1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả thực hiện luật thuế giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay

119 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các công trình, đề tài luận án trên đã đề cập đến các vến đề:Khái niệm làng nghề, những đặc trưng cơ bản của làng nghề, làng nghề truyềnthống, làng nghề mới; xu hư

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG

1.1 Quan niệm về làng nghề và phát triển làng nghề 121.2 Vai trò của phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội 211.3 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương

và bài học đối với thành phố Hà Nội 29

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ơ

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến phát

triển làng nghề ở thành phố Hà Nội 402.2 Thành tựu và hạn chế về phát triển làng nghề ở thành

2.3 Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề

đặt ra cần giải quyết trong phát triển làng nghề ở thành

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

LÀNG NGHỀ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI

3.1 Quan điểm chỉ đạo phát triển làng nghề ở thành phố Hà

3.2 Giải pháp cơ bản nhằm phát triển làng nghề ở thành

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng nghề Việt Nam là một kiểu làng điển hình, ra đời từ xa xưa và tồntại đến ngày nay Sản phẩm của các làng nghề vừa có giá trị kinh tế cao vừamang đậm nét bản sắc văn hóa và truyền thống của dân tộc, vừa là cầu nối củaquan hệ giữa dân tộc ta với các dân tộc trên thế giới

Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước cộng hòa XHCN Việt Nam, được

mở rộng năm 2008 (sát nhập Tỉnh Hà Tây, một huyện của Tỉnh Vĩnh Phúc vàmột số xã của Tỉnh Hòa Bình), có diện tích tự nhiên 3.348,5km2, dân số 6,45triệu người Trong đó, khu vực nông thôn Hà Nội có diện tích tự nhiên là2.841 km2, chiếm 84,9% và dân số là 4,07 triệu người chiếm 63,1% Đây làđịa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội củathành phố Trong những năm qua, cùng với chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn, các làng nghề ở TP Hà Nội đã dần được khôi phục,phát triển Sự phát triển của làng nghề đã góp phần quan trọng trong tạo việclàm, thu hút lao động dôi dư trong nông nghiệp vào các hoạt động sản xuất,dịch vụ làng nghề, nâng cao thu nhập cho người lao động, hạn chế sự di dântự do, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc

Tuy nhiên, kết quả phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐHnhững năm qua chưa tương xứng với vị thế và tiềm năng vốn có của TP HàNội Bên cạnh những làng nghề phát triển mạnh như: Lụa Vạn Phúc, sơn màiDuyên Thái, tiện gỗ Nhị Khê, thêu Quất Động, nón Chuông, khảm traiChuyên Mỹ, mây tre đan Phú Vinh, mộc Tràng Sơn, Sơn Đồng, gốm sứ BátTrang… thì còn không ít làng nghề đang đứng trước nhiều khó khăn Tìnhtrạng thiếu vốn cho sản xuất, công nghệ lạc hậu, trình độ tổ chức quản lý kém,môi trường sinh thái ô nhiễm… còn diễn ra ở nhiều làng nghề Hầu hết cáclàng nghề còn chưa có những giải pháp mang tính chiến lược trong xây dựng

và phát triển thương hiệu cho sản phẩm của mình, do đó sức cạnh tranh tranhtrên thị trường trong nước và nước ngoài kém

Trang 6

Với mong muốn phát triển làng nghề tương xứng với tiềm năng củaThủ đô Hà Nội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH, HĐH tác giả chọn:

“Phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị của mình

2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trong chiếc nôi của nền văn minh lúa nước, các ngành nghề thủ công ởViệt Nam dường như không tách rời khỏi nông nghiệp mà luôn đan xen, songhành với nghề nông, làng nghề là một phần không thể thiếu của làng xã nôngnghiệp cổ truyền Làng nghề và phát triển làng nghề ở Việt Nam đã thu hút rộngrãi sự quan tâm của nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu thuộc các lĩnhvực khác nhau, dưới các hình thức như: đề tài khoa học các cấp, sách chuyênkhảo, các bài báo trên các tạp chí, dưới đây là một số công trình tiêu biểu:

* Các sách tham khảo và chuyên khảo viết về sự phát triển của làng nghề

“Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam” (6 tập) do

PGS.TS Trương Minh Hằng (chủ biên) Nxb Khoa học xã hội, Viên nghiêncứu văn hóa H 2013 Xuyên suốt trong (6 tập) công trình đã làm rõ tiến trìnhhình thành và phát triển của các nghề thủ công ở Việt Nam Cuốn sách khẳngđịnh, làng nghề ở Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn năm nay, ngay từ trong xãhội nguyên thủy, tuy nhiên đến khi cơ cấu làng Việt ra đời và ổn định thì làngnghề mới trở thành một bộ phận cấu thành lịch sử kinh tế Việt Nam Cho đếnnay nghề và làng nghề thủ công đã trở thành một bộ phận không thể tách rờitrong di sản văn hóa dân tộc

“Báu vật làng nghề Việt Nam”Tổng thư ký Hiệp hội làng nghề Việt

Nam Lưu Duy Dần (chủ biên) Nxb lao động xã hội (sách song ngữ) H.2012.Cuốn sách là sự tổng hợp chân dung những cống hiến, đóng góp của các nghệnhân tiêu biểu cho sự phát triển làng nghề, đã được các tổ chức trong nước vàquốc tế vinh danh và Hiệp hội làng nghề Việt Nam phong tặng danh hiệu nghệnhân trong những năm qua Đây sẽ là cầu nối đưa hình ảnh các nghệ nhân

Trang 7

làng truyền thống, giới thiệu và quảng bá hình ảnh làng nghề Việt Nam đếnvới các bạn bè thế giới.

“Làng nghề thủ công Hà Nội” Tác giả Hà Nguyên Nxb Thông tin và

truyền thông (sách song ngữ) H.2010 Cuốn sách phân tích nghề và làng nghề

Hà Nội tồn tại và phát triển trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, để lại dấu ấnkhó quên trong tâm hồn mỗi người dân Việt Thăng Long – Hà Nội ngày naycàng bộc lộ một diện mạo phong phú, một tiềm năng không nhỏ, một truyềnthống nghề và phát triển nghề không thể để mai một với thời gian

“Phát triển các làng nghề của Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, kỷ yếu hội thảo khoa học:

Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thủ đô Nxb Đai họcKinh tế quốc dân H.2010 Tác giả đã đề cập đến những vấn đề chung về làngnghề, vai trò, tác động và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làngnghề Đồng thời, đi sâu phân tích thực trạng tình hình sảnh xuất kinh doanhcủa các làng nghề về lao động, vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm

và môi trường trong các làng nghề

“Phát triển hệ thống các làng nghề nhằm thúc đẩy CNH nông thôn Hà Nội” trong kỷ yếu hội thảo khoa học: Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của

thủ đô Nxb Đai học Kinh tế quốc dân H.2010 Công trình đã nghiên cứu vàlàm rõ những ngành nghề ở nông thôn, vai trò, những vấn đề đặt ra và xuhướng phát triển của các ngành nghề nông thôn ở Hà Nội Đặc biệt trong côngtrình này, tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp có tính khả thi cao nhằm thúc đẩysự phát triển của hệ thống các ngành nghề nông thôn ở TP Hà Nội hiện nay

“Ngành nghề nông thôn Việt Nam” Nxb Nông Nghiệp H.1998 “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, HĐH” của TS Dương

Bá Phượng Nxb KHXH, H.2001 Hai công trình này đã đề cập khá đầy đủcủa làng nghề: Từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thànhnghề đến những vấn đề chung về làng nghề, vai trò, tác động và những nhântố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề Đồng thời, đi sâu phân tích

Trang 8

thực trạng tình hình SXKD của các làng nghề về lao động, vốn, công nghệ, thịtrường tiêu thụ sản phẩm và môi trường trong các làng nghề Các quan điểm

và phương hướng bảo tồn, phát triển các làng nghề trong quá trình CNH,HĐH nông thôn mang tính khả thi cao và sát với thực tế

“Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” Bùi Văn Vượng,

Nxb.VHTT, được xuất bản lần đầu vào năm 1998 và được chỉnh lý và

bổ sung H.2002 Các nghề và làng nghề tiêu biểu của Việt Nam trongquá khứ cũng như hiện tại được tác giả mô tả theo nhiều khía cạnh: Lịchsử, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật, đặc biệt là các bíquyết, và thủ pháp nghệ thuật – kỹ thuật của các nghệ nhân “bàn tayvàng” Đồng thời, cũng thể hiện sự trăn trở về nghề thủ công Việt Namđang đứng trước sự thăng trầm của lịch sử

“Làng nghề Việt Nam và môi trường” do PGS, TS Đặng Kim Chi chủ

biên Nxb KH&KT H.2005 Dây là một công trình nghiên cứu tổng quát nhấtthực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay, nêu rõ các tồn tại ảnhhưởng tới phát triển kinh tế, sức khỏe và bảo vệ môi trường của làng nghề Trên

cơ sở đánh giá thực trạng đề tài đã dự báo xu hướng phát triển và mức độ ônhiễm môi trường do hoạt động của các làng nghề đến năm 2010, đồng thời đềxuất một số giải pháp bảo đảm phát triển và cải thiện môi trường cho làng nghề

* Đề tài, luận án, luận văn nghiên cứu về tình hình phát triển làng nghề

“Bảo tồn và phát triển các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa” Đề tài cấp bộ của Viện Kinh tế học, Trung tâm khoa

học và xã hội nhân văn quốc gia năm 1999 Công trình đã nghiên cứu thực trạng

và đề xuất giải pháp khả thi sát với thực trạng làng nghề hiện nay để bảo tồn cácgiá trị làng nghề, khôi phục và phát triển làng nghề

- “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng”, Đề tài khoa học cấp Bộ của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật

Việt Nam, do GS,TS Nguyễn Trí Dĩnh làm chủ nhiệm H.2005 Đề tài đã tậptrung làm rõ những lý luận cơ bản về làng nghề như: khái niệm, tiêu chí, vai trò

Trang 9

và những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề Trên cơ sở đánh giáthực trạng phát triển các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng từ năm 1986 đếnnay, công trình đã đề xuất hệ quan điểm và các giải pháp chủ yếu phát triển kinh

tế nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của các làng nghề ở một số tỉnh đồngbằng sông Hồng trong thời gian tới

“Xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh, do TS Nguyễn Vĩnh Thanh làm chủ nhiệm H.2006 Đềtài đã tập trung luận giải vai trò của thương hiệu đối với việc phát triển sảnphẩm làng nghề truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng trong nền kinh tếthị trường hội nhập hiện nay Tác giả đã đánh giá thực trạng, từ đó đề xuấtphương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng thương hiệusản phẩm của làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới

- “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Viêt Nam” Đề

tài cấp Nhà nước do PGS.TS Đặng Kim Chi làm chủ nhiệm H.2003 Đề tàinghiên cứu một cách chuyên sâu về môi trường làng nghề nói chung và nhữngđịnh hướng cho việc xây dựng các chính sách, biện pháp đảm bảo phát triển làngnghề bền vững, đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại hìnhlàng nghề của Việt Nam

“Về các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở đồng bằng sông Hồng”, Đề tài khoa học cấp Bộ, của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh năm 1998 do TS Đặng Lê Nghị làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung phân tíchlàm rõ đặc điểm, tính chất, vai trò lịch sử của Tiểu thủ công nghiệp và đánh giá mộtcách khách quan thực trạng thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Từ nhữngvấn đề đặt ra với thủ công nghiệp, đề tài đã đưa ra 9 giải pháp cơ bản để phát triển thủcông nghiệp đồng bằng sông Hồng thời gian tới

“Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Việt Nam” Đề tài nghiên cứu khoa

Trang 10

học do cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Bộ nông nghiệp pháttriển nông thôn Việt Nam chủ trì năm 2003.

“Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH”, Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Minh Yến, Hà Nội 2003.

Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về làng nghề truyềnthống ở nông thôn theo những quan điểm của khoa học kinh tế chính trị Mác-Lênin, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và làm rõ vai trò làngnghề truyền thống ở nông thôn Khái quát xu hướng vận động của làng nghềtruyền thống dưới tác động của quá trình CNH, HĐH nhằm xây dựng nhữngquan điểm và đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển làng nghề truyềnthống ở nông thôn trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế

Ngoài ra còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, các bài thamluận tại các hội thảo quốc tế và trong nước, đề cập đến sự phát triển của các làngnghề, làng nghề truyền thống với nhiều nội dung khác nhau Tiêu biểu như:

- “Doanh nghiệp làng nghề với quá trình hội nhập, cơ hội, thách thức và giải pháp”, kết quả hội thảo tổ chức bởi Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình

Dương – VAPEC (2007) Hội thảo đi sâu nghiên cứu đánh giá tổng quát các doanhnghiệp làng nghề hiện nay Việt Nam cần có một chiến lược lâu dài, đầu tư dàihạn, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa các ban ngành, giữa các cơ chế chính sách

và giữa các bộ phận với nhau, như: nhà sản xuất, nhà doanh nghiệp và nhà phânphối sản phẩm nhằm tạo điều kiện thật thuận lợi cho sản phẩm làng nghề cóđược chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.

“Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống ở một số nước Châu Á”,

Trần Minh Huân – Phạm Thanh Tùng, tạp chí công nghiệp, kỳ 1 năm 2007 Bàibáo nêu lên một số kinh nghiệm trong phát triển làng nghề truyền thống ở mộtsố nước Châu Á (Nhật bản, Hàn Quốc, Thái Lan) Trong đó đã đề cập đến những

ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sởphát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khuvực này Đồng thời khẳng định phát triển làng nghề có ý nghĩa vô cùng quan

Trang 11

trọng đối với sự nghiệp CNH,HĐH nông nghiệp – nông thôn, tạo nền tảng thúc

đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước

“Phát huy những lợi thế truyền thống trong xây dựng thương hiệu làng nghề ở đồng bằng sông Hồng”, Vũ Trường Giang, Tạp chí Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, số 15/2006 Bài báo đề xuất giải pháp để xây dựngthương hiệu cho làng nghề Theo các chuyên gia, ngoài sự chủ động, và tự ýthức của các làng nghề Nhà nước cũng cần hỗ trợ cho các làng nghề khắc phụctình trạng sản xuất nhỏ lẻ và tạo tư cách pháp nhân cho các hộ sản xuất, cácdoanh nghiệp mở rộng giao thương hàng hóa Bên cạnh đó, cần đa dạng mẫu

mã, đào tạo thợ giỏi để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thịtrường Cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tham gia triển lãm, hội chợ xâydựng thương hiệu Việc xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyềnthống rất cần sự quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn Cónhư vậy mới nâng cao được giá trị xuất khẩu

“Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các làng nghề trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Vũ Thị Thoa, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển

nông thôn – kỳ 2, tháng 1/2005 Bài báo tập trung phân tích vai trò của cáclàng nghề Phân tích giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các làng nghề;giải pháp nghiên cứu thị trường để xác định cơ cấu sản phẩm; giải pháp quyhoạch và chiến lược phát triển làng nghề ở từng địa phương; tập trung vàogiải pháp hoàn thiện các chính sách thúc đẩy sự phát triển làng nghề

“Làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững”, Chu Thái Thành, Tạp chí Cộng sản số 11/2009 Bài báo đã đưa

ra số liệu dẫn chứng các chỉ số mức độ ô nhiễm và bức xúc môi trườngtrong làng nghề Đồng thời đề xuất nhiều giải pháp giải quyết hậu quả ônhiễm môi trường, đáng chú ý như: Chú trọng phát triển bền vững cáclàng nghề; quy hoạch không gian các làng nghề; tổ chức thí điểm triểnkhai áp dụng sản xuất sạch tại các làng nghề

Trang 12

Nhìn chung, các công trình, đề tài luận án trên đã đề cập đến các vến đề:Khái niệm làng nghề, những đặc trưng cơ bản của làng nghề, làng nghề truyềnthống, làng nghề mới; xu hướng vận động của làng nghề trong quá trìnhCNH,HĐH; sự phát triển làng nghề trong CNH, HĐH trên địa bàn cả nước và ở mộtsố địa phương trong xu thế hội nhập; đã đề cập đến những thành tựu, khó khăn,hạn chế trong phát triển làng nghề ở các địa phương cụ thể

Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống

cơ sở lý luận, thực tiễn, giải pháp phát triển làng nghề ở TP Hà Nội dưới góc

độ khoa học kinh tế chính trị Vì thế đề tài mà học viên lựa chọn là một côngtrình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã được công bố

và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển làng nghề

* Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố

Hà Nội, cụ thể là các quận, huyện có nhiều làng nghề, như: Hà Đông, ThườngTín, Phú Xuyên, Chương Mỹ, Đông Anh…

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến nay (giai đoạn sát nhập Hà Tâyvới Hà Nội đến nay)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển làng nghề; qua đó

đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát làng nghề trên địa bànthủ đô Hà Nội trong thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải cơ sở lý luận về phát triển làng nghề

- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội, chỉ ra thànhtựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới

Trang 13

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở thủ đô

Hà Nội trong thời gian tới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin; Quan điểm đường lốicủa Đảng cộng sản Việt Nam, các văn kiện của Thành ủy, Ủy ban nhân dânThành phố Hà Nội, các sở, ban ngành về các vấn đề liên quan đến đề tài

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của kinh tếchính trị như: trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích,tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của luận văn làm rõ hơn cơ sở khoa học về sự

phát triển làng nghề ở thủ đô Hà Nội; cung cấp luận cứ khoa học cho các nhàquản lý nghiên cứu tham khảo đề ra chủ trương, chính sách phát triển làngnghề ở thủ đô Hà Nội thời gian tới

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy môn kinh tếchính trị, kinh tế phát triển, kinh tế du lịch trong các trường đại học, học viện

7 Kết cấu của đề tài

Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Quan niệm về làng nghề và phát triển làng nghề

1.1.1 Quan niệm về làng nghề

Hiện có nhiều quan niệm khác nhau đề cập đến làng nghề, tiêu biểu là:

Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng: Làng nghề là làng vẫn có trồngtrọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi (gà, lợn…) cũng có một số nghề phụ khác(đan lát, làm tương, làm đậu phụ…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinhxảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, cóphường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả…cùng một số thợ và phónhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ưnghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu được bằng nghề đó vàsản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ,trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường tiếntới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả thị trường nước ngoài.Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ trăm ngànnăm) “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tụcngữ…trở thành di sản văn hóa dân gian” [9, tr.37- 39]

Quan niệm này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó là những làngnghề nổi tiếng từ lâu đời, nhưng lại không thích hợp đối với làng nghề nóichung và làng nghề mới hoạt động

Theo Tác giả Mai Thế Hởn, thì: “Làng nghề là một cụm dân cư sinhsống trong một thôn (làng) có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏinông nghiệp để sản xuất độc lập, thu nhập từ các tay nghề đó chiếm tỷ trọngcao trong tổng giá trị sản phẩm của làng” [20, tr.8]

Trang 15

Theo TS Dương Bá Phượng thì: “Làng nghề là làng ở nông thôn cómột (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độclập” [30, tr.13] Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cấu thành của làngnghề là làng và nghề.

Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn thựchiện một số nội dung Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ “Về pháttriển làng nghề nông thôn” quy định như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiềucụm dân cư thôn ấp, bản làng, buôn, phun sóc, hoặc các điểm dân cư tương tựtrên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất

ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [5], có ngành nghề phi nôngnghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhậpquan trọng của người dân trong làng Về mặt định lượng, làng nghề là làng có

từ 35- 40% số hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề ( thu nhập từ làngnghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ) đồng thời giá trị sản lượngcủa ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương Hoạtđộng sản xuất của các làng đạt tiêu chí trên phải ổn định trong một thời gianliên tục nhất định, ít nhất là 5 năm

Từ các quan niệm trên cho thấy khái niệm về làng nghề được cấu thành

bởi hai yếu tố làng và nghề Làng là khu vực địa lý, không gian lãnh thổ nhất

định mà tại đó tồn tại những tập hợp cư dân cùng sinh sống, sản xuất và giữa

họ có mối quan hệ khăng khít với nhau Nước ta vốn là một nước nôngnghiệp, một điển hình của nền văn minh lúa nước với nghề trồng lúa, trồngmàu, trồng rau quả và chăn nuôi Sự hình thành và phát triển nông nghiệp gắnliền với xã hội nông thôn và làng quê Việt Nam Làng ở Việt Nam có lịch sửlâu đời, xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước Do đặc điểm kinh tế lúc đónên sự hình thành làng ở nước ta không phải do sự phân hoá của các thị tộc,

bộ lạc hay sự tập hợp dân cư dưới sự bảo hộ của những thủ lĩnh quân sự như

ở một số nơi khác mà hình thành trên cơ sở công xã nông thôn Nghề là khái

niệm chỉ các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp diễn ra tại khu

Trang 16

vực nông thôn mà lao động trong các nghề này thường được tách ra từ nôngnghiệp với mục tiêu tăng thu nhập Khi nói đến một làng nghề, ta không chỉchú ý đến các mặt đơn lẻ mà phải chú ý đến nhiều mặt, trong cả không gian

và thời gian, nghĩa là phải quan tâm tới tính hệ thống, toàn diện của làng nghề

đó Trong đó, yếu tố quyết định là sản phẩm và kỹ thuật sản xuất Làng nghề

là một trung tâm sản xuất hàng hoá, nơi quy tụ nhiều nghệ nhân, thợ giỏi vànhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính chất truyền thống lâu đời, có sựliên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệthống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn cónhững ước chế gia tộc và xã hội (đối với một số làng nghề truyền thống) Sảnphẩm của làng nghề làm ra chẳng những có tính thiết dụng mà hơn thế một sốsản phẩm còn là loại hàng hoá tinh xảo, nghệ thuật, mang nhiều giá trị vănhoá và tinh thần Vai trò, tác động của làng nghề đối với đời sống kinh tế, vănhoá, xã hội là rất quan trọng, đặc biệt đối với khu vực nông thôn Song, khôngphải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi làng đó là làng nghề Quanniệm về làng nghề phải thể hiện được cả mặt định tính và định lượng Xét vềmặt định tính, làng nghề phải thể hiện được sự khác biệt so với làng thuầnnông hoặc so với phố nghề ở thành thị Xét về mặt định lượng, làng nghề phảiđạt đến quy mô nhất định và có tính ổn định tương đối cao Vì có điểm xuấtphát là làng gắn với nông nghiệp nên quy mô làm nghề của làng phải phát triểnđến mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề Việc xác định sự phát triển củalàng nghề vừa phải đặt nó trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từhoạt động kinh tế của nghề, vừa phải xem xét bản thân hoạt động nghề củalàng Từ cách tiếp cận trên đây, tác giả đưa ra quan niệm của mình về làng

nghề như sau: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (ấp, làng) có một hay một số nghề được tách khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập, thu nhập từ làm nghề chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản phẩm của làng.

1.1.2 Quan niệm về phát triển làng nghề

Trang 17

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin thì: Phát triển, là quá trìnhvận động, biến đổi theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Phát triển chịu sự tác động củacác nhân tố bên trong và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong giữ vị trí quyếtđịnh, nhân tố bên ngoài giữ vai trò quan trọng Động lực của sự phát triển làgiải quyết các mâu thuẩn bên trong của sự vật hiện tượng

Trong lịch sử, làng nghề được hình thành và phát triển cùng với sự pháttriển của kinh tế, dựa trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và phâncông lao động xã hội Làng nghề được phát triển tự phát là chủ yếu, do sự lantỏa của các nghề truyền thống từ trong một gia đình, dòng họ ra dân cư tronglàng, dưới tác động của các điều kinh tế, xã hội nhất định Phát triển làngnghề hiện nay được tiến hành trong điều kiện cách mạng KHCN phát triểnhiện đại; nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH; tiến hành trong nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Đặcđiểm này vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi song cũng đặt ra không ítnhững khó khăn, thách thức cho phát triển làng nghề

Trên cơ sở quan niệm về làng nghề và quan niệm về phát triển nóichung, tác giả đưa ra quan niệm của mình về phát triển làng nghề như sau:

Phát triển làng nghề là tổng thể các giải pháp mà cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước nhằm làm gia tăng số lượng, quy mô, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các làng nghề phù hợp với mục tiêu, bước đi và nội dung của CNH, HĐH.

Chủ thể của quá trình phát triển làng nghề là Đảng bộ, chính quyền vànhân dân các làng nghề Trong đó, Đảng bộ Thành phố, Đảng bộ các huyện,quận, xã có làng nghề đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra đường lối, chủtrương để định hướng quá trình phát triển làng nghề Chính quyền các cấp xác

Trang 18

định chiến lược, lập quy hoạch, kế hoạch, triển khai thực hiện nhằm khôiphục các làng nghề truyền thống bị mai một, mở rộng quy mô các làng nghề

đã có, phát triển các làng nghề mới Nhân dân các làng nghề là chủ thể chính,quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các làng nghề Thực tế đã chứngminh, ở nhiều nơi, mặc dù Đảng bộ, chính quyền có những chủ trương, chínhsách đúng đắn nhằm thúc đẩy làng nghề phát triển, nhưng nhân dân khôngđồng tình ủng hộ, hoặc kém năng động thì làng nghề ở đó cũng không thểphát triển được

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hội nhậpkinh tế, để có chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển làng nghề đúng đắn,đòi hỏi các chủ thể phải có sự nhận thực và vận dụng đúng đắn các quy luậtkinh tế, xã hội khách quan Đặc biệt là quy luật của kinh tế hàng hóa, kinh tếthị trường như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giácả… Thực tế cho thấy, việc nhận thức và vận dụng các quy luật KT-XH kháchquan đến mức độ nào là tùy thuộc vào năng lực nhận thức và hành động củacấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương các làng nghề Chỉ trên cơ

sở nhận thức đúng các quy luật KT-XH khách quan, chủ thể mới có các chủtrương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế làng nghề đúng đắn, huyđộng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm làm gia tăng số lượng,quy mô, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các làng nghề Điềuđáng chú ý là quá trình phát triển kinh tế làng nghề hiện nay đặt trong bốicảnh và chịu sự tác động sâu sắc của CNH, HĐH đất nước, nên trong quanniệm cũng như nội dung phát triển làng nghề cần quán triệt tốt mục tiêu,bước đi và nội dung của CNH, HĐH cho phù hợp với tiến trình phát triểnKT-XH của từng địa phương

Phát triển nghề và làng nghề theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp vớinhu cầu và các nguyên tắc thị trường, trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗivùng, mỗi địa phương là một vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết địnhtới tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh và tính bền vững của sản xuất trong

Trang 19

làng nghề Với tinh thần đó, mỗi làng nghề, mỗi địa phương nên tập trungphát triển những ngành nghề, những sản phẩm mà mình có thế mạnh

Trong điều kiện cách mạng khoa học phát triển mạnh mẽ như ngày nay thìviệc phát triển làng nghề truyền thống không chỉ dựa vào công nghệ truyềnthống mà còn phải ứng dụng KHCN hiện đại Hiện đại hoá làng nghề truyềnthống, từng bước đổi mới trang thiết bị, lựa chọn, ứng dụng rộng rãi công nghệ

kĩ thuật tiến bộ, phù hợp với quy trình sản xuất Việc ứng dụng công nghệ hiệnđại phải đảm bảo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ với công nghệ truyền thống, đểvừa đảm bảo nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, vừa đảmbảo tính chất truyền thống và giá trị của các loại sản phẩm đặc thù Cùng vớinhững mục tiêu kinh tế, văn hoá, xã hội, việc đảm bảo môi trường phải đượccoi là mục tiêu quan trọng của phát triển làng nghề Nói cách khác, quá trìnhphát triển nghề và làng nghề không thể tách rời vấn đề môi trường, mà phải đặt

nó trong sự phát triển tổng thể, coi đó là một yếu tố quan trọng của sự pháttriển bền vững đối với nông thôn nói chung và làng nghề nói riêng

Phát triển nghề và làng nghề phải gắn với chủ động hội nhập kinh tếquốc tế và đẩy mạnh xuất khẩu Đồng thời, việc kết hợp giữa nhà nước vànhân dân là phương thức tốt nhất để phát huy tốt các nguồn lực, tạo nhữngđộng lực mạnh mẽ cho sự phát triển hiệu quả và bền vững của làng nghề trênđịa bàn thủ đô

1.1.3 Nội dung phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội

Từ những nội dung phát triển làng nghề, CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn, căn cứ vào đặc điểm các làng nghề ở TP Hà Nội và từng địaphương hiện nay, nội dung phát triển làng nghề trong giai đoạn CNH, HĐH ở

TP Hà Nội được xác định cụ thể như sau:

Một là, phát triển làng nghề về số lượng, quy mô

Phát triển làng nghề về số lượng được biểu hiện ở số lượng các làng nghềtăng, quy mô các làng nghề mở rộng, số lượng các nghề trong làng nghề tăng,sản phẩm tăng Phát triển làng nghề mới, song song với khôi phục, bảo tồn

