1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở đồng nai

112 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 752 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT THỎA ĐÁNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG

Trang 1

NGUYỄN TẤN HƯNG

GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ

CỦA NÔNG DÂN TRONG THU HỒI

ĐẤT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ

Ở ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

NGUYỄN TẤN HƯNG

GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ

CỦA NÔNG DÂN TRONG THU HỒI

ĐẤT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ

Trang 3

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT

LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG DÂN TRONG THU HỒI ĐẤT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1.2 Quan niệm, các nhân tố ảnh hưởng và tác động của

giải quyết lợi ích kinh tế kinh tế của nông dân trongthu hồi đất đến phát triển công nghiệp và dịch vụ ở

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH

TẾ CỦA NÔNG DÂN TRONG THU HỒI ĐẤT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở

2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở

Đồng Nai ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của nông dân

2.2 Thực trạng giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân

trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT

THỎA ĐÁNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG DÂN TRONG THU HỒI ĐẤT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở ĐỒNG NAI

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tất yếu dẫn đến sự hìnhthành các khu công nghiệp và dịch vụ, các khu đô thị mới Để phát triển cáckhu công nghiệp và khu đô thị, không thể không thu hồi đất mà người dânđang sử dụng Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp và khu đôthị mới làm xuất hiện rất nhiều vấn đề khiến xã hội quan tâm như: thiếu đồng

bộ, nhất quán trong quy hoạch đô thị; các chính sách thu hồi đất còn nhiềumặt chưa hợp lý; chưa giải quyết hợp lý các vấn đề lợi ích kinh tế của nôngdân có đất bị thu hồi; xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực trong quá trình sửdụng đất cho phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị

Đồng Nai là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểmphía Nam, là một tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tương đốinhanh so với các địa phương khác của cả nước Để phát triển các khu côngnghiệp và dịch vụ, tất yếu tỉnh cũng phải tiến hành thu hồi một diện tích đấtnông nghiệp của nông dân để đáp ứng yêu cầu của các dự án

Trong những năm qua, việc thu hồi đất đáp ứng yêu cầu phát triển côngnghiệp, ngành kinh tế dịch vụ, và việc giải quyết các lợi ích kinh tế của nôngdân gắn liền với đất đai thu hồi đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh,lãnh đạo và chính quyền địa phương các huyện, thị xã, thành phố quan tâmgiải quyết trên cơ sở các quy định Nhà nước và đề xuất của cơ quan chứcnăng của tỉnh và các địa phương đặt trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hộitỉnh Đồng Nai

Song, thực tiễn cho thấy, vấn đề thu hồi đất và giải quyết quyền lợi củanông dân bị thu hồi đất luôn là vấn đề nhạy cảm và có những khó khăn, phứctạp Do đó quá trình tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về giảiquyết lợi ích của nông dân bị thu hồi đất vẫn tồn tại những bất cập - nhìn từ

Trang 5

góc độ giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân Để việc thu hồi đất diễn rathuận lợi không ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án công nghiệp vàdịch vụ trên địa bàn tỉnh thực sự đang là bài toán đặt ra trước các nhà lãnhđạo, quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học cần phải tiếptục nghiên cứu làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn Với lý do đó, tác giả

chọn“Giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển

công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên

ngành kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề lợi ích kinh tế nói chung, lợi ích kinh tế của nông dân, trong đó

có vấn đề lợi ích kinh tế của nông dân nói riêng, trong thu hồi đất để pháttriển công nghiệp, dịch vụ đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độtiếp cận khác nhau Các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đềtài có thể kể đến:

* Các sách tham khảo và chuyên khảo

Tập thể các tác giả Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn, LêXuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy trong cuốn “Bàn về lợi ích kinh tế”, Nhà xuất bản

Sự thật, Hà Nội, năm 1982 Thông qua tác phẩm các tác giả đã đưa ra quan điểmcủa mình về lợi ích kinh tế

Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn “Lợi ích động lực phát triển xã hội”, Nhàxuất bản Khoa học - Xã hội, Hà Nội, năm 1999, đã tổng kết lại nhiều nghiêncứu khác nhau về lợi ích trong và ngoài nước tính cho tới thời điểm đó đã đưa

ra cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích Theo ông, quan hệ lợi ích là quan

hệ đa chiều, bao gồm: mối quan hệ giữa chủ thể lợi ích và đối tượng của quan

hệ lợi ích; giữa các chủ thể có cùng đối tượng của quan hệ lợi ích với nhautrong việc thực hiện các nhu cầu cấp bách của mình

Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn “Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích”,Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002, phát triển những thành

Trang 6

tựu nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểu trong xãhội, ở công trình đã dẫn trên đây vào cụ thể vai trò của lợi ích kinh tế trong pháttriển kinh tế xã hội Việt Nam, đã cho rằng “Quan hệ kinh tế của một xã hội biểuhiện tập trung nhất của các quan hệ lợi ích”, theo đó trong đời sống kinh tế - xãhội Việt Nam hiện nay các thành phần kinh tế có xu hướng vận động theo nhiềuhướng khác nhau, nhưng tất cả các xu hướng đều đưa nước ta phát triển đi lên.

Đó là một sự vận động theo hướng tổng lực trong đó xu hướng xã hội chủ nghĩađang đóng vai trò chủ đạo

Tập thể tác giả Nguyễn Văn Nhường, Nguyễn Thành Độ, trong cuốn

“Bàn về chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất đểphát triển các khu công nghiệp”, Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2011, đãgiới thiệu chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân trong diện thu hồiđất để phát triển các khu công nghiệp Tình hình và kết quả thực hiện chínhsách cùng những kiến nghị hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với ngườinông dân trong diện thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp từ thực tiễn

ở tỉnh Bắc Ninh

Vũ Ngọc Kỳ trong cuốn “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nôngdân, hội nông dân ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, năm 2005, đã trìnhbày vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với nông dân và Hội nông dântrong thời kỳ mới, phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội nông dân, giảiquyết vấn đề đất đai đối với hộ nông dân không còn đất sản xuất

Nguyễn Viết Chung trong cuốn “Nông dân và công nghiệp hoá xã hộichủ nghĩa” Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1962, đã đi sâu phân tích tìnhhình thực tế của nông dân Việt Nam dưới chế độ cũ: sự nghèo nàn, lạc hậu,hiểu biết nông cạn, văn hoá thấp kém Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là conđường mở ra sự ấm no, hạnh phúc cho người nông dân: cung cấp những hiểubiết cơ bản về chế độ xã hội chủ nghĩa tươi đẹp ở Việt Nam

Trang 7

* Về các luận án, luận văn nghiên cứu về lợi ích kinh tế, có các tác giả với các đề tài sau:

Chử Văn Tuyên, “Lợi ích kinh tế của người lao động và vận dụng nó

vào lực lượng vũ trang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, năm 1980 Trong

luận án tác giả đã phân tích dưới góc độ kinh tế chính trị về nội dung vấn đề lợiích kinh tế của người lao động trong thời kỳ quá độ Đề xuất một số giải phápchủ yếu nhằm giải quyết tốt lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của quân dân

Nguyễn Duy Hùng, “Bàn về sự hình thành và kết hợp các lợi ích kinh tế

trong nông nghiệp tập thể”, luận án Tiến sỹ kinh tế, H.1988 Tác giả đề xuất

những hình thức cơ bản kết hợp các lợi ích kinh tế, góp phần giải quyết mâuthuẫn đang cản trở bước tiến của nông nghiệp tập thể, đảm bảo sự phát triểnhài hòa của các lợi ích kinh tế ấy, nhờ đó tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩynông nghiệp tập thể phát triển

Nguyễn Đức Bách, “Quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội, tập thể và cá

nhân người lao động trong chặng đường đầu tiên thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, luận án Phó tiến sĩ triết học, Học viện Nguyễn Ái

Quốc, H 1988 Luận án phân tích bản chất và đặc trưng chủ yếu của lợi íchkinh tế, vai trò trong sự vận động của các quy luật kinh tế, các quan hệ sảnxuất và sự phát triển xã hội Phân tích các đặc điểm chủ yếu của quan hệ giữacác lợi ích kinh tế ở nước ta, những mâu thuẫn và đưa ra một số ý kiến vềphương pháp luận giải quyết các mâu thuẫn đó Kết hợp tốt ba lợi ích kinh tế

và giáo dục chính trị, tư tưởng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Ung Thị Minh Lệ, “Hệ thống lợi ích kinh tế và các quan hệ phân phối

trong việc thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam”, luận án Phó tiến sĩ kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996 Tác

Trang 8

giả phân tích một số lợi ích cơ bản, mối liên hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích

xã hội, đồng thời đưa ra một số biện pháp trong lĩnh vực tài chính nhằm thựchiện các lợi ích kinh tế trong quá trình phân phối, phân phối lại tổng sản phẩmquốc gia và các nguồn tài chính khác

