoảng 24,2 triệu Toe vào năm 2006 (Hình 1)

Trang 7

Hình 1 Tiêu thụ năng lượng thương mại cuối cùng giai đoạn 1998-2006

Việc cung cấp năng lượng trong giai đoạn 1998-2008 nhìn chung đã đáp ứng đượcnhu cầu năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, nếu nhu cầu năng lượngtrong nước tiếp tục tăng gấp đôi trong thập kỷ tiếp theo sẽ là một thách thức lớn, pháttriển năng lượng sẽ phải giải quyết các vấn đề về phát triển nguồn lực để đáp ứng nhu cầunăng lượng và sẽ phải dựa vào nguồn năng lượng nhập khẩu ngày càng nhiều, bao gồm

cả than, dầu và điện Theo tính toán quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia, trong giaiđoạn 2010-2020, đã có khả năng xuất hiện sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhucầu sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp nội địa

Xác định các ngành mục tiêu, phân loại các nhóm khách hàng sử dụng nănglượng, đề xuất các cơ chế về quản lý phù hợp sẽ có tác dụng lựa chọn đầu tư hợp lý vàkhuyến khích các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Đối với nước ta,các lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng ngoài ngành công nghiệp sản xuất điện có thểphân chia thành bốn nhóm lớn gồm (a) sử dụng năng lượng cho công nghiệp, (b) sử dụngnăng lượng trong các công trình xây dựng dân dụng (c) sử dụng các sản phẩm dầu mỏcho giao thông vận tải, (d) sử dụng điện trong các hộ gia đình Bốn nhóm sử dụng nănglượng lớn nhất ở trên tiêu thụ đến 85% năng lượng thương mại cuối cùng của nước ta(Hình 2)

Hình 2: Tiêu thụ năng lượng theo nhóm sử dụng năng lượng

0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0

0 5,000

GDP, constant US$

Trang 8

Khả năng tiết kiệm trong ngành công nghiệp theo các đánh giá hiện nay khoảng

từ 25-30% Với tốc độ tăng trưởng liên tục khoảng 10%/năm như đã xảy ra trong giaiđoạn 1999-2006 thì giá trị công nghiệp mới được xây dựng trong vòng 7 năm tiếp theo sẽbằng năng lực công nghiệp toàn quốc hiện nay Sự thay đổi cơ cấu của ngành côngnghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nhu cầu năng lượng cho công nghiệp

và cường độ sử dụng năng lượng cho một đơn vị gia tăng của ngành công nghiệp Pháttriển công nghiệp ở những giai đoạn tiếp theo cần đặc biệt quan tâm đến những vấn đềnhư là loại nhà máy nào nên được phát triển và công nghệ do các nhà máy này sử dụngcần có hiệu suất sử dụng năng lượng bao nhiêu

Nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nhiên liệu trong công nghiệp tập trung chủyếu cho việc phát triển công nghệ, nâng cao hiệu suất cấp nhiệt để đáp ứng nhu cầu cungcấp hơi và nhu cầu nước nóng, đồng thời với việc cải thiện hiệu suất sử dụng điện liênquan đến vận hành các động cơ, áp dụng công nghệ biến tần cho động cơ, đảm bảo hiệusuất của động cơ theo dải công suất của thiết bị, nâng cao hiệu suất của hệ thống truyềntải và phân phối điện, cải thiệt điều kiện kỹ thuật và quản lý lò luyện kim, hiệu chỉnh hệ

số công suất, sử dụng và điều chỉnh công suất của thiết bị làm lạnh và công nghệ chiếusáng, song song với việc cải thiện công nghệ của các dây chuyền sản xuất

I.3 Sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải

Ngành giao thông vận tải sử dụng khoảng 1/3 tổng nhu cầu năng lượng cuối cùngcủa Việt Nam và sẽ là yếu tố quyết định mức độ nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ Các chỉtiêu về năng lượng sử dụng trong giao thông vận tải là mức tiêu thụ nhiêu liệu trên kháchhàng-km hoặc trên hàng hóa –km Mức độ sử dụng năng lượng hiệu quả trong giao thôngvận tải được thực hiện bằng việc định mức sử dụng năng lượng cho từng loại phương tiện

