Theo PGS Đàm Đức Vượng thì nhân lực chất lượng cao có thể hiểubao gồm đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia,tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay
Trang 1NGÔ VĂN THẮNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Ở VIỆN KHOA HỌC LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2NGÔ VĂN THẮNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Ở VIỆN KHOA HỌC LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60 31 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ QUANG LỘC
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆN KHOA HỌC
1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò
của nó trong phát triển của Viện Khoa học Lao động và
1.2 Những nội dung cơ bản phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội 181.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
một số viện khoa học và những bài học rút ra cho Viện
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆN KHOA HỌC LAO
2.1 Khái quát về Viện khoa học Lao động và Xã hội 362.2 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ở Viện khoa học Lao động và Xã
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆN KHOA
3.1 Phương hướng phát triển của Viện khoa học Lao động và Xã
hội và những yêu cầu đặt ra với nguồn nhân lực chất lượng
3.2 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
của Viện khoa học Lao động và Xã hội đến năm 2020 71
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4Bảo hiểm xã hội BHXH
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người luôn là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất trong mọithời đại Lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quyết định của nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng Trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta cũng xác định lấy việc phát huy nguồn lựccon người làm yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba khâu độtphá chiến lược thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020
Như vậy, hiện nay nhân lực chất lượng cao đang là vấn đề quan trọngnhất của lực lượng sản xuất hiện đại và là yếu tố quyết định sự phát triển củacác lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là những lĩnh vực mà kết quả hoạt độngđóng vai trò mở đường cho toàn bộ sự phát triển xã hội như nghiên cứu khoahọc và giáo dục đào tạo Ở các lĩnh vực khác nhau thì nguồn nhân lực chấtlượng cao có những đặc điểm nhất định Đối với lĩnh vực nghiên cứu khoahọc như tại các cơ quan, viện nghiên cứu thì nguồn nhân lực chất lượng caochính là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng kinh nghiệmlàm việc, có sức khỏe đảm bảo và đạo đức tốt Đây chính là lực lượng laođộng nòng cốt chủ yếu trong phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học nhằmphát triển kinh tế, xã hội Bởi vậy việc đầu tư và đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao cho các trung tâm nghiên cứu khoa học, sáng chế công nghệ mớiđang trở thành mối quan tâm và ưu tiên đặc biệt của các quốc gia trên thếgiới
Viện Khoa học Lao động và Xã hội của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội là cơ quan có chức năng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng các vấn đề
Trang 6thuộc về lĩnh vực lao động – thương binh và xã hội cùng với một số lĩnh vựckhác được Bộ xác định và giao phó Đặc biệt, các công trình nghiên cứu củaViện liên quan trực tiếp đến chính sách lao động, phát triển con người, pháttriển nguồn nhân lực của quốc gia Với tư cách là một viện nghiên cứu khoahọc thì sự phát triển, trưởng thành và tương lai của Viện phụ thuộc trước hết ở
số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ cán bộ quản lý, các nhà khoa học,đội ngũ nhân viên của Viện Tóm lại điều này phụ thuộc ở sự phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao của Viện trong hiện tại và tương lai
Từ khi được thành lập cho đến nay nguồn nhân lực chất lượng cao củaViện đã có những bước phát triển đáng kể và trở thành tài sản và nguồn lực quýgiá nhất, quan trọng nhất của Viện Tuy nhiên so với yêu cầu, nhiệm vụ màViện đảm nhiệm thực tế nguồn nhân lực hiện có còn nhiều bất cập Chính vì
vậy tác giả luận văn lựa chọn vấn đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Tình hình nghiên cứu trong nước
Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), “Phát triển nguồn nhân lực – kinhnghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” Cuốn sách đã làm rõ cơ sở lý luận vềnguồn nhân lực và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc giatrên thế giới, từ đó rút ra kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực ởnước ta
Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2001), “Về phát triển toàn diện con ngườithời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Trong cuốn sách này, tác giả đã làm
rõ những vấn đề lý luận về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lựctrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TS Bùi Thị Ngọc Lan (2002), “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổimới ở Việt Nam” Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của nguồn lực trí
Trang 7tuệ đối với sự phát triển của xã hội; đồng thời làm rõ đặc điểm, thực trạngphát huy và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đó khẳng định
sự cần thiết phải chăm lo phát triển và phát huy cao độ sức mạnh của nguồnlực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
GS TS Bùi Văn Nhơn (2008), “Quản lý nguồn nhân lực xã hội” Giáotrình này có mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về nguồn nhân lực xã hội vàquản lý nguồn nhân lực xã hội, làm cơ sở phương pháp luận cho việc tham giahoạch định và phân tích các chính sách về nguồn nhân lực xã hội
PGS.TS Đỗ Thị Thạch (2011), “Chiến lược phát triển nguồn nhânlực trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng” Trong bài báo của mình, tác giả đã
đi sâu phân tích làm rõ chiến lược phát triển NNL trong Văn kiện Đại hội
XI của Đảng ta Đồng thời, tác giả cũng chỉ rõ những quan điểm mới trongchiến lược phát triển NNL, từ đó làm rõ quan điểm của Đảng về những giảipháp để phát triển NNL và NNLCLC
PGS.TS Nguyễn Văn Tài (2010), “Phát huy tính tích cực xã hội của độingũ cán bộ nước ta hiện nay” Trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã đi sâu phân tích, làm rõ những cơ sở lýluận và thực tiễn củađường lối, chính sách cán bộ của Đảng ta
Trần Văn Tùng (2005), “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhânlực tài năng” Nội dung cuốn sách trình bày những kinh nghiệm trong pháthiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học - công nghệ sản xuất kinh doanh,quản lý của Mỹ và một số quốc gia châu Âu (Đức, Pháp, Anh), châu Á(Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số quốc gia châu Á khác)
Đoàn Văn Khái (2005) công bố nghiên cứu về lý luận và thực tiễn vềnguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời kỳCNH, HĐH Công trình này đề cập tới những quan điểm, phương hướng và một
số giải pháp mang tính vĩ mô trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Trang 8TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển NNLCLC trong sự nghiệpCNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Trong bài viết của mình, tác giả
đã đưa ra quan niệm về NNLCLC, sơ lược về thực trạng NNLCLC ở nước tahiện nay, trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huynguồn lực này ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Tác giả Lê Văn Phục “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao ở một số nước trên thế giới” Bài viết đã nêu lên kinh nghiệm về phát triểnNNLCLC ở các nước Tây Âu, Mỹ, các nước Đông Nam Á, Đông Á, từ đórút ra những bài học cho Việt Nam trong việc phát triển NNLCLC hiện nay
PGS.TS Bùi Thị Ngọc Lan (2007), một số bổ sung, phát triển trongchiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu mộtcách hệ thống những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về NNLqua các kỳ Đại hội của Đảng; làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển NNLCLCtheo tinh thần của Đại hội X (2006)
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng và tác giả Đỗ Văn Dạo “Vấn đề phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay” Thông qua bài viết cáctác giả đánh giá thực trạng của NNLCLC, chỉ ra những bất cập và từ đó đưa
ra các giải pháp để phát triển NNLCLC ở nước ta hiện nay
GS.TS Nguyễn Văn Khánh, TS Hoàng Thu Hương (2010), Đào tạoNNLCLC ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng Các tác giả đã đưa
ra quan niệm về NNLCLC, thực trạng NNLCLC ở Việt Nam hiện nay.Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra triển vọng phát triển NNLCLC và một
số khuyến nghị để phát triển nguồn lực này phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH củađất nước
Phạm Hoàng Lân (2010), “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạiViện Hệ thống thông tin FPT”, Luận văn thạc sĩ kinh tế Luận văn hệ thốnghóa các lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Trên
Trang 9cơ sở đó, luận văn đánh giá thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lựccủa Viện FPT và đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực trongtương lai cho đơn vị.