Đỗ Nhật Tân, “Vai trò động lực của lợi ích kinh tế đối với sự nghiệp xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay”, luận án Phó tiến sĩ triết học, H.1991 Tác giả phân tích bản chất lợi ích

kinh tế, tính đa dạng phức tạp của các quan hệ lợi ích kinh tế trong xã hội.Làm sáng tỏ vai trò động lực của lợi ích kinh tế trong hệ thống các động lựcphát triển xã hội, trong các thành phần kinh tế Tìm ra được đặc thù của độnglực lợi ích kinh tế nhiều thành phần và giải pháp khuyến khích tối đa động lực

ở Việt Nam

Vương Đình Cường, “Lợi ích kinh tế nông dân ở nước ta hiện nay”,

luận án Phó tiến sĩ kinh tế, H.1992 Trong luận án, tác giả đề cập đến lợi íchkinh tế nông dân trong cơ chế khoán 10 qua việc phân tích vai trò, nội dungcác mối quan hệ với lợi ích kinh tế của nhà nước và tập thể Đề xuất nhữngbiện pháp kinh tế cơ bản để nâng cao lợi ích kinh tế nông dân, tạo động lựcphát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp

Phạm Thắng, “Giải pháp để kết hợp các lợi ích kinh tế trong doanh

nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay qua khảo sát các doanh nghiệp Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh”, luận án Phó tiến sĩ kinh tế, thành phố Hồ

Chí Minh, năm 1997 Tác giả đã khái quát các vấn đề lý luận căn bản có liênquan đến lợi ích và lợi ích kinh tế Phân tích tổng quát thực trạng của việc kếthợp các lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước trong cả nước nóichung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng qua các giai đoạn khác nhau

Đặng Quang Định, “Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân,

nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt

Trang 9

Nam hiện nay”, luận án Tiến sĩ triết học, H.2010 Tác giả phân tích quan

điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng ta về lợi ích kinh tế; trên cơ sở đó,tác giả chỉ ra tầm quan trọng của sự thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấpcông nhân, nông dân và tầng lớp trí thức đối với việc xây dựng và phát triểnđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đề xuất giải pháphữu ích trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Trần Thị Lan, “Quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất của nông dân để

xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội”, luận án Tiến sĩ

kinh tế , Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, H 2012 Tácgiả đã phân tích các mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế của các chủ thể có liênquan đến quá trình thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thịmới ở Hà Nội Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục giải quyết hàihòa lợi ích kinh tế của các chủ thể có liên quan đến quá trình thu hồi đất củanông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội

Phạm Quang Hưng, “Lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện

Chính trị, năm 2013 Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề lợiích kinh tế của nông dân Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa; đồng thời đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu bảo đảmlợi ích kinh tế của nông dân ở Hà Nội trong thời gian tới

* Các bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến lợi ích kinh tế

“Lợi ích kinh tế động lực thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế

-xã hội ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Đào Duy Huân, Tạp chí Phát triển

kinh tế số 200 năm 2007; “Lợi ích kinh tế - một số vấn đề lý luận và thực

tiễn” của PTS Hồ Tấn Phong, Tạp chí Phát triển kinh tế số 27 năm 1993, các

tác giả đều đã đề cập ở mức độ khác nhau đến vai trò động lực của lợi íchkinh tế nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn

Trang 10

Như vậy, mặc dù vấn đề lợi ích kinh tế nói chung, lợi ích kinh tế củanông dân nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên,vấn đề giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triểncông nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai cho đến nay chưa có công trình nào đãcông bố Do đó, nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình thu hồi đất cho phát triểncông nghiệp và dịch vụ

* Phạm vi nghiên cứu:

Trang 11

Về nội dung: việc giải quyết lợi ích của nông dân bao gồm cả quá trình thuhồi đất và những tồn đọng cần giải quyết tiếp sau khi đất đã được thu hồi.

Về không gian: các địa phương trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có đất nôngnghiệp và đất phi nông nghiệp của nông dân bị thu hồi cho phát triển côngnghiệp và dịch vụ

Về thời gian: giới hạn từ năm 2006 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vậtlịch sử, quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, các văn kiện củaBan chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Ngoài ra, quátrình nghiên cứu còn sử dụng các lý luận có liên quan khác để tiếp cận đốitượng, luận giải nhiệm vụ của đề tài

* Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng tổng hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu bao gồm: hệ thốngphương pháp nghiên cứu nền tảng là phương pháp duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử; phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị cùng các phươngpháp phân tích, thống kê, so sánh, hệ thống hóa ; phương pháp chuyên gia

Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu đitrước và cập nhật những thông tin mới về vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

Sau khi hoàn thành, luận văn góp thêm một tiếng nói với các cơ quan chứcnăng thuộc tỉnh Đồng Nai, tìm biện pháp thích hợp, khả thi giải quyết thỏa đánghơn lợi ích kinh tế của nông dân bị thu hồi đất phát triển công nghiệp, dịch vụ,làm cho quá trình đó diễn ra thuận lợi góp phần triển khai đúng tiến độ các dự án

đã được phê duyệt, nhằm phát triển kinh tế địa phương, sớm đưa Đồng Nai cán

Trang 12

đích mục tiêu cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm2020.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu và giảng dạy môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin, làm tài liệu tham khảo

để các địa phương xây dựng chủ trương, biện pháp giải quyết thỏa đáng hơn lợiích kinh tế của nông dân bị thu hồi đất phát triển công nghiệp, dịch vụ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG DÂN TRONG THU HỒI ĐẤT PHÁT TRIỂN

CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ 1.1 Lợi ích và lợi ích kinh tế

Để có thể có quan niệm đầy đủ và chính xác về phạm trù lợi ích kinh tếcủa nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ, cần bắt đầu

từ các quan niệm về phạm trù lợi ích và lợi ích kinh tế nói chung

1.1.1 Lợi ích

Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng đúng đắn của nhân loại C.Mác vàPh.Ăngghen đi từ nhu cầu của con người hiện thực để nghiên cứu lịch sử, qua

đó chỉ ra cơ sở hình thành lợi ích và vai trò của nó trong sự phát triển của lịch

sử Theo đó, tất cả các lợi ích của con người đều nảy sinh từ nhu cầu sống, tồntại và phát triển

Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người Tuy nhiên,nhu cầu không phải là những cái chung chung trừu tượng, mà phải là nhu cầu

về của cải vật chất và dịch vụ nhằm thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thầncủa mỗi người, mỗi cộng đồng người và mỗi tập đoàn xã hội nhất định

Nhu cầu về của cải vật chất là nhu cầu về các sản phẩm của nền sản xuất

xã hội, tức là của cải vật chất và dịch vụ mang tính chất xã hội có nguồn gốc

từ nền sản xuất của xã hội Thông thường trong cuộc sống, nhu cầu về vậtchất thường được đồng nhất với nhu cầu kinh tế Nói cách khác, nhu cầu kinhtế trước hết cũng là nhu cầu về vật chất, song không phải mọi nhu cầu về vậtchất đều là nhu cầu kinh tế Trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử

xã hội loài người, chỉ khi nào xuất hiện các hình thức khác nhau về sở hữu tưliệu sản xuất, xuất hiện phân công lao động xã hội, lúc đó những nhu cầu vềvật chất của con người mới mang tính chất xã hội và chuyển hóa thành nhu

Trang 14

cầu kinh tế Khi nhu cầu kinh tế của một chủ thể nào đó được đáp ứng, đượcthỏa mãn thì lúc đó mới xuất hiện lợi ích kinh tế

Như vậy, lợi ích nảy sinh từ nhu cầu, là cái phản ánh quan hệ nhu cầugiữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội Khi cácnhu cầu được đáp ứng, được thỏa mãn, có nghĩa con người đã được thỏa mãn

về lợi ích Lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan tồn tại trong đời sống xãhội, gắn liền với chủ thể Trong xã hội có đối kháng giai cấp, lợi ích cũngmang tính giai cấp và tính lịch sử cụ thể

Nhu cầu của con người rất phong phú đa dạng nên lợi ích cũng rất phongphú và đa dạng Nhu cầu có nhu cầu vật chất hay nhu cầu văn hoá tinh thần;nhu cầu trước mắt hay nhu cầu lâu dài; nhu cầu tiêu dùng hay nhu cầu sảnxuất, theo đó cũng có lợi ích vật chất hay tinh thần; lợi ích trước mắt hay lợiích lâu dài Mặt khác, trong các hoạt động thực tiễn vì sự tồn tại và phát triểncủa mình, con người có nhu cầu chung phải liên kết với nhau, những nhu cầuchung là cơ sở hình thành lợi ích chung Ngoài những lợi ích chung, conngười còn có lợi ích riêng nảy sinh từ các nhu cầu trong mỗi hoàn cảnh cụthể Như vậy, bên cạnh những nhu cầu chung của tập thể (cộng đồng), xã hội,con người còn có nhu cầu riêng của cá nhân, những nhu cầu này hình thànhnên lợi ích chung và lợi ích của mỗi cá nhân

Từ đó, có thể quan niệm lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan gắn

liền với những chủ thể xác định, được nảy sinh từ nhu cầu và nhằm thoả mãn nhu cầu con người trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người, có thể nảy sinh rấtnhiều quan hệ lợi ích Nếu phân chia theo lĩnh vực sẽ có các hình thái lợi ích: lợiích kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh Nếu phân chia theophạm vi cấp độ có: lợi ích cá nhân, nhóm, tập thể, xã hội Phân chia theo thờigian có: lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài… Phân chia theo các khâu của quá trìnhtái sản xuất thì có: lợi ích người sản xuất, người tiêu dùng, nhà phân phối