Trang 9

và ở tầm vĩ mô là phương thức phát triển giao thông Giảm chi phí luôn là mối quan tâmtrong xây dựng các chiến lược phát triển giao thông Ở Việt Nam có hai xu hướng pháttriển giao thông có liên quan lớn đến hiệu suất sử dụng năng lượng (i) Tương quan pháttriển giữa ô tô và xe máy, xe buýt và các phương tiện giao thông đường sắt cho giaothông của khu vực đô thị và bán đô thị; (ii) Chuyên chở hàng hóa bằng đường bộ vàđường thuỷ Sử dụng các loại nhiên liệu thay thế cho sản phẩm dầu như dùng khí đốt,nhiên liệu sinh học, hay sử dụng xe chạy bằng điện v.v là những tiềm năng cho tiếtkiệm nhiên liệu hoá thạch trong giao thông vận tải

I.4 Sử dụng năng lượng trong các công trình xây dựng dân dụng

Trong những năm 1990, số nhà cao tầng tại Việt Nam mới khoảng hơn 100 côngtrình Đến đầu năm 2009, theo ước tính, con số này đã tăng lên khoảng trên dưới 4000bao gồm các công trình thương mại quy mô lớn1 Con số này không bao gồm các dự ánhiện đang trong giai đoạn lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng Theo thống kê của Bộ Xâydựng, tổng diện tích sàn của các công trình thương mại và nhà ở cao tầng tăng với tốc độkhoảng 6% -7% mỗi năm Ước tính có khoảng 32,14 triệu mét vuông sàn công trìnhthương mại và nhà ở cao tầng sẽ được xây dựng tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2013

Số liệu khảo sát cho thấy, khoảng 95% các công trình thương mại và nhà ở cao tầng tạiViệt Nam cho đến nay chưa tính đến hiêu quả sử dụng năng lượng đưa vào thiết kế cũngnhư vận hành công trình

I.5 Sử dụng điện trong dịch vụ-thương mại và hộ gia đình

Tỉ lệ sử dụng điện trong lĩnh vực gia dụng chiếm khoảng 43% nhu cầu điện củaViệt Nam và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng của ViệtNam, khoảng 23% Sử dụng năng lượng cho mục đích thương mại và gia dụng liên quanđến gần 86 triệu người dân Việt Nam, do đó cần phải có cách tiếp cận riêng để đạt đượckết quả trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Nguyên tắc cơ bản để thúcđẩy hiệu suất của các thiết bị là quy định tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho các thiết bịthuộc diện phải tăng cường quản lý, khuyến cáo và đi đến bắt buộc các nhà sản xuất phải

áp dụng, thực hiện dán nhãn tiết kiệm năng lượng, cung cấp các thông tin cho khách hànglựa chọn mua các thiết bị tiết kiệm năng lượng và thực hiện các biện pháp khuyến khích,cung cấp những chương trình giảm giá để khuyến khích chuyển đổi thị hiếu mua sắm củangười tiêu dùng

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây,nhu cầu về các thiết bị điện dân dụng tăng nhanh chủ yếu là do tốc độ tăng dân số khácao và sự cải thiện thu nhập của các hộ gia đình

Từ năm 1990 tới 2008, tốc độ tăng dân số của Việt Nam ổn định ở mức xấp xỉ 1 –1.2 triệu dân mỗi năm Việt Nam đang đứng thứ 13 thế giới về số dân Đến năm 2025, dựbáo dân số Việt Nam sẽ đạt hơn 100 triệu và đến năm 2030 là 120 triệu người Dân số

1 Ghi chú: Các nhà cao tầng thương mại lớn là các khu nhà có tổng diện tích sàn vượt quá 5,000 mét vuông.

Trang 10

đông, tốc độ tăng dân số cao sẽ mở rộng quy mô và số lượng gia đình Do vậy, Việt Namđược xem là một thị trường có tiềm năng lớn cho các các sản phẩm tiêu dùng, trong đóbao gồm cả các thiết bị điện dân dụng

Hình 3 – GDP trên đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1990 -2008