Bài viết của GS.TS Hoàng Văn Châu, Hiệu trưởng trường Đại HọcNgoại thương đăng trên Tạp chí kinh tế đối ngoại số 38/2009: “Phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách saukhủng hoảng” Nội dung chủ yếu đề cập đến những bất cập của thị trường laođộng của nước ta Tác giả nhận định thị trường lao động Việt Nam sẽ tiếp tụcthiếu hụt và khan hiếm nguồn nhân lực cao cấp quản lý trở lên Sau khi cuộckhủng hoảng tài chính qua đi, khi các doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc vànhu cầu nhân lực có chất lượng cao tăng lên thì chắc chắn sự mất cân đốicung - cầu trên thị trường lao động sẽ diễn ra ngày càng trầm trọng hơn nếunhư Việt Nam không có những biện pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này.Nguyên nhân của việc này là do các doanh nghiệp thiếu thông tin về thịtrường lao động và chưa tiếp cận một cách hiệu quả được với các dịch vụ đàotạo; nhiều doanh nghiệp chưa tích cực tham gia vào các chương trình đào tạo;các sinh viên đã không được định hướng tốt trong việc chọn trường, chọnngành nghề theo học Từ đó tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao trong thời gian tới các giải pháp tập trung chủ yếuvào việc nâng cao chất lượng đào tạo
Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2005), Phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam Luận án tiến sĩkinh tế chính trị, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị,Đại học Quốc gia, Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu: Góp phần làm phong phúthêm những lý luận mới về phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế trithức thông qua những phân tích nội dung, tiêu chí và những yếu tố tác độngtới quá trình phát triển lực lượng này; Thực hiện việc đánh giá tương
Trang 10đối toàn diện thực trạng phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế trithức giai đoạn 2001- 2007 gắn với những nội dung tiêu chí và những yếu tốtác động đã nêu trên; Đề xuất một số giải pháp phát triển NNLCLC để hìnhthành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong tương lai Những đề xuất đó gópphần tìm ra con đường và cách thức hiệu quả để phát triển NNLCLC thực sựtrở thành lực lượng tiên phong trên hành trình hiện thực hóa nền kinh tế trithức ở Việt Nam.
Tác giả Phan Thùy Chi (2008): Đào tạo và phát triển nguồn nhân lựctrong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chươngtrình hợp tác quốc tế, LATS kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Đây
là nghiên cứu khá hệ thống về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lựctại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam nhưng chỉ giới hạn trong hợptác quốc tế đào tạo
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, đề án, bài báo, báo cáo khoa họcnghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
STEWART Jim, MCGOLDRICK Jim (2007), “Human resourcedevelopment”, (Phát triển nguồn nhân lực) Cuốn sách này dựa trên các ýtưởng, nghiên cứu mới nhất và nổi tiếng để đóng góp vào cuộc tranh luận vềphát triển nguồn nhân lực Cuốn sách nhằm mục đích bổ sung các khoảngtrống bằng các khái niệm được đề xuất Cuốn sách này được chia thành baphần Phần đầu tiên tổng quan về những quan điểm khác nhau về phát triểnnguồn nhân lực Thứ hai đề cập đến chiến lược phát triển nguồn nhân - lực vàthứ ba là kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực thực tế
Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009), “Perspectives on theory clarifyingthe boundaries of human resource development”, (Những quan điểm dựa trên lýthuyết làm rõ những ranh giới của phát triển nguồn nhân lực), cụ thể tác giả đã
Trang 11phân tích sự khác biệt giữa khái niệm phát triển nguồn nhân lực và phát triển vốnnhân lực và phát triển con người ở phương diện xã hội.
Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có một nghiên cứu nào vềphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại một viện khoa học trong nước
3 Mục đích, nhiệm vụ
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội Trên cơ sở đó, đề xuấtnhững phương hướng và giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao của Viện đến năm 2020
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích cơ sở lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực một số viện nghiêncứu ở Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho ViệnKhoa học Lao động và Xã hội
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng caocủa Viện Khoa học Lao động và Xã hội, làm rõ nguyên nhân và các vấn đềcần giải quyết
Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao Viện khoa học Lao động và Xã hội trong thời kỳ mới(năm 2020)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và
Xã hội
* Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu NNLCLC ở Viện Khoa học
Lao động và Xã hội, vận dụng kinh nghiệm phát triển NNLCLC ở một sốviện nghiên cứu trong nước
Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội từ năm 2008 đếnnăm 2013
5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu
*Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lê nin mà trực tiếp là kinh tế chính trị Mác – Lên nin và tưtưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam,chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, nghị quyết của Bộ Laođộng – Thương binh và Xã hội
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp chuyên
ngành của ngành kinh tế chính trị, gồm: Phương pháp trừu tượng hóa; phươngpháp thống kê, phân tích, điều tra xã hội học; phướng pháp hệ thống hóa, môhình hóa và đồ thị; phương pháp chuyên gia,…
6 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn đã góp phần xây dựng quan niệm về nguồn nhân lực chấtlượng cao của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao ở Viện và làm rõ vai trò của nó với sự phát triển của Viện
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệthống về thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoahọc Lao động và Xã hội từ năm 2008 tới nay, đề xuất những giải pháp chủyếu để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện tới năm 2020
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu giảng dạy mônkinh tế chính trị và sử dụng trong phát triển của Viện Khoa học Lao động và
Xã hội
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Cấu trúc luận văn bao gồm: Phần mở đầu; 3 chương và phần kết luận;danh mục tài liệu tham khảo; phần phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆN KHOA HỌC LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI 1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của nó trong phát triển của Viện Khoa học Lao động và Xã hội
1.1.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Khoa học Lao động
Theo quan điểm của C.Mác để có thể phát triển ngành công nghiệp dotoàn xã hội thực hiện thì cần phải có những người lao động với năng lực pháttriển toàn diện, có đủ thể lực, trí lực, kỹ năng và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầucủa sản xuất Đó cũng là những quan niệm rất đúng đắn về phương pháp luận
Trang 15của C Mác để nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện hiệnnay Các nhà kinh tế học cũng cho rằng: NNL mà hạt nhân của nó làlao động kỹ thuật là toàn bộ thể lực, trí lực với trình độ chuyên môn, kỹ năng
mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập cao trong tươnglai Theo đó, có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là: người laođộng có thể lực; chuyên gia lành nghề và những người có ý tưởng sáng tạo.[5] Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhà quản lý cũng đãđưa ra nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo PGS Đàm Đức Vượng thì nhân lực chất lượng cao có thể hiểubao gồm đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia,tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độchuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có
đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải phápkhoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đội ngũ các nhà quản lý các doanhnhân trong nền kinh tế thị trường, các chuyên gia, các nhà khoa học trong cáclĩnh vực khoa học, giáo dục, đào tạo,….[45] NNLCLC không đồng nghĩa vớitrình độ học vấn cao vì học vấn mới chỉ là một yếu tố cấu thành củaNNLCLC Ngoài trình độ đào tạo NNLCLC còn phải bao hàm những yếu tố
và phẩm chất khác như: khả năng sáng tạo, kỹ năng, thói quen, kinh nghiệmnghề nghiệp
Còn theo GS Chu Hảo thì “Nhân lực chất lượng cao trước hết phảiđược thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng Điều đó có nghĩa
là nó không đồng nghĩa với học vị cao NNLCLC là những người có năng lựcthực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và cóđóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội” [19]
Như vậy, để có nguồn nhân lực chất lượng cao thì cần thiết là người lao
động phải có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có các phẩm chất cần thiết
Trang 16được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liềnvới một nền khoa học công nghệ hiện đại.