Trang 15

1.1.2 Lợi ích kinh tế

Trong đời sống xã hội của mình, ngay từ khi mới xuất hiện, con người đãtiến hành các hoạt động tác động vào giới tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu ăn,

ở, đi lại, Tóm lại là những nhu cầu nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển củamỗi cá thể và cộng đồng Quá trình hoàn thiện các kỹ năng lao động và thỏa mãnnhu cầu, các hoạt động kinh tế xuất hiện, giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạtđộng xã hội và nó là cơ sở cho các hoạt động khác

Trong hoạt động kinh tế, con người luôn có động cơ nhất định Động cơthúc đẩy con người hành động Mức độ hành động (mạnh hay yếu) tuỳ thuộcvào mức độ chín muồi của động cơ - tuỳ thuộc vào nhận thức và thực hiện lợiích của họ

Theo C.Mác thì phạm trù lợi ích (ích lợi, có lợi) được sử dụng như làcùng nghĩa và có thể thay thế nhau Lợi ích không phải là một cái gì trừutượng và có tính chất chủ quan, mà cơ sở của lợi ích là nhu cầu khách quancủa con người Con người có nhiều loại nhu cầu (vật chất, chính trị, văn hoá),

do đó có nhiều loại lợi ích (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá,tinh thần)

Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó xuất hiện trongnhững điều kiện tồn tại xã hội của con người Hay nói cách khác, lợi ích kinhtế là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế của các chủ thể kinhtế Những nhu cầu kinh tế của con người khi nó được xác định về mặt xã hộithì nó trở thành cơ sở, nội dung của lợi ích kinh tế

Lợi ích kinh tế luôn gắn liền với nhu cầu, song đây không phải là nhucầu bất kỳ, mà là nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) Chỉ có những nhu cầukinh tế mới làm phát sinh lợi ích kinh tế Vì vậy, lợi ích kinh tế là một phạmtrù kinh tế, một mặt, nó phản ánh những điều kiện, những phương tiện nhằmđáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi con người, mỗi chủ thể Suy cho cùng, lợi

Trang 16

ích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi con người cóđược, khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội Mặt khác, nó phản ánhquan hệ giữa con người với con người trong quá trình tham gia vào các hoạtđộng đó để tạo ra của cải vật chất cho mình Những quan hệ đó chính là quan

hệ sản xuất trong xã hội Vì vậy lợi ích kinh tế còn là hình thức biểu hiện củaquan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuất quyết định

Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, nó được quyđịnh một cách khách quan bởi phương thức sản xuất, bởi hệ thống quan hệsản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi conngười, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế - xãhội Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất, mà

nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức vốn có bên trong,hình thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ sản xuất Chính vì vậy, theoPh.Ăngghen “Các quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định biểu hiện trướchết dưới hình thức lợi ích” [38, tr.376]

Hệ thống quan hệ sản xuất của mỗi một chế độ xã hội nhất định sẽ quyđịnh hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội đó Trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, ở nước ta tồn tại nhiều quan hệ sản xuất, nhiều quan hệ sở hữukhác nhau về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, do đó hệ thống lợi íchkinh tế cũng mang tính đa dạng Tùy góc độ xem xét mà ta có thể phân chiathành các nhóm, các loại lợi ích kinh tế khác nhau Dưới góc độ khái quátnhất có thể phân chia hệ thống lợi ích kinh tế thành: lợi ích kinh tế cá nhân,lợi ích kinh tế tập thể (nhóm cộng đồng) và lợi ích kinh tế xã hội Dưới góc độcác thành phần kinh tế, có lợi ích kinh tế tương ứng với các thành phần kinhtế đó Dưới góc độ các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, có lợi ích kinhtế của người sản xuất, người phân phối, người trao đổi, người tiêu dùng

Trang 17

Dù cách phân chia có thể khác nhau, song các lợi ích kinh tế bao giờcũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn vớinhau Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: chúng cùng đồng thời tồn tại trong một

hệ thống, trong đó lợi ích kinh tế này là cơ sở, là tiền đề cho lợi ích kinh tếkhác Chẳng hạn, có lợi ích kinh tế của người sản xuất, thì mới có lợi ích kinhtế của người trao đổi, người tiêu dùng và ngược lại Mặt mâu thuẫn biểu hiện

ở sự tách biệt nhất định giữa các lợi ích đó dẫn đến xu hướng lấn át của lợi íchkinh tế này đối với lợi ích kinh tế khác Chính vì vậy, nó có thể gây nênnhững xung đột nhất định về lợi ích kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạtđộng kinh tế - xã hội Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, thì các lợi íchkinh tế cũng mang tính đối kháng Đó chính là nguyên nhân dẫn đến nhữngcuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa các giai cấp Trong thực tế, lợi íchkinh tế thường được biểu hiện ở các hình thức thu nhập như: tiền lương, tiềncông, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, thuế, phí, lệ phí

Từ những phân tích trên có thể hiểu: lợi ích kinh tế là quan hệ kinh tế,

phản ánh những nhu cầu, những động cơ khách quan của các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội, do quan hệ sản xuất quyết định.

Trong hệ thống lợi ích kinh tế: cá nhân, tập thể (nhóm cộng đồng) và xãhội, thì lợi ích kinh tế cá nhân là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩycác chủ thể tham gia một cách tích cực vào các hoạt động kinh tế - xã hội vànâng cao hiệu quả kinh tế của chúng Sở dĩ như vậy là vì:

Thứ nhất, lợi ích kinh tế cá nhân là lợi ích thiết thực nhất, gắn liền với

từng cá nhân, từng chủ thể Nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu vật chất của từng cánhân, của từng chủ thể đó khi tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hội Ởđâu và khi nào lợi ích kinh tế cá nhân được bảo đảm, thì ở đó sẽ tạo ra đượcđộng lực mạnh mẽ nhất kích thích họ phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động kinh tế của

Trang 18

mình Có thể nói, lợi ích kinh tế cá nhân là "huyệt" mà sự tác động vào đó(tương tự như các lương y châm cứu vào các huyệt trên cơ thể người bệnh đểđánh thức sự hoạt động của các bộ phận chức năng trên cơ thể), sẽ gây nên phảnứng nhanh nhạy nhất của các chủ thể kinh tế Nó là chất kết dính người lao độngvới quá trình sản xuất kinh doanh, là một thứ "dầu nhờn" đặc biệt để bôi trơnguồng máy kinh tế Điều đó lý giải vì sao cơ chế thị trường đã tạo ra động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời nó cũng lý giải vì sao cơ chế thịtrường còn có nhiều mặt trái Thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta trong nhữngnăm qua cũng đã chứng minh điều đó Chẳng hạn, trong lĩnh vực nông nghiệp,với cơ chế khoán hộ, Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộnông dân, cùng với những chính sách khác, nước ta đã từ một nước thiếu lươngthực, phải nhập khẩu lương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trênthế giới.

Thứ hai, lợi ích kinh tế cá nhân tạo điều kiện để thực hiện và nâng cao lợi

ích văn hóa, tinh thần của từng cá nhân Khi lợi ích kinh tế cá nhân được bảođảm, các chủ thể sẽ tham gia một cách tích cực và nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, từ đó họ cũng có điều kiện để nâng cao đời sống văn hóa tinh thầncủa mình

Thứ ba, lợi ích kinh tế cá nhân là cơ sở thực hiện lợi ích kinh tế tập thể

(nhóm cộng đồng) và lợi ích xã hội, và dân có giàu thì nước mới mạnh Khi lợiích kinh tế cá nhân được bảo đảm, người dân hăng say, tích cực sản xuất để thựchiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước, tập thể thì lợi ích kinh tế của Nhà nước(xã hội), tập thể cũng mới được thực hiện

Vì vậy, để kích thích tính tích cực của người lao động, phát huy tối đa vaitrò nhân tố con người, thì vấn đề mấu chốt, căn cơ nhất là phải tác động vào lợiích kinh tế mỗi cá nhân Tạo điều kiện để mỗi người lao động, mỗi cá nhân, mỗichủ thể thực hiện được lợi ích kinh tế của mình, bảo đảm sao cho mỗi ngườiđược đóng góp và được hưởng phần thu nhập phù hợp với sự đóng góp của họ

Trang 19

1.2 Quan niệm, các nhân tố ảnh hưởng và tác động của giải quyết lợi ích kinh tế kinh tế của nông dân trong thu hồi đất đến phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai

1.2.1 Quan niệm về giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai

Để làm rõ quan niệm về giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thuhồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai, trước hết cần nhận thức

về các quan hệ lợi ích kinh tế phát sinh trong quá trình thu hồi đất

* Quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 [39], đất đai được xác địnhthuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản

lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân

Về q`uyền lợi của người sử dụng đất được quy định tại Điều 26, Luật Đất đainăm 2013 như sau:

Được bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp củangười sử dụng đất

Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vàtài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất khi có đủ điều kiện theoquy định của pháp luật

Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triểnkinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhànước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật

Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trìnhchuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được đào tạonghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm

Luật Đất đai năm 2013 là sự luật hóa quyền của người dân có đất bị thuhồi cho các mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế xã hội phù

Trang 20

hợp với điều kiện của đời sống kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay Cơ sở lýluận của luật là sự vận dụng những nguyên lý, lý luận mácxit về lợi ích và lợiích kinh tế.