Sự cải thiện thu nhập của các hộ gia đình Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọnggóp phần làm tăng nhu cầu tiêu thụ điện gia dụng GDP trên đầu người của nước ta tăng

từ 118 USD năm 1990 lên 402 USD năm 2000 và đạt hơn 1,000 USD năm 2008 (Hình3) Kinh tế phát triển nhanh đã tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống chongười dân Người dân có cơ hội tiếp cận các nhu cầu mới, có chất lượng cao hơn, từ thựcphẩm, nước uống, giải trí… sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Thu nhập tăng hàngnăm, tạo điều kiện cho người dân có khả nămg chi trả cho những nhu cầu này Hình 4cho thấy mức chi tiêu bình quân đầu người trong một tháng ở khu vực thành thị và nôngthôn ở Việt Nam đã tăng trưởng liên tục trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006 Theo đó, số lượng các thiết bị điện dân dụng phục vụ đời sống hàng ngày của người dân

và lượng điện tiêu thụ của các thiết bị này cũng tăng ở mức cao Cho tới nay, sản xuất vàkinh doanh thiết bị điện gia dụng không chỉ thu hút các nhà đầu tư trong nước mà cả nhàđầu từ nước ngoài, như LG, Samsung (Hàn Quốc), Canon (Nhật Bản)… Việc đầu tư lớncho các sản phẩm này làm tăng cả về số lượng và chất lượng của các thiết bị điện dândụng Bên cạnh các sản phẩm nội, sản phẩm nhập khẩu cũng đóng vai trò quan trọngtrong mở rộng quy mô thị trường thiết bị điện gia dụng

Trang 11

Hình 4– Chi tiêu bình quân đầu người trong một tháng

có thu nhập thấp và trung bình ưa chuộng Trong khi đó, trên thị trường cũng có các sảnphẩm cao cấp dành cho các hộ có thu nhập cao Việc phân hóa sản phẩm như vậy sẽ làmtăng nhu cầu của thị trường và tăng số lượng sản phẩm được tiêu thụ

Các kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển-Bộ Công Thương về thiết

bị điện gia dụng (năm 2002) và khảo sát hộ gia đình do Công ty VESCO (thực hiện năm2009) có thể sử dụng tham khảo để đánh giá xu hướng tiêu thụ điện trong khu vực dândụng (tóm tắt kết quả ở Bảng 1) Theo kết quả nghiên cứu năm 2002, lượng điện tiêu thụtrung bình hàng tháng của 5.991 hộ khoảng 1,069,900 kWh/tháng Đến năm 2009, chỉvới 4939 hộ được điều tra, lượng điện tiêu thụ cũng đã đạt tới 1.048.337 kWh/ tháng.Bảng 2 trình bày sự gia tăng về số lượng của các thiết bị dân dụng từ năm 2002 đến 2009.Nhìn chung, số lượng của các thiết bị dân dụng tăng theo từng năm Các thiết bị tiêu thụđiện lớn, như máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt … có tốc độ tăng cao so với cácloại khác Ví dụ, từ năm 2002 tới 2009, số lượng tủ lạnh tăng xấp xỉ 1,8 lần còn máy điềuhòa nhiệt độ cũng tăng đến 24% Cùng với tăng về số lượng, lượng điện tiêu thụ cũngtăng với tốc độ nhanh trong thời gian trên

Bảng 1 Số liệu nghiên cứu (năm 2002) và khảo sát (năm 2009)

Trang 12

Số lượng mẫu điều tra 5.991 4.939

Lượng điện tiêu thụ trung bình của tổng số

Lượng điện tiêu thụ trung bình hàng tháng của

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN HẠN MỨC

SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG VÀ DÁN NHÃN TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG

Việc điều chỉnh và quản lý mức tiêu thụ năng lượng của các quốc gia đều tậptrung vào 4 lĩnh vực chính (i) Sản xuất công nghiệp, (ii) Các công trình xây dựng dândụng sử dụng nhiều năng lượng (tòa nhà), (iii) Sinh hoạt, dịch vụ - thương mại, và (iv)Giao thông vận tải

II 1 Xác định đối tượng dán nhãn

Các sản phẩm mục tiêu cần dán nhãn được lựa chọn theo nguyên tắc sau:

Trang 13

- Sản phẩm có mức tiêu thụ năng lượng (đơn lẻ) đáng kể;

- Sản phẩm được sử dụng rộng rãi cho mục đích sinh hoạt, trong các văn phòng,trong sản xuất kinh doanh hoặc được dự đoán sẽ tăng nhanh về số lượng sử dụng

- Sản phẩm có ý nghĩa đối với người tiêu dùng xét theo khía cạnh chiếm tỷ lệ lớntrong số tiền chi trả hóa đơn năng lượng

- Sản phẩm chưa sử dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng hiện nay trên thịtrường

