Các hải đảo và quần đảo đã tạo thành một bộ phận thống nhất của lãnh hải Việt Nam, án ngữ các trụcđường giao thông huyết mạch trên biển cùng với các nguồn lợi về tài nguyên,kinh tế biển
Trang 1
BẾ MINH NGA
VAI TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2
BẾ MINH NGA
VAI TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60 31 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG TUẤN BIỂU
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Chương 1 LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN
VIỆT NAM VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 121.1 Những vấn đề lý luận chung về kinh tế biển, phát triển
1.2 Quan niệm, nội dung vai trò của Cảnh sát biển Việt
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN
VIỆT NAM VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 412.1 Những thành tựu và hạn chế về vai trò của Cảnh sát
biển Việt Nam với phát triển kinh tế biển 412.2 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về vai trò của
Cảnh sát biển Việt Nam với phát triển kinh tế biển 56
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM VỚI
3.1 Quan điểm phát huy vai trò của Cảnh sát biển Việt
3.2 Giải pháp phát huy vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam
Trang 4Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KHCN
KT - XHKTBTKCNXHCN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm ở khu vực Đông Nam Á với diệntích lãnh thổ 330.000km2, có bờ biển dài 3.260km Diện tích biển thuộc chủquyền, quyền tài phán quốc gia bao gồm: vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếpgiáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa gấp hơn 3 lần lãnh thổ trên đất liềnvới diện tích khoảng hơn 1 triệu km2, có trên 3.000 đảo lớn nhỏ và hai quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông Các hải đảo và quần đảo
đã tạo thành một bộ phận thống nhất của lãnh hải Việt Nam, án ngữ các trụcđường giao thông huyết mạch trên biển cùng với các nguồn lợi về tài nguyên,kinh tế biển (KTB), nên biển Việt Nam có một vị trí chiến lược đặc biệt quantrọng cả về kinh tế (KT), chính trị, xã hội (XH), quốc phòng - an ninh, có vaitrò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Chiến lược KT - XH đến năm 2020 của nước ta đặt trọng tâm vàođẩy mạnh phát triển KTB, đảo, đưa tỷ trọng KTB, đảo trong thu nhập quốcdân tăng lên Đồng thời gắn phát triển KT - XH với quốc phòng, an ninhtrên biển, đảo vững mạnh, có bước phát triển nhảy vọt về tiềm lực và sứcmạnh, nhất là lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhândân trên biển, đảo, bao gồm cả thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.Đây là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng có quan hệ đến chiến lược biển củamột số nước trong khu vực, nhất là vào thời kỳ một số tài nguyên khoángsản như dầu khí, các tài nguyên quý hiếm trên đất liền và ở nhiều nơi trênthế giới có nguy cơ cạn kiệt
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề phát triểnKTB kết hợp với giữ gìn an ninh trên vùng biển, ngay từ những năm 90 của
Trang 6thế kỷ XX, Đảng ta đã hạ quyết tâm chính trị chiến lược và tổ chức phát triểnmạnh mẽ kinh tế vùng biển và KTB, đảo, khẳng định phấn đấu đưa nước tatrở thành một nước mạnh về KTB Cụ thể:
Năm 1990 Nhà nước ta đã đề ra chương trình Biển Đông - Hải đảo.Nghị quyết 03/NQ-TƯ ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị “Về một sốnhiệm vụ phát triển KTB trong những năm trước mắt” đã khẳng định: “Đẩymạnh phát triển kinh tế đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền vàlợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển ”
Chỉ thị 20/BCT ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh pháttriển KTB theo hướng CNH, HĐH” đã chỉ ra rằng: “Vùng biển, hải đảo và venbiển là địa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước
và thế mạnh quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH phát triển KTB phảinhằm tăng cường sức mạnh quốc gia, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnhthổ của Tổ quốc” [18, tr.97]
Đặc biệt, ngày 9-2-2007, Hội nghị Trung ương 4, khóa X, ra Nghị quyết
số 09/NQ-TW về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xácđịnh: “phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển,bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, gópphần quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH, làm cho đất nước giàu mạnh”
“Trong thời kỳ phát triển KT - XH của đất nước ta, giai đoạn 2010-2020 sẽ làthời kỳ kinh tế tiếp tục phát triển thuộc loại trung bình trong khu vực, nhu cầuphát triển đòi hỏi phải tăng cường khai thác nguồn lợi trên biển Do vậy, tiến rabiển, phấn đấu trở thành quốc gia biển sẽ là nhu cầu tất yếu khách quan, bứcthiết Qua đó yêu cầu làm chủ vùng biển, đảo, đảm bảo quốc phòng, an ninhngày càng đòi hỏi có bước đột phá về phát triển mạnh tiềm lực quốc phòng, anninh trên biển để đủ khả năng bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh hải, bao gồm
cả quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông”
Trang 7Tiếp tục chủ trương, đường lối phát triển KTB, đảo được xác địnhtrong các văn kiện trước đây của Đảng, Chiến lược phát triển KT - XH 10năm (2011-2020), được Đại hội XI của Đảng (tháng 2-2011) thông qua, nhấnmạnh: “Phát triển mạnh KTB tương xứng với vị thế và tiềm năng biển củanước ta, gắn phát triển KTB với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủquyền vùng biển” [22, tr.121].
Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò quan trọng trong phát triểnKTB, trong đó lực lượng CSB, Hải quân, Biên phòng là nòng cốt Thời gianqua, bằng những hoạt động cụ thể của mình, CSB Việt Nam đã tạo đượcnhững chuyển biến lớn trong nhận thức về tầm quan trọng đối với nhiệm vụthực thi pháp luật, quản lý, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn biển, đảo nói chung
và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, tội phạm trên biển nói riêng, đóchính là điều kiện để phát triển KTB của đất nước Những năm qua CSB ViệtNam tham gia phát triển KTB, tuy đã có những đóng góp đáng kể nhưng nhìnchung hiệu quả hoạt động KTB của CSB chưa cao và còn nhiều bất cập
Thực tiễn phát triển KTB hiện nay đang đặt ra cấp thiết việc nghiên cứu,làm rõ lý luận, thực tiễn và giải pháp phát huy vai trò của CSB Việt Nam trongquá trình đó, góp phần phát triển KTB vừa đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa bảođảm củng cố vững chắc quốc phòng - an ninh trên biển
Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò của Cảnh sát biển ViệtNam với phát triển kinh tế biển” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển KTB là vấn đề không mới, qua tìm hiểu ở phạm vi cả lý luận
và thực tiễn, vấn đề phát triển KTB ở nước ta đã được nhiều tác giả quan tâmnghiên cứu ở mức độ và góc độ tiếp cận khác nhau, dưới các hình thức như:
Đề tài khoa học các cấp, sách chuyên khảo, các bài báo trên các tạp chí
Trang 8* Các sách tham khảo và chuyên khảo
Cuốn sách: “Tài nguyên biển đảo”, tác giả: Phùng Ngọc Dĩnh [13] Trong
cuốn sách này tác giả tiếp cận dưới góc độ đánh giá tính phong phú, đa dạngcủa tài nguyên biển, đảo của Việt Nam
Cuốn sách: “Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập”, tác giả: Ngô Lực Tài [61] Tác giả đề cập đến vai trò quan trọng của
KTB Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập
Công trình nghiên cứu: “Cơ sở cho phát triển kinh tế biển Việt Nam”.