Theo hướng đó, khi nhà nước thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất,người có quyền sử dụng đất được nhà nước giải quyết các lợi ích chính đángtheo pháp luật hiện hành, trước hết và quan trọng nhất là lợi ích kinh tế

Lợi ích kinh tế trong thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp vàdịch vụ bao gồm quan hệ giữa lợi ích kinh tế của xã hội do Nhà nước là đạidiện với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp - chủ đầu tư dự án; quan hệ giữa lợiích kinh tế của doanh nghiệp - chủ đầu tư dự án với lợi ích kinh tế của ngườinông dân và quan hệ giữa lợi ích kinh tế của Nhà nước (xã hội) với lợi íchkinh tế của người nông dân bị thu hồi đất Ba mối quan hệ này - xét về mặtbản chất chúng vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn với nhau:

Sự thống nhất

Thứ nhất, có sự thống nhất giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của nông

dân, bởi vì lợi ích xã hội là dành cho tất cả mọi người dân trong xã hội, baogồm cả nông dân Khi lợi ích của nhà nước được đảm bảo thì hệ quả tất yếu làquyền được hưởng các lợi ích đó là toàn xã hội trong đó có những người nôngdân bị thu hồi đất; mặt khác, khi lợi ích của người nông dân bị thu hồi đấtđược đảm bảo thì họ sẽ đẩy nhanh tiến trình giao nộp lại đất đai, những tư liệusản xuất quan trọng của họ cho Nhà nước để phục vụ cho chiến lược pháttriển của xã hội mà Nhà nước làm đại diện Điều này đã góp phần vào việctăng cường lợi ích xã hội không chỉ trước mắt mà còn lâu dài

Thứ hai, sự thống nhất giữa lợi ích kinh tế của chủ dự án và lợi ích kinh

tế xã hội Về lâu dài, khi lợi ích kinh tế xã hội được đảm bảo thì kinh tế xã hội

sẽ phát triển mạnh mẽ và hệ quả là sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh thuậnlợi, tạo ra nhiều cơ hội đầu tư và mở rộng cho các doanh nghiệp nói chung,

Trang 21

trong đó có doanh nghiệp nhận được đất dự án để tiến hành sản xuất, kinhdoanh Về lợi ích kinh tế trước mắt thì sự thống nhất của lợi ích kinh tế xã hội

và lợi ích kinh tế doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ, khi các doanh nghiệp chủ

dự án làm tốt các thủ tục để nhận mặt bằng bao gồm cả phần chi trả các khoảnchi phí cho việc giải phóng mặt bằng đó, nhà nước sẽ có khả năng xúc tiếnnhanh việc bàn giao mặt bằng cho doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và kèmtheo đó là tiền bạc của doanh nghiệp khi thực hiện dự án

Thứ ba, sự thống nhất lợi ích kinh tế giữa nông dân có đất bị thu hồi và

doanh nghiệp - chủ dự án được thể hiện ở chỗ: khi lợi ích của nông dân đượcđảm bảo, họ sẽ nhanh chóng giao nộp đất để Nhà nước chuyển giao chodoanh nghiệp; mặt khác khi lợi ích của doanh nghiệp được đảm bảo, việctriển khai dự án nhanh chóng, thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho người nông dânthực hiện các lợi ích khác bên cạnh việc nhận đền bù của mình đó là tham giavào làm việc trong doanh nghiệp, hoặc góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp đó

Sự mâu thuẫn:

Bên cạnh việc thống nhất, giữa ba lợi ích cơ bản trong quá trình thu hồiđất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và dịch vụ cũng có nhữngmâu thuẫn nhất định đòi hỏi các cấp quản lý kinh tế cần nhận diện và cóphương thức giải quyết thỏa đáng Các mâu thuẫn đó là:

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa lợi ích nhà nước và lợi ích của nông dân

biểu hiện ở chỗ, nhà nước khi thu hồi đất của nông dân để thực hiện lợi ích

xã hội đã xâm phạm đến lợi ích của người nông dân là quyền họ được sửdụng đất đai của mình để làm ăn, sinh sống Chính vì vậy nhà nước phảixây dựng các chính sách đền bù những thiệt hại của họ Mâu thuẫn của nhànước và nông dân thể hiện chính ở chính sách đền bù này: nếu chính sáchđền bù quá rộng rãi, trước mắt người nông dân sẽ được lợi, và nhà nước sẽchịu thiệt; nếu chính sách đền bù quá hạn hẹp, người nông dân chịu thiệtthòi và nhà nước có lợi

Trang 22

Thứ hai, mâu thuẫn giữa nông dân và doanh nghiệp - chủ dự án cũng xảy

ra tương tự khi chủ dự án chính là người tự đứng ra thương thảo với nông dân

và chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng và đền bù vì nếu chủ dự án đền bùnhiều thì sẽ bị thiệt thòi, còn nông dân thì sẽ có lợi và ngược lại

Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa lợi ích của các chủ thể này thực ra chỉ là biểuhiện chưa hoàn toàn đầy đủ của mối quan hệ Về bản chất, mối quan hệ nàyvẫn là mối quan hệ có tính thống nhất, nếu điều hòa tốt mối quan hệ này sẽđạt được kết quả là các bên cùng có lợi Cụ thể: nếu giải quyết thỏa đáng mốilợi ích này cho người nông dân, họ nhận được khoản đền bù xứng đáng vàđầy đủ cho các thiệt hại do quá trình thu hồi đất gây ra thì người nông dân sẽnhanh chóng giao lại mặt bằng để doanh nghiệp chủ dự án thực hiện dự án vànhư vậy sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền vốn cho doanh nghiệp

Từ những phân tích trên đây, ta thấy lợi ích giữa các chủ thể trong thuhồi đất là mối quan hệ phức tạp, biện chứng vừa thống nhất vừa mâu thuẫnvới nhau Chính vì vậy mà xây dựng chính sách để giải quyết mối quan hệ lợiích trong thu hồi đất vô cùng quan trọng, nó cần phải giải quyết hài hòa lợiích của các chủ thể tham gia nhằm mang lại lợi ích chung cho tất cả các chủthể trong mối quan hệ này

* Quan niệm về giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai

Như trên đã đề cập, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo ranhững mối quan hệ lợi ích khác nhau giữa các chủ thể kinh tế Các mối quan

hệ đó vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Vì vậy, để quá trình thu hồiđất trong phát triển công nghiệp và dịch vụ được tiến hành thuận lợi, cần phảigiải quyết các mâu thuẫn đặt ra Việc giải quyết các mâu thuẫn đó chính làviệc bảo đảm cho các chủ thể cùng có lợi, trước hết là lợi ích kinh tế Nóicách khác, việc giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất nông

Trang 23

nghiệp cũng chính là giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế của nông dânvới lợi ích kinh tế của xã hội và lợi ích kinh tế của chủ doanh nghiệp

Từ sự phân tích trên có thể khái quát: giải quyết lợi ích kinh tế củanông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai

là: sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và bản thân hộ

nông dân bị thu hồi đất ở Đồng Nai trong giải quyết những mâu thuẫn đặt

ra nhằm tạo ra sự thống nhất về lợi ích kinh tế giữa nông dân với nhà

nước và chủ doanh nghiệp.

Như vậy, việc giải quyết lợi ích của nông dân được hiểu là một quá trình,bao gồm cả quá trình thu hồi đất và cả những việc trong quá trình thu hồi đấtchưa giải quyết dứt điểm, phải giải quyết tiếp sau khi đất đã được thu hồi, theo

đó trong quá trình thu hồi đất giải quyết chưa dứt điểm sẽ được tiếp tục giảiquyết sau khi đất đã được thu hồi Thuật ngữ “trong” và “sau” được hiểu mộtcách hết sức uyển chuyển không cứng nhắc Đồng thời việc giải quyết lợi íchcủa nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở ĐồngNai không chỉ là trách nhiệm của nhà nước, được thực hiện bởi Nhà nước, màcòn là trách nhiệm của các doanh nghiệp là chủ đầu tư và bản thân hộ nôngdân có đất bị thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng Mặt khác, sự giải quyết

đó phải dựa vào luật pháp của Nhà nước, trước hết là Luật Đất đai năm 2013

Theo hướng đó, các nội dung giải quyết bao gồm:

Thứ nhất, bồi thường giá trị sử dụng diện tích đất bị thu hồi cho nông

dân.Khi thu hồi đất của nông dân nhà nước đã có chính sách đền bù cho cácthiệt hại của việc thu hồi này đối với họ Theo quy định của nhà nước ngườidân sẽ nhận khoản đền bù cho đất, đền bù cho các loại cây trồng trên đất chưakịp thu hoạch vào lúc trao trả mặt bằng;