Trang 20

phát triển nghành nghề truyền thống Bảo tồn các giá trị truyền thống của làngnghề, sử dụng các nguyên liệu tự nhiên, tìm kiếm vật liệu thay thế khôi phụccác kỹ thuật đang có nguy cơ thất truyền Cùng với việc khôi phục các làngnghề truyền thống cần nghiên cứu nghề ở các làng nghề ở các địa bàn khácnhau, trao đổi kinh nghiệm để nhân cấy các nghề mới phù hợp với điều kiệntự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng làng nghề Đồng thời mở rộng quy

mô các nghề đã có sẵn trong các làng nghề của từng địa phương trong thànhphố Tức là, mở rộng quy mô các làng nghề đã có và mở thêm nhiều nghềmới Ưu tiên phát triển ngành nghề chăn nuôi, chế biến nông sản thực phẩm,bảo quản chế biến rau quả, các vùng chuyên canh với quy mô ngày càng lớn

để có nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đưa ra thị trường trongnước và thế giới

Hai là, phát triển làng nghề về chất lượng

Đây là nội dung rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở cáclàng nghề nhằm tạo ra năng suất, chất lượng của sản phẩm, đồng thời pháthuy tối đa thế mạnh của từng ngành nghề, từng mặt hàng sản xuất tạo ra ưuthế sức cạnh tranh cao trong nền kinh tế hàng hóa hiện nay Nội dung pháttriển làng nghề về chất lượng được biểu hiện trên một số nét sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa Trong điều kiện cạnh

tranh trên quy mô toàn cầu hiện nay, để tồn tại và phát triển, các làng nghềphải sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu các đối tượng tiêudùng của mình Các yếu tố hàng đầu tác động đến quyết định của kháchhàng trong việc mua một sản phẩm hay dịch vụ chính là chất lượng sảnphẩm Bất kỳ đối tượng khách hàng nào, chất lượng đều là mối quan tâmhàng đầu ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của họ

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, lực lượng lao động có tay

nghề trình độ cao ở khu vực nông thôn Mở rộng các hình thức đào tạo, truyềnnghề, theo phương thức truyền nghề tại chỗ và đào tạo tập trung Kết hợp giữa

Trang 21

doanh nghiệp, hộ gia đình với các trường, các trung tâm, các cơ sở đào tạonghề cho người lao động Tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người laođộng ở làng nghề Hình thành đội ngũ doanh nhân có trình độ quản lý, trình độ

tổ chức kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, tạo mẫu mã sản phẩm tại các làng nghề

Thứ ba, Duy trì và phát triển các sản phẩm độc đáo, có giá trị kinh tế cao,

có thị trường tiềm năng, gắn với khôi phục nét văn hoá truyền thống của làngnghề, Thường xuyên đổi mới mẫu mã sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếukhách hàng trong và ngoài nước Đặc biệt chú trọng xuất khẩu các mặt hàng thủcông mỹ nghệ truyền thống có giá trị kinh tế cao, kết hợp phát triển làng nghềtruyền thống với phát triển du lịch làng nghề Duy trì và phát triển các phố nghềtruyền thống khu vực nội thành, các nghề và làng nghề có nhiều tiềm năngphát triển du lịch, có cảnh quan và vị trí thích hợp, liên kết với các tuyến dulịch theo quy hoạch của cả nước và của TP Hà Nội để xây dựng và phát triểncác vùng du lịch, văn hoá và sinh thái kết hợp với làng nghề Xây dựng các kếhoạch triển khai cụ thể, hạn chế tối thiểu tình trạng phát triển sản xuất gây ônhiễm môi trường Phát triển, mở rộng sản xuất các làng nghề phải đảm bảocân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường, bảo đảm chất lượng sống khu vựcdân cư tại địa phương có làng nghề Nâng cao ý thức của người dân về bảo vệmôi trường trong quá trình phát triển sản xuất

Thứ tư, nâng cao khả năng ứng dụng KHCN vào quá trình sản xuất Đầu

tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại trong từng công đoạn nhưng vẫnđản bảo sự tinh xảo, độc đáo của nghề truyền thống Nghiên cứu, sử dụng côngnghệ hiện đại thay thế công nghệ cũ để tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớtchi phí mức độ nặng nhọc cho người lao động, giảm thiểu ô nhiễm, gia tănghàm lượng chất xám trong sản phẩm Nâng cao hiệu quản sử dụng tư liệu sảnxuất, giảm bớt sự phụ thuộc vào tự nhiên trong quá trình sản xuất

Thứ năm, thực hiện đa dạng hóa các loại hình SXKD Trong nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN, mở cửa hội nhập quốc tế thì kinh tế tư nhân và kinh

tế hộ cá thể có xu hướng phát triển ngày càng tăng Các công ty tư nhân ra đời đã

Trang 22

từng bước thay thế các doanh nghiệp nhà nước hoặc tập thể trong phát triển sảnxuất cũng như tiêu thụ sản phẩm Sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế trongcác làng nghề sẽ tạo ra sự liên kết chặt chẽ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong pháttriển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và giải quyết công ăn việc làm cho người laođộng Do vậy, nội dung phát triển làng nghề trong thời gian tới cần đa dạng hóacác thành phần kinh tế, các loại hình kinh doanh Bên cạnh việc khuyến khíchkinh tế tư nhân phát triển cần có giải pháp đồng bộ phát triển các doanh nghiệpnhà nước, hợp tác xã làng nghề nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hiện đại phù hợpvới quá trình CNH, HĐH.

Ba là, phát triển làng nghề về cơ cấu

Tập trung các nguồn lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triểnnhanh các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa họccông nghệ cao, giá trị gia tăng cao Chú trọng sản xuất những sản phẩm tinhxảo, độc đáo, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuấtkhẩu ra nước ngoài Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thể hiện

Thứ nhất, phát triển cơ cấu theo vùng, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng

vùng, từng địa phương và có sự liên kết giữa các vùng trong chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng đảm bảo tăng trưởng bền vững, hiệu quả

Thứ hai, phát triển cơ cấu theo ngành, từng bước nâng cao hiệu quả của

ngành công nghiệp chế biến, sản xuất điện nước, khí đốt, môi trường cần cósự rà soát để sử dụng tài nguyên có hiệu quả yêu cầu chung là phải bảo đảmcông nghệ cao, ít ô nhiễm môi trường.Tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng kếtcấu, trong đó chú trọng đến mạng lưới giao thông, hệ thống cấp, thoát nước

và xử lý chất thải, nước thải ở các đô thị và các khu công nghiệp Đầu tư hoànchỉnh và khai thác có hiệu quả các khu công nghiệp của thành phố, đồng thờiphát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng.Đẩy nhanh việc khôi phục và phát triển một số làng nghề truyền thống, làngnghề mới gắn với việc du nhập, nhân rộng làng nghề phù hợp với điều kiệncủa từng địa phương

Trang 23

Thứ ba, phát triển cơ cấu theo thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới,

điều chỉnh, bổ sung cơ chế quản lý đối với các làng nghề phù hợp với thểchế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, tạo môi trường và điều kiện thúcđẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, thu hút các doanh nghiệp quy

mô lớn có vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế đầu

tư vào địa phương

Thứ tư, phát triển về cơ cấu lao động, giảm tỷ trọng lao động ngành

nông, lâm, thủy sản trong tổng lao động tại các làng nghề.Tăng tỷ trọng laođộng ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng Thực hiện các biện pháp đểnâng cao trình độ lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, hạ dần tỷ trọngngành nông nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở các làng nghề.Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sangphát triển theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng, hiệu quả cao và bền vững

1.2 Vai trò của phát triển làng nghề ở thành phố Hà Nội

Phát triển làng nghề trên địa bàn TP Hà Nội có vai trò vô cùng to lớn đốivới tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh Dưới đây

là những vai trò cụ thể:

Thứ nhất, phát triển làng nghề tạo khả năng giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.

Cơ sở sản xuất làng nghề từ các hộ gia đình đến các thành phần kinh tế

trong làng nghề phát triển đã thu hút một số lượng lao động lớn, hạn chế tìnhtrạng lao động nông thôn di cư ra thành thị tìm việc làm Ngành nghề đã thuhút từ 30-70% số hộ và từ 50-90% số lao động tham gia sản xuất nghề vớitrên 300.000 lao động thường xuyên Ngoài ra còn thu hút hàng nghìn laođộng nơi khác đến làm như làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng dệt Vạn Phúc,khảm trai xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên),…Sự phát triển của các làng nghề cònmang lại một nguồn thu nhập tương đối ổn định cho những hộ làm nghề Thunhập bình quân của lao động nghề phi nông nghiệp cao hơn khoảng 3-4 lầnthu nhập của lao động nông nghiệp; thu nhập của lao động ở đô thị cao hơn

Trang 24

khoảng 3,7 lần so với lao động ở nông thôn [13, tr.33-39] Từ đó ta thấy rằngphát triển làng nghề sẽ tạo điều kiện để giảm dần khoảng cách chênh lệch thunhập giữa thành thị và nông thôn Ở những nơi có làng nghề phát triển thì tỉ lệ

hộ khá và giàu thường cao hơn, tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn hẳn so với nhữngvùng thuần tuý sản xuất nông nghiệp Mặt khác, phát triển làng nghề sẽ kéotheo sự phát triển của các ngành dịch vụ liên quan như vận tải, kinh doanhhàng hóa, phục vụ ăn uống…Tại các làng nghề, tỉ lệ lao động trong côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm từ 75% đến 85% trong tổng sốlao động, lao động thuần nông chỉ còn từ 15-25% Ngoài ra các làng nghề còngóp phần giả quyết việc làm cho các lao động dôi dư trong quá trình đô thịhóa, từ đó góp phân công lại lực lượng lao động [34, tr.40]

Phát triển làng nghề còn có ý nghĩa khác là góp phân tạo ra bình đẳng chophụ nữ Phụ nữ nước ta chiếm 49% lực lượng lao động, nhưng chỉ có 26% là

có công việc chính trong lĩnh vực làm công ăn lương (ở nam giới là 41%).Phát triển ngành nghề nông thôn đã thu hút được số lượng lớn phụ nữ với thunhập ổn định, góp phân nâng cao vị thế của phụ nữ [34, tr.62]

Như vậy có thể thấy rõ ràng rằng phát triển các làng nghề đã góp phầngiải quyết việc làm, tăng thu nhập, hạn chế tệ nạn xã hội, góp phần giữ gìntrật tự nông thôn ngay trên địa bàn TP Hà Nội

Thứ hai, phát triển làng nghề sẽ góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực.