Kiên Long [42] Công trình nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễncho chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam trong thời kỳ mới
Cuốn sách: “Sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền biển đảo” PGS.TS
Nguyễn Đình Chiến [12] Cuốn sách được tác giả tiếp cận ở góc độ quốcphòng - an ninh, phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền biển đảo của
Tổ quốc Việt Nam XHCN
Những công trình khoa học trên đã đề cập một cách tương đối kháiquát về xây dựng và phát triển KTB Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, cáccông trình trên chỉ mới đề cập đến một khía cạnh của vấn đề
* Các luận án, luận văn nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế, kinh tế biển Luận án phó tiến sỹ khoa học quân sự “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và vai trò Quân đội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, tác giả: Nguyễn Minh Khải [34] Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam
trình bày tương đối hệ thống về vai trò của Quân đội với sự nghiệp CNH, HĐHđất nước Luận án cho rằng, Quân đội phải có trách nhiệm chính trong việc đảmbảo ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia, coi đó là
sự đảm bảo bằng vàng cho quá trình CNH, HĐH được tiến hành trong môitrường hòa bình và ổn định: khẳng định rằng không có hòa bình và ổn định thìkhông thể CNH, HĐH theo định hướng XHCN được Đồng thời, luận án cũng
Trang 9cho rằng, với tư cách là một nguồn lực của quốc gia, Quân đội có thể và còn phảilàm nhiều việc để trực tiếp tham gia vào quá trình CNH, HĐH; đồng thời đềxuất các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện vai trò đó của Quân đội
Luận án tiến sỹ kinh tế “Quân đội nhân dân Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế đất nước”, tác giả: Vũ Thanh Chế [11] Luận án đề cập một cách
toàn diện vai trò của Quân đội đối với sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất nước;phân chia hoạt động cơ bản của Quân đội ta thành các nhóm và phân tích hiệuquả các nhóm hoạt động cơ bản đó, chỉ rõ nâng cao hiệu quả các nhóm hoạtđộng cơ bản là biểu hiện tập trung của việc nâng cao vai trò của Quân đội đốivới sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất nước; phân tích, khái quát một số thànhtựu và tồn tại chủ yếu của các nhóm hoạt động cơ bản của Quân đội ta trên góc
độ tác động qua lại của chúng đối với nền kinh tế, nêu lên phương hướng cơ bản
và một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả các nhóm hoạt động đó nhằmphát huy hơn nữa vai trò của Quân đội đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đấtnước
Luận án tiến sỹ kinh tế “Vai trò Quân đội nhân dân Việt Nam trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế của nước ta”, tác giả: Trần Văn Lý [37] Luận
án phân tích làm rõ cơ sở lý luận vai trò của Quân đội trong quá trình chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế của đất nước và khái quát, phân tích nội dung vai tròQuân đội trong quá trình này; đồng thời, luận án phân tích tương đối toàn diệnthực trạng thực hiện nội dung vai trò Quân đội trong hội nhập kinh tế quốc tếnhững năm qua trên các lĩnh vực; đề xuất quan điểm, giải pháp về chính trị, tưtưởng, tổ chức, cán bộ và phương thức hành động nhằm nâng cao vai trò củaQuân đội trong hội nhập kinh tế của đất nước
Luận án tiến sỹ kinh tế “Giải pháp về vốn đối với phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”, tác giả: Đoàn Vĩnh Tường [53] Luận án nêu lên
tầm quan trọng của phát triển KTB, qua đó phân tích, đưa ra các giải pháp về
Trang 10vốn đối với phát triển KTB của tỉnh Khánh Hòa.
Luận văn thạc sỹ kinh tế “Phát triển kinh tế biển với xây dựng quốc phòng - an ninh trong giai đoạn hiện nay của tỉnh Khánh Hòa”, tác giả: Phan
Thanh Hải [30] Luận văn nêu lên tầm quan trọng của phát triển KTB, mộthướng chiến lược phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, an ninh tỉnh KhánhHòa Đưa ra phương hướng, giải pháp cơ bản để đẩy mạnh phát triển KTB gắnvới xây dựng quốc phòng, an ninh
Luận văn thạc sỹ kinh tế “Vai trò của Hải quân nhân dân Việt Nam trong phát triển kinh tế biển hiện nay”, tác giả: Nguyễn Bá Nam [45] Luận văn
phân tích đặc điểm, nội dung phát triển KTB và luận giải cơ sở khoa học về vaitrò của Hải quân nhân dân Việt Nam trong phát triển KTB Đồng thời hệ thốnghóa các đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nướcbảo đảm cho Hải quân phát huy vai trò trong phát triển KTB Đánh giá thựctrạng và đề xuất phương hướng, quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao vai trò củaHải quân nhân dân Việt Nam trong phát triển KTB hiện nay
* Các bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến phát triển KTB kết hợp với quốc phòng - an ninh
Tiêu biểu như: “Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh ở các tỉnh ven biển”, Trần Văn Giới [27]; “Chiến lược biển Việt Nam tầm nhìn 2020”, Mạnh Hùng [28]; “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển kết hợp tăng cường quốc phòng an ninh để bảo vệ vững chắc các vùng biển, hải đảo thuộc chủ quyền quốc gia”, Đặng Xuân Phương [52]; “Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển”, Nguyễn Bá Duyên [15]; “Phát triển kinh tế biển kết hợp với xây dựng chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Nguyễn Quốc Khánh [36]; “Phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo vệ chủ quyền và an ninh vùng biển, hải đảo và thềm lục địa của Việt Nam”, Nguyễn Văn Yên [71]; “Phát triển kinh tế -
Trang 11xã hội biển đảo phục vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Phan Tuấn Nam [46]; “Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trong phát triển kinh tế biển ở Việt Nam”, TS Nguyễn Văn Ngừng [47]; “Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm chủ quyền vùng biển quốc gia”, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi [33]; “Tình hình quốc phòng an ninh trên các vùng biển của nước ta thời gian gần đây”, Đỗ Minh Thái [59]; “Nghệ thuật ứng xử của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giải quyết các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc”, Trần Văn Thanh [60]; “Tranh chấp Biển Đông - Đặc điểm, xu thế và giải pháp”, Lê Văn Cương [9]; “Công tác phòng, chống tội phạm bảo vệ an ninh, trật tự trên biển của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam”, Trịnh Đình Xuyên [72]; “Đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên biển của lực lượng Cảnh sát biển - những khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả”, Phạm Đức Lĩnh [39];“Tình hình
an ninh, trật tự trên các vùng biển Việt Nam và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển trong thời gian gần đây”, Trần Phương Linh [40]; “Hoạt động phòng, chống tội phạm trên biển của lực lượng Cảnh sát biển”, Nguyễn Giang Đông [26]; “Một số vấn đề về đấu tranh phòng chống tội phạm trên biển ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Đức Bình [6]; “Công tác đào tạo cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát biển đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên biển Việt Nam hiện nay”, Lê Ngọc Minh [43], “Hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền hạn, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong đấu tranh phòng chống tội phạm trên biển”, Nguyễn Hồng Thanh [58]; “Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên biển Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Ngọc Anh [2]; “Nghiên cứu xây dựng thế trận quốc phòng trên vùng biển, đảo nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyển quốc gia trong giai đoạn mới”, Viện Chiến lược Quân sự [70]
Các công trình, bài viết trên trực tiếp đề cập một cách cơ bản cơ sở lý
Trang 12luận và thực tiễn về phát triển KTB, đảo; phát triển KTB gắn với quốc phòng,
an ninh; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninhtrật tự biển, đảo; đề xuất lý luận xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trênvùng biển, đảo, làm cơ sở nâng cao sức mạnh, hiệu quả đấu tranh quốc phòng,góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vàlợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, nhưng vì nhiều lý dokhác nhau, các công trình trên chỉ mới đề cập đến một số khía cạnh của vấn
đề Các công trình, bài viết trên đã giúp cho tác giả luận văn tiếp cận nhiềuthông tin bổ ích, nhiều lập luận khoa học về một số vấn đề liên quan tới pháttriển KTB Tuy nhiên, trong quân đội ở phạm vi lực lượng CSB, theo nhậnbiết của tác giả, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống vấn
đề vai trò của CSB Việt Nam đối với phát triển KTB Do đó, đề tài tác giả lựachọn không trùng với các công trình nghiên cứu khác
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của CSBViệt Nam đối với phát triển KTB; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải phápnhằm phát huy vai trò của CSB Việt Nam trong quá trình đó
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ lý luận về vai trò của CSB Việt Nam với pháttriển KTB
- Đánh giá thực trạng vai trò của lực lượng CSB với phát triển KTB
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai tròcủa CSB Việt Nam với phát triển KTB
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Vai trò của CSB Việt Nam với phát triển KTB
* Phạm vi nghiên cứu
Vai trò của CSB với phát triển KTB ở các vùng biển và thềm lục địaViệt Nam, thời gian từ năm 2000 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận nghiên cứu
Vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh; quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lượcbiển Việt Nam đến năm 2020
Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về phát triển KTB, đảo;phát triển KTB, đảo gắn với quốc phòng - an ninh của các tác giả trong nước,
để vận dụng vào thực tiễn của lực lượng CSB Việt Nam
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chínhtrị Mác-Lênin là phương pháp trừu tượng hóa khoa học và một số phươngpháp khác: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm một số lý luận và thực tiễn về vaitrò của CSB Việt Nam với phát triển KTB ở nước ta hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài, có thể vận dụng ở các mức độ khácnhau trong phát triển KTB, gắn phát triển KTB với bảo đảm quốc phòng - anninh trên biển hiện nay ở nước ta
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, đề tài gồm 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1.1 Những vấn đề chung về kinh tế biển, phát triển kinh tế biển
1.1.1 Kinh tế biển
Kinh tế biển là gì?