- Dán nhãn cho một sản phẩm có thể tạo nên sự thay đổi có ý nghĩa trong việc tiếtkiệm năng lượng ở các sản phẩm khác nhau

Nếu sản phẩm lựa chọn để dán nhãn không thỏa mãn một (số) trong những yếu tốtrên thì không nên lựa chọn Tổ chức dán nhãn năng lượng cho sản phẩm đó sẽ mang lạihiệu quả không đáng kể cho xã hội

Nhóm thiết bị điện gia dụng:

Thiết bị điện gia dụng được chia thành 08 nhóm như sau:

- Thiết bị chiếu sáng: bao gồm đèn tròn, đèn huỳnh quang dạng ống, đèn compact,chấn lưu đèn huỳnh quang, choá đèn, v.v…;

- Thiết bị nghe nhìn và giải trí: bao gồm máy thu radio, tivi, đầu DVD, máy tính cánhân…;

- Quạt: Thiết bị thông gió, quạt bàn, quạt trần…;

- Tủ lạnh;

- Máy điều hòa không khí (air conditioners)

- Các thiết bị nhỏ: Các thiết bị tiêu thụ điện công suất nhỏ, không bao gồm cácthiết bị thuộc các nhóm trên, như máy hút bụi, bình đun nước, máy bơm nước, nồi cơmđiện, lò nướng, lò vi sóng, ấm đun nước…

- Các thiết bị lớn: Các thiết bị tiêu thụ điện công suất lớn, không bao gồm cácthiết bị thuộc các nhóm trên, như bình nóng lạnh, lò nướng bằng điện và ga loại lớn, máygiặt, máy sấy quần áo…

- Các thiết bị khác: Các thiết bị dân dụng dùng điện làm nguồn năng lượng dựphòng, sử dụng các nguồn năng lượng thay thế hay lưu trữ, như UPS (bộ lưu điện), bìnhnước nóng năng lượng mặt trời có tích hợp với bộ đun nước nóng bằng điện…

Trang 14

Hình 5 Lượng điện tiêu thụ của các nhóm thiết bị dân dụng

Nhì

n chung, điện năng tiêu thụ cho một thiết bị điện dân dụng phụ thuộc vào 03 yếu tố (i)Công suất của thiết bị; (ii) Thời gian sử dụng; (iii) Số lượng thiết bị được sử dụng Lượngđiện tiêu thụ trung bình của hộ gia đình được khảo sát vào năm 2009 theo loại thiết bịđược thể hiện trên Hình 5, Bảng 3

Mười (10) thiết bị điện dân dụng tiêu thụ nhiều điện nhất được liệt kê ở Bảng 3.Lượng điện tiêu thụ của 10 loại thiết bị điện dân dụng nói trên chiếm đến 83,11% tổng sốlượng điện tiêu thụ của tất cả các thiết bị điện được khảo sát, trong đó tủ lạnh là thiết bịtiêu thụ nhiều điện nhất với 5504,14 kWh/ngày

Từ số liệu thống kê về tỷ lệ tiêu thụ năng lượng trong các hộ gia đình, có thể xácđịnh các đối tượng ưu tiên dán nhãn theo thứ tự trong nhóm thiết bị gia dụng là thiết bịchiếu sáng, tủ lạnh, TV, bình nước nóng, nồi cơm điện Riêng đối với điều hòa khôngkhí, mặc dù tỷ trọng chưa thật lớn, nhưng với tốc độ gia tăng nhanh trong những năm gầnđây (24% mỗi năm) và lượng điện năng tiêu thụ lớn của mỗi máy điều hòa không khí,việc triển khai dán nhãn cho sản phẩm này là rất cần thiết Theo kinh nghiệm của TrungQuốc, lộ trình áp dụng bắt buộc dán nhãn đối với sản phẩm điều hòa không khí và tủ lạnhcần dặc biệt nhanh chóng thực hiện

Bảng 3 Mười (10) thiết bị gia dụng tiêu thụ điện nhiều nhất (điều tra 4939 hộ)

Điện năng tiêu thụ (kWh/ngày)

Độ bão hòa Tỷ lệ (%)

Số thiết bị/hộ

Trang 15

Điện năng tiêu thụ (kWh/ngày)

Độ bão hòa Tỷ lệ (%)

Số thiết bị/hộ

Nhóm thiết bị công nghiệp

Có thể chia các thiết bị sử dụng trong công nghiệp thành một số nhóm chính gồm:

- Thiết bị nguồn: Máy biến áp;

- Thiết bị sử dụng năng lượng cho gia nhiệt (nồi hơi);

- Thiết bị công nghệ sản xuất;

Các thiết bị gia nhiệt thường là các thiết bị lớn, đơn chiếc cần quản lý theo điềukiện công nghệ, vận hành Khó áp dụng hình thức dán nhãn trong trường hợp này Tuynhiên việc ban hành và quản lý các loại nồi hơi theo mức hiệu suất năng lượng tối thiểu

là rất cần thiết vì hiện nay thị trường nồi hơi ứng dụng trong đời sống dân sinh và dịch vụ

là tương đối lớn, mỗi năm số lượng nồi hơi mới đưa vào sử dụng tại thị trường Việt Namlên tới gần 1000 sản phẩm với tiềm năng tiết kiệm năng lượng từ 10 đến 30%

Thiết bị nguồn cũng được một số quốc gia quan tâm trong chương trình dán nhãnnăng lượng do tính phổ biến của nó Mỗi doanh nghiệp đều cần tối thiểu một máy biến ápcấp điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Thiết bị sản xuất: Chủ yếu điện năng được sử dụng cho các động cơ điện (mô tơ).Theo điều tra năm 2005, động cơ điện sử dụng từ 40 đến 95% năng lượng tiêu thụ củamột doanh nghiệp

Nhóm thiết bị văn phòng, dịch vụ-thương mại

Các trang thiết bị sử dụng trong công sở gia tăng với tốc độ rất nhanh trong thờigian gần đây cũng là yếu tố đáng quan tâm trong chương trình dán nhãn Tuy vậy, cácnhóm thiết bị này chủ yếu là những thiết bị công nghệ cao, trong khi hệ thống phòng thửnghiệm ở Việt Nam chưa đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu thử nghiệm Bên cạnh đó do mức

độ thay đổi nhanh chóng của các sản phẩm thiết bị văn phòng nên việc xây dựng tiêuchuẩn hiệu suất, tổ chức dán nhãn cho nhóm các sản phẩm này tại Việt Nam ở thời điểmhiện tại sẽ gặp nhiều khó khăn

Nhóm thiết bị này có thể triển khai theo lộ trình muộn hơn thiết bị gia dụng vàcông nghiệp

Trang 16

Nhóm thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo và vật liệu

Nhóm các thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo và vật liệu về bản chất đã là các đốitượng mục tiêu khuyến khích áp dụng Theo kinh nghiệm quốc tế và triển khai tại ViệtNam, nhóm này chỉ nên áp dụng hình thức dán nhãn tự nguyện với nhãn xác nhận là sảnphẩm tiết kiệm năng lượng là cung cấp đủ thông tin cho cộng đồng về loại sản phẩmđược khuyến khích sử dụng

Tóm lại, các nhóm sản phẩm mục tiêu dán nhãn năng lượng có thể chia ra như

sau:

1 Nhóm đồ gia dụng: Tủ lạnh, máy điều hoà nhiệt độ, máy giặt, đèn và thiết bịchiếu sáng, quạt, nồi cơm điện, ấm đun điện (phích điện), bình đun nước nóng, ti vi, máysấy quần áo, máy sưởi, lò vi sóng, máy hút bụi, bơm nước, bàn là, máy hút mùi, bình đunnước nóng bằng khí gas, máy phát hình DVD/VCD, và các thiết bị gia dụng tiêu thụ nănglượng khác

3 Nhóm thiết bị văn phòng và thương mại: Máy tính, màn hình máy tính, máy in,máy fax, máy photo copy, máy hút ẩm, máy điều hoà trung tâm, máy chiếu, tủ giữ lạnhbán hàng… và các thiết bị tiêu thụ năng lượng khác

4 Nhóm thiết bị công nghiệp: Mô tơ, máy biến thế ba pha, quạt công nghiệp, bơmnước ly tâm, máy may công nghiệp, thiết bị, phụ kiện chiếu sáng công nghiệp, công cộng

5 Nhóm năng lượng mới, tái tạo và vật liệu: Thiết bị đun nước nóng bằng nănglượng mặt trời, các thiết bị sử dụng khí gas gia dụng, kính, cửa sổ, tấm lợp, tấm vật liệu,các vật liệu, phụ kiện tiết kiệm năng lượng