Hiện nay phát triển làng nghề đã đóng góp vai trò quan trọng trongviệc phát triển KT-XH ở địa phương Phát triển thủ công nghiệp và côngnghiệp chế biến và dịch vụ đã tạo việc làm cho người lao động tăng hiệu quảkinh tế nông thôn, nâng cao đời sống dân cư Từ đó thu hút lao động chuyểnsang làm các ngành nghề của làng nghề hoặc làm các nghề có liên quan khácnhư thương mại, dịch vụ, vận tải… Khi đó cơ cấu lao động nông thôn sẽ có sựthay đổi, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm, tỷ trọng lao động trong

Trang 25

các ngành nghề nông thôn tăng Góp phần phân công lại lao động một cáchhợp lý theo hướng CNH, HĐH Sự phát triển các làng nghề còn góp phần pháthế thuần nông, tạo đà cho công nghiệp và thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn phát triển.

Sức mạnh của cơ cấu thị trường tác động mạnh mẽ làm biến đổi cơ cấukinh tế ngày càng đa dạng và năng động Những bước thay đổi cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH, HĐH sẽ đáp ứng yêu cầu một nền sản xuất nông nghiệp sảnxuất hàng hóa gắn liền với sự nghiệp CNH,HĐH Các làng nghề sẽ là cầu nốigiữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phi tập trung, làm tiền đề xâydựng công nghiệp lớn hiện đại, là trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông,nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn hiện đại và đô thị hóa Làng nghề còn làđiểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự kết hợp nông -công nghiệp - dịch vụ có hiệu quả Sự phát triển của các làng nghề là mộttrong những hướng đi quan trọng để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH

Thứ ba, phát triển làng nghề góp phần huy động và sử dụng một cách hiệu quả vốn nhàn rỗi trong dân.

Nguồn vốn trong dân cư được hiểu là toàn bộ những nguồn tài chínhnhàn rỗi, được dành dụm trong dân cư và được biểu hiện thông qua các hìnhthức như tiền mặt để giành tại nhà, gửi tiết kiệm, vàng bạc… Số lượng vốnnhàn dỗi trong dân tương đối lớn tồn tại dưới nhiều hình thức, nhưng chủ yếudùng để tích trữ và dự phòng Phát triển làng nghề là một biện pháp hữu hiệunhằm huy động tốt nguồn vốn này vào sản xuất Việc khai thác những nguồnvốn này sẽ tránh được tinh trạng lãng phí một nguồn lực được coi là khanhiếm bậc nhất của nền kinh tế Thực tế, ở các làng nghề hầu hết các đơn vịsản xuất đều có nhu cầu vay thêm vốn để mở rộng sản xuất Đối với các cơ sởlàm nghề (thường là các hộ gia đình) đầu tư cho sản xuất không đòi hỏi lượngvốn quá cao so với các hình thức doanh nghiệp khác Đối với người dân, khinguồn vốn của họ bỏ ra đầu tư phát triển sẽ mang lại cho họ nhiều lợi ích như

Trang 26

số gốc được bảo toàn, được hưởng lãi trong kết quả hoạt động sản SXKD, tạo

ra sự tăng trưởng của nền kinh tế địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến mứcsống của họ Điều đó cho thấy, làng nghề phát triển tạo điều kiện thu hút vốntrong dân, phát huy thế mạnh của kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình Ngoài ra,phát triển làng nghề còn có ưu điểm là với quy mô sản xuất không lớn, sảnxuất tiến hành ngay trên địa bàn cư trú của chủ cơ sở sản xuất Do vậy, tiếtkiệm được khoản đầu tư cho việc xây dựng nhà xưởng, kho tàng lưu chứahàng hóa Trên thực tế ở các làng nghề khoản tiết kiệm này lên tới 30 – 40%vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Thứ tư, phát triển làng nghề sẽ thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn.

Từ những nguồn vốn huy động được của nhân dân, doanh nghiệp tại cácđịa phương làng nghề trong thời gian qua, đã đầu tư vào việc xây dựng, cải tạo,nâng cấp hệ thống đường liên huyện, liên xã, thôn Như vậy cho thấy hệ thốnggiao thông và kết cấu hạ tầng vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của phát triển làngnghề Đầu tiên làng nghề được hình thành ở những vùng có giao thông thuận lợi,đồng thời làng nghề phát triển sẽ làm nảy sinh nhu cầu xây dựng hệ thống kếtcấu hạ tầng Bên cạnh đó, phát triển làng nghề cùng với việc tăng thu nhập củangười dân đã tạo một nguồn tích lũy khá lớn và ổn định ngân sách địa phươngcũng như các hộ gia đình Vì vậy, càng có điều kiện thực hiện có hiệu quả pháttriển cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống thủy lợi, trạm biến thế điện,

hệ thống thông tin liên lạc và các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ sinh hoạt,nâng cao dân trí và sức khỏe của người dân như giáo dục, văn hóa, y tế, môitrường, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn

Thứ năm, phát triển làng nghề góp phần duy trì, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và phát triển du lịch.

Lịch sử phát triển của các làng nghề gắn với lịch sử phát triển văn hóadân tộc Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, thể hiện nhữngsắc thái riêng của mỗi làng nghề Bảo tồn và phát triển làng nghề chính là sự kế

Trang 27

thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùng những bí quyếtnghề quý giá, thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc ViệtNam nói chung và của TP Hà Nội nói riêng trong cộng đồng quốc tế Các sảnphẩm của các làng nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu vàphát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộc Việt Nam, vừamang nét đặc sắc riêng biệt vừa mang nét tương đồng với những sản phẩm củacác dân tộc khác trên thế giới Giá trị của các sản phẩm thủ công truyền thốngđược khách hàng trong và ngoài nước nhìn nhận chủ yếu từ góc độ văn hóa,nghệ thuật dân tộc sau đó mới đến vấn đề kỹ thuật và kinh tế Do vậy, đẩymạnh phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn sẽ làm tăng sức mạnh cộinguồn, gieo vào lòng mỗi người dân Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quý, trântrọng, giữ gìn di sản và bản sắc văn hóa Việt Nam

Trong xu thế hội nhập và mở cửa, sự phát triển của làng nghề đang dầnkhằng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của đấtnước Thực tế cho thấy việc phát triển du lịch làng nghề là con đường hữu hiệu

để xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn những giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc, đồng thời cũng là một phương thức giới thiệu sinhđộng về mỗi vùng, miền địa phương trên đất nước Du khách đến với Việt Namnói chung và Hà Nội nói riêng không chỉ được chiêm ngưỡng các danh thắng,

di tích lịch sử mà còn muốn tìm hiểu về con người Việt Nam qua các tiến trìnhlịch sử thì chỉ có làng nghề mới đáp ứng được nhu cầu đó Đến với làng nghề

du khách có thể tìm hiểu được phong tục tập quán, nề nếp sinh hoạt của conngười tại mỗi vùng trên quê hương Việt Nam, được tham gia các lễ hội truyềnthống tại các làng nghề, được thưởng thức ngắm nhìn cả một bảo tàng sốngđộng về các sản phẩm đặc sắc, phong phú và đa dạng của các làng nghề đãđược hình thành và tồn tại hàng ngàn năm lịch sử, đây cũng là một lợi thế rấtlớn cho việc khai thác được giá trị của các sản phẩm làng nghề Như vậy, có thểnói việc phát triển làng nghề thu hút khách du lịch, góp phần không nhỏ trong

Trang 28

phát triển du lịch, phát triển văn hóa cộng đồng dân cư, và ngược lại du lịchlàng nghề phát triển sẽ phát triển được làng nghề, góp phần mở rộng thị trườngsản phẩm và tăng thu nhập cho làng nghề tại địa phương.