Theo các nhà kinh tế, KTB là tổng hợp các hoạt động kinh tế thông quaviệc tận dụng tối đa các nguồn lực của biển - đại dương để mang lại lợi íchcho các chủ thể kinh tế với mục tiêu phát triển KT- XH của một quốc gia
Đa số các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn cho rằng, ở mỗi nướcKTB là một ngành tổng hợp của nền kinh tế quốc dân, bao gồm các hoạt độngkinh tế thông qua việc tận dụng các lợi thế về điều kiện địa lý, tài nguyên vàcon người liên quan đến biển theo sự quản lý thống nhất, nhằm mục đích đemlại lợi ích cho người lao động, đóng góp vào thu nhập quốc dân và phát triểnchung của đất nước Với quan niệm trên, KTB gồm những nội dung cơ bảnsau:
Thứ nhất, KTB là tổng hợp các lĩnh vực kinh tế liên quan đến biển
Các hoạt động phát triển KTB gắn bó chặt chẽ với các hoạt động kinh tế
ở trên đất liền Kinh tế đất liền tăng trưởng nhanh, mạnh sẽ tạo điều kiện hỗtrợ đắc lực cho KTB phát triển và cho phép các hoạt động KTB ngày càng trởnên đa dạng Ngược lại, chính sự phát triển KTB tạo động lực lôi kéo và bảođảm cho sự phát triển bền vững, ổn định của kinh tế đất liền Bởi vì, biển làcửa ngõ mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và đối ngoạivới quốc gia bên ngoài KTB không chỉ là một bộ phận của nền kinh tế quốcdân mà còn là bộ phận hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay đối vớinền kinh tế nước ta Đó là các ngành, lĩnh vực kinh tế ven biển và trên biển,đảo như khai thác dầu khí, khoáng sản; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến
Trang 15thủy hải sản; du lịch biển; xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu chếxuất ven biển gắn với phát triển khu đô thị ven biển Biển không chỉ mang lạinguồn lợi to lớn về tài nguyên, thiên nhiên phong phú, đa dạng, hình thànhnhiều ngành nghề KTB, thu hút lao động, tăng thu nhập cho người lao động
và cho xã hội
Thứ hai, nói đến KTB phải nói đến cả hai mặt: lực lượng sản xuất thuộc
KTB và quan hệ sản xuất nảy sinh từ các hoạt động KTB
Lực lượng sản xuất thuộc KTB bao gồm: tư liệu sản xuất và người laođộng Trong ngành KTB, tư liệu sản xuất cũng bao gồm cả công cụ lao động vàđối tượng lao động; công cụ lao động và đối tượng lao động của KTB là ở biểnhoặc trên bờ sát biển Con người lao động trong ngành KTB là người lao độnghoạt động trong lĩnh vực thuộc ngành KTB Thực tế cho thấy, lực lượng sản xuấttrong ngành KTB thường ở trình độ cao hơn, lao động trong môi trường cũngphức tạp hơn, chịu nhiều rủi ro hơn các ngành kinh tế khác Vì vậy, lực lượng sảnxuất trong ngành KTB đạt trình độ tương đối cao so với các ngành kinh tế khác.Quan hệ sản xuất nảy sinh từ các hoạt động KTB bao gồm quan hệ sở hữu,quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối trong hoạt động KTB, biểu hiện ở cácthành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh tế trong tất cả các ngành KTB
1.1.2 Phát triển kinh tế biển
Khái niệm về phát triển kinh tế biển
Phát triển KTB là sự tăng trưởng về số lượng, chất lượng của KTB đồng thời là sự hoàn chỉnh về cơ cấu và thể chế của KTB.
Muốn đánh giá sự phát triển KTB phải xem xét mức tăng trưởng củacác ngành KTB, mà tiêu chí là sự tăng lên về thu nhập từ các ngành KTB đemlại Cùng với sự phát triển chung của KT-XH, KTB ngày càng phát triểnmạnh mẽ tăng về cả số lượng, chất lượng các ngành nghề
Phát triển KTB là sự thay đổi theo hướng công nghiệp sản xuất, khai
Trang 16thác và dịch vụ ngày càng tăng, làm cho tổng giá trị sản lượng hàng hóa tănglên, lao động nặng nhọc được giảm nhẹ, giá trị ngày công được đảm bảo tốthơn do ứng dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vàotrong quá trình sản xuất kinh doanh, chất lượng mọi mặt các ngành KTB ngàycành tăng về thu nhập, giá trị dịch vụ và công nghệ chiếm tỷ trọng chủ yếutrong tổng giá trị sản lượng Phát triển KTB là nhấn mạnh đến giá trị của cácngành KTB tăng nhanh hơn, bền vững hơn chiếm tỷ trọng GDP đáng kể Điềunày thể hiện rõ ở tất cả các ngành KTB nhất là khai thác đánh bắt, chế biếnthủy, hải sản.
Cùng với sự tăng trưởng KTB là hoàn chỉnh về cơ cấu và thể chế củaKTB Sự đa dạng các ngành KTB là bộ phận hợp thành trong nền kinh tếquốc dân Cơ cấu ngành KTB bao gồm rất nhiều ngành nghề khác nhau như:nuôi trồng, khai thác, chế biển thủy, hải sản, khai thác dầu khí, đóng tàu, vậntải biển, du lịch biển, dịch vụ hàng hải và một số ngành nghề khác Cơ cấu đadạng đó đang chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH nhằm xây dựng cơ cấuKTB hợp lý, từng bước hiện đại và hội nhập với KTB quốc tế
Nội dung phát triển kinh tế biển
KTB là một lĩnh vực kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực Bao gồm nhiềungành, nghề, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinhdoanh trên biển nhưng có quan hệ và tác động lẫn nhau Quá trình phát triểncủa KTB phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện về địa lý, tiềm năng tài nguyênbiển và vùng ven biển, thời tiết, khí hậu đây là ngành kinh tế chủ yếu nhờvào việc khai thác tài nguyên, khoáng sản là chính Hoạt động KTB mangtính liên vùng, biểu hiện thông qua việc khai thác thủy, hải sản, khai thác dầukhí không chỉ dừng lại trong phạm vi vùng biển của địa phương mà diễn ratrên phạm vi thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam, do đó phát triển KTBphải chú trọng về số lượng, chất lượng và chuyển dịch cơ cấu KTB theo
Trang 17hướng hợp lý, hiện đại Trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 thểhiện rõ các nội dung sau:
Về KT - XH: Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và
bảo vệ môi trường biển; phát triển KHCN biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biểngắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển,trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển
Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trungtâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Đếnnăm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về KTB, ven biển gồm:khai thác, chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến hải sản;phát triển du lịch biển và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, các khucông nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đôthị ven biển
Trước mắt, sẽ tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảngbiển, phát triển công nghiệp đóng tàu, phát triển những ngành dịch vụ mũinhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiếtbảo đảm an ninh, an toàn cho người dân hoạt động, sinh sống trên biển, đảo
và ở những vùng thường bị thiên tai
Về chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Phát huy sức mạnh tổng
hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹnlãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc
Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoạigiao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảocủa Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân Xây dựng lực lượng vũ trang,nòng cốt là Cảnh sát biển, Hải quân, Không quân, Biên phòng, dân quân tự vệbiển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sảnxuất và khai thác tài nguyên biển
Trang 18Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽnhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh
tế kết hợp làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc
Về phát triển KHCN biển: Xây dựng tiềm lực KHCN biển đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình CNH, HĐH đất nước
Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụngKHCN, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tàinguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực KHCN cho nghiên cứu và khaithác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đấtnước
Về xây dựng kết cấu hạ tầng biển: Phát triển mạnh hệ thống cảng biển
quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế,đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả ba miền của đất nước, tạo nhữngcủa mở lớn vươn ra biển thông thương với thế giới
Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở vậtchất kỹ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kỹ thuật - côngnghệ các cảng; tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hóa, giảm thiểu tối đa chiphí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế
Sớm hoàn chỉnh khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xâydựng tuyến đường cao tốc chạy dọc theo bờ biển, khu kinh tế, khu côngnghiệp ven biển thành một hệ thống KTB liên hoàn…
Trang 19nhỏ hẹp “hình chữ S” mà còn có cả vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấphơn ba lần diện tích đất liền.