Theo quan niệm của TS Đinh Sơn Hùng, Viện nghiên cứu phát triểnTP.HCM, để đưa ra những tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, nêndựa trên góc độ của nhà tuyển dụng, sử dụng lao động [22] Chính họ mới đánh giámột cách chính xác nguồn nhân lực của họ thật sự có chất lượng cao hay không, đólà: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý thực tế, kỹ năng giao tiếp, làmviệc nhóm; có kỷ luật, đạo đức; trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản
Qua phân tích các quan điểm trên, có thể nói nguồn nhân lực chấtlượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể cótrình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thểtheo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học,trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề); có kỹ năng lao động giỏi
và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của côngnghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạonhững tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sảnxuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể dựa vào các tiêu chínhư: khả năng thích ứng trong thời gian nhanh nhất với môi trường lao động
và với tiến bộ khoa học công nghệ mới; tác phong kỷ luật và đạo đức trongcông việc; tính sáng tạo Hai tiêu chí trước là điều kiện cần để đánh giá chấtlượng lao động, còn điều kiện đủ là khả năng tư duy đột phá trong công việc,hay còn gọi là tính sáng tạo
Khái niệm nhân lực chất lượng cao nhấn mạnh tính tổng hòa đạo đứcnghề nghiệp (nhân cách), thể lực, trình độ, ý chí, niềm đam mê và tay nghề(độ lành nghề) như một sức sản xuất (vật chất và tinh thần)
Viện Khoa học Lao động và Xã hội là một viện nghiên cứu khoa họcđược thành lập từ năm 1978 Viện được công nhận là một trong số các viện
Trang 17đầu ngành có chức năng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và ứngdụng về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội Lĩnh vực nghiên cứuchính bao gồm: dân số, lao động, việc làm; tiền lương, tiền công; quan hệ laođộng, an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo,phòng, chống tệ nạn xã hội, người có công; bảo vệ và chăm sóc trẻ em;); môitrường và điều kiện lao động (an toàn, vệ sinh lao động, trách nhiệm xã hộicủa doanh nghiệp, các tiêu chuẩn lao động); lao động nữ và bình đẳng giới.Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đang đẩy mạnh hoàn thiện các chínhsách dân số, lao động, giới, an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực,….Chính vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Viện ngày càng nặng nềhơn, để có thể đóng góp nhiều hơn nữa các luận cứ khoa học phục vụ cho việchoạch định chiến lược, chính sách phát triển nguồn nhân lực, lao động, việclàm và ổn định xã hội Chính vì vậy, nhu cầu về phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao – vốn là lực lượng nòng cốt để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụcủa Nhà nước giao cho Viện là hết sức cần thiết Với khối lượng công tácnghiên cứu ngày một tăng thì nhân lực chất lượng cao của Viện cần phải đượcgia tăng cả về số lượng và chất lượng Khác với những lĩnh vực khác, tronglĩnh vực nghiên cứu khoa học của Viện thì nguồn nhân lực chất lượng cao cầnthiết phải đảm bảo những tiêu chí nhất định Đó là người lao động phải cónăng lực chuyên môn cao (có trình độ đào tạo cao), có kinh nghiệm, có thểlực tốt, có đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng xã hội.
Từ những vấn đề chung về NNLCLC có thể đưa ra khái niệm về NNLCLCcủa Viện Khoa học Lao động và Xã hội như sau:
Đối với NNLCLC của Viện thì nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Khoa học Lao động và Xã hội là những người lao động được đào tạo ở trình độ cao, có sức khỏe, bản lĩnh chính trị, có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, tinh thông nghiệp vụ và có kinh nghiệm tốt làm việc tại Viện Khoa học
Trang 18Lao động và Xã hội, đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ của Viện trong hiện tại cũng như tương lai.
Như vậy, NNLCLC của Viện Khoa học Lao động và Xã hội là nguồnnhân lực đáp ứng được những tiêu chí: phải được đào tạo bài bản về chuyênmôn, kỹ thuật theo yêu cầu của công việc và nhiệm vụ được giao, ngoài raphải có những kỹ năng, và kinh nghiệm tốt trong công việc
Cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao tại Viện Khoa học Lao động và
Xã hội bao gồm 3 bộ phận:
Thứ nhất, đội ngũ lãnh đạo quản lý của Viện: Đội ngũ này bao gồm:
Viện trưởng, các Phó viện trưởng, Giám đốc trung tâm, Phó giám đốc trungtâm và các trưởng, phó phòng ban chức năng khác Đây là bộ phận chủ yếu
và ưu tú nhất của NNLCLC, bởi họ là những người có tri thức và trình độ họcvấn cao (chủ yếu được đào tạo trong một hệ thống giáo dục) Họ đóng vai tròtiên phong trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo, hoạch định định hướng phát triển, hoạtđộng, thực hiện những mục tiêu đặt ra cho Viện Họ là những đầu tàu dẫn dắtViện Khoa học Lao động và Xã hội hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu trong từngthời kỳ và đi đến thành công Với đặc trưng cơ bản là lao động trí óc phứctạp, sáng tạo, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò to lớn trong việctham gia lãnh đạo, quản lý, điều hành Viện Đồng thời sáng tạo ra các giá trịmới, phát triển lý luận, xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết sách kinh tế
- chính trị, văn hóa - xã hội…của Viện và của Nhà nước
Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của đội ngũ lãnh đạo quản lý là:
- Có tầm nhìn, tư duy chiến lược, định hướng nghiên cứu
- Có tầm nhìn quản lý, tham mưu cho Viện
- Có năng lực tổ chức các ngành, các lĩnh vực, tổ chức lao động, tổchức hợp tác quốc tế
- Thực sự là tấm gương tiêu biểu về đạo đức, lối sống, đoàn kết,…
Trang 19Thứ hai, các chuyên gia, nghiên cứu viên: Đội ngũ chuyên gia, nghiên
cứu viên là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, nhữngngười chịu trách nhiệm về lĩnh vực mình tham mưu, thực hiện công tácnghiên cứu hay quản lý từng nhóm việc nên họ phải có trình độ chuyên mônnghiệp vụ cao và luôn cố gắng học tập nâng cao trình độ để đáp ứng đượcnhững yêu cầu khắt khe của nhiệm vụ Họ không chỉ có chuyên môn nghiệp
vụ cao mà còn có sức khỏe bền bỉ, tinh thần mẫn cán, tâm lý ổn định, vữngvàng Đây là lực lượng lao động trí tuệ trong Viện có khả năng làm chủ, sángtạo những tri thức và khoa học, có khả năng thích nghi nhanh chóng với sựthay đổi của môi trường và điều kiện sống
Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của các chuyên gia, nghiên cứu viên là:
* Có trình độ lý luận cao, có kiến thức thực tế, có khả năng nắm bắt cái mới
* Có năng lực nghiên cứu độc lập
* Thực sự là những chuyên gia hàng đầu, là lực lượng nòng cốt trongnghiên cứu khoa học
Thứ ba, cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ: Là những người lao động có trình
độ cao được đào tạo bài bản trong lĩnh vực kỹ thuật như điện, điện tử, tin học,
…, có kinh nghiệm và kỹ năng làm việc tốt phục vụ cho công tác kỹ thuật tạiViện Khoa học Lao động và Xã hội đồng thời có hiểu biết công việc và chứctrách nhiệm vụ của mình
1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự phát triển
ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Thứ nhất, NNLCLC là lực lượng nòng cốt trong lãnh đạo, quản lý và
quyết định việc phát triển của Viện Khoa học Lao động và Xã hội trong hiệntại và tương lai
Lực lượng lãnh đạo, quản lý của Viện Khoa học và Lao động Xã hội lànhững người có chức năng, nhiệm vụ hoạch địch chính sách phát triển của
Trang 20Viện trong tương lai, là nguồn nhân lực thực hiện công tác cơ cấu và tổ chức
bộ máy làm việc của Viện nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ, chức năng màĐảng và Nhà nước, Bộ phân công, đồng thời tìm kiếm các lĩnh vực tăng thunhập, cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên của Viện Để thực hiệnđược chức năng quản lý này, đòi hỏi những người lãnh đạo Viện phải lànhững nhà lãnh đạo có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng, kinh nghiệm,khả năng tổ chức, quản lý tốt Nhìn chung là đội ngũ lãnh đạo phải là nhữngngười lao động có chất lượng cao nhất thì mới có thể là đội ngũ đầu tầu, nhằmphát triển Viện Khoa học Lao động và Xã hội trong tương lai Hơn thế nữa,đội ngũ lãnh đạo Viện là những tấm gương sáng, điển hình cho các cán bộCNV trong Viện noi theo để phát triển trình độ chuyên môn, học tập, nghiêncứu, tăng hiệu quả công việc Chính vì lẽ đó, phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao của Viện nhằm nâng cao chất lượng của bộ máy lãnh đạo, phục vụcho công tác quản lý trong tương lai là điều hết sức quan trọng và cần thiết
Thứ hai, NNLCLC là lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu, phát triển
Khoa học Lao động và Xã hội để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụcủa Viện Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khaithác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác: Giữa nguồn lực conngười, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học côngnghệ có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lựcđược xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia, mỗi tổ chức So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lựcvới yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bịcạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lựckhác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tácdụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, conngười với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân
Trang 21của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyếtđịnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với Viện Khoa học Lao động và Xã hội thì nhiệm vụ chính củaViện là nghiên cứu khoa học về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội,tham gia đào tạo, bồi duỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành lao động,thương binh và xã hội,… Chính vì vậy, để thực hiện những nhiệm vụ chínhcủa Viện thì nguồn nhân lực chất lượng cao với trình độ chuyên môn cao,được đào tạo bài bản, có kỹ năng và kinh nghiệm tốt, tinh thần trách nhiệmcao chính là lực lượng chủ yếu và trực tiếp thực hiện Chính vì vậy, để đápứng nhu cầu trong tương lai của Viện, việc phát triển NNLCLC là điều quantrọng và cần thiết NNLCLC của Viện là lực lượng chủ yếu thực hiện cácnhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng các chương trình, đề tài khoa học, các dự án
và các nhiệm vụ được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng như Nhànước giao Đồng thời trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này sẽ diễn raquá trình tự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ của Viện và góp phần vào việc đàotạo, bồi dưỡng NNLCLC cho các cơ sở, các ngành của Bộ
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng trực tiếp nâng cao
chất lượng hoạt động hợp tác về nghiên cứu khoa học, gắn kết quả nghiên cứuvới hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh, đào tạo, quản lý và hợp tác quốc tế
Ngày nay, nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang kinh tế tri thức vàhội nhập kinh tế quốc tế thì vai trò của NNLCLC càng thể hiện rõ hơn Hiệnnay, NNLCLC cũng đã tiên phong đi đầu tham gia vào nhiều lĩnh vực khókhăn và mang lại nhiều kết quả tích cực trong đó có lĩnh vực nghiên cứu vàchuyển giao khoa học công nghệ, lãnh đạo, quản lý Đây được xem là yếu tốquan trọng quyết định đối với sự tăng trưởng bền vững của Viện nói riêng vàcủa đất nước nói chung Hợp tác quốc tế và chuyển giao sự tiến bộ của khoahọc công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới thì NNLCLC chính là lực lượng
Trang 22có đủ trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm để tiếp nhận các kiếnthức tiên tiến
1.2 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội
1.2.1 Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Với quan niệm: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển,đồng thời là chủ thể phát triển”, tại Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định pháttriển nguồn nhân lực, đặc biệt là NNLCLC là một trong ba khâu đột phá chiếnlược cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới
Phát triển hiểu theo cách đơn giản là sự chuyển biến từ trạng thái thấplên trạng thái cao hơn Muốn vậy phải có sự biến đổi cả về số lượng và chấtlượng của sự vật theo hướng ngày càng hoàn thiện ở trình độ cao hơn Quanđiểm Mácxít về sự phát triển, vận dụng vào nghiên cứu con người đã nhấnmạnh yếu tố phát triển con người, lấy con người làm trung tâm Lịch sử pháttriển của nhân loại suy cho cùng là lịch sử phát triển con người Phát triển conngười vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội, vừa là phương tiện tốtnhất để thúc đẩy sự phát triển Có nhiều quan điểm về phát triển NNL nóichung Có quan điểm cho rằng phát triển NNL là sự gia tăng giá trị cho conngười, cả về vật chất lẫn tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năngnghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động với những năng lực
và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của
sự phát triển kinh tế xã hội Cũng có quan điểm cho rằng phát triển NNL làgia tăng các giá trị về thể chất, trí tuệ, năng lực của từng cá nhân trong điềukiện phát triển kinh tế - xã hội Đó cũng chính là quá trình mở rộng cơ hội lựachọn nhằm nâng cao năng lực, trí tuệ và cuộc sống của con người, phù hợpvới nhu cầu, lợi ích mà họ mong muốn Liên hợp quốc cho rằng, phát triển
Trang 23NNL bao gồm: giáo dục- đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúcđẩy kinh tế - xã hội phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống Quan niệmnày đã nhấn mạnh khía cạnh xã hội của vấn đề: NNL vừa là một yếu tố củasản xuất, của tăng trưởng kinh tế và là mục tiêu của phát triển Chú trọng đápứng nhu cầu của NNL về văn hóa và tinh thần, mở rộng tầm hiểu biết, cậpnhật thông tin, mở rộng các mối liên hệ xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của NNL Tóm lại, có thể cho rằng phát triển nguồn nhân lực là sựbiến đổi cả về lượng và chất, cơ cấu của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng sựtiến bộ về kinh tế - xã hội Quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trílực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xãhội và sức sáng tạo của con người Trong đó nền văn hóa, truyền thống lịch sửdân tộc góp phần quan trọng trong việc hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của mỗingười Từ sự trình bày trên đây, có thể cho rằng: Phát triển NNLCLC là quátrình biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chất lượngcao theo hướng đi lên để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của tổ chức, phát triểnkinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia
Do đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội là quá trình biến đổi toàn diện cả về số lượng, chất lượng và
cơ cấu theo hướng số lượng đáp ứng yêu cầu, chất lượng ngày càng cao và
cơ cấu phù hợp để nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ được giao.
1.2.2 Nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Trước đây, quá trình sản xuất hàng loạt theo dây chuyền với sự phântách chi tiết chức năng lao động trí óc và lao động chân tay nên nhu cầu đốivới NNLCLC tuy rất cần thiết song chỉ ở quy mô nhỏ Trong nền KTTT, quátrình sản xuất được tổ chức theo mô hình linh hoạt Mô hình tổ chức lao động
Trang 24mới đòi hỏi một lực lượng lao động đại chúng trực tiếp tham gia sản xuất có
độ linh hoạt cao, có khả năng sáng tạo và đổi mới, có trình độ đào tạo cao Vìvậy, muốn phát triển NNLCLC để hình thành nền KTTT, trước tiên phải giatăng nhanh chóng số lượng lao động tri thức, lao động quản lý và lao độngquản lý dữ liệu Lực lượng này phải chiếm tỷ trọng vượt trội trong tổng lựclượng lao động quốc gia
Đối với hoạt động của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, thìNNLCLC lại đặc biệt có vai trò quan trọng vì đây vừa là bộ phận lãnh đạo lại
là lực lượng lao động chủ yếu nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Viện đượcgiao phó Chính vì vậy, phát triển NNLCLC là rất cần thiết trong giai đoạnhiện nay của Viện NNLCLC là lực lượng quyết định số lượng và chất lượngcác công trình nghiên cứu khoa học Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đối vớiViện là chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ NNL đảm bảo đủ về số lượng,
cơ cấu các chuyên ngành hợp lý; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có tinhthần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật; có năng lực chuyên môn giỏi, có phươngpháp, tác phong làm việc khoa học; thực sự tâm huyết với công việc nghiêncứu khoa học, tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo cái mới Quan tâm xâydựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành của các ngành nghiên cứu; đồng thời, bồidưỡng, mở rộng kiến thức của các chuyên ngành khác, nhằm đáp ứng tốt yêucầu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển cả diện rộng vàchiều sâu của một Viện đa ngành; chủ động, có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũcán bộ các cấp, đảm bảo sự kế thừa, phát triển vững chắc, không để xảy ratình trạng hẫng hụt
Cụ thể, phát triển NNLCLC của Viện được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, phát triển về số lượng: Trên cơ sở chiến lược, kế hoạch,
nhiệm vụ được giao và xu hướng phát triển của Viện, cần dự báo được số
Trang 25lượng nhân lực chất lượng cao cần thiết cho thực hiện công tác nghiên cứucủa Viện Trong thời gian tới, nhiệm vụ và công việc được giao của Viện sẽtăng để phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong thời kỳCNH, HĐH nhằm xây dựng CNXH Do vậy, việc tăng trưởng về số lượngNNLCLC của Viện là rất cần thiết Phát triển số lượng nguồn nhân lực là pháttriển về quy mô nhân lực và số lượng các loại hình nhân lực cụ thể của Việntrong từng thời kỳ nhất định theo yêu cầu nhiệm vụ của Viện Phát triển về sốlượng NNLCLC để có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, Viện cầntuyển dụng, thu hút NNLCLC từ bên ngoài hay hợp tác, liên kết nghiên cứuvới các viện, cơ quan nghiên cứu khác để tranh thủ NNLCLC
Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là nâng
cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm
và đạo đức nghề nghiệp cho người lao động mà trước hết là đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý và các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu của Viện Đây làđiều rất cần thiết để có thể hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ mà Viện đượcgiao Nâng cao chất lượng NNLCLC được biểu hiện cụ thể như sau:
Nâng cao thể lực của nguồn nhân lực CLC Tình trạng sức khỏe đượcbiểu hiện ra bên ngoài thông qua các chỉ số về thể lực, độ tuổi, giới tính, chiềucao, cân nặng và khả năng thích nghi với môi trường làm việc Thực hiệnchức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu khoa học và giảng dạy, đào tạonguồn nhân lực nên sức ép về công việc đối với NNLCLC của Viện là rất lớn.Chính vì vậy, để có thể đảm bảo hoàn thành tốt, đúng tiến độ công việc hằngngày, thể chất của người lao động là rất quan trọng Sức khoẻ vừa là mục đíchcủa phát triển, đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển Muốn nângcao sức khỏe của NNLCLC thì phải kết hợp hài hòa cả sức khỏe thể chất vàsức khỏe tinh thần
Trang 26Phát triển trí lực của NNLCLC: Trình độ chuyên môn kỹ thuật đối với
NNLCLC ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội là kiến thức tổng hợp, kiếnthức chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật, kiến thức đặc thù cần thiết để đảmđương các chức vụ trong quản lý, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và các hoạtđộng khác Những yếu tố này có thể hiểu là hệ thống thông tin, hiểu biết vàcách thức sử dụng thông tin mà NNLCLC có được thông qua đào tạo Nhưvậy, phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật là nâng cao kiến thức, trình độhọc vấn, nó có ý nghĩa trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quảtrong công việc của NNLCLC làm việc tại Viện Phát triển kỹ năng nghềnghiệp, kỹ năng nghề nghiệp là trình độ thành thạo tay nghề và những kinhnghiệm được tích lũy Đây là kết quả của quá trình đào tạo, tự đào tạo trongthực tế hoạt động và sự rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn Do dó, pháttriển kỹ năng nghề nghiệp đối với NNLCLC tại Viện được hình thành bằnghai con đường: Một là, do các nhân viên làm việc tự tích lũy, hai là, Viện chủđộng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng bằng các hình thức thích hợp như: mở lớpbồi dưỡng, tổ chức hội thao, tổ chức rút kinh nghiệm,.v.v Nâng cao phẩmchất đạo đức, phát triển nhân cách là phát triển những phẩm chất chính trị,đạo đức, tác phong, lối sống lành mạnh tính tích cực hoạt động, tinh thầntrách nhiệm công dân
Thứ ba, xây dựng cơ cấu NNLCLC hợp lý, cơ cấu nguồn nhân lực
NNLCLC là thành phần, tỷ trọng của các thành phần nhân lực CLC bộ phậntrong tổng thể nguồn nhân lực CLC của tổ chức Để xác định cơ cấuNNLCLC phải căn cứ vào nhiệm vụ của tổ chức và mức độ hoàn thành củangười lao động, các điều kiện cơ sở vật chất của tổ chức,….căn cứ vào nhiệm
vụ cụ thể của Viện để tổ chức, sắp xếp nhân lực chất lượng cao một cách hợp
lý ở mỗi khâu, mỗi mảng công việc nhằm phát huy tối đa năng lực, trình độchuyên môn, kinh nghiệm của từng nhân lực, gia tăng năng suất lao động,hiệu quả làm việc, nghiên cứu
Trang 271.2.3 Các tiêu chí cơ bản đánh giá sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Đánh giá trình độ phát triển NNLCLC cao có thể căn cứ vào các tiêuchí cụ thể, bao gồm:
* Nhóm tiêu chí đánh giá sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Thứ nhất, tiêu chí phản ánh sự phát triển toàn diện cả về số lượng, chất
lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao Đối với sự phát triển về sốlượng và quy mô nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể đánh giá thông quacác chỉ tiêu như:
- Mức độ tăng trưởng về số lượng nguồn nhân lực CLC
- Tốc độ tăng trưởng về số lượng nguồn nhân lực CLC
- Sự gia tăng tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao trên tổng số lựclượng lao động
Các chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ trình độ phát triển quy môNNLCLC càng tốt Đối với sự phát triển nguồn nhân lực CLC về chất lượng,
có thể đánh giá qua tổng thể các chỉ tiêu phản ảnh chất lượng nguồn nhân lựcCLC từ sức khỏe tới trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp Các nhómtiêu chí này tăng qua các năm, có thể thấy rằng nguồn nhân lực chất lượngcao của tổ chức đã phát triển hơn
Phát triển sức khỏe nguồn nhân lực CLC: Được đánh giá thông qua:
tình trạng sức khỏe của NNLCLC, độ tuổi trung bình của NNLCLC, giới tính,chiều cao, cân nặng của người lao động Sức khoẻ là trạng thái thoải mái vềthể chất, tình thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật.Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữathể chất và tinh thần Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khoẻ
Bộ Y tế nước ta quy định có ba loại: Loại A: thể lực tốt, loại không cóbệnh tật gì; Loại B: trung bình; Loại C: yếu, không có khả năng lao động
Trang 28Hiện nay, Bộ Y tế kết hợp với Bộ Lao động và Thương binh Xã hội căn
cứ vào 8 chỉ tiêu để đánh giá: Chỉ tiêu thể lực chung: chiều cao, cân nặng,vòng ngực; mắt; tai mũi họng; răng hàm mặt; nội khoa; ngoại khoa; thần kinh,tâm thần; da liễu Căn cứ vào các chỉ tiêu trên để chia thành 6 loại: rất tốt;tốt; khá; trung bình; kém và rất kém
Phát triển về trình độ chuyên môn: Có thể đánh giá thông qua các tiêu
chí như chức danh khoa học, học vị của người lao động, trình độ đào tạo, nơiđào tạo của NNLCLC, sự thành thạo tiếng Anh, tin học của đội ngũ nhân lựcCLC, mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ chuyên gia; mức độ thành thạo
kỹ năng của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính,…, trong mỗi chuyên môn cóthể phân chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như đại học: bao gồm kỹthuật, kinh tế, ngoại ngữ, , thậm chí trong từng chuyên môn lại chia thànhtừng chuyên môn nhỏ hơn nữa
Phát triển về kỹ năng: Được đánh giá thông qua các chỉ tiêu, như số
năm kinh nghiệm làm việc, số lượng công trình khoa học đã tham gia nghiêncứu, số năm kinh nghiệm làm công tác quản lý
Phát triển về đạo đức nghề nghiệp: Được đo lường thông qua các chỉ
tiêu định tính như sự phát triển của các phong trào, đoàn thể, hội,…, các hoạtđộng gắn kết tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái trong Viện Ngoài ra, cóthể đánh giá thông qua ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác, trách nhiệm,niềm say mê trong công việc, năng động trong công việc, …
* Đối với sự phát triển cơ cấu NNLCLC bao gồm:
- Cơ cấu theo độ tuổi.
- Cơ cấu theo giới tính.
- Cơ cấu theo trình độ chuyên môn.
- Cơ cấu theo chức năng, nhiệm vụ.
Các cơ cấu NNLCLC này được điều chỉnh theo hướng phát triển quacác năm Cơ cấu NNLCLC được đánh giá là phát triển nếu cơ cấu này phù
Trang 29hợp với mục tiêu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ, đảm bảo huy động tối đanguồn nhân lực chất lượng cao vào hoạt động
Thứ hai, tiêu chí đánh giá kết quả qua việc hoàn thành nhiệm vụ, chức
trách của nguồn nhân lực chất lượng cao Các tiêu chí này có thể đo lườngbằng các chỉ tiêu định lượng như mức độ hoàn thành định mức làm việc quacác năm, mức độ, tốc độ tăng trưởng công trình nghiên cứu khoa học hoànthành, thời gian xử lý công việc của NNLCLC Ngoài ra có thể kể đến cáctiêu chí khác như, năng suất lao động của đội ngũ nhân lực CLC; số đơn đăng
ký phát minh sáng chế, số sáng kiến kinh nghiệm hằng năm; số bài viết đượcđăng trên các tạp chí khoa học; chỉ số h chỉ số đánh giá khả năng sáng tạo củacác nhà khoa học
* Nhóm tiêu chí đánh giá kết quả việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhóm tiêu chí này có thể kể đến các tiêu chí như: tổng mức kinh phícho đào tạo, bổi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao và tốc độ tăng của tổngmức kinh phí này Ngoài ra, có thể đánh giá thông qua tiêu chí là số lượngnguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo hằng năm,…., kết quả hợp tác –liên kết đào tạo
1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một
số viện khoa học và những bài học rút ra cho Viện Khoa học Lao động và
số 18, đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Viện,
Trang 30thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triểncông nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, côngnghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xãhội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định củapháp luật Viện Hàn lâm KHCNVN có 51 đơn vị trực thuộc bao gồm: 06 đơn
vị giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 34 đơn vị sựnghiệp nghiên cứu khoa học; 06 đơn vị sự nghiệp khác (05 đơn vị do Thủtướng Chính phủ thành lập và 01 đơn vị do Chủ tịch viện thành lập); 04 đơn
vị tự trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước Trong suốt thời gianhoạt động của mình, viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Tiêu biểu có thể kể đến như thực hiện Chiến lược nghiên cứu
và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020 bao gồm một số dự án lớn như:các dự án Vệ tinh nhỏ Việt Nam quan sát Tài nguyên thiên nhiên, môi trường
và thiên tai (VNREDSAT-1và VNREDSAT-1B), dự án Trung tâm Vũ trụViệt Nam và Chương trình KHCN vũ trụ hay Đề án tổng thể về điều tra cơbản và quản lý tài nguyên môi trường biển, điều tra khảo sát trên Biển Đông,hợp tác quốc tế trong điều tra khảo sát Biển Đông
Trong sự thành công của Viện, thì nhân tố quan trọng nhất là nguồn lựccon người mà trong đó góp phần lớn công sức là nguồn nhân lực chất lượngcao của Viện
Tính đến tháng 12/2012, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ ViệtNam có tổng số trên 4000 cán bộ, viên chức, trong đó có 2649 cán bộ trongbiên chế; 43 GS, 180 PGS, 36 TSKH, 678 TS, 722 ThS và 802 cán bộ, viênchức có trình độ đại học Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng hầu hết các cán
bộ viên chức của Viện rất tích cực, nỗ lực nghiên cứu khoa học giúp ViệnHàn lâm KHCNVN hoàn thành nhiệm vụ Nhìn chung, cơ cấu tổ chức củaViện là khá ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ; lực lượng cán bộ có trình độ cao
Trang 31khá đông và đều trên hầu hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên Lực lượngcán bộ trình độ cao luôn là thế mạnh của Viện trong thời gian qua (so với cácđơn vị nghiên cứu và triển khai cũng như các trường đại học trong cả nước).
Hình 1.1: Nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm khoa học và công
nghệ Việt Nam
(Nguồn: Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam)
Để có thể phát triển NNLCLC, Viện đã thực hiện các biện pháp sauđây:
Thứ nhất, viện không ngừng nâng cao thu nhập cho cán bộ, nhân viên,
góp phần giúp cán bộ nghiên cứu yên tâm công tác, tăng hiệu quả lao động vàthu hút người tài Thực hiện, quy chế tự chủ tài chính đôi với đơn vị sự nghiệp
có thu, trong các năm qua, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam đãkhông ngừng nâng cao hiệu suất làm việc của cán bộ, viên chức, thực hiện liênkết, hợp tác quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn thu sự nghiệp Ngoài ra, Viện còntừng bước trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị thành viên, tăng cườnghoạt động thu, tiết kiệm chi phí nhằm có thêm phần thu nhập tăng thêm cho cán
bộ, nhân viên trong viện Chính nhờ vào những nỗ lực của banh lãnh đạo nênphần thu nhập tăng thêm của cán bộ, viên chức trong viện ở mức khá, góp phầnđảm bảo thu nhập, đời sống cho cán bộ viên chức, làm cho họ yên tâm thựchiện nhiệm vụ được giao, nghiên cứu khoa học Đây là lý do chính vì sao màtrong những năm qua, viện đã thu hút được lực lượng nhân lực chất lượng caophục vụ cho công tác nghiên cứu, phát triển của mình
Trang 32Thứ hai, viện luôn quan tâm tới công tác đào tạo NNLCLC Ngoài việc
tích cực gia tăng thu nhập cho cán bộ, nhân viên, trong những năm gần đây,Viện luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ có trình độ cao (Tiến sỹ,Thạc sỹ) cho các đơn vị của mình cũng như phục vụ chung cho đất nước.Hàng năm có hàng chục tiến sỹ mới bảo vệ và đào tạo hàng trăm thạc sỹthuộc các chuyên môn khác nhau trong lĩnh vực khoa học tự nhiên Các đơn
vị trong viện còn cử nhiều cán bộ trẻ của mình đi đào tạo tại nước ngoài nhằm
bổ sung lực lượng cán bộ trình độ cao
Thứ ba, viện luôn tạo môi trường làm việc tốt cho cán bộ, nhân viên để
tăng hiệu suất làm việc Là một viện nghiên cứu, nhưng viện đã xây dựng môitrường làm việc năng động và hiệu quả, ngoài ra còn tổ chức thường xuyêncác hoạt động tập thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán
bộ nhân viên nói chung Điều này đã giúp cho cán bộ, nhân viên trong Viện
có sự đoàn kết, thân ái cùng tâm lý thoải mái trong lao động Hơn thế nữa,ngoài thu nhập ngày càng được cải thiện, chế độ phúc lợi của viện được quantâm đã tạo điều kiện thu hút NNLCLC gắn bó làm việc lâu dài với Viện
1.3.2 Kinh nghiệm của Viện nghiên cứu giáo dục – Trường Đại học
sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Viện Nghiên cứu giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố HồChí Minh được thành lập sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam với têngọi là Phân viện Khoa học Giáo dục miền Nam Năm 1976, Viện trở thànhPhân viện của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Năm 1991, theo quyếtđịnh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện trở Thành Viện Nghiên cứu Giáo dụcphía Nam trực thuộc Bộ Đến năm 1997, Viện trở thành thành viên của Đạihọc quốc gia TP.HCM và đến tháng 11/1999 Viện được sáp nhập vào TrườngĐại học Sư phạm TP.HCM Với một đội ngũ nghiên cứu viên có trình độ cao,Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ ChíMinh đang thực hiện nhiệm vụ được giao là nghiên cứu cơ bản, chiến lược
Trang 33giáo dục và những vấn đề cụ thể cấp bách của giáo dục - đào tạo Với tráchnhiệm to lớn của một viện nghiên cứu giáo dục duy nhất ở khu vực phía Nam,Viện luôn là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, chiến lược
và chuyển giao công nghệ trong giáo dục ở tất cả các bậc học; tư vấn và cungcấp các sản phẩm nghiên cứu, các chương trình bồi dưỡng chuyên môn cóchất lượng cao ở khu vực phía Nam Từ ngày thành lập đến nay, Viện Nghiêncứu Giáo dục đã đạt dược những thành tích đáng tự hào: Viện đã hoàn thànhhàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp trường, tổchức thành công 40 cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế,….Các nghiên cứu viên
có chức danh khoa học học vị của Viện còn tham gia đào tạo sau đại học chocác trường, viện trong cả nước
Để có được thành công như trên, Viện xác định rõ là luôn coi nguồnnhân lực chất lượng cao là nhân tố chính để phát triển Hiện nay Viện có 33cán bộ cơ hữu, 15 cán bộ kiêm nhiệm và hợp đồng Trong đó có: 1 giáo sư, 1phó giáo sư, 12 tiến sĩ, 1 tiến sĩ khoa học, còn lại là cán bộ nghiên cứu cóbằng thạc sĩ Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Viện đã thực hiệnnhiều biện pháp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng choNNLCLC của mình Một trong những biện pháp đó là bằng phương thức làhợp tác trao đổi học tập kinh nghiệm, mời các chuyên gia, các giáo sư đầungành báo cáo một số chuyên đề cho các trường đại học Việt Nam, liên kếtthực hiện một số dự án, tổ chức các hội thảo và các lớp bồi dưỡng chuyên đềcho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên Tất cả những công trìnhnghiên cứu, các báo cáo trong hội thảo nội dung các chuyên đề bồi dưỡng đãđược tập hợp, phổ biến rộng rãi thường xuyên qua các ấn phẩm do ViệnNghiên cứu Giáo dục phát hành hàng tháng, hàng quý, và cuối năm Đây là tàiliệu cho cán bộ, nhân viên trong viện và ngoài viện học tập, nghiên cứu
Trang 341.3.3 Kinh nghiệm của Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng
Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự được thành lập vào năm 1999,đặt tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, là một Viện đầu ngành nghiên cứukhoa học xã hội và nhân văn quân sự của quân đội và quốc gia Nhiệm vụ chủyếu của Viện là cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác lãnh đạo,chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổngcục Chính trị về bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xâydựng quân đội về mặt chính trị; tích cực chủ động tham gia đấu tranh trên mặttrận tư tưởng, lý luận, chống “diễn biến hòa bình”; chủ động mở rộng quan
hệ, hợp tác nghiên cứu khoa học đào tạo với các đơn vị trong và ngoài quânđội Qua 15 năm xây dựng và phát triển, Viện Khoa học xã hội và nhân vănquân sự đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng 01 Huân chương Laođộng hạng Ba, 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 01 Bằng khen củaThủ tướng Chính phủ và nhiều phần thưởng cao quý khác 15 năm qua, Viện
đã tổ chức nghiên cứu thành công 109 đề tài khoa học các cấp (từ cấp cơ sởđến cấp Nhà nước), 09 chuyên đề tổng kết lý luận – thực tiễn; thực hiện 07công trình nghiên cứu cơ bản; biên soạn và xuất bản hơn 100 đầu sách chuyênkhảo, trong đó có 2 cuốn từ điển chuyên ngành; công bố hơn 1.200 bài báokhoa học; 25 đầu sách về đấu tranh tư tưởng, lý luận; 124 chuyên đề khoa học
cá nhân và gần 100 thông tin khoa học Mỗi năm, Viện tổ chức nhiều hộithảo, tọa đàm, sinh hoạt học thuật; tổ chức nhiều đợt đi nghiên cứu thực tế;tích cực tham gia giảng dạy đại học và sau đại học; biên soạn hàng chục bộgiáo trình, tập bài giảng cho các đối tượng học viên; tham gia hơn 100 hộiđồng khoa học, hướng dẫn hơn 300 nghiên cứu sinh, học viên cao học và cửnhân Góp phần quan trọng hàng đầu cho thành công của Viện thì công tácphát triển nguồn nhân lực và phát triển NNLCLC của Viện luôn được quan
Trang 35tâm đúng mức Đến nay, 100% cán bộ nghiên cứu của Viện có trình độ đạihọc trở lên; trong đó, số có chức danh phó giáo sư trên 36%, có học vị tiến sĩtrên 72%, thạc sĩ trên 12% Để đạt được kết quả đó là quá trình thực hiệnnhiều giải pháp một cách đồng bộ của Ban lãnh đạo Viện.
Thứ nhất, Viện đã ban hành cụ thể các quy chế hoạt động cho cán bộ,
nghiên cứu viên, tăng cường công tác quản lý, nâng cao tinh thần làm việc.Viện đã đầu tư công sức xây dựng và ban hành hệ thống các quy chế hoạtđộng khoa học, tạo cơ sở để nâng cao chất lượng chỉ đạo, quản lý các hoạtđộng nghiên cứu Các quy chế được xây dựng trên cơ sở phát huy tính dânchủ và quán triệt đầy đủ, chặt chẽ đến mọi thành viên; được tổ chức thực hiệnnghiêm túc và được bổ sung, hoàn thiện kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễnđặt ra Ngoài ra, để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động khoa học, Viện đãthường xuyên cập nhật, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nội dung các văn bản,quy định, hướng dẫn quản lý khoa học các cấp Đồng thời, phối hợp với các
cơ quan cấp trên tổ chức tập huấn nghiệp vụ và từng bước áp dụng công nghệthông tin vào công tác quản lý khoa học, v.v
Thứ hai, tổ chức bộ máy hoạt động phù hợp với trình độ chuyên môn,
nhiệm vụ của cán bộ, nghiên cứu viên Viện chủ trương tăng cường học tập,nghiên cứu cơ cấu, tổ chức và kinh nghiệm của các trung tâm, viện nghiêncứu khoa học đi trước để vận dụng vào xây dựng Viện cho phù hợp Quá trìnhxây dựng cũng là quá trình Viện tiếp tục bổ sung, hoàn thiện tổ chức, biên chếcho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Đặc biệt, trên cơ sở chức năng, nhiệm
vụ chung đã được xác định trong Quyết định thành lập, Viện đã đi sâu nghiêncứu, xây dựng chức năng, nhiệm vụ của các ban nghiên cứu một cách hợp lý.Nhờ đó, đến nay tổ chức của Viện đã ổn định; chức năng, nhiệm vụ của cácban được xác định rõ ràng, tạo cơ sở để đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứutheo đối tượng của từng ban
Trang 36Thứ ba, Đảng ủy, chỉ huy Viện đã thường xuyên chú trọng đến công tác
tư tưởng, động viên tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi người; đồngthời, có biện pháp thích hợp để huy động trí tuệ và kinh nghiệm của họ vàocông tác nghiên cứu khoa học Việc giao nhiệm vụ được tính toán phù hợpvới sở trường của từng cán bộ; trong đó, chú ý bố trí đan xen các thế hệ cán
bộ, nhằm kế thừa và phát huy năng lực, trình độ của mỗi người, tạo sức mạnhtổng hợp thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Thứ tư, tăng cường công tác đào tạo: Viện sắp xếp để số cán bộ chưa có
trình độ sau đại học đi đào tạo ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quânđội; trong đó có nhiều đồng chí được cử đi bồi dưỡng ngoại ngữ ở cả trong vàngoài nước Bên cạnh đó, Viện cũng động viên, giao nhiệm vụ cho nhữngđồng chí có học vị tiến sĩ phấn đấu hoàn thành các điều kiện, tiêu chuẩn đểđược xét công nhận các chức danh phó giáo sư, giáo sư Mặt khác, thông quacông tác nghiên cứu, nhất là nghiên cứu cơ bản, với các sản phẩm là các cuốnsách tham khảo, chuyên khảo, các đề tài, chuyên đề khoa học hoặc thông quasinh hoạt học thuật, viết báo và báo cáo khoa học, tham luận khoa học màđội ngũ cán bộ của Viện có điều kiện tích luỹ kiến thức, phát triển lý luậnchuyên sâu, tạo cơ sở để tổ chức nghiên cứu những công trình khoa học ở tầmcao hơn; đồng thời, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ đột xuất do trên giao, với chấtlượng cao, trong thời gian ngắn
Thứ năm, mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác, trao đổi thông tin, kinh
nghiệm tổ chức, quản lý, triển khai các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng kếtquả nghiên cứu KHXH và NVQS với các viện nghiên cứu, các học viện, nhàtrường, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội, với các tổ chức nghiêncứu khoa học khác nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu và bồi dưỡngđội ngũ cán bộ
1.3.4 Bài học rút ra cho Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Trang 37Thông qua xem xét kinh nghiệm phát triển NNLCLC của một số việnnghiên cứu trong nước có thể rút ra bài học kinh nghiệm
cho Viện Khoa học Lao động và Xã hội như sau:
Thứ nhất, phải nhận thức rõ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là
trọng tâm của quá trình phát triển đối với bất kỳ tổ chức hay quốc gia nào, đặcbiệt là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Đưa ra được các chiến lược nângcao chất lượng nguồn nhân lực CLC là vấn đề có ý nghĩa to lớn và cần đượcchú trọng nhất Cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế tri thức vàhội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới hiện nay Trên cơ sở này, Banlãnh đạo Viện mới có thể xây dựng chiến lược phát triển NNLCLC và cácgiải pháp thực hiện
Thứ hai, là trong các chính sách thu hút và phát triển NNLCLC thì cần
phải quan tâm giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích kinh tế mà tập trung là
ở thu nhập và trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với đất nước với xã hội.Bởi vì chỉ có đảm bảo cho cuộc sống thì người lao động mới yên tâm laođộng, sáng tạo và cống hiến hết mình cho sự nghiệp khoa học cả cuộc đời Dovậy, Viện cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả một số cơ chế,chính sách ưu đãi, ưu tiên trong công tác đào tạo và thu hút nhân tài bằng chế
độ tiền lương, tiền thưởng, nhà công vụ, điều kiện làm việc nhằm tránh tìnhtrạng chảy máu chất xám
Thứ ba, để phát triển nguồn nhân lực CLC cần chú trọng tới công tác
đào tạo NNL Bởi vì, đạo tạo NNL mới có thể nâng cao trình độ chuyên môn,
kỹ năng cho NNL Đặc biệt, cần quan tâm tới phương hướng hợp tác quốc tế
để học tập, trao đổi kinh nghiệm làm việc, trình độ khoa học tiên tiến với thếgiới Chính bởi vậy, Viện cần xây dựng kế hoạch đào tạo NNL cụ thể, từ thờigian đào tạo, nội dung, phương pháp đào tạo và nguồn kinh phí Đồng thời,
Trang 38Viện cũng cần có chính sách khuyến khích người lao động tự học tập, nângcao trình độ
Thứ tư, phát triển NNLCLC cần tạo môi trường làm việc thoải mái, gắn
kết với người lao động, không những nâng cao đời sống vật chất mà còn phảinâng cao đời sống tinh thần cho họ Với môi trường làm việc tốt người laođộng mới có điều kiện phát huy những năng lực của bản thân, tăng hiệu quảlàm việc Mặt khác, chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động có thểgiúp họ giao lưu học hỏi lẫn nhau, tăng tính đoàn kết, khả năng làm việcnhóm có hiệu quả hơn,…
Thứ năm, phát triển NNLCLC cần gắn liền với công tác tổ chức, sắp
xếp NNL phù hợp với trình độ chuyên môn, thế mạnh của từng nhân viên củaViện nhằm đáp ứng mỗi người có thể phát huy tối đa năng lực công tác,nghiên cứu của mình để hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ được giaocủa Viện Khoa học Lao động và Xã hội Muốn vậy, Ban lãnh đạo Viện phảiđánh giá đúng năng lực, khả năng của từng nhân viên, trên cơ sở đó bố trí laođộng cho phù hợp Người lao động chỉ có thể phát huy tối đa hiệu quả làmviệc nếu như họ được làm công việc phù hợp với sở thích, nguyện vọng vàđúng chuyên môn của mình
Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra từ các viện nghiên cứu,viện khoa học trong nước, Viện Khoa học Lao động và Xã hội có thể áp dụng
để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo cho định hướng pháttriển của mình trong tương lai
* * *Hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệpCNH, HĐH và phát triển kinh tế nhanh, bền vững Với bối cảnh đó, yêu cầu
Trang 39nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực là vấn đề có ý nghĩa quyếtđịnh đảm bảo thắng lợi các nhiệm vụ trọng đại đó Đối với Viện Khoa họcLao đồng và Xã hội thì NNLCLC đóng vai trò quan trọng trong quá trình pháttriển của Viện Vì đây là những người lao động được đào tạo ở trình độ cao,
có sức khỏe, bản lĩnh chính trị, có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ chuyênmôn cao, tinh thông nghiệp vụ và có kinh nghiệm tốt làm việc tại Viện Khoahọc Lao động và Xã hội, đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ của Viện trong hiệntại cũng như tương lai Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện tốt hơn nữa chứcnăng, nhiệm vụ của Viện trong tương lai thì phát triển NNLCLC là điều hếtsức cần thiết Đây là quá trình biến đổi toàn diện cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu để nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng đáp ứng tốt hơn nhiệm
vụ được giao
Chương 2
Trang 40THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG
CAO Ở VIỆN KHOA HỌC LAO ĐỘNG VÀ XÃ HỘI
2.1 Khái quát về Viện Khoa học Lao động và Xã hội
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Viện Khoa học Lao động và Xã hội
* Sự ra đời và phát triển của Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Viện Khoa học Lao động và Xã hội có tên tiếng Anh là Institute ofLabour Science and Social Affairs, viết tắt là ILSSA Viện có trụ sở tại số 2Đinh Lễ, Hoàn Kiếm, Hà Nội Viện Khoa học lao động và xã hội được thànhlập ngày 14.4.1978 theo Quyết định số 79 CP của Hội đồng Chính phủ với tên
là Viện Khoa học Lao động Đến năm 1987 thì Viện được đổi tên thành ViệnKhoa học Lao động và các vấn đề xã hội và đến năm 2002 thì được đổi tênthành Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Viện Khoa học Lao động và Xã hội là Viện đầu ngành có nhiệm vụnghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng cung cấp luận cứ phục vụ xâydựng chính sách, chiến lược thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xãhội
Chặng đường 35 năm xây dựng nỗ lực, Viện đã từng bước khẳng định được
vị thế trong hệ thống các viện nghiên cứu khoa học xã hội ở nước ta Cáccông trình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của Viện ngày càng gắn nhiềuhơn với nhiệm vụ quản lý nhà nước của ngành, cung cấp những luận cứ khoahọc cho việc hoạch định và thực hiện chính sách lao động, người có công và
xã hội trong các thời kỳ
Chức năng: Chức năng và nhiệm vụ của Viện Khoa học Lao động và
Xã hội được quy định theo Quyết định số 453/QĐ-LĐTBXH của Bộ Laođộng và Thương binh Xã hội ngày 14 tháng 3 năm 2013 Viện Khoa học Laođộng và Xã hội là đơn vị nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội có chức năng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và