Thứ sáu, phát triển làng nghề góp phần củng cố tăng cường quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Phát triển làng nghề góp phần củng cố, tăng cường quốc phòng, anninh, điều đó được thể hiện trên các nội dung sau:

Một là, phát triển làng nghề sẽ tạo công ăn việc làm, hạn chế các tệ nạn

xã hội

Làng nghề phát triển sẽ tạo điều kiện thu hút lao động, giải quyết việclàm, tạo thu nhập cho một bộ phận lao động nông thôn Đây là điều kiện để gópphần thúc đẩy sản xuất, ổn định trật tự xã hội, giảm bớt nguy cơ phát sinh các

tệ nạn xã hội do không có việc làm Ông cha ta đã từng có câu: “Nhàn vi cư bấtthiện” Đồng thời, cùng với phát triển sản xuất, giao lưu, tiêu thụ hàng hóa,trình độ dân trí của người dân cũng được nâng cao Do thu nhập tăng, tích luỹtăng nên cơ sở hạ tầng cho sản xuất và sinh hoạt, các công ttrình phúc lợi xã hội,công trình công cộng được xây dựng nhiều hơn ở khu vực nông thôn Mặt khác,tăng lượng người tham gia lao động ở các làng nghề còn tạo ra khả năng pháttriển các nghề mới, phong phú hoá các loại hình ngành nghề ở nông thôn vànâng cao trình độ tay nghề cho người lao động Làng nghề phát triển, thu hút laođộng, góp phần hạn chế tình trạng di cư tự do từ nông thôn ra thành phố, đô thịtìm kiếm việc làm, góp phần giảm áp lực cho thành phố, đô thị

Hai là, phát triển làng nghề sẽ tạo nguồn thu ngân sách, đóng góp cho

quốc phòng, an ninh

Bước vào thời kỳ đổi mới, trước bối cảnh quốc tế vừa có những thuậnlợi, vừa tiểm ẩn những nguy cơ, thách thức mới, đặc biệt là âm mưu “Diễnbiến hòa bình” của các thế lực phản động quốc tế không ngừng chống phá chế

Trang 29

độ XHCN Tiếp tục vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về kết hợp kinh tế với quốc phòng, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

VI của Đảng với quan điểm: “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc,toàn dân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, Đảng ta chủ trương: “Kếthợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh công cuộc xây dựngnền quốc phòng toàn dân, xây dựng hậu phương đất nước một cách toàn

diện” Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định, để thực hiện thắng lợi hai

nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp pháttriển KT-XH với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thểthống nhất Kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố quốc phòng, anninh ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dântrong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động phát triển KT-XH; quốc phòng, an ninhtrong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như từng địaphương, thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổnghợp của quốc gia, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo

vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Đây là quan điểm hoàn toàn đúng đắn bởi kinh tế, quốc phòng, an ninh

là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc độc lập, có chủquyền Mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt động riêng và chịu sự chiphối của hệ thống quy luật riêng, song giữa chúng lại có mối liên hệ, tác độngqua lại lẫn nhau Trong đó, kinh tế là yếu tố quyết định đến nguồn gốc ra đời,sức mạnh của quốc phòng, an ninh; ngược lại, quốc phòng, an ninh cũng cótác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện để thúc đẩy kinh

tế phát triển Do đó việc phát triển làng nghề sẽ đem lại hiệu quả KT-XH cao,kinh tế phát triển, tạo nguồn thu ngân sách đóng góp cho quốc phòng, an ninh,góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, bảo vệ độc lập

Trang 30

chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đẩylùi nguy cơ chiến tranh

Ba là, phát triển làng nghề sẽ góp phần hình thành cộng đồng dân cư gắn kết chặt chẽ trong sản xuất, tạo tiền đề cho xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc

Trong xã hội Việt Nam trước đây, kết cấu kinh tế làng xã có ba thànhphần: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp là tương đối phổ biến

ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ Kết cấu kinh tế này thực sự đã tạo cho làng

xã có thể ổn định lâu dài, vững chắc mà những biến động xã hội mấy thế kỷqua, thậm chí cho đến đầu thế kỷ này tác động vào cũng không làm cho nóthay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể) Mối quan hệ trên không chỉ giản đơn

là sự kết hợp về nghề nghiệp và cư dân mà còn là sự kết hợp các tổ chức vàquan hệ xã hội; trong mỗi làng nghề có hương ước, có tộc ước lại có thêm cảphường lệ Kết cấu đa dạng và chặt chẽ, bền vững của làng nghề đã tạo ra mộtđịnh hướng hành vi hoạt động của cá thể và của toàn thể, của gia đình và xãhội, đã tạo một sự thống nhất tương đối, đồng thời với sự tự điều chỉnh và ổnđịnh Trong các quan hệ đứng: cấp trên và dưới, già và trẻ, địa phương cơ sở

và cấp chính quyền cao hơn cũng như các quan hệ ngang, cùng đẳng cấp, giaicấp, lứa tuổi, làng quê, bè bạn… đều có một cách ứng xử được quy định từtrước, có quy chế, quy tắc áp dụng trong một làng, một vùng Cá nhân và giađình không tồn tại riêng biệt mà là một bộ phận hữu cơ gắn chặt với tổ chứclàng nên chịu định hướng của làng trong suy nghĩ và hành vi xã hội Tóm lại,sự đan xen các nghề nghiệp công, nông, thương và các tổ chức sản xuất xã hộinhư phường hội; sự duy trì các quan hệ họ hàng, xóm giáp; sự chồng xếp các

hệ tư tưởng và tôn giáo về mặt nào đó đã tạo cho làng nghề phát triển vữngmạnh Sự tồn tại các cá thể không phải với tư cách đơn lẻ riêng biệt mà baogiờ cũng là với tư cách thành viên của cộng đồng làng; và sức sống của làngtồn tại là ở chỗ tái sản xuất ra những thành viên của nó, cũng như người tiểunông muốn sống ổn định trong làng bao giờ cũng phải với tư cách là thành

Trang 31

viên trong tổ chức này Sự gắn kết chặt chẽ cộng đồng dân cư này đã khơi dậythành công sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân Nét nổi bật trong hoạt độngcủa mặt trận các cấp TP Hà Nội trong thời gian qua là đã thực hiện tốt nhiệm

vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực tuyên truyền, vậnđộng nhân dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước; chú trọng đẩy mạnh các phong trào thiđua yêu nước, các cuộc vận động lớn như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa ở khu dân cư”, “Đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đóigiảm nghèo”, “Chung sức xây dựng NTM” góp phần tạo sự chuyển biến vềnhận thức và hành động trong các tầng lớp nhân dân Từ đó, người dân chủđộng thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóamới, tích cực đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi TNXH, đảm bảo an ninh trật tự,bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, nhất là thực hiện nếp sống văn minhtrong việc cưới, việc tang; xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, góp phầngiữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc

1.3 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương và bài học đối với Thành phố Hà Nội

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương

Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Thành phố Huế

Làng nghề truyền thống ở Thừa Thiên Huế được hình thành và phát triểngắn liền với quá trình lịch sử khai phá, mở mang bờ cõi của các chúa Nguyễn,nhất là sau khi các chúa Nguyễn chọn Phú Xuân làm thủ phủ xứ Đàng Trong.Trong quá trình phát triển, các làng nghề ở Thừa thiên Huế đã trải qua nhiềubước thăng trầm, gắn liền với những biến động của lịch sử Cho đến nay, trênđịa bàn Thừa Thiên Huế có hơn 1.600 cơ sở sản xuất hàng thủ công truyềnthống thu hút trên 6.500 lao động, tổng giá trị sản xuất đạt 156 tỷ đồng, giá trịxuất khẩu đạt 6,2 triệu USD

Trong những năm qua, được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố, thôngqua chương trình khuyến công và thực hiện các chính sách hỗ trợ đầu tư đã

Trang 32

làm cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ và một sốngành truyền thống và làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển.Những ngành như mộc gia dụng, mộc mỹ nghệ, đúc đồng, mây tre đan, thêuđan, dệt thổ cẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, bún bánh, chế biến nông sảnthực phẩm và hàng chục cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tập trungđược hình thành ở các huyện và thành phố Huế Bên cạnh một số nghề truyềnthống được khôi phục, có một số nghề mới được du nhập như mây tre xiên,thêu móc, composit mỹ nghệ, chế biến cau khô xuất khẩu Các làng nghềtruyền thống phát triển mạnh ở Thừa Thiên Huế như đúc đồng (phường Đúc),cẩn - khảm xà cừ (Địa Linh), điêu khắc (Mỹ Xuyên), kim hoàn (Kế Môn), rèn(Hiền Lương), gốm (Phước Tích), tranh giấy (Làng Sình), hoa giấy (ThanhTiên), thêu đan, dệt vải góp phần tạo nên những giá trị văn hóa mang bảnsắc dân tộc

Tuy nhiên, công tác phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống cònchậm Sự phát triển nghề và làng nghề chưa tương xứng với tiềm năng và lợithế của địa phương, thu nhập của người làm nghề còn thấp, ít sản phẩm cósức cạnh tranh và có thương hiệu trên thị trường

Một số hạn chế và yếu kém trong quá trình phát triển các làng nghề ởThừa Thiên Huế mà chính quyền các cấp đang giải quyết như: Đầu ra cho cácmặt hàng thủ công truyền thống còn gặp khó khăn, do vậy sản xuất không ổnđịnh, doanh thu, lợi nhuận thấp Lực luợng lao động cho lĩnh vực này pháttriển chậm, nhiều nghệ nhân, thợ giỏi không còn gắn bó với nghề, hoặc bỏ đilàm ăn ở các tỉnh, thành phố lớn, trong khi lớp thợ trẻ không thích theo nghề

vì lao động nặng nhọc và thu nhập thấp Mẫu mã sản phẩm và bao bì thiếusức hấp dẫn, còn đơn điệu, hầu hết chỉ sản xuất những mẫu hàng cũ, công tácsáng tác mẫu mã mới còn yếu, chưa tạo ra được những mẫu mã riêng, phùhợp với nhu cầu thị trường, chưa có nhiều mặt hàng lưu niệm đẹp mang nétđặc trưng văn hóa Huế phục vụ du khách, đặc biệt qua các kỳ Festival Huế

Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 65 ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,trong đó khu vực ngoại thành có 24 ngành nghề, vùng đô thị hoá có 10ngành nghề và vùng nội thành có 31 ngành nghề Các ngành nghề rất đadạng về qui mô và lĩnh vực, như: Liên quan đến chế biến, bảo quản nông,lâm, thuỷ sản (bánh tráng, bún tươi, giò chả, nem…); sản xuất vật liệu xâydựng; đồ gỗ, mây tre đan; gốm sứ, thuỷ tinh; dệt may, sản xuất hàng thủcông mỹ nghệ; hoa, cây kiểng

Việc phát triển các làng nghề ở nông thôn đã góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động của thànhphố, góp phần tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho lao động nôngnghiệp, nông thôn, tạo công ăn việc làm cho lao động nông nhàn, góp phần xoáđói, giảm nghèo Giá trị sản phẩm của nhiều làng nghề khá cao so với giá trịcác sản phẩm nông nghiệp Điển hình là làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông:Sản phẩm cung ứng cho thị trường nội địa và tham gia xuất khẩu các thị trườnglớn như Nhật, Mỹ, EU… Sản lượng bình quân trên 20.000 tấn /năm, giải quyếtviệc làm thường xuyên cho trên 6.000 lao động; thu nhập bình quân 1,5 triệuđồng/người/ tháng Hợp tác xã Làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông tuy mớithành lập trong 3 năm trở lại đây song đã tăng dần thị phần nội địa, liên kết vớiSài Gòn Co-op phát triển sản phẩm, xuất khẩu bánh tráng sang Pháp

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong phát triển làng nghề nhữngnăm qua còn tồn tại nhiều vấn đề mà Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh cùngvới các cấp các ngành vẫn đang giải quyết, đó là: Hoàn thiện thủ tục để côngnhận những làng nghề chưa được công nhận là làng nghề truyền thống theotiêu chí mới; thực hiện chính sách của nhà nước về hỗ trợ phát triển ngànhnghề nông thôn theo Thông tư số 112/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính; nguồnkinh phí cho hoạt động làng nghề còn hạn chế, nhất là trong thu mua nguyênvật liệu phục vụ sản xuất; đầu tư máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất laođộng hạ giá thành sản phẩm Thiếu nguồn nhân lực trong các làng nghề, nhất

là nguồn nhân lực có chất lượng cao do quá trình đô thị hoá, xây dựng các

Trang 34

khu công nghiệp nên lao động làng nghề bỏ nghề tìm việc làm tại các doanhnghiệp, khu công nghiệp Công tác đào tạo nâng cao tay nghề cho lao độnglàng nghề chưa được chú trọng triển khai thực hiện Kỹ thuật, công nghệ đangsử dụng tại làng nghề chủ yếu là thủ công, cổ truyền, mức độ cơ giới hoá cònthấp Hệ thống giao thông trong các làng nghề, đặc biệt hệ thống thông tinliên lạc, quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trongcác khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loạingành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển chưa có các trung tâm đào tạo, cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ, trungtâm xúc tiếp thương mại, bảo tàng về nghề thủ công mỹ nghệ Môi trườngmột số làng nghề đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do sự phát triển tự phát

và sử dụng những công nghệ sản xuất lạc hậu; nguồn chất thải rắn và khí độcthải ra trong quá trình sản xuất hầu như không được xử lý

- Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, lao động trongnông nghiệp là chủ yếu, chiếm 86,7% trong tổng số lao động trong toàn tỉnh.Bắc Ninh có nhiều nghề truyền thống nổi tiếng như đúc đồng, khắc gỗ, làmgiấy, Là một tỉnh mới được tái lập (năm 1997), nhưng GDP của Bắc Ninhluôn có bước tăng trưởng cao, với nhịp độ bình quân hàng năm đạt 12,9%( riêng năm 2005 tăng 14,5%); giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp tăng gấp nhiều lần so với trước khi tái lập tỉnh Với nhận thức như vậy,lãnh đạo các cấp của Bắc Ninh đã tập trung coi trọng phát triển mạnh nghề vàlàng nghề Nếu năm 2000, Bắc Ninh có 58 làng nghề, trong đó có 30 làngnghề truyền thống và 28 làng nghề mới, thì đến nay, số lượng làng nghề ở BắcNinh đã tăng lên 62 Trong những năm qua, giá trị sản xuất của các làng nghềluôn chiếm tỷ lệ cao trong giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh vàchiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh Năm

2000 giá trị sản xuất công nghiệp của làng nghề đạt 561,3 tỷ đồng, chiếm

Trang 35

75% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và 28,3% giá trị sản xuấtcông nghiệp trên địa bàn tỉnh Năm 2002 giá trị sản xuất công nghiệp ngoàiquốc doanh của cả tỉnh đạt 1.410,26 tỷ đồng thì giá trị sản xuất công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp trong làng nghề đạt 1.057,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng31,5% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Năm 2003, giá trị sản xuấtcông nghiệp trên địa bàn đạt 4.300 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất côngnghiệp ngoài quốc doanh đạt 2.368 tỷ đồng và giá trị sản xuất công nghiệptrong các làng nghề đạt 1.776 tỷ đồng Chất lượng đời sống nhân dân ngàycàng được cải thiện Bắc Ninh có được kết quả như trên phần quan trọng lànhờ sự đóng góp không nhỏ của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp,đặc biệt là từ các làng nghề

Trong quá trình CNH, HĐH mặc dù các làng nghề ở Bắc Ninh đã cósự phát triển mạnh mẽ và đã có những đóng góp không nhỏ trong việcphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, song làng nghề ở Bắc Ninh vẫn chưaphát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu do còn có những tồn tạikhó khăn mà các cấp chính quyền địa phương của Tinh Bắc Ninh đã vàđang khắc phục cụ thể như:

Vấn đề vốn: Các nguồn vốn để cung cấp cho phát triển làng nghề còn rất

hạn chế Sự thiếu vốn thường diễn ra do khả năng tích lũy để đầu tư phát triểnsản xuất của các cơ sở còn thấp, đồng thời khả năng tiếp cận các nguồn vốnchính thức hay bán chính thức còn hạn hẹp

Vấn đề quy hoạch: Sự phát triển không theo quy hoạch ở các làng nghề

đã làm cho mức độ ô nhiễm môi trường rất cao, ảnh hưởng trực tiếp tới đờisống dân cư Ở hầu hết các làng nghề nhất là các làng nghề chế biến thựcphẩm, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng… các chất thải sản xuất đều đượcthải trực tiếp vào môi trường mà không qua xử lý làm ảnh hưởng tới sức khỏeđời sống cộng đồng

Trang 36

Vấn đề giao thông: Hệ thống giao thông nông thôn ở làng nghề đã được

cứng hóa song còn chật hẹp mà không có khả năng để giải tỏa, mở rộng được

vì chi phí quá lớn nên tình trạng ùn tắc giao thông ở các làng nghề là khá phổbiến, đặc biệt là ở các trục đường chính huyết mạch của thôn, xã, gây cản trởcho việc giao thương nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cũng như đi lại củangười dân…

Vấn đề KHCN: Về cơ bản trình độ kỹ thuật công nghệ ở các làng nghề

còn thấp kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa hệ thống, chưa cơ bản Vấn đềthương hiệu, mẫu mã sản phẩm cũng tồn tại nhiều hạn chế: một số sảnphẩm đã mất hẳn trên thị trường do không phù hợp với nhu cầu, quá trìnhcải tiến diễn ra chậm chạp và mang tính tự phát ở một số cơ sở…

Vấn đề thị trường: Khả năng tiếp thị - bán hàng thấp, thị trường tiêu thụ

sản phẩm còn nhỏ bé, chưa ổn định, chưa được mở rộng, nhất là thị trườngxuất khẩu Cho đến nay, chưa làng nghề nào chủ động được nguồn nguyênliệu bởi không có nguồn nguyên liệu riêng cho mình, các cơ sở sản xuấtvẫn chủ yếu thông qua khâu trung gian hay tự đi mua nguyên liệu các nơikhác về dẫn đến chất lượng nguyên vật liệu không đồng đều, ảnh hưởngđến chất lượng sản phẩm

1.3.2 Bài học rút ra đối với thành phố Hà Nội

Từ những kinh nghiệm phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐHcủa các địa phương nêu trên, rút ra một số bài học tham khảo cho thành phố

Hà nội như sau:

Một là, bài học về quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề

Trong việc quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề thì vấn đề tạo mặtbằng cho sản xuất ở các làng nghề là một khâu đột phá quan trọng trong pháttriển làng nghề Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp làng nghề, thựcchất là chuyển một phần diện tích đất canh tác nông nghiệp của chính làng

Trang 37

nghề sang đất chuyên dùng cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

và tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong các làng nghề di dời đến khu sảnxuất tập trung, tách sản xuất ra khỏi khu dân cư Việc làm này cần phù hợpvới đặc điểm riêng của từng làng, từng nghề Vì vậy, TP Hà Nội cần có chủtrương thực hiện việc di dời phù hợp Di dời đối với những khâu sản xuấtđồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm, còn đối với hoạtđộng sản xuất những chi tiết nhỏ lẻ, không ảnh hưởng đến môi trường, sứckhoẻ của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinh doanh ở từng hộ gia đìnhnhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện và tập quán lao động của người dântrong làng nghề

Hai là, bài học về hoàn thiện cơ chế chính sách

Để tạo điều kiện cho phát triển các nghề và làng nghề ở TP Hà Nội, nhấtthiết phải hoàn thiện đồng bộ cơ chế chính sách liên quan đến làng nghề Ràxoát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách đã có, thống nhất triểnkhai trên địa bàn thành phố nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các làngnghề phát triển Chú trọng các thông tin hai chiều giữa Sở, Ban, Ngành vàgiữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề đểphát hiện những tồn tại nhằm đề xuất các giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợphù hợp có hiệu quả Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành,Mặt trận Tổ quốc, và các đoàn thể triển khai các chương trình phục vụ pháttriển nghề và làng nghề đạt hiệu quả

Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửabảo đảm thông thoáng, giải quyết công việc nhanh gọn kịp thời, hiệu quả đểtạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ sản xuấttrong làng nghề sản xuất kinh doanh

Trang 38

Các địa phương tập trung bổ sung hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch pháttriển làng nghề của mình trên cơ sở quy hoạch của TP Hà Nội; tổ chức triểnkhai thực hiện quy hoạch, kế hoạch một cách nghiêm túc, quyết liệt.

Ba là, bài học về huy động các nguồn lực

Thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động, tìm kiếm và sử dụng có hiệuquả các nguồn lực, như: Nguồn vốn trong và ngoài nước, nguồn nhân lực,KHCN, nguồn nguyên liệu… Tạo điều kiện và quan tâm hỗ trợ cho doanhnghiệp, các hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn phát triển theođịnh hướng của Thành phố Tăng cường hướng dẫn thực hiện tốt chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước đối với các hộ, doanh nghiệp SXKD nghề.Thực hiện rà soát, đánh giá hiệu quả các nguồn lực, các nhiệm vụ đầu tư đãthực hiện để đôn đốc quyết toán dự án hoàn thành, trong đó ưu tiên bố trí vốn

để các công trình chuyển tiếp hoàn thành sớm đưa vào khai thác, sử dụng; ràsoát, đề nghị cho chủ trương và bố trí vốn đầu tư đối với những dự án thực sựcấp bách, cần thiết theo quy định của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Bêncạnh đó phải thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giải quyết các vấn đềbức xúc của xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân làng nghề;thực hiện tốt chính sách đối với người có công, thực hiện bảo trợ xã hội đối vớicác đối tượng yếu thế trong xã hội; các chính sách giải quyết việc làm và xóađói, giảm nghèo; chính sách hỗ trợ về sản xuất và đời sống cho người nghèo;chính sách tín dụng an sinh xã hội…

Bốn là, bài học về mở rộng thị trường cho sản phẩm làng nghề

Đối với thị trường trong nước: Tạo lập và phát triển đồng bộ hệ thống tiêu thụ sản phẩm làng nghề tại thị trường trong nước, trong đó tập trung việc gắn kết giữa hệ thống các siêu thị, chợ, trung tâm thương mại, hệ thống bán lẻ của các tập đoàn kinh tế lớn với các làng nghề để đưa sản phẩm vào các hệ thống phân phối Hàng năm có các chương

Trang 39

trình đưa hàng về nông thôn, nhằm quảng bá, giới thiệu và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề ngay tại thị trường nông thôn.

Tổ chức các hội chợ triển lãm chuyên ngành, các cuộc trưng bày giới thiệusản phẩm làng nghề cũng như hỗ trợ các làng nghề tham gia các hội chợ triển lãmtrong nước, tạo điều kiện cho các làng nghề quảng bá, giới thiệu sản phẩm, gặp gỡkết nối kinh doanh với các đối tác nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm

Tăng cường hiệu quả hoạt động của Trung tâm giới thiệu sản phẩm làngnghề Hà Nội, tiếp tục triển khai xây dựng các trung tâm giới thiệu sản phẩmngay tại các làng nghề truyền thống, để vừa quảng bá sản phẩm vừa tăng thêmhấp dẫn cho các tour du lịch

Hỗ trợ cho các làng nghề thuộc các lĩnh vực: Cơ khí, dệt may, da giầy…hình thành các mối liên kết trong sản xuất với các doanh nghiệp, tập đoànkinh tế lớn trong nước nhằm tạo việc làm và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho cáclàng nghề, giúp các làng nghề trở thành các vệ tinh sản xuất cho các doanhnghiệp và tham gia vào quá trình sản xuất các sản phẩm trong lĩnh vực côngnghiệp phụ trợ

Đối với thị trường nước ngoài: Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hỗtrợ xuất khẩu cho các làng nghề thông qua các nguồn kinh phí (xúc tiếnthương mại, khuyến công, tín dụng xuất khẩu…), trong đó chú trọng đếndịch vụ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, kết nối giao thương, thamgia hội chợ triển lãm quốc tế, tham quan khảo sát thị trường… Tổ chức cáchoạt động giao thương giữa các doanh nghiệp thuộc làng nghề với cácdoanh nghiệp xuất khẩu và các nhà nhập khẩu nước ngoài Hỗ trợ kinh phícho các làng nghề đưa sản phẩm trưng bày tại các trung tâm trưng bày giớithiệu sản phẩm của Hà Nội và tại một số nước là thị trường truyền thốngcủa sản phẩm làng nghề Hà Nội Hỗ trợ các hiệp hội, các làng nghề xây

Trang 40

dựng và duy trì trang Website nhằm quảng bá thương hiệu sản phẩm trênInternet TP Hà Nội xây dựng trang Website về làng nghề Hà Nội để xúctiến thương mại, giao lưu, giới thiệu quảng bá các nghề, sản phẩm làngnghề trên toàn quốc và thế giới.

Năm là, bài học về xử lý ô nhiễm môi trường các làng nghề

Thống kê, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn

và có kế hoạch từng bước giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề.Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động các hộ gia đình thựchiện tốt các công tác bảo vệ mội trường Hoàn thiện thể chế, tăng cường tổchức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề (hệ thống chínhsách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, hoàn thiện bộ máyquản lý môi trường cấp xã, thị trấn)

Tổ chức di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng ra khỏi khu dân cư, đặc biệt là các cơ sở gây ô nhiễm bởi các hoá chất

có chứa H2SO4, H2S, NH3, HCl, NaOH ; các loại kim loại nặng như chì, thủyngân, asen; không khí có các hợp chất có chứa SO2, CO2, CO, NO2

Khuyến khích các cơ sở sản xuất về công nghệ xử lí rác thải sản xuất.Hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách địa phương để lập dự án cải tạo, đầu tư xử

lý ô nhiễm môi trường (chất thải rắn, nước thải) ở các làng nghề Kết hợp bố trínguồn vốn, chương trình xây dựng nông thôn mới, nguồn vốn thu từ đấu giáquyền sử dụng đất, nâng cấp hoặc xây dựng mới hệ thống thu gom, xử lý nướcthải, chất thải tập trung Xây dựng đồng bộ hệ thống cấp nước cho sản xuất và

hệ thống xử lý nước thải tại các làng nghề tập trung theo phương châm Nhànước và người dân cùng làm Khuyến khích áp dụng sản xuất sạch hơn bằngcác công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường; khuyến khích xã hội hóa côngtác bảo vệ môi trường và tăng cường, đa dạng hóa đầu tư tài chính cho bảo vệmôi trường Có các cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất

Ngày đăng: 21/06/2018, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Thị Lan Anh (2010), Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững làng nghề truyền thốngvùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Tác giả: Bạch Thị Lan Anh
Năm: 2010
2. Đào Thế Anh, Nguyễn Ngọc Mai (2007), “Giải pháp để phát triển LN ở đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Xưa và Nay, số (293) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2007), "“Giải pháp để phát triển LN ởđồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Xưa và Nay
Tác giả: Đào Thế Anh, Nguyễn Ngọc Mai
Năm: 2007
3. Ban Chấp hành Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2010), Báo cáo Hội nghịlần thứ IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị
Tác giả: Ban Chấp hành Hiệp hội Làng nghề Việt Nam
Năm: 2010
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Một số chính sách về phát triển nghề nông thôn, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách về pháttriển nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
8. Nguyễn văn Chiến (2005), “Làng nghề nước ta, những khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển”, Tạp chí Khoa học chính trị, số (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề nước ta, những khó khăn, hạn chếtrong quá trình phát triển”, "Tạp chí Khoa học chính trị
Tác giả: Nguyễn văn Chiến
Năm: 2005
9. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (Jica ) và Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn (2003), Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủcông theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam, Quy hoạch tổng thể của các tỉnh thí điểm tháng 12 -2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ"công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam
Tác giả: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (Jica ) và Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn
Năm: 2003
12. Đề tài khoa học, Tiếp tục đổi mới chính sách vầ giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ, Bộ Thương mại, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới chính sách vầ giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sảnphẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ
13. Đề tài khoa học, Hoàn thiện các giải pháp kinh tế tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng , Học viện Tài chính, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các giải pháp kinh tế tài chính nhằm khôiphục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng
14. Nguyễn Trí Dĩnh (2005), Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một sốtỉnh đồng bằng Sông Hồng, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện đào tạo công nghệ và quản lý quốc tế, Liện hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số"tỉnh đồng bằng Sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Trí Dĩnh
Năm: 2005
16. Vũ Trường Giang (2006), “Phát huy những lợi thế truyền thống trong xây dựng thương hiệu làng nghề ở đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số (15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy những lợi thế truyền thống trong xâydựng thương hiệu làng nghề ở đồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Trường Giang
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Hiến (2012), “Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp trí Phát triển và Hội nhập, số (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề theo hướng bền vững ởViệt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp trí Phát triểnvà Hội nhập
Tác giả: Nguyễn Văn Hiến
Năm: 2012
18. Đoàn Hòa (2006), “Nhân lực làng nghề, băn khoăn trước thềm hội nhập”, Tạp chí Tài chính và cuộc sống, số (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nhân lực làng nghề, băn khoăn trước thềm hội nhập”,"Tạp chí Tài chính và cuộc sống
Tác giả: Đoàn Hòa
Năm: 2006
19. Học viện tài chính (2004), Hoàn thiện các giải pháp kinh tế - tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng ĐBSH, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các giải pháp kinh tế - tài chính nhằmkhôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng ĐBSH
Tác giả: Học viện tài chính
Năm: 2004
20. Mai Thế Hởn (2000), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trìnhCNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 2000
21. Bạch Thị Thu Hường (2002), Sự phát triển và phân bố các làng nghề thủcông truyền thống, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sự phát triển và phân bố các làng nghề thủ"công truyền thống
Tác giả: Bạch Thị Thu Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2002
22. Nguyễn Thị Hường (2005), “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề TTCN”, Tạp chí Lý luận chính trị, số (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm củacác làng nghề TTCN”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2005
23. Phạm Ngọc Linh (2008), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Linh
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tếquốc dân
Năm: 2008
24. Trần Thị Hoa Lý (2007), Phát triển làng nghề Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tê ĐH kinh tế – ĐH quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề Việt Nam trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Thị Hoa Lý
Năm: 2007
25. Nguyễn Đức Long (2011), Phát triển kinh tế làng nghề trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế làng nghề trong côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Long
Năm: 2011
26. Ngô Thắng Lợi (2006), Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xãhội
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w