Dọc bờ biển có hơn 44 cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112 cửa sông,cửa lạch đổ ra biển Tuyến biển có 28 tỉnh, thành phố gồm: 124 huyện, thị xãvới 612 xã, phường (trong đó có 12 huyện đảo, 53 xã đảo) có khoảng 20 triệungười sống ở ven bờ và 17 vạn người sống ở các đảo, với trên 122 nghìn tàu cácác loại, cùng với việc thành lập các nghiệp đoàn nghề cá, như tỉnh QuảngNam (ở 3 huyện Núi Thành, Duy Xuyên, Thanh Bình) có 7 nghiệp đoàn nghề
cá làm điểm tựa cho ngư dân ra khơi bám biển, bám ngư trường Khai thácbiển cho phát triển kinh tế là một cách làm đầy hứa hẹn, mang tính chiến lược
và được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc pháttriển KT - XH của nước ta
Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất,đời sống của dân tộc Việt Nam Bước vào thế kỷ 21, giống như nhiều quốcgia khác, Việt Nam đang hướng mạnh về biển để tăng cường tiềm lực kinh tếcủa mình Đây là hướng đi đúng đắn, bởi lẽ biển Việt Nam chứa đựng nhiềutiềm năng phát triển kinh tế to lớn, trong đó nổi bật lên các lợi thế:
Một là, vị trí chiến lược của biển - nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển
Việt Nam nằm ở rìa Biển Đông, vùng biển có vị trí địa kinh tế, chính trịđặc biệt quan trọng và từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong chiến lượcphát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một sốcường quốc hàng hải khác trên thế giới
Việt Nam có lợi thế là vùng biển nằm ngay trên một số tuyến hàng hảichính của quốc tế qua Biển Đông, trong đó có tuyến đi qua eo biển Malacca,
là một trong những tuyến có lượng tàu bè qua lại nhiều nhất thế giới Bờ biểnViệt Nam lại rất gần các tuyến hàng hải đó nên rất thuận lợi trong việc pháttriển giao thương quốc tế
Trang 20Hai là, các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong số các nguồn tài nguyên biển, trước tiên phải kể đến dầu khí, mộtnguồn tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội của vùng biển Việt Nam Trênvùng biển rộng hơn l triệu km2 của Việt Nam, có tới 500.000 km2 nằm trongvùng triển vọng có dầu khí
Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữlượng dầu dưới đáy Biển Đông Năm 2013 khai thác 340.000 thùng/ngày (mỗithùng 159 lít), khoảng 20 triệu tấn/năm Trữ lượng dầu khí dự báo của toànthềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỉ tấn quy dầu Mặc dù so với nhiều nước,nguồn tài nguyên dầu khí chưa phải là thật lớn, song đối với nước ta nó có vị trírất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế đi vào CNH, HĐH Bêncạnh dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng 3.000 tỉ m3/năm [68].Ngoài dầu và khí, dưới đáy biển nước ta còn có nhiều khoáng sản quýnhư: thiếc, ti-tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng-gan, đồng, kiềm vàcác loại đất hiếm Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2 Vùngven biển nước ta cũng có nhiều loại khoáng sản có giá trị và tiềm năng pháttriển kinh tế như: than, sắt, ti-tan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựngkhác
Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khuvực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trịkinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển…
Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3- 4 triệu tấn, khảnăng cho phép khai thác 1,5- 1,8 triệu tấn/năm Với tiềm năng trên, trongtương lai có thể phát triển mạnh ngành nuôi, trồng hải sản ở biển và ven biểnmột cách toàn diện và hiện đại với sản lượng hàng chục vạn tấn/ năm
Trang 21Ba là, nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển
Với số dân hơn 20 triệu người đang sinh sống, các vùng ven biển và đảocủa Việt Nam đang có lực lượng lao động khoảng 12,8 triệu người, chiếm35,47% lao động cả nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng đối với quá trìnhCNH, HĐH đất nước
Bốn là, quốc phòng, an ninh và KTB có mối quan hệ tạo điều kiện, tiền
đề cho nhau, củng cố vững chắc và phát triển.
Về mặt lịch sử, biển gắn bó mật thiết và có ảnh hưởng lớn đến phát triển
KT - XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đấtnước Các thế hệ người Việt đã gắn bó với biển và có sinh kế phụ thuộc vàobiển cả, đặc biệt đối với người dân sống ở các huyện ven biển và hải đảo(chiếm 17% tổng diện tích và khoảng trên 23% dân số cả nước) Nước ta cólợi thế “mặt tiền hướng biển”, thuận lợi trong giao thương với thế giới bênngoài nhưng cũng “xung yếu” về mặt an ninh, quốc phòng Cho nên, chủtrương gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển làhết sức đúng đắn, mang tính nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo của Đảng - xâydựng đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, mang tính thực tiễn trong bối cảnh của mộtkhu vực địa chính trị cực kỳ phức tạp - Biển Đông
Kết hợp phát triển KT với quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc chủquyền, quyền chủ quyền và an ninh trên biển được xem là một trong những giảipháp để thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Hơnbất cứ địa bàn nào khác, việc xây dựng và phát triển KTB phải gắn chặt vớinhiệm vụ quốc phòng - an ninh bảo vệ biển để xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân, an ninh nhân dân trên biển Mục tiêu kết hợp KT - XH với quốcphòng - an ninh nhằm khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ vùng biển vàhải đảo của Tổ quốc; khai thác, sử dụng nguồn lợi biển của quốc gia có hiệu
Trang 22quả để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hoạtđộng kết hợp phải được tiến hành trong từng cơ sở đánh bắt hải sản, khai tháctài nguyên, phát triển du lịch, dịch vụ; nghiên cứu khoa học biển; kết hợp theoquy hoạch, kế hoạch của từng địa phương, vùng biển, nhằm phát huy sứcmạnh tổng hợp của quốc phòng - an ninh để nâng cao năng lực quản lý, bảo
vệ biển và hải đảo của Tổ quốc Phát huy lợi thế của vùng ven biển, tạo độnglực lan tỏa hỗ trợ phát triển kinh tế nội địa, làm “bàn đạp” cho phát triển mộtnền KTB hiệu quả và vững chắc, gắn với bảo đảm chủ quyền vùng biển quốcgia được xác định là một trong những hướng ưu tiên có tính đột phá chiếnlược để đưa nước ta trở thành “một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từbiển” Xây dựng tuyến ven biển gắn với một số tuyến đảo chính thành nhữngđiểm kinh tế mạnh và căn cứ hậu cần kỹ thuật vững chắc cho các hoạt độngbiển xa Bảo đảm cung cấp nước ngọt, cơ sở hạ tầng và điều kiện sống cơ bản
để người dân yên tâm bám trụ, sản xuất trên các vùng biển, hải đảo tiền tiêucủa Tổ quốc, bởi những người lao động trên biển là lực lượng góp phần quantrọng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia
Xuất phát từ xu hướng hợp tác quốc tế về KTB, phát triển KTB là hình thức phát triển đặc biệt quan trọng để mở cửa, hội nhập quốc tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt sau khi nước ta là thànhviên đầy đủ của WTO, vấn đề xây dựng các công trình KT - XH theo chươngtrình Biển Đông - Hải đảo sẽ đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng quan trọngđối với phát triển KTB Mỗi mục tiêu KT - XH được hình thành trên vùngBiển Đông - Hải đảo thì đồng thời cũng xuất hiện sự đan xen lợi ích của cácchủ thể kinh tế trong nước và ngoài nước cũng như các khu liên hợp hóa dầukhí, khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế trên các vùng biển, đảo hoặc quần đảo
Ba phần tư lãnh thổ nước ta (bao gồm cả lãnh hải) là biển, đảo, về lâu dàinước ta phải trở thành quốc gia mạnh về KTB, có tỷ trọng thu nhập quốc dân
Trang 23(GDP) từ KTB cao Với tiềm năng to lớn, nên khả năng phát triển KTB, làmgiàu từ biển của Việt Nam là rất lớn; do vậy, biển là một hướng chiến lượctrọng yếu, thuận lợi để nước ta phát triển KTB với sự ổn định và khả năngcạnh tranh cao Nếu nước ta không phát triển được KTB thì nguy cơ tụt hậu
xa hơn so với các nước xung quanh là khó tránh khỏi; đồng thời cũng khó giữđược chủ quyền và các quyền lợi quốc gia trên biển, đảo Vì vậy, trước mắtcũng như lâu dài phải có định hướng chiến lược kết hợp kinh tế với quốcphòng - an ninh trên biển
Ngày nay, thế giới đang bước vào giai đoạn bùng nổ phát triển mới với
xu hướng ngày càng khẳng định tầm quan trọng to lớn của biển và đại dương.Tình trạng khan hiếm nguyên liệu, năng lượng trở nên gay gắt hơn bao giờhết, dẫn tới cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc giathường xuyên và gay gắt Vươn ra biển, khai thác đại dương đã trở thành khẩuhiệu hành động mang tính chiến lược của toàn thế giới