II.2 Các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng và mức sử dụng năng lượng tối thiểu

a Tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng

Tại Việt Nam, hệ thống tiêu chuẩn quốc gia đã được xây dựng với 6000 TCVN,hầu hết các sản phẩm hàng hóa trên thị trường đều có tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng các tiêuchuẩn này chỉ mới tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật an toàn hay mức chất lượng tốithiểu của sản phẩm, chỉ từ năm 2005 tới nay trong một số nỗ lực của các hoạt động vềtiết kiệm năng lượng, các tiêu chuẩn đề cập đến mức hiệu suất sử dụng năng lượng củasản phẩm tiêu thụ năng lượng mới được xây dựng và ban hành

Việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia về hiệu suất năng lượng đối với các đốitượng sản phẩm tiêu thụ năng lượng là một công việc vô cùng cần thiết và đòi hỏi nỗ lựcliên tục Với mức tăng khiêm tốn từ 3-5% hiệu suất sử dụng năng lượng của một thiết bịgia dụng trong khoảng thời gian từ 3-5 năm thì toàn thể cộng đồng trên 20 triệu hộ giađình Việt Nam đã tiết kiệm được một lượng năng lượng đáng kể

Trang 17

b Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu

Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu là mức hiệu suất năng lượng thấp nhất đối vớiphương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng do cơ quan có thẩm quyền quy định mà dướimức đó, thiết bị sẽ chịu sự quản lý đặc biệt

Hiểu theo một cách đơn giản mức hiệu suất năng lượng tối thiểu là ngưỡng hiệusuất thấp nhất đối với một thiết bị do cơ quan quản lý nhà nước công bố nhằm xác địnhranh giới kiểm soát các phương tiện, thiết bị tiêu thụ năng lượng trên thị trường theo cácphương thức phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật từng quốc gia Tại một số nước cácsản phẩm có mức hiệu suất năng lượng thấp hơn mức hiệu suất năng lượng tối thiểu sẽ bịcấm không được bán ra thị trường, một số quốc gia kém phát triển hơn có nền sản xuấtthấp chịu chấp nhận một số thời gian chuyển đổi cho các nhà sản xuất hoặc có thể ápdụng biện pháp mềm dẻo hơn cho lưu thông nhưng bát buộc dán nhãn năng lượng với cácđặc điểm cảnh báo người tiêu dùng về mức hiệu suất thấp của thiết bị trên nhãn

Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu (mang tính định hướng cho thị trường) phảiđược liên tục soát xét theo hướng nâng dần lên theo một chu kỳ thời gian (03-05năm/lần) Đây chính là cơ sở để xác định mặt bằng hiệu suất năng lượng của một thiết bịtrên toàn quốc gia đã được nâng lên

Việc xây dựng một lộ trình đối với việc xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng

và các mức hiệu suất năng lượng tối thiểu là rất cần thiết để xác định cụ thể trình độ kỹthuật công nghệ các nhà sản xuất phải hướng tới và xác định được mức tiết kiệm nănglượng cộng đồng thực hiện được sau những khoảng thời gian nhất định

II.3 Các hình thức dán Nhãn năng lượng

Các chương trình dán nhãn cho sản phẩm tiêu thụ năng lượng đã được triển khaitại hàng chục quốc gia trên thế giới Tùy theo điều kiện kinh tế, kỹ thuật và môi trườngvăn hóa xã hội, cách thể hiện các nhãn dán cho sản phẩm có khác nhau Tuy nhiên hìnhthức thể hiện nhãn vẫn tập trung vào 02 dạng chính sau :

Trang 18

Nhãn xác nhận của ASEAN Nhãn xác nhận ELI

Một hình thức khác của nhãn xác nhận gọi là ‘ecolabel’ (nhãn thân thiện với môitrường) Ecolabel xác nhận một sản phẩm nào đó hoặc một quá trình xử lý ít có ảnhhưởng đến môi trường Chương trình ecolabel được áp dụng tại một số nước, trong một

số trường hợp do các tổ chức phi chính phủ thực hiện Hầu hết các chương trình ecolabelcho các phương tiện, thiết bị đều bao hàm ý nghĩa tiết kiệm năng lượng như một nội dungchính của nhãn tuy không phải là mục tiêu ban đầu khi xây dựng nhãn

Ngày đăng: 21/06/2018, 18:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w