Thứ hai, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho nông

dân nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển đổi nghề.Vì bị thu hồi mất tư liệu sản xuất

Trang 24

chính nên người nông dân buộc phải chuyển sang hoạt động kiếm sống khác,hay còn gọi chuyển sang nghề nghiệp khác Nhưng họ chưa có kinh nghiệm

và cũng chưa đủ trình độ, kỹ năng để chuyển đổi sang một nghề khác phùhợp, vì thế họ phải học nghề Chính vì vậy Nhà nước đã tính đến lợi ích nàycủa nông dân nên khi thu hồi đất đai để chuyển đổi mục đích sử dụng, Nhànước còn hỗ trợ việc đào tạo nghề thông qua việc mở lớp trực tiếp hoặc giớithiệu đến các trung tâm đào tạo nghề cho họ học miễn phí;

Thứ ba, tạo điều kiện cho nông dân được làm việc tại các dự án. Mộttrong những biểu hiện lợi ích của người nông dân bị thu hồi đất là họ cóquyền ưu tiên tuyển dụng vào làm việc trong các dự án, các khu công nghiệpxây dựng trên đất đai của họ sau khi các dự án này đi vào hoạt động Như thếthay vì là chủ thể kinh tế, chủ thể lợi ích ở lĩnh vực nông nghiệp họ chuyểnsang là các chủ thể kinh tế, chủ thể lợi ích ở lĩnh vực sản xuất công nghiệp;

Thứ tư, đáp ứng nhu cầu góp cổ phần của nông dân vào các dự án bằng

quyền sử dụng đất Khi bị thu hồi đất nông nghiệp, lợi ích của người nông dân cònđược biểu hiện ở quyền được tham gia góp vốn đầu tư vào các dự án và trở thànhmột trong những người nắm tư liệu sản xuất, nghĩa là có quyền ảnh hưởng caođến quá trình phân phối lợi ích của các dự án đó Đây cũng là cơ hội tốt để họnâng cao thu nhập cá nhân bằng các nguồn lợi nhuận từ việc góp vốn tạo ra

Ngoài ra, với số tiền được đền bù người nông dân có thể đầu tư để pháttriển kinh tế gia đình và tạo ra những nguồn thu nhập mới, tăng lợi ích kinh tếcủa họ, làm cuộc sống của họ được cải thiện hơn

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp, dịch vụ

Quá trình thu hồi đất nông nghiệp là một quá trình xã hội, có sự tham giacủa nhiều chủ thể khác nhau, là một quá trình khá phức tạp và chịu tác độngcủa nhiều nhân tố khác nhau Trong đó, những nhân tố sau đây có tác độngmạnh nhất:

Trang 25

Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế của đất nước Trình độ phát triển

kinh tế của đất nước được thể hiện rõ nét ở tổng GDP, tốc độ tăng GDP hàngnăm và tính ổn định của tăng trưởng kinh tế, khả năng kiểm soát tốt các yếu

tố rủi ro và lạm phát; sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội, tính hiệu quả và đồng bộ của cơ chế quản lý Các yếu tố này sẽ tác độnggần như trực tiếp đến quá trình giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trongthu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và khu dịch vụ Khitổng GDP, tốc độ tăng GDP hàng năm và tính ổn định của tăng trưởng kinhtế, khả năng kiểm soát tốt các yếu tố rủi ro và lạm phát được bảo đảm tốt; khi

hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được phát triển đồng bộ và phát huytác dụng tốt; khi đó việc hỗ trợ các giải pháp để giải phóng mặt bằng trongthu hồi đất sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn Cơ chế quản lý khoa học, đồng

bộ sẽ là một tác nhân quan trọng để thực hiện việc thu hồi, chuyển đổi mụcđích sử dụng đất nhanh chóng, hiệu quả Mức tăng trưởng kinh tế và GDPbình quân đầu người cao sẽ tạo điều kiện để có thể tăng mức đền bù giảiphóng mặt bằng, hỗ trợ đào tạo và chuyển đổi nghề cho lao động nông nghiệp

bị thu hồi đất Tiềm lực kinh tế của đất nước lớn sẽ góp phần tổ chức tốt côngtác tái định cư cho các hộ nông dân khi phải thu hồi đất của họ Từ đó tạo raviệc bảo đảm cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, tạo ra sự đồng thuận trongnhân dân, ổn định được tình hình chính trị - xã hội trong quá trình thực hiệncác dự án xây dựng các khu công nghiệp và khu dịch vụ

Thứ hai, hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư Hiệu quả kinh tế của các

dự án đầu tư là yếu tố đóng vai trò không nhỏ trong quá trình giải quyết lợiích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất nông nghiệp phục vụ phát triểncông nghiệp và dịch vụ Khi dự án được thực hiện với hiệu quả kinh tế cao,việc quản lý nguồn vốn đầu tư và khả năng kinh doanh tốt, điều đó cũng đồngnghĩa với việc các lợi ích cơ bản của doanh nghiệp - chủ đầu tư đã được thực

Trang 26

hiện, mặt khác các lợi ích của nông dân như góp vốn đầu tư, được tham giavào làm việc trong dự án cũng trở thành hiện thực, lợi ích của họ trong việcgiao đất đai nông nghiệp của mình đã được thực hiện xứng đáng Bên cạnh đólợi ích chung của Nhà nước thể hiện ở hiệu quả kinh tế - xã hội cũng hiệnthực hóa.

Thứ ba, chính sách kinh tế của Nhà nước Chính sách kinh tế của Nhà

nước là yếu tố quan trọng nhất tác động lên kết quả giải quyết lợi ích kinh tếcủa nông dân trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khucông nghiệp và khu dịch vụ Chính sách của Nhà nước đồng bộ, khoa học sẽ

là hành lang chính trị, kinh tế, pháp lý thông thoáng để tiến trình thu hồi đấtdiễn ra thuận lợi, suôn sẻ Nhờ đó, lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan

hệ kinh tế này, trong đó có lợi ích kinh tế của nông dân được đảm bảo côngbằng Chính sách kinh tế của nhà nước liên quan đến vấn đề này bao gồm:quy định về sử dụng đất đai, quy định về giá đền bù và phương án đền bù khithu hồi đất; quy định trách nhiệm của nhà nước, nhà đầu tư và nông dân trongquá trình thu hồi đất; quy định các lợi ích của từng chủ thể sao cho hợp lý, hàihoà, quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý, là cơ sở, điều kiện thuận lợi để các dự

án đầu tư đạt được kết quả kinh tế trong thực hiện quy định về trình tự và thủtục chuyển giao đất, trình tự và thủ tục khiếu kiện liên quan đến vấn đềchuyển giao đất và giải phóng mặt bằng

Bốn là, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việcgiải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất Chiến lược phát triển kinhtế - xã hội của địa phương thường được cụ thể hóa bằng quy hoạch phát triểnkinh tế - xã hội Nếu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cótính khả thi, thì các dự án đầu tư cũng có điều kiện thực hiện thuận lợi và cóhiệu quả kinh tế cao, do đó mà việc giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế giữa các

Trang 27

chủ thể cũng trở nên thuận lợi và nhanh hơn Quy hoạch phát triển kinh tế

-xã hội của địa phương có tính khả thi có nghĩa là quy hoạch này phù hợpvới quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng; phù hợp với điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương; có lộ trình và các nguồn lực hợp

lý để hiện thực hóa việc đền bù, giải phóng mặt bằng để thu hồi đất chophát triển công nghiệp và dịch vụ, giải quyết thỏa đáng lợi ích của các hộnông dân có đất bị thu hồi

Thứ năm, vai trò của chính quyền địa phương Chính quyền địa phương

có vai trò quyết định trực tiếp đến giải quyết một cách hài hòa lợi ích kinh tếgiữa các chủ thể trong thu hồi đất Điều này thể hiện ở tính minh bạch, côngkhai các chủ trương chính sách của Nhà nước về thu hồi đất, và các quy định

cụ thể của chính quyền địa phương trong vấn đề thu hồi đất, trong công tác tổchức đền bù, giải phóng mặt bằng, xác định giá cả đền bù, bố trí tái định cư,

tổ chức đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất, Tất cả các công tác đó trực tiếp quyết định đến việc bảo đảm lợi ích chínhđáng của người nông dân Đồng thời cũng nhờ đó mà việc giải phóng mặtbằng được thực hiện nhanh chóng và lợi ích kinh tế của cả chủ đầu tư dự án

và của Nhà nước cũng được thực hiện một cách hài hòa

1.2.3 Tác động của việc giải quyết hợp lý lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất đến phát triển công nghiệp và dịch vụ

Như trên đã phân tích, lợi ích, trong đó có lợi ích kinh tế là động lực pháttriển xã hội Khi con người ý thức được lợi ích thiết thực đối với cuộc sốngcủa bản thân họ, gia đình và xã hội, họ sẽ có động cơ thúc đẩy hành động.Chính vì vậy nếu giải quyết hợp lý và hài hoà quan hệ lợi ích kinh tế trongtiến trình thu hồi đất, nghĩa là đảm bảo được lợi ích chính đáng của mỗi chủthể kinh tế tham gia vào tiến trình đó, thì việc thu hồi đất sẽ được thực hiệnnhanh chóng và thuận lợi