Từ nhiều năm nay, trên Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biển,đảo rất quyết liệt và phức tạp, đây cũng là những nhân tố gây mất ổn định,tác động tiêu cực tới kinh tế, quốc phòng và an ninh của nước ta Nhiều quốcgia, nhất là những quốc gia có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự tận dụng ưuthế của mình trên biển để xâm phạm và uy hiếp chủ quyền trên vùng biển,đảo, thềm lục địa nước ta gây ra những nhân tố khó lường về sự toàn vẹn và
an ninh đất nước
Biển Đông còn có vị trí quan trọng trong chiến lược biển và chiến lược
an ninh của các nước lớn ở Đông Á - Thái Bình Dương như Mỹ, Nhật, TrungQuốc, sự quan tâm của những nước này đối với Biển Đông đã trực tiếp tácđộng đến tình hình ở khu vực này nói chung và quốc phòng, an ninh của ViệtNam nói riêng
Trang 24Ngày nay, biển càng có ý nghĩa sống còn đối với đời sống nhân loại vàtừng quốc gia dân tộc Vùng biển nước ta là một hướng đặc biệt quan trọngtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Tình hình anninh KTB có ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh, chính trị và phát triển kinh tếcủa quốc gia Để xây dựng nước ta thành một nước văn minh, giàu mạnh vàchủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế với một vị thế xứng đáng, đòi hỏiĐảng, Nhà nước, nhân dân, các lực lượng liên quan đến biển, lực lượng vũtrang đặc biệt là CSBViệt Nam phải tăng cường trách nhiệm quản lý, bảo vệvững chắc vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc và tham gia phát triểnKTB đạt hiệu quả KT - XH cao Hiện nay, lực lượng đảm bảo quốc phòng và
an ninh trên vùng biển, đảo của Tổ quốc gồm có: Cảnh sát biển, Hải quân,Biên phòng, Phòng không - không quân, Kiểm ngư, Công an, lực lượng vũtrang địa phương và dân quân tự vệ biển của các địa phương có biển, songCSB Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năngquản lý về an ninh, trật tự, an toàn và đảm bảo việc chấp hành pháp luật củaViệt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa XHCN Việt Nam làthành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
Lực lượng Hải quân nhân dân là lực lượng bảo vệ chủ quyền quốc giatrên biển, đảo Nhiệm vụ là quản lý và kiểm soát chặt chẽ các vùng biển, đảo,thềm lục địa, giữ gìn an ninh, chống lại mọi hành vi xâm phạm chủ quyền,quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của Việt Nam trên biển;bảo vệ các hoạt động bình thường của Việt Nam trên các vùng biển, đảo theoquy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam; tham gia đảm bảo antoàn hàng hải và TKCN theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế màViệt Nam tham gia; sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khácnhằm đánh bại mọi cuộc tiến công trên hướng biển
Trang 25Lực lượng Biên phòng là lực lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhànước về biên giới quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm giữ gìn an ninhtrật tự khu vực biên giới trên bộ và trên biển, đảo.
Lực lượng Phòng không - Không quân thường xuyên phối hợp hiệpđồng với Hải quân để giải quyết nhiều nhiệm vụ trên biển nhanh chóng vàhiệu quả, tiêu biểu như nhiệm vụ trinh sát, chỉ thị mục tiêu
Lực lượng Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ tiến hành các hoạtđộng tuần tra, kiểm soát, điều tra, trinh sát, điều tra tố tụng các vi phạm, tộiphạm, bảo vệ an ninh, trật tự trên biển
Lực lượng vũ trang địa phương và dân quân tự vệ biển, là lực lượngtham gia phát hiện, cung cấp thông tin về các đối tượng vi phạm chủ quyềnbiển, đảo và tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Lực lượng CSB Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước đểbảo vệ an ninh, trật tự an toàn, duy trì thực thi pháp luật trên các vùng biểncủa Việt Nam Với chức năng nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, thực thi pháp luật
Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát là một trong những hoạt động thườngxuyên của lực lượng CSB với mục đích bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền,quyền tài phán của Việt Nam; đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững củachế độ XHCN, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và cáclợi ích quan trọng khác của Việt Nam; giữ gìn các hoạt động trên biển có trật
tự, kỷ cương, trong đó mọi cá nhân và tổ chức có hoạt động bình thường trên
cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định; bảo
vệ tài nguyên biển thuộc chủ quyền của Việt Nam trên vùng nội thủy, lãnh hảithuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên vùng tiếp giáplãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; phòng, chống ô nhiễm môi
Trang 26trường trên biển do các hoạt động của tàu, thuyền và các cấu trúc nhân tạotrên biển gây ra; loại trừ các nguyên nhân, điều kiện của vi phạm, tội phạm;phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, tội phạm, hạn chế đếnmức thấp nhất hậu quả, tác hại gây ra cho xã hội do vi phạm, tội phạm như:buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu, thuyền, vận chuyển tráiphép, mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hóa, vũ khí, chất
nổ, chất ma túy, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác
Thực thi pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của lựclượng CSB Theo nghĩa hẹp là quá trình áp dụng pháp luật của người có thẩmquyền trong lực lượng CSB nhằm bảo đảm việc chấp hành pháp luật của cánhân, tổ chức hoạt động trên biển trong các lĩnh vực quản lý nhà nước mà CSB
có thẩm quyền
Hai là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật mặc dù không tác động trựctiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn trên biển, songtác động đến ý thức chấp hành pháp luật của người dân Thông qua hoạt độngnày, không những CSB có thể phát hiện nhanh chóng, kịp thời, xử lý hiệu quảcác vi phạm pháp luật mà còn hạn chế những vi phạm pháp luật xảy ra gópphần giữ vững ổn định an ninh, chính trị, an toàn trên các vùng biển và thềmlục địa Việt Nam Hiện tại, Bộ Tư lệnh CSB đã thành lập Hội đồng phổ biến,giáo dục pháp luật, là cơ sở để đảm bảo việc chỉ đạo, tổ chức giáo dục phápluật có tính hệ thống, định hướng rõ ràng
Ba là, thu thập, tiếp nhận, xử lý thông tin và thông báo cho cơ quan
chức năng có liên quan
Lực lượng CSB Việt Nam có nhiệm vụ thu thập, tiếp nhận thông tin, xử
lý kịp thời và thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan theo quy định
Trang 27của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa XHCNViệt Nam là thành viên Cụ thể những thông tin về tội phạm, vi phạm, tình hình
an ninh trật tự, an toàn trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, thông tinlàm cơ sở công bố cấp độ, thay đổi cấp độ an ninh hàng hải; thông tin về cướpbiển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền trong khuôn khổ hợp tác thực hiệnHiệp định hợp tác khu vực chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàuthuyền tại Châu Á; thông tin giám sát, kiểm tra các hoạt động nghề cá trongvùng đánh cá chung Vịnh Bắc bộ
Bốn là, tham gia TKCN; ứng phó, khắc phục sự cố trên biển, thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường
Pháp lệnh lực lượng CSB Việt Nam, Quyết định số103/2007/QĐ-TTgban hành Quy chế phối hợp TKCN trên biển và và các văn bản hướng dẫn thihành quy định về nhiệm vụ tham gia TKCN của lực lượng CSB Theo đóCSB Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Bộ Quốc phòng phối hợp với trung tâmTKCN hàng hải chịu trách nhiệm trong khu vực để tiến hành tìm kiếm, cứungười bị nạn; sử dụng lực lượng, phương tiện tham gia TKCN trên biển theo
đề nghị của Ủy ban quốc gia TKCN hoặc các tỉnh, thành phố trực thuộc trungương ven biển
Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của lực lượng CSB Điềunày được quy định cụ thể trong các điều 6, 7 và 9 của Pháp lệnh số03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008 của Ủy ban thường vụ Quốc hộikhóa XII quy định về lực lượng CSB Việt Nam; Khoản 2 điều 58 Luật bảo vệmôi trường 2005 và một số văn bản khác có liên quan
Năm là, hợp tác quốc tế
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, CSB ViệtNam thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an
Trang 28toàn trên biển Các hoạt động hợp tác quốc tế gồm: giáo dục, đào tạo, bồidưỡng nghiệp vụ, phòng chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu,thuyền, kiểm soát, ngăn ngừa và đấu tranh với các hoạt động xuất, nhập cảnhbất hợp pháp trên biển; hợp tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, giám sát về bảotồn và quản lý các nguồn tài nguyên trên biển; TKCN, phòng chống ô nhiễmmôi trường.
1.2 Quan niệm, nội dung vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam với phát triển kinh tế biển
1.2.1 Quan niệm vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam với phát triển kinh tế biển
Luận văn quan niệm về vai trò của CSB Việt Nam đối với phát triểnKTB như sau:
Vai trò của CSB Việt Nam với phát triển KTB là tổng thể các hoạt động thông qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao cho CSB, trực tiếp và gián tiếp đối với phát triển KTB, góp phần thực hiện thắng lợi phát triển và bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Quan niệm trên thể hiện ở các vấn đề sau:
Một là, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CSB Việt Nam
“Lực lượng CSB Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nướcthực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấphành pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòaXHCN Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nướcCộng hòa XHCN Việt Nam”[69, Đ.1,2,3] Lực lượng CSB Việt Nam là lựclượng vũ trang nhân dân của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sựquản lý thống nhất của Chính phủ Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều
Trang 29hành hoạt động của lực lượng CSB Việt Nam Lực lượng CSB Việt Nam hoạtđộng trên các vùng biển và thềm lục địa của Cộng hòa XHCN Việt Nam.Hai là, các hoạt động của CSB trong phát triển KTB và bảo vệ vùngbiển, thềm lục địa của Tổ quốc
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng CSB Việt
Nam thực hiện, phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quyđịnh của pháp luật
CSB Việt Nam có vai trò trực tiếp với phát triển kinh tế là sử dụngnguồn nhân lực, vật lực, tài lực vào phát triển KTB
Vai trò gián tiếp của CSB Việt Nam là thông qua thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ của mình góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho KTB phát triển
1.2.2 Nội dung vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam với phát triển kinh tế biển
Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN,CSB Việt Nam là lực lượng chuyên trách, nòng cốt của Nhà nước về thực thipháp luật trên biển, bảo vệ vững chắc an ninh chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển
Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, theo nghĩa rộng là bảo vệ cácquyền của quốc gia theo các chế độ pháp lý khác nhau, phù hợp với luật phápquốc tế, trên các vùng khác nhau, trên các hải đảo và thềm lục địa của quốc gia.Vùng biển nước ta bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của nước
ta trên Biển Đông cùng các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam
CSB Việt Nam thực hiện bảo vệ an ninh pháp luật, trật tự an toàn xãhội và văn hóa trên biển, ven biển Biển là môi trường thiên nhiên khắc nghiệt
và nhiều biến động, lại là môi trường mở, thường xuyên có sự giao lưu quốc
tế và từ đó các luồng văn hóa, tư tưởng độc hại cũng dễ dàng xâm nhập vào
Trang 30đất liền Hơn nữa trong điều kiện quy chế pháp lý không đồng nhất giữa cácvùng nước khác nhau trên biển, do vậy việc bảo vệ an ninh pháp luật, trật tự
an toàn xã hội và văn hóa trên biển vốn đã phức tạp lại càng khó khăn, phứctạp hơn…
CSB Việt Nam bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN;bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước Mục tiêu chiến lược “xây dựng nước tatrở thành một nước mạnh về biển, giàu từ biển” có vai trò là một trong nhiềunhân tố quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp đổi mới do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo Vì vậy, trong chiến lược bảo vệ biển, đảo hiện nayphải hiện thực hóa chủ trương, chính sách về phát triển KTB và bảo vệ biển,đảo mà Đảng, Nhà nước đề ra dựa vào việc phát huy sức mạnh toàn dân thựchiện tốt nhiều dự án phát triển trên biển, vùng ven biển, hải đảo; gắn chặt xâydựng với bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biển đảo của Tổ quốc trongmọi tình huống
Các nội dung bảo vệ biển, đảo trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhautạo thành một chỉnh thể thống nhất không tách rời Các hoạt động kinh tế trênvùng biển của Tổ quốc, tự nó đã là biểu hiện của quyền làm chủ và bảo vệ lợiích quốc gia trên biển Song, các hoạt động KTB chỉ tiến hành có hiệu quả khităng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền,quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và an ninh trật tự, an toàn trên biển
và thềm lục địa của Tổ quốc Sự bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển làđiều kiện tiên quyết và tiền đề cần thiết để tiến hành các hoạt động KTB Đó
là nhiệm vụ nặng nề và cũng rất vẻ vang của CSB Việt Nam
Nội dung vai trò của CSB Việt Nam đối với phát triển KTB
Một là, bảo vệ sự nghiệp phát triển KTB, đảo của Tổ quốc Việt Nam XHCN
Xuất phát từ vai trò, vị trí và tiềm năng to lớn của biển, đảo trong phát
Trang 31triển kinh tế đất nước, tất cả những yếu tố đó đòi hỏi phải đề cao cảnh giác,bảo vệ, giữ gìn, khai thác hiệu quả phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nướchiện nay Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, vùng đặc quyền kinh tế vàthềm lục địa là nhiệm vụ của CSB Việt Nam Đó là bảo vệ đặc quyền củaquốc gia về bảo tồn, quản lý, thăm dò, khai thác tài nguyên biển, thực chất làbảo vệ lợi ích kinh tế ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia.Quyền làm chủ biển, đảo và thềm lục địa không chỉ là quyền chủ động bảo
vệ, mà còn là quyền chủ động các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyênkhoáng sản trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc
Toàn bộ khu vực thềm lục địa của Việt Nam rộng trên 1 triệu km2, đượcchia thành 170 lô thăm dò khai thác dầu khí, có tới 69 lô nằm ở vùng tranh chấp,trong đó có 30 lô nằm ở khu vực Trường Sa Những khu vực tranh chấp và ngay
cả những vùng đối phương tạo ra “tranh chấp mới” trên thềm lục địa ở gần bờcủa ta, việc thăm dò, chuẩn bị khai thác dầu khí cũng phải tiến hành trong tìnhtrạng rất căng thẳng, thậm chí không thực hiện được bởi uy hiếp của đối phương.Bảo vệ chủ quyền, giữ vững hòa bình và ổn định trên các vùng biển làđiều kiện tiên quyết, là tiền đề cần thiết để khai thác và từng bước tiến ra biểnmột cách vững chắc Muốn khai thác được tiềm năng, lợi ích của biển, trướchết phải làm chủ được biển, tăng cường quốc phòng - an ninh trên biển để tạođiều kiện cho phát triển KTB là nội dung cấp thiết hàng đầu trong bảo vệbiển, đảo trong tình hình mới Xây dựng nước Việt Nam mạnh về KTB vàđưa KTB thành ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân là một mục tiêuchiến lược, đồng thời là một nhiệm vụ bức bách đang đặt dân tộc ta trướcthách thức lớn trên Biển Đông Vì vậy nhiệm vụ bảo vệ và phát triển KTB,đảo của CSB Việt Nam bao gồm những nội dung sau:
* Bảo vệ chủ quyền, giữ vững an ninh, an toàn, trật tự, hòa bình, ổn định trên biển cho KTB phát triển.