Trang 28

Tác động của việc giải quyết lợi ích trong thu hồi đất nông nghiệp đượcthể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, nhanh chóng tạo mặt bằng bảo đảm tiến độ triển khai các dự

án đầu tư Khi người nông dân được đền bù thỏa đáng và nhanh chóng đối với

diện tích đất đai của họ bị thu hồi; khi việc tái định cư của họ diễn ra thuận lợi

và tốt đẹp, thì họ sẽ nhanh chóng trao trả mặt bằng để các cấp chính quyềnNhà nước có thẩm quyền thực hiện việc giải phóng và thu nhận mặt bằngchuyển giao cho các chủ đầu tư để tiến hành các dự án Mặt khác nếu việc đền

bù thoả đáng và nhanh chóng cho người nông dân thì họ sẽ có sẵn nguồn vốn

để thực hiện lợi ích tiếp theo là đầu tư vào các dự án đang triển khai, giúp chủđầu tư huy động được một nguồn vốn đáng kể để thực thi dự án của mình

Thứ hai, đẩy nhanh tiến trình phát triển các khu công nghiệp và khu dịch

vụ Việc nhận mặt bằng được tiến hành nhanh chóng, việc huy động vốn được

diễn ra thuận lợi, hành lang pháp lý thông thoáng chính là điều kiện thuận lợi đểcác dự án phát triển công nghiệp và khu dịch vụ (xây dựng các khu công nghiệp)được triển khai nhanh chóng và tiết kiệm, hạn chế được những khó khăn nan giảikhi không giải phóng được mặt bằng khiến dự án bị “treo”, không thực hiệnđúng tiến độ, gây lãng phí và tổn thất cho các chủ đầu tư và tổn hại đến lợi íchcủa tất cả các chủ thể kinh tế tham gia trong quá trình này

Thứ ba, khắc phục được những hiện tượng khiếu kiện kéo dài Đất đai là

tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân Thực tiễn cho thấy, quá trình thuhồi đất đai ở cả nước nói chung, ở Đồng Nai nói riêng đã diễn ra tình trạngcác hộ dân khiếu kiện kéo dài thường xảy ra Nguyên nhân chính của việckhiếu kiện này là do không thực hiện hài hòa và hợp lý lợi ích kinh tế của cácbên tham gia, đặc biệt là lợi ích kinh tế của người nông dân Do đó, giải quyếthợp lý, hài hòa các lợi ích này sẽ tránh được tình trạng khiếu kiện kéo dàithường gặp trong quá trình giải phóng mặt bằng để chuyển đổi mục đích sửdụng đất

Trang 29

Thứ tư, tạo sự ổn định tình hình xã hội và phát triển bền vững Đây là hệ

quả tất yếu của việc giải phóng mặt bằng nhanh chóng, triển khai dự án thuậnlợi, đúng tiến độ và hiệu quả, đảm bảo lợi ích thiết thực của mỗi chủ thể kinhtế, không có khiếu kiện kéo dài Giải quyết hài hòa và hợp lý lợi ích của cácchủ thể kinh tế chính là tạo ra sự ổn định xã hội, tránh các xung đột, mâuthuẫn giữa các bên liên quan là điều kiện cần thiết để phát triển bền vững

*Thu hồi đất để phát triển công nghiệp và dịch vụ là một xu hướng, mộtđòi hỏi khách quan, tất yếu của quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việc thu hồi đất đai để chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nôngnghiệp sang đất phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ làm nảy sinh yêucầu phải giải quyết những quan hệ kinh tế giữa các chủ thể Việc giải quyếtthỏa đáng các quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, đặc biệt là lợi ích của các

hộ nông dân trên sẽ tạo đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư và xã hộinông thôn, nơi diễn ra các hoạt động thu hồi đất - điều kiện không thể thiếucho sự phát triển kinh tế

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG DÂN

TRONG THU HỒI ĐẤT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

VÀ DỊCH VỤ Ở ĐỒNG NAI 2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở Đồng Nai ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của nông dân bị thu hồi

Đồng Nai có điều kiện vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và mởrộng giao lưu thương mại, phát triển kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp

và dịch vụ là các lĩnh vực mũi nhọn Nằm ở khu vực cửa ngõ phía Đông củavùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết nối ba vùng Đông Nam Bộ, DuyênHải Miền Trung và Tây Nguyên, có thể giao thương với trong nước và quốctế, Đồng Nai trở thành địa phương có lợi thế về phát triển công nghiệp và dịch

vụ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Về điều kiện tự nhiên, diện tích tự nhiên của Đồng Nai là 590.724 ha, bằng

1,78% diện tích của cả nước và 19,4% diện tích của vùng kinh tế trọng điểmphía Nam, với dân số khoảng 2.569 nghìn người, đứng thứ 2 so với các tỉnhtrong vùng Đông Nam Bộ (chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh) Tỉnh gồm 11 đơn

vị hành chính trong đó thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội của tỉnh

Về điều kiện kinh tế - xã hội, Đồng Nai là một trong những địa phương

nằm trong tốp có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của cả nước, do lợi thế vềđịa lý kinh tế và địa chính trị được khai thác tốt (Đồng Nai có đầy đủ hệ thốnggiao thông đường không, đường thủy, đường sắt và đường bộ, chỉ cách thànhphố Hồ Chí Minh 30km, có đường thông ra biển qua tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).Những lợi thế để phát triển của Đồng Nai thể hiện trên các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết

mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường

Trang 31

sắt Bắc - Nam; nhiều tuyến đường liên tỉnh và các cảng sông Gò Dầu, PhúMỹ,… gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước

và quốc tế

Thứ hai, có nền đất lý tưởng, kết cấu có độ chịu nén tốt, thuận tiện cho

đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu, cụm công nghiệp

Thứ ba, có nguồn nước phong phú không chỉ cung cấp cho Đồng Nai mà

còn cho thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương

Thứ tư, có nguồn điện năng dồi dào từ các Nhà máy Thủy điện Trị An,

Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế Bên cạnhlưới điện quốc gia, Đồng Nai còn có Công ty liên doanh Amata Power cungcấp điện cho KCN Amata và các KCN lân cận

Bên cạnh đó, Đồng Nai còn có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản đadạng và phong phú như vàng, thiếc, kẽm, nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đấtsét, cát sông; rừng và nguồn nước,… rất thuận lợi cho phát triển các ngànhnghề như: sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, mỹ nghệ…

Trên cơ sở những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, với ý chí quyết tâm vàđồng thuận cao, sau gần 30 năm đổi mới xây dựng và phát triển, từ một nềnkinh tế nông nghiệp lạc hậu, Đồng Nai đã vươn lên trở thành một trong nhữngtỉnh có GRDP bình quân đầu người cao nhất cả nước, và có tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao, bình quân đạt khoảng 12,8%/năm Quá trình phát triển vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh diễn ra đúng theo tinh thần Nghị quyếtĐại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, trong đó côngnghiệp giữ vai trò chủ đạo, tạo điều kiện thúc đẩy các nền kinh tế khác pháttriển, nhất là dịch vụ và nông nghiệp

Sản xuất công nghiệp của Đồng Nai đã có những bước chuyển mạnh vềchất với sự hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực như: công nghiệp cơ

Trang 32

khí và luyện kim, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, côngnghiệp điện tử và viễn thông, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tiêudùng, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm,… Công nghiệp hóa nôngnghiệp, nông thôn và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất từng bướcđược đẩy mạnh.

Trước năm 1975, Đồng Nai đã có sự phát triển công nghiệp và dịch vụkhá mạnh, do là địa bàn được Mỹ - ngụy lựa chọn làm sở cơ kinh tế quân sựphục vụ cuộc chiến tranh của Mỹ ở miền nam Việt Nam Do đó sau 1975,Đồng Nai đã có một khu công nghiệp, đó là khu công nghiệp Biên Hòa 1 nơitập trung lực lượng công nghiệp và dịch vụ của Đồng Nai thời kỳ đó Sau đó,đặc biệt là từ thời kỳ đất nước đổi mới do sự phát triển mạnh của công nghiệp

và dịch vụ trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, khu công nghiệp BiênHòa 2 tiếp tục ra đời Từ thực tiễn khu công nghiệp Biên Hòa 1 và thành côngbước đầu của khu công nghiệp Biên Hòa 2, Đồng Nai đã từng bước rút kinhnghiệm và mở ra hướng đột phá mới, tập trung quy hoạch xây dựng thêm cáckhu công nghiệp mới không chỉ ở TP Biên Hòa, mà ở tất cả các địa phươngcủa tỉnh trong quá trình phát triển công nghiệp và dịch vụ của tỉnh nhà

Đồng Nai cũng là địa phương đi đầu trong cả nước về xây dựng và pháttriển các khu công nghiệp Hệ thống các khu công nghiệp của Đồng Nai có khảnăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài lẫn diện tích đất cho thuê Đồng Nai cũng làmột trong số ít địa phương thu hút được nhiều dự án có quy mô vốn trên 100triệu USD (Formosa - Đài Loan, Vedan - Singapore & Đài Loan, Hualon -Malaysia & Đài Loan, Fujitsu - Nhật Bản,…) Vốn đầu tư nước ngoài đã thật sựtrở thành nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển sản xuất, tạo nguồn thu ngânsách lớn, góp phần phát triển kinh tế địa phương, nhất là đẩy nhanh chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Để tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nướcngoài, trong những năm gần đây, Đồng Nai luôn chú trọng và tích cực thực

Trang 33

hiện “hai cải” - đó là cải thiện môi trường đầu tư và cải cách thủ tục hànhchính theo hướng toàn diện, công khai, minh bạch, đơn giản, nhanh chóng,kịp thời cùng với các phương châm “chính quyền đồng hành cùng doanhnghiệp”, “chính quyền phục vụ doanh nghiệp”.

Nhiều chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư trong và ngoài nước đãđược lãnh đạo tỉnh Đồng Nai tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, tạo tiền đềthu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thịtrường quốc tế Bên cạnh đó, các loại hình dịch vụ bưu chính, viễn thông, vậntải, du lịch, tài chính - tín dụng,…cũng được đầu tư kịp thời

Cùng với phát triển kinh tế, các vấn đề bức xúc của xã hội cũng được tỉnhĐồng Nai giải quyết có hiệu quả Trong đó, giải quyết việc làm cho người lao độngluôn được các cấp, các ngành ở địa phương đặc biệt quan tâm Đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh xã hội được giữ vững vàniềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ngày càng được nâng cao

2.2 Thực trạng giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai

2.2.1 Những thành tựu và hạn chế giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai

* Những thành tựu

Những thành tựu về giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồiđất phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai thời gian qua thể hiện trênhai nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tỉnh Đồng Nai đã xác định đúng chủ trương, chính sách, cơ chế giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân trong thu hồi đất cho phát triển công nghiệp và dịch vụ.

Trong thời gian qua, tỉnh Đồng Nai đã chỉ đạo các ngành chức năng và cáchuyện, thị xã trong tỉnh tiếp tục áp dụng và vận dụng chính sách của Nhà nước,

Trang 34

xây dựng, sửa đổi, bổ sung kịp thời một số chính sách liên quan, đồng thời xácđịnh đúng cơ chế giải quyết quan hệ lợi ích trong thu hồi đất để chuyển đổi mụcđích sử dụng theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất,chủ dự án, phù hợp với thực tế mặt bằng chính sách chung Theo hướng đó lợiích kinh tế của người nông dân được xác định theo nguyên tắc lợi ích kinh tếcủa người bị thu hồi đất được xác định trước hết thông qua việc đền bù đất đaitheo giá thị trường phù hợp với khung giá của Nhà nước quy định Đây là mộtnguyên tắc nhằm đảm bảo lợi ích cho người thu hồi đất Để thực hiện nguyêntắc này Nhà nước đã đưa ra phương pháp định giá đất cụ thể cho từng loại đất

để làm cơ sở định giá đền bù thiệt hại theo quy định tại Điểm 2 khoản 10Điều 6 Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng

11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất [11].Khi các doanh nghiệp lập hồ sơ xin phép cơ quan Nhà nước có thẩmquyền giao đất để thực hiện các dự án xây khu công nghiệp, khu dịch vụ thìphải có cả phương án đền bù lợi ích cho nông dân; lợi ích kinh tế của nôngdân khi bị thu hồi đất nông nghiệp được thực hiện thông qua các hình thức bồithường bằng tiền, bằng đất hay nhà ở tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thểphụ thuộc trước hết vào chính sách và quy hoạch chung của Nhà nước,phương án bồi thường của doanh nghiệp được giao đất và sau đó mới đếnnguyện vọng của người nông dân; lợi ích kinh tế của người nông dân đượcthực hiện và đảm bảo thông qua nguyên tắc bồi thường đầy đủ các thiệt hại.Theo nguyên tắc này, người nông dân không những được đền bù cho mảnhđất của họ bị thu hồi mà còn được đền bù cả những tài sản trên đất đó, baogồm cây trồng, vật nuôi, nhà và các công trình xây dựng khác Ngoài ra, khingười nông dân bị thu hồi đất nếu phải chuyển đổi chỗ ở, chuyển địa điểmkinh doanh, chuyển nghề nghiệp còn được trợ cấp cho đời sống và sản xuất,

Trang 35

được trả chi phí cho việc chuyển đổi nghề nghiệp, cũng như các chi phí trựctiếp cho việc di chuyển, giải phóng mặt bằng và được xét cấp tái định cư theoquy định tại Điều 4, 5 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 củaChính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư [12]; Điều 18 - 23 Nghị định

số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quy hoạch sử dụngđất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư [13]

Dựa vào nguyên tắc chung trên đây, để đảm bảo quyền lợi của người dânthuộc diện thu hồi đất, ngày 09/01/2007, BCH Đảng bộ tỉnh (khóa VIII) đãban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU “về thực hiện chính sách bồi thường, hỗtrợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch và các dự

án đầu tư trên địa bàn tỉnh” [53] Nội dung Nghị quyết tập trung vào các chế

độ chính sách sau:

Một là, chính sách bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp Thực hiện Nghị

định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ, UBND tỉnh đã banhành Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND ngày 05/04/2010, sau thay thế bằngQuyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012, quy định về các chính sáchbồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Các chính sách

hỗ trợ do UBND tỉnh ban hành cơ bản phù hợp tình hình thực tế và đảm bảoquyền lợi của người có đất bị thu hồi như: hỗ trợ 35% giá đất ở cùng vị trí đốivới các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; hỗ trợ 50% giáđất ở cùng vị trí đối với đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng khôngđược công nhận là đất ở; hỗ trợ di chuyển; hỗ trợ người đang thuê nhà thuộc sởhữu nhà nước; hỗ trợ đối tượng thuộc diện chính sách, hỗ trợ bằng tiền cho hộgia đình cá nhân có diện tích đất bị thu hồi lớn Đặc biệt là chính sách hỗ trợchuyển đổi nghề và tạo việc làm (hỗ trợ 1,5 lần giá đất nông nghiệp), hỗ trợ ổnđịnh đời sống và sản xuất cho đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp vàchính sách hỗ trợ khác quy định hỗ trợ cho các trường hợp không đủ điều kiện

Trang 36

được bồi thường, hỗ trợ theo quy định pháp luật Ngoài ra, người bị thu hồi đấtcòn được hưởng chính sách thưởng cho đối tượng chấp hành tốt chủ trương,chính sách pháp luật thu hồi đất

Các chính sách bồi thường, hỗ trợ của tỉnh đã làm cho quyền lợi củangười bị thu hồi đất ngày càng được đảm bảo Đặc biệt, với các đối tượngtrực tiếp sản xuất nông nghiệp, các nơi vùng sâu, vùng xa, nhiều nơi giá trịbồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất đã cao hơn giá trị chuyển nhượng thực tế Trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ trên địa bàn tỉnh

đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy địnhcủa pháp luật vào thực tế, pháp luật chưa được quy định cụ thể như: việc bồithường, hỗ trợ đất tôn giáo; việc xác định tiêu chí hỗ trợ đất vườn ao; việc bồithường hỗ trợ tài sản trên đất nông nghiệp xây dựng trước ngày 01/7/2004;hướng dẫn về trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; việc xác địnhgiá đất ở trung bình để hỗ trợ; việc bồi thường, hỗ trợ về đất thuộc hành lang

lộ giới giao thông; hỗ trợ khác cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuấtnông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất vườn ao khôngđược công nhận là đất ở; bồi thường, hỗ trợ về đất đối với trường hợp sử dụngđất được giao không đúng thẩm quyền; hỗ trợ đối với các trường hợp sử dụngđất do lấn, chiếm; xử lý việc bồi thường về đất đối với các trường hợp bị thuhồi đất ở nhưng chưa xây dựng nhà ở Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã kịpthời xin ý kiến Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường Khi có hướng dẫncủa Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh đã ban hành quyđịnh (tại Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND, Quyết định số 26/2012/QĐ-UBND) để chỉ đạo các Sở, ngành kịp thời hướng dẫn các địa phương thựchiện và xử lý, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh nêu trên Nhiều nội dung vậndụng của tỉnh đã được đưa vào trong Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thay thế Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày13/08/2009 của Chính phủ đang có hiệu lực thi hành

Trang 37

Hai là, chính sách bồi thường, hỗ trợ nhà ở và công trình vật kiến trúc

khác Việc ban hành Bảng giá các loại đất hàng năm trên địa bàn tỉnh đã đápứng được một phần yêu cầu thực tế, là cơ sở để áp giá, lập phương án bồithường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án thu hồi đất Thực tế cho thấy,giá đất nông nghiệp để tính toán bồi thường hỗ trợ ở khu vực nông thôn có giátrị tương đương hoặc cao hơn giá thị trường Việc áp dụng thực hiện giá đấtvùng giáp ranh đã được quy định cụ thể tại Bảng giá đất, đảm bảo quyền lợicho người có đất bị thu hồi tại các khu vực này; về giá bồi thường nhà, tài sảntrên đất quy định tại Quyết định số 12/2012/QĐ-UBND ngày 23/02/2012 vàQuyết định số 14/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của UBND tỉnh, đã điềuchỉnh tăng mức bồi thường, hỗ trợ giá nhà, tài sản trên đất bị thu hồi (tăng từ30% đến 60% giá nhà và các công trình xây dựng trên đất) Giá cây trồng trênđất cũng được điều chỉnh tăng lên cho sát với giá trị thực tế

Ba là, chính sách tái định cư Theo khoản 3 Điều 42 Luật Đất đai năm

2003 thì “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thựchiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất

ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư đượcquy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiệnphát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” Trên cơ sở các quy định của Trungương, chủ trương của Tỉnh uỷ về chính sách tái định cư, UBND tỉnh đã banhành các quy định cụ thể để triển khai áp dụng cho phù hợp với tình hình thựctế trên địa bàn tỉnh Tại Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012của UBND tỉnh đã quy định cụ thể, rõ ràng về tiêu chuẩn, điều kiện và trình

tự, thủ tục xét bố trí tái định cư, quy định đã vận dụng giải quyết tái định cưtheo hướng thông thoáng hơn và phù hợp tình hình thực tế của tỉnh để đảmbảo ổn định cuộc sống của người dân sau khi bị thu hồi đất như: miễn thu phí

sử dụng hạ tầng cho người đủ điều kiện tái định cư và giải quyết tái định cư

Trang 38

cho các đối tượng xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp nhưng không vi phạmquy hoạch và xây dựng trước ngày 01/7/2004; giải quyết tái định cư cho các

hộ gia đình đông nhân khẩu, có nhiều thế hệ cùng chung sống; giao đất táiđịnh cư cho các trường hợp bị thu hồi đất ở nhưng không có nhà ở; việc giaođất ở (nhà ở) cho các đối tượng không đủ điều kiện được tái định cư theo quyđịnh của pháp luật Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số13/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 về việc cấp bù chênh lệch về tiền sửdụng đất khi giao đất tái định cư để đảm bảo quyền lợi của người bị thu hồiđất do việc giao đất tái định cư chậm so với việc phê duyệt phương án bồithường, hỗ trợ Các chính sách tái định cư của tỉnh ban hành đã được phần lớnngười bị thu hồi đất đón nhận một cách tích cực

Thực tiễn cho thấy: xác định đúng chủ trương, chính sách và có cơ chếđúng trong giải quyết lợi ích kinh tế của nông dân có đất bị thu hồi cho pháttriển công nghiệp và dịch vụ là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển côngnghiệp và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua

Thứ hai, tổ chức thực hiện tốt chủ trương, chính sách, cơ chế đã xác định và đã thu được những những kết quả thiết thực.

Những gì đã diễn ra ở Đồng Nai trong thời gian qua chung quanh việcgiải quyết lợi ích kinh tế của nông dân có đất bị thu hồi cho phát triển côngnghiệp và dịch vụ đã thêm một lần chứng minh sự tồn tại của một chân lýkhách quan rằng, chủ trương chính sách đúng là điều kiện tiên quyết nhưngvẫn mới là điều kiện cần, việc tổ chức thực hiện đúng chủ trương chính sách,

cơ chế đã xác định là điều kiện đủ để biến những quyết tâm chính trị đã cóthành kết quả thực tiễn trong giải quyết lợi ích cho nông dân có đất bị thu hồicho phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai Những kết quả trong tổchức thực hiện chủ trương chính sách nhằm bảo đảm lợi ích cho nông dân cóđất bị thu hồi cho phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Đồng Nai thời gian quathể hiện trên các vấn đề sau:

Trang 39

Một là, thực hiện tốt việc bồi thường cho nông dân bị thu hồi đất Từ năm

2007 đến thời điểm 31/12/2012, trong tổng số 996 dự án đầu tư cần triển khaithực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng với tổng diện tích đất là24.672,3 ha; Đồng Nai đã hoàn thành việc bồi thường, giải phóng mặt bằngcho 488 dự án (đạt 49% số dự án) với tổng diện tích đất đã giải phóng mặtbằng là 5.850,9 ha (đạt 23,7% diện tích) Tổng số tiền đã phê duyệt để chi trảcho 21.474 hộ gia đình và tổ chức là 4.740 tỷ đồng [54] (xem phụ lục 1) Cùng vớicác dự án phát triển các khu công nghiệp và khu dịch vụ, các dự án khác có liênquan đến thu hồi đất của nông dân trên địa bàn tỉnh cũng được thực hiện tương đốitốt Đến nay đã cơ bản hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng để bàn giao đấtsạch cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án trọng điểm như đường cao tốc thànhphố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Hồ chứa nước Sông Ray, Hồ chứanước Gia Măng, một số dự án đường điện 500KV, dự án mở rộng quốc lộ 51; đãhoàn thành việc phê duyệt phương án bồi thường dự án đường tránh quốc lộ 1A

và dự án khu đô thị kinh tế mở Long Hưng

Trang 40

Hai là, thực hiện tương đối tốt việc bố trí tái định cư cho các hộ dân nằm

trong khu vực phải giải tỏa Trong thời gian qua, chính sách tái định cư đượcUBND tỉnh quy định phù hợp với quy định của Chính phủ và các Bộ, ngànhtrung ương và tình hình thực tế tại địa phương Hiện nay, đa số các khu táiđịnh cư trên địa bàn tỉnh được quy hoạch xây dựng gần khu vực có đất bị thuhồi để bố trí tái định cư cho các trường hợp bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ

ở UBND tỉnh cũng đã giao cho UBND cấp huyện và cấp xã thực hiện việcxét duyệt và giao đất cho các đối tượng đủ điều kiện được tái định cư Việcxét duyệt tái định cư được thực hiện công khai, minh bạch từ cấp xã, kết quảxét tái định cư (gồm danh sách, địa điểm, quy mô, hình thức tái định cư )đều được niêm yết công khai cho người dân biết Các địa phương đã căn cứtình hình thực tế (tại đô thị, nông thôn) và diện tích đất bị giải tỏa của các đốitượng nên đã bố trí diện tích đất tái định cư cho phù hợp, vừa đảm bảo quychuẩn xây dựng và cảnh quan khu dân cư, qua đó cơ bản đã tạo được sự đồngthuận của người bị thu hồi đất

Ngày đăng: 21/06/2018, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bách (1988), Quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội, tập thể và cá nhân người lao động trong chặng đường đầu tiên thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, luận án Phó tiên sĩ triêt học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội, tập thể vàcá nhân người lao động trong chặng đường đầu tiên thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bách
Năm: 1988
14. Vũ Văn Chiêu (2013), Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống người dân trên địa bàn thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai, luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đếnđời sống người dân trên địa bàn thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Vũ Văn Chiêu
Năm: 2013
15. Nguyễn Viêt Chung (1962), Nông dân và công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nông dân và công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa
Tác giả: Nguyễn Viêt Chung
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1962
16. Vương Đình Cường (1992), Lợi ích kinh tế nông dân ở nước ta hiện nay, luận án Phó tiên sĩ kinh tê, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích kinh tế nông dân ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vương Đình Cường
Năm: 1992
17. Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII nhiệm kỳ 2000 - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhĐồng Nai lần thứ VII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
Năm: 2000
18. Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VIII nhiệm kỳ 2005 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhĐồng Nai lần thứ VIII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
Năm: 2005
19. Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhĐồng Nai lần thứ IX
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
Năm: 2010
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1986
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
26. Đặng Quang Định (2010), Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, luận án Tiên sĩ triêt học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thống nhất lợi ích kinh tế giữa giai cấp côngnhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong điều kiện nền kinh tế thị trường ởViệt Nam hiện nay
Tác giả: Đặng Quang Định
Năm: 2010
27. Đào Duy Huân (2007), “Lợi ích kinh tê - động lực thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tê - xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích kinh tê - động lực thu hút mọi nguồn lựccho phát triển kinh tê - xã hội ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Phát triểnkinh tế
Tác giả: Đào Duy Huân
Năm: 2007
28. Nguyễn Duy Hùng (1988), Bàn về sự hình thành và kết hợp các lợi ích kinh tế trong nông nghiệp tập thể, luận án Tiên sĩ kinh tê, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự hình thành và kết hợp các lợi ích kinhtế trong nông nghiệp tập thể
Tác giả: Nguyễn Duy Hùng
Năm: 1988
29. Phạm Quang Hưng (2013), Lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội, luận văn Thạc sỹ kinh tê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nội
Tác giả: Phạm Quang Hưng
Năm: 2013
31. Nguyễn Linh Khiêu (1999), Lợi ích động lực phát triển xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích động lực phát triển xã hội
Tác giả: Nguyễn Linh Khiêu
Nhà XB: Nxb. Khoahọc xã hội
Năm: 1999
32. Nguyễn Linh Khiêu (2002), Góp phần nghiên cứu mối quan hệ lợi ích, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu mối quan hệ lợi ích
Tác giả: Nguyễn Linh Khiêu
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2002
33. Vũ Ngọc Kỳ (2005), Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, hội nông dân ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân,hội nông dân ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Kỳ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w