Trang 32Với chức năng tuần tra, kiểm tra, kiểm soát thực thi pháp luật, CSBViệt Nam chủ động duy trì thường xuyên lực lượng tàu trực, tuần tra kiểmsoát bảo vệ chủ quyền và các hoạt động làm ăn bình thường của nhân dân tatrên biển, đảo Bảo vệ an toàn các công trình kinh tế, nghiên cứu biển, nhất làcác công trình dầu khí quốc gia tại các khu vực dầu khí Các tàu hoạt độngtrên biển kết hợp tuần tra bảo vệ chủ quyền với việc tuần tra trinh sát, nắmtình hình, đồng thời tuyên truyền, vận động ngư dân thực hiện nghiêm đườnglối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; ngăn chặn, xuađuổi tàu thuyền nước ngoài xâm nhập vào vùng biển của ta để thăm dò, khaithác trái phép tài nguyên khoáng sản, thủy hải sản; phát hiện, ngăn chặn ngưdân ta vi phạm chủ quyền của nước khác để khai thác trái phép thủy sản, đồngthời bảo đảm an toàn cho sức khỏe, tính mạng và tài sản của ngư dân Tiếnhành các hoạt động tuần tra chung trên biển với một số nước mà Việt Nam đã
ký kết như Trung Quốc, Thái Lan, Cămpuchia qua đó góp phần ngăn chặncác hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật trên biển, tạo điều kiện thuận lợi
và môi trường hòa bình, ổn định cho các hoạt động KTB của ta và các nướclân cận
* Bảo vệ tài nguyên, phòng chống ô nhiễm môi trường để KTB phát triển bền vững.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát phát hiện các vi phạm tronglĩnh vực bảo vệ môi trường như các lỗi tàu không có đầy đủ trang thiết bị lọcdầu, nước la canh và kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu, không ghi hoặc ghinhật ký tàu không đúng theo quy định; khai thác, đánh bắt thủy hải sản bằngcác công cụ trái phép vi phạm về bảo vệ tài nguyên, hệ sinh thái và môitrường biển như sử dụng chất nổ, xung kích điện, chất hóa học, ngư lưới cụ cótính chất hủy diệt; đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật cho ngư dân làm
ăn trên biển, góp phần nâng cao hiểu biết và làm giảm thiểu những sai phạm
Trang 33của ngư dân
* Phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trên biển, bảo đảm cho kinh tế đất nước nói chung và KTB nói riêng phát triển trong môi trường lành mạnh, công khai, minh bạch.
Lực lượng CSB Việt Nam luôn quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng,đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng vềcông tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền an ninh trật tựtrên biển trong tình hình mới; chủ động phối kết hợp chặt chẽ với các lựclượng chức năng, chính quyền địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợpcác lực lượng, biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả Đẩymạnh công tác tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức của quần chúng vềchủ quyền quốc gia, vị trí, vai trò tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ củacông dân trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đấu tranh phòng chống tội phạmgiữ gìn an ninh trật tự trên biển; củng cố an ninh trật tự trên các vùng biển,đảo, ngăn chặn hoạt động vi phạm của tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủquyền vừa đảm bảo kiềm chế không sử dụng vũ lực gây căng thẳng làm phứctạp thêm tình hình, trấn áp ngăn chặn hiệu quả hoạt động của các loại tộiphạm, chống buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần tạo môi trường thuậnlợi cho KTB phát triển
* Bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải; tổ chức các hoạt động TKCN, cứu hộ trên biển, đấu tranh chống cướp biển và hợp tác với các nước để cùng phát triển
Biển mang lại nguồn lợi to lớn cho con người, song biển cũng chứađựng nhiều hiểm họa khôn lường, như bão, động đất, sóng thần Vấn đề tìmkiếm, cấp cứu người và phương tiện bị nạn trên các vùng biển ngày càng trở
Trang 34nên cấp thiết đang được Việt Nam và các nước trên thế giới quan tâm Cácnhà khoa học cũng cảnh báo vùng Biển Đông cũng có thể xảy ra những thảmhọa tự nhiên do biến đổi khí hậu như bão, động đất, sóng thần, đặt con ngườiphải đề phòng giảm thiểu thiệt hại Hoạt động TKCN là trách nhiệm, lươngtâm của mọi người đối với đồng loại, vừa mang ý nghĩa nhân văn cao cả Cảnước hiện có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sống ven biển, số laođộng hoạt động liên quan đến biển chiếm tới 50% tổng số lao động hiện có.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay mọi hoạt động trên biển diễn ra nhộnnhịp nhất là vận tải biển, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản Hàng năm số vụ việcnhư tai nạn, sự cố trên biển xảy ra nhiều, gây thiệt hại không chỉ về người,của cải mà còn làm ô nhiễm môi trường, sinh thái biển Theo thống kê củaCục Hàng hải Việt Nam: năm 2011 xảy ra 64 vụ tai nạn, chết và mất tích 22người, bị chìm và hư hỏng 37 phương tiện; năm 2012 xảy ra 34 vụ tai nạn,chết và mất tích 16 người, bị chìm và hư hỏng 15 phương tiện; năm 2013xảy ra 30 vụ tai nạn, chết và mất tích 19 người, bị chìm và hư hỏng 33phương tiện; trong 9 tháng đầu năm 2014 đã xảy ra 10 vụ tai nạn hàng hải[10] Những sự cố, tai nạn trên biển chủ yếu do không đảm bảo an toàn giaothông; trước những diễn biến phức tạp của an toàn giao thông trên biển:Ngày 3 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 20/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặntai nạn giao thông hàng hải và đường thủy nội địa nhằm giảm thiểu rủi ro, tainạn Hoạt động TKCN trên biển là nhiệm vụ khó khăn do đòi hỏi tính khẩntrương của nhiệm vụ, hơn nữa việc TKCN thường diễn ra trong điều kiệnthời tiết phức tạp, nguy hiểm Chấp hành chỉ thị của Chính phủ và Bộ Quốcphòng, Bộ Tư lệnh CSB được giao nhiệm vụ là lực lượng thường trực venbiển cùng với các lực lượng khác (Bộ Thủy sản, Biên phòng, Cục Đườngbiển, Bộ Công an, Hải quân, Kiểm ngư ) chủ động ứng cứu kịp thời người
Trang 35và phương tiện gặp nạn trên biển một cách nhanh nhất.
Lực lượng bảo đảm hàng hải CSB phối hợp với các cơ quan chức năng
có liên quan của các Bộ, ngành để xây dựng thiết lập cơ chế phối hợp hoạtđộng cụ thể trong việc công bố, tiếp nhận, truyền phát và xử lý thông tin anninh hàng hải, ban hành các cấp độ và các biện pháp an ninh cần áp dụng theomỗi cấp độ an ninh Hướng dẫn và bảo đảm theo chức năng quy định các biệnpháp an ninh cần áp dụng đối với tàu biển đang hoạt động tại vùng biển ViệtNam, tàu biển đang neo đậu tại cảng dầu khí ngoài khơi Chủ trì phối hợp vớiCục Hàng hải Việt Nam và các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức diễn tậpcác tình huống sự cố an ninh hàng hải; thiết lập mạng lưới thu thập và xử lýthông tin an ninh hàng hải
Cướp biển, cướp có vũ trang đang là vấn nạn đe dọa đến an ninh an toàntrên biển, ảnh hưởng đến giao thương giữa các vùng là mối quan tâm của cácquốc gia và các tổ chức quốc tế có liên quan Việt Nam là quốc gia đã ký vàphê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc tế về Luật biển năm 1982, đồng thời
là thành viên hiệp định hợp tác khu vực về chống cướp biển và cướp có vũtrang chống lại tàu thuyền tại Châu Á
Hai là, trực tiếp tham gia phát triển KTB
Trong điều kiện đất nước vừa có hòa bình, vừa phải huấn luyện sẵnsàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nói chung, CSB Việt Nam nóiriêng không chỉ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác mà còn là đội quânlao động sản xuất, làm kinh tế
Trong lĩnh vực lao động sản xuất làm kinh tế, trước hết là tính đến hiệuquả Tham gia làm KTB của CSB có tính đặc thù, do vậy tiêu chí đánh giáhiệu quả phải tính đến cả về KT - XH và quốc phòng - an ninh Khác với sảnxuất quân sự, lao động sản xuất và xây dựng, phát triển KTB của CSB là hoạtđộng không sản xuất ra của cải vật chất phục vụ trực tiếp đời sống KT- XH,
Trang 36nên lĩnh vực sản xuất, dịch vụ phát triển KTB của CSB Việt Nam có nhữngđặc điểm riêng.
* Các đơn vị của CSB tham gia làm kinh tế nhưng vẫn là lực lượng sẵnsàng phục vụ chiến đấu Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ làm kinh tế, vẫnluôn sẵn sàng chuyển trạng thái hoạt động Đây là một đặc điểm lớn chi phốiđến định hướng, xác định đối tượng tham gia làm kinh tế và những vấn đềkhác của CSB
* Từ yêu cầu phân bố lực lượng tham gia làm KTB phục vụ cho nhiệm
vụ quốc phòng - an ninh và kinh tế cũng như yêu cầu kết hợp quốc phòng - anninh với kinh tế mà nhiều đơn vị CSB phải được bố trí ở những vùng biển,đảo khác nhau, xa đất liền, xa dân cư Những bất lợi về vị trí địa lý, môitrường kinh doanh, tính độc lập, các đơn vị CSB còn gặp khó khăn về nhiềumặt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tham gia làm KTB
Liên tục trong những năm qua, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ huấnluyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng CSB tích cực tham gia làm kinh tế kếthợp với quốc phòng trên địa bàn chiến lược vùng biển, ven biển, đảo của Tổquốc Nổi bật trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Nhà nước,
Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh CSB đã chỉ đạo từng bước các đội tàu hoạt độngtrên các ngư trường Vịnh Bắc Bộ, khu vực quần đảo Trường Sa, thềm lục địaphía Nam, các giàn khoan, công trình dầu khí, cáp quang trên biển, kết hợp tổchức dịch vụ nghề cá các vùng biển xa, hàng năm cung cấp cho ngư dân dầu,nước ngọt Như vậy, CSB Việt Nam tham gia xây dựng kinh tế không cónhiều lợi thế, nhưng vẫn phải lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu CSB thamgia xây dựng kinh tế, xem xét trên mọi góc độ đều chịu tác động của quy luậttiết kiệm thời gian lao động, biểu hiện cụ thể của việc đẩy mạnh thực hành tiếtkiệm nguồn nhân lực, vật lực của đất nước giao cho CSB quản lý và khai thác
có hiệu quả trên cả hai mặt Chính vì vậy, tính hiệu quả cao trong hoạt động
Trang 37này đã góp phần nâng cao vai trò của CSB Việt Nam trong phát triển KTB.
Đó cũng chính là biểu hiện sự quyết tâm của CSB Việt Nam tích cực gópphần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI: “ Phát triểnkinh tế ven biển, biển và hải đảo theo định hướng Chiến lược biển đến năm
2020 Phát triển mạnh kinh tế đảo, khai thác hải sản xa bờ gắn với tìm kiếmcứu hộ, cứu nạn và giữ vững chủ quyền vùng biển quốc gia” [22, tr 203]
Ba là, tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định kế hoạch trong phát triển KTB, đặc biệt là bảo vệ phát triển KTB
Để quá trình thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả, lực lượng CSB Việt Namphải tham mưu đề xuất cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành xây dựng một
kế hoạch chung thống nhất từ trên xuống dưới, phù hợp với phương thức quản
lý kinh tế và quản lý quốc phòng Sử dụng linh hoạt cơ chế hỗn hợp vừa mangtính kế hoạch, vừa mang tính thị trường.Theo đó, trên cơ sở chủ trương củacấp ủy các cấp trong Quân đội về việc kết hợp quốc phòng - an ninh với KTB,căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tiềm năng, thế mạnh của đơn vị, người chỉhuy tiến hành giao nhiệm vụ, kế hoạch, chỉ tiêu tham gia phát triển KTB chocác cơ quan, đơn vị một cách hợp lý
1.2.3 Sự cần thiết phát huy vai trò của Cảnh sát biển Việt Nam đối với phát triển kinh tế biển
Một là, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa tổ chức quân sự với xây dựng kinh tế và mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước.
Các nhà lý luận Mác - Lênin khẳng định rằng, xây dựng và phát triển
KT - XH phải gắn liền với bảo vệ quá trình đó Xây dựng và phát triển KT
- XH là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của mọi cuộc cách mạng trong lịch
sử, cùng với quá trình ấy là bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng đã đạtđược Quân đội và sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất nước có mối quan hệ
Trang 38chặt chẽ với nhau, trong đó, kinh tế giữ vai trò quyết định việc tăng cườngsức mạnh của quân đội, song quân đội có vai trò tích cực đối với xây dựngkinh tế đất nước.
Sự phụ thuộc của quân đội vào kinh tế được Ph.Ăng ghen chỉ rõ:
“Không có gì phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quânđội và hạm đội Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộctrước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vàophương tiện giao thông”[1, tr.235]
Đứng trên lập trường Mác xít, chúng ta phải nhận thức đầy đủ, toàn diện
sự tác động của quân đội đối với kinh tế có cả tích cực và tiêu cực, phải xemxét nó trong tình hình cuộc đấu tranh giai cấp trong nước và trên thế giới đangcòn nhiều diễn biến phức tạp.Với góc độ thuần túy về kinh tế, rõ ràng quân độitiêu dùng của cải vật chất mà không quay lại quá trình tái sản xuất, thậm chí đó
là tiêu dùng mất đi Bạo lực, quân đội “không làm ra tiền thậm chí còn tiêudùng nhiều tiền” Song, quân đội không chỉ bảo vệ nền kinh tế, mà còn trongđiều kiện nhất định, tiêu dùng của quân đội sẽ kích thích sản xuất, ứng dụngkhoa học, công nghệ vào sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa đápứng nhu cầu kinh tế của chiến tranh “Quân đội cũng là một nguồn lực kinh tế,phải kích thích nguồn lực ấy cho phát triển kinh tế”[1, tr.235]
Hai là, xuất phát từ thực tiễn hoạt động của CSB Việt Nam trong phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển, đảo
Biển đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, làhướng chiến lược trọng yếu, không gian sinh tồn, phát triển bền vững của dântộc Việt Nam trong cả hiện tại và tương lai Với giá trị to lớn về KT - XH,chính trị, quốc phòng - an ninh, nên biển Việt Nam đang là mối toan tính củamột số nước trên thế giới, nhất là thế lực bá quyền và một số nước trong khuvực Phát triển KTB, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ
Trang 39quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia trên biển luôn là nhiệm vụ trọng yếu,thường xuyên, cấp bách của Đảng, Nhà nước và toàn dân trong tình hình hiệnnay Để trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, Đảng và Nhà nước
đã và đang tập trung đầu tư phát triển mạnh KT- XH trên các vùng biển, đảo.Tình hình an ninh chính trị, an toàn trên biển có ảnh hưởng trực tiếp đến anninh, chính trị của quốc gia Việc giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, quốcphòng - an ninh trên các vùng biển, đảo sẽ góp phần giữ vững môi trường hòabình, ổn định để xây dựng, phát triển KTB bền vững Quân đội nhân dân ViệtNam là đội quân cách mạng, có nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam XHCN và góp phần vào công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam
Ba là, xuất phát từ tư duy mới của Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới
Thứ nhất, tăng cường, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnhđốn Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN
Thứ hai, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh
CNH, HĐH, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, kết hợp chặt chẽ kinh tế vớiquốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội
Thứ ba, xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, tuyên truyền
Thứ tư, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Thứ năm, tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân,
xây dụng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao
Thứ sáu, triển khai đồng bộ, toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN [21]
Quan điểm trong chiến lược biển, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung
Trang 40ương Đảng chỉ rõ: “Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lượcxuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp cách mạng xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN” Do đó, một đòi hỏi khách quan,cấp bách, đồng thời là một nhiệm vụ chiến lược nặng nề mà Đảng, Nhà nước
và toàn Đảng, toàn dân ta phấn đấu thực hiện trong một thời gian hết sức khẩntrương là tăng cường sức mạnh quốc gia trên biển tương xứng với tầm quantrọng chiến lược của biển phù hợp với điều kiện KT - XH đất nước Để thựchiện được mục tiêu trên, cần ra sức xây dựng, củng cố, hoàn thiện thế trậnquốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên biển ngày càng vữngchắc, trong đó, lấy CSB làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển,hải đảo, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Tổ quốc CSB Việt Namthực hiện nhiệm vụ trên một hướng chiến lược trọng yếu, giữ vai trò nòng cốttrong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia vì lợiích kinh tế trên biển Sức mạnh quân sự quốc gia trên biển được biểu hiện
ở ý chí và năng lực thực tiễn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thực hiệnchủ quyền trên biển, ở phòng thủ đất nước từ hướng biển và bảo vệ chủ quyềnquốc gia trên các vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc Đó là sức mạnhtổng hợp của chế độ XHCN, của đường lối chiến tranh nhân dân, thế trậnquốc phòng toàn dân, toàn diện và của lực lượng vũ trang nhân dân trên biểntrong đó và trước hết là sức mạnh của CSB Việt Nam Là thành phần cơ bản,chủ yếu và luôn gắn liền với sức mạnh biển, CSB Việt Nam là lực lượngchuyên trách, nòng cốt của Nhà nước về thực thi pháp luật trên biển, giữ gìn
an ninh trật tự, an toàn biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc Việt Nam XHCN
Mặt khác CSB luôn là lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự antoàn trên các vùng biển, là chỗ dựa tin cậy của các thành phần kinh tế, cáchình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trên biển, nghiên cứu khoa học, vận tải
và làm dịch vụ biển, là nhân tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc