Thêm vào đó việc đốn cây, phá rừng ...con người tàn phá thiện nhiên nên phải chịu sự tàn phá khốc liệt của thiên tai như bão lụt, hạn hán...Trong khi đó, đặc điểm của đạo đức Phật giáo l
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN CAO LỘC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO CHO TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHÙA TỪ QUANG
VÀ MỘT SỐ CHÙA KHÁC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN CAO LỘC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO CHO TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHÙA TỪ QUANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Trần Cao Lộc, người thực hiện luận văn nầy
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và theo tài liệu đã được trích dẫn Những trích dẫn cần thiết trong luận văn được tôi chú thích rõ ràng và đúng theo văn bản
Tác giả luận văn
Trần Cao Lộc
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Luận văn này là thành quả của quá trình học tập, nghiên cứu của học viên tại Khoa Tôn giáo học - Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện Khoa học xã hội, nhà trường đã tạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập và nghiên cứu tại đây
Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn đến các thầy, cô giáo, những người phụ trách khoa Tôn giáo học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Hữu Hợp, thầy hướng dẫn và đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm có giá trị, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cám ơn đến tất cả những bạn bè, những người đã gắn bó và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, anh chị em và những người thân đã tạo điều kiện để tôi yên tâm học tập trong suốt thời gian qua./
Xin cám ơn !
Học viên
Trần Cao Lộc
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
PHẬT GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
15
26
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HIỆN NAY Ở
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập nên việc tiếp cận với nền văn hóa nước ngoài tác động đến lối sống của người Việt, vì sự tiếp cận nào cũng có tác dụng hai chiều, nếu ta biết sử dụng đúng thì rất có lợi, trái lại sẽ gây nên hậu quả tai hại Đây là một trong những nguyên nhân đưa đến sự suy thoái về đạo đức của xã hội hiện nay
Từ các giá trị xã hội bị băng hoại và các tệ nạn ngày càng gia tăng ảnh hưởng
nhiều đến thế hệ trẻ Qua bài: “ Hoằng pháp với chương trình tu học của tuổi trẻ”,
Ni sư Thích Tâm Chính, đơn vị Phật giáo Hải Phòng cho biết về thực trạng của tuổi trẻ ngày nay đang trong tình trạng báo động về đạo đức như bạo lực học đường, thích thể hiện bản thân Sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin cũng có tác dụng hai chiều nếu các em biết sử dụng đúng thì rất tốt trái lại sẽ có nhiều tai hại về mặt đạo đức [19,tr154]
Từ cá nhân, gia đình, xã hội đến nhân loại những giá trị đạo đức như đang xuống cấp Chiến tranh giữa các quốc gia không ngừng xảy ra Trong khi đó cuộc sống nhân loại đang bị chao đảo theo đà tiến bộ của công nghệ thông tin như sống
ảo, thất vọng, stress Do đó, việc giáo dục về đạo đức nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng là điều cần thiết [19,tr.134]
Ngoài những nguyên nhân trên việc bảo vệ môi trường sống cũng thể hiện giá trị đạo đức của con người Ngày nay, việc bảo vệ môi trường được phát động mạnh vì tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng nhất là nững chất độc hóa học thải ra từ các nhà máy, từ nguồn nước đến không khí đều bị ảnh hưởng đến đời sống con người Thêm vào đó việc đốn cây, phá rừng con người tàn phá thiện nhiên nên phải chịu sự tàn phá khốc liệt của thiên tai như bão lụt, hạn hán Trong khi đó, đặc điểm của đạo
đức Phật giáo là cuộc sống hài hòa với thiên nhiên làm cho môi trường sống vừa lành
vừa đẹp, ngay cuộc đời Đức Phật cũng gắn liền với thiên nhiên: sanh dưới cây Vô ưu,
thành đạo dưới cây Bồ đề, thuyết pháp đầu tiên ở Vườn nai và viên tịch dưới cây Sa
la Ngày nay, chúng ta cũng phát động việc “trồng cây gây rừng” để bảo vệ môi
Trang 72
trường Có người cho rằng rừng chính là ngôi nhà thứ hai của chúng ta, nên phá rừng tức là hủy diệt ngôi nhà thứ hai của nhân loại
Giáo sư Hoàng Như Mai trong “Tập văn Phật đản” viết về “ Đạo đức Phật
giáo và sự phát triển của khoa học kỹ thuật” nhận xét về tình hình suy thoái đạo đức
trong xã hội hiện nay khá nghiêm trọng Ông nhận xét sự phát triển của khoa học kỹ thuật là cần thiết và ứng dụng sao cho có ích và hạn chế những hậu quả tai hại Người
ta tin rằng khoa học tạo ra mọi giá trị nên đạo đức giảm giá Có ý kiến cho rằng : loại
bỏ đạo đức thay vào đó môn khoa học về phong tục Tác giả cho rằng đây là một sự ngộ nhận vì nếu nhân danh khoa học thì những nguyên tắc và luân lý đạo đức không
khác gì khoa học “ Trong khi đó đạo đức là chân lý mặc nhiên đã được mọi người
chấp nhận và không cần chứng minh Lại nữa, phục vụ lợi ích cho nhân loại không phải chỉ có khoa học và nó chỉ đề ra phương tiện không đề ra được mục đích Những thành tựu của khoa học giúp con người hưởng lạc mà không làm bớt đi khổ đau Trong khi đó đạo đức cũng thừa nhận những nỗi lo âu ấy nhưng lại có cách giải quyết.”
[52,tr.33]
Do đó, vấn đề dạy đạo đức cho mọi người hay dạy đạo đức Phật giáo cho người tu tại gia cần được đặt ra Bài viết sẽ nghiên cứu trường hợp tại chùa Từ Quang và một số chùa khác ở thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã và đang nổ lực thực hiện việc này
Trong luận văn, chúng tôi cố gắng nói lên giá trị của đạo đức Phật giáo để nâng cao phẩm chất con người trước tình trạng suy thoái đạo đức ngày nay Vì vậy, để tìm
hiểu và đánh giá hiệu quả của công tác giáo dục này, chúng tôi chọn đề tài “Giáo dục
đạo đức Phật giáo cho tín đồ Phật giáo ở Thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp (nghiên cứu trường hợp chùa Từ Quang và một số chùa khác)” làm luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Tôn giáo học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều sách, đề tài, bài viết về đề tài đạo đức Phật giáo Những tác phẩm tiêu biểu của một số tác giả trong nước và ngoài nước như sau:
Trang 83
2.1 Các nghiên cứu trong nước
* Hòa thượng Thích Minh Châu với quyển “Đạo đức Phật giáo & Hạnh
phúc con người” gồm 29 bài viết về những vấn đề có liên quan đến đạo đức Trong
lời nói đầu đã bao quát toàn bộ vấn đề khi cho rằng “ Phật học chính là đạo đức
học” và “Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc cho con người”
[6,tr.3] Những kinh sách nhà Phật được coi như là những pháp môn để thực hành
và tu tập Do đó 29 bài viết nhằm triển khai ý nghĩa về đạo đức Phật giáo
Trong bài đầu cũng chính là tên quyển sách Hòa thượng cho chúng ta biết
rằng “những lời dạy của Đức Phật đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến vấn đề
đạo đức”[6,tr.7] Điểm nổi bật trong trong đạo đức Phật giáo là vai trò trí tuệ vì nó
giúp ta phân biệt thiện / ác, chánh / tà Một đặc điểm khác của đạo đức Phật giáo là xây dựng một nếp sống hài hòa với thiên nhiên, làm lành, làm đẹp môi trường sống Chính đời sống của Đức Phật cũng thể hiện điều đó : sanh ra, thành đạo, thị tịch đều
ở dưới gốc cây Không những hài hòa với thiên nhiên mà còn hài hòa với con người như từ, bi, hỷ, xả
Do đó đạo đức Phật giáo là nếp sống đem đến niềm an lạc Trong bài viết Ngài cho rằng chiến tranh đem đến đau khổ, chỉ có giải pháp hòa bình mới tránh sự
xung đột Trong quyển sách có bài viết “Sống đạo đức là trách nhiệm của mỗi
người chúng ta” khiến mọi người phải suy nghĩ Qua đó Đạo Phật đã nhấn mạnh
đến vai trò cá nhân đối với đạo đức Nó đòi hỏi sự quan tâm của mọi người để đem lại hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội, đạo đức thể hiện qua cách con người ứng xử với nhau Do đó mọi người đều có trách nhiệm trong mối quan hệ với nhau, thiếu tinh thần này là thiếu đạo đức của tự thân và ảnh hưởng đến mọi người vì cuộc sống của mỗi người đều dự phần vào cuộc sống chung Đạo đức không phải là tín điều tôn giáo mà nói lên trách nhiệm chung của mỗi con người trong xã hội Nó cũng không phải là một ước lệ xã hội hay có trách nhiệm đối với người nầy mà không đối với người kia Xã hội ta đang tăng tốc trong mọi lãnh vực, nhưng khi đời sống vật chất đầy đủ lại tỉ lệ nghịch với đời sống đạo đức
Trang 94
Trong bài viết “Đạo Phật thiết thực và hiện tại” Đức Phật đã khai thị cho
mọi người biết rằng nếu ai cố gắng tu tập đều có thể đạt đến con người tốt và đem an lạc đến cho chính mình Điều nầy nói lên tính chất nhân bản của Đạo Phật vì giáo pháp của Đức Phật không hứu hẹn về cõi siêu thế nào mà chỉ hướng đến thực tại, giải quyết các vấn đề của cuộc sống nhân sinh Ngài đã độ cho cả tướng cướp và kỷ nữ để trở thành thánh nhân Những lời Phật dạy đều đem đến một cuộc sống hướng thượng và đạo đức Do đó Ngài khuyên chúng ta nên tu tập tâm để có nếp sống đạo đức bỏ ác hành thiện để đem lại an lạc cho bản thân, gia đình và xã hội
Với bài “Đạo Phật và nền văn hóa Việt Nam” tác giả cho ta thấy Phật giáo cùng
thăng trầm với nền văn hóa Việt và con người Việt Bụt đã hiện trong giấc mơ của trẻ em
và hiện thân cho một bậc gương mẫu ở người lớn Và hơn hai ngàn năm qua bóng chân Ngài ngã dài theo lịch sử thăng trầm của người Việt
Trong bài “Một môi trường giáo dục tốt phải được khởi nguồn xây dựng
bởi những người có ý thức và trách nhiệm” tác giả cho rằng con người sống
trong thế giới ngày nay là phải làm trong sạch môi trường sống mà đạo đức là
căn bản Ngày nay con người đã làm ô nhiễm và “phá vỡ môi trường sống tốt
đẹp của mình” vì thế cần phải “xây dựng nhiều môi trường sinh hoạt mang tính giáo dục cao cả cho con người.”
* Ngoài ra Hòa thượng Minh Châu với tác phẩm “Tâm từ mở ra khổ đau
khép lại” cho thấy Ngài rất quan tâm đến nền giáo dục Phật giáo và cho rằng “Đạo
Phật là một đạo của giáo dục và Đức Phật là một nhà đại giáo dục”[8,tr.226] Do
đó giáo lý của Đức Phật là đường hướng và phương pháp giáo dục chân chính Nội dung của đường hướng giáo dục đó gồm những tiêu điểm như tương quan giữa con người với hoàn cảnh, hành động, trí thức, đạo đức, thời gian và chân lý Những đường hướng đó để tiến tới một con người thật sự thể hiện tính chân, thiện và mỹ
* Quyển “Đạo đức học Phật giáo” của Hòa thượng Minh Châu gồm 34 bài
viết của nhiều tác giả khác nhau do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành
Trang 105
Nội dung nói lên vai trò và đặc điểm của đạo đức Phật giáo trong thời đại ngày nay với hai điểm chính là :
+ Một là, thực hành hạnh từ bi và thái độ bất hại để con người đến gần nhau
hơn, các dân tộc hiểu biết nhau hơn để cùng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp trên hành tinh nầy
+ Hai là, giáo dục đạo đức Phật giáo cần thiết để phát huy truyền thống dân tộc trong bối cảnh giao lưu văn hóa hiện nay Ngoài ra môi trường và xã hội bị ô nhiễm do
tâm con người xuất phát từ ba độc tham , sân, si nên cần phải loại trừ
* Thích Nữ Như Thái trong Luận văn tốt nghiệp với đề tài “ Vài nét về
tinh thần trách nhiệm trong giáo dục Phật giáo”, tác giả cho rằng “tinh thần
trách nhiệm là yếu tố căn bản trong hệ thống giá trị đạo đức của nhân loại” [ 55
,tr.1] Nó tùy thuộc vào nhận thức của mỗi người để hướng đến đời sống cao đẹp
Trước tình trạng đạo dức xã hội bị suy thoái, vấn đề giáo dục đạo đức và tinh thần trách nhiệm cần phải được đặt ra Tinh thần trách nhiệm trong giáo dục Phật giáo gồm có: trách nhiệm trong đòi sống xã hội, trong giáo lý Đạo Phật, đối với
tự thân, tha nhân, với môi trường, là chuẩn mẫu của hành vi đạo đức xã hội và cần thiết cho việc giáo dục con người Theo tác giả trách nhiệm mang ý nghĩa đạo đức học là hậu quả của hành động về thân, khẩu, ý trở thành định luật của Nhân quả, của Nghiệp Giáo lý Đạo Phật nhằm giáo dục con người sống có lý tưởng, trách nhiệm Lương tâm, đạo đức, trách nhiệm là tư tưởng chủ đạo, là điểm giao hòa của tư tưởng Đông - Tây
* Thích Nữ Như Tịnh trong Luận văn tốt nghiệp với đề tài “ Giới luật là nền
tảng Phật giáo” , tác giả cho rằng giáo dục đạo đức ngày nay là một nhu cầu hữu
ích cho xã hội Ngày nay con người bị lôi cuốn vào cuộc sống vật chất nên tạo sự trống vắng tâm linh khiến cho đạo đức suy đồi nên chỉ có lòng từ bi và trí tuệ mới tạo nên cuộc sống đạo đức Phật giáo Nếp sống đó dược thực hiện trên nền tảng “ GIỚI-ĐỊNH-HUỆ”, vì từ việc giữ giới sẽ sanh định và từ định mới sanh huệ Giới chính là những điều ngăn chận bất thiện pháp xảy ra để hướng đến sự an lạc Cho nên con người phải sống và hành xử đúng trong mối tương quan giữa người và người để tạo nên hạnh phúc trong cõi đời nầy Do đó giới luật là thọ mạng của Phật
Trang 116
pháp, thiếu giới luật Phật pháp sẽ bị hoại diệt Vì thế trong giai đoạn này người học Phật cần giữ gìn giới luật để đóng góp thiết thực vào cuộc sống và mọi người trong
xã hội có được một cuộc sống hạnh phúc và an vui thật sự
* Trong Tập văn Phật đản của Giáo hội Phật giáo Việt nam, giáo sư Hoàng
Như Mai viết về “Đạo đức Phật giáo và sự phát triển của khoa học kỹ thuật” cho
rằng khoa học kỹ thuật đem lại cho con người những sự kỳ diệu nhưng cũng gây cho con người nhiều tai họa như môi trường sống bị hủy hoại, những phương tiện giết người tinh vi, xã hội ngày càng sa đọa Đó là do sự ứng dụng tiêu cực của con người và con người tin vào khoa học vì nó tạo ra mọi giá trị Khoa học loại trừ mọi xúc động, tình cảm, không có yêu ghét, tốt xấu mà chỉ có đúng hay sai đối với thực
tế, với tư duy ấy nên rất khó thông cảm với đạo đức, vì vậy giá trị đạo đức bị xuống cấp Tác giả có sự đối chiếu sau :
- Quy tắc và luận lý khoa học không khác đạo đức: chân lý đạo đức được
mọi người chấp nhận nên không cần chứng minh, chúng bảo đảm cho cuộc sống xã hội tốt đẹp
- Khoa học không thể đơn độc phục vụ cho lợi ích của nhân loại: khoa học dạy
chúng ta những hiểu biết về sự vật, những gì có tồn tại nhưng không dạy trực tiếp những gì nên có Khoa học đề ra phương tiện không đề ra mục đích
- Những thành tựu của khoa học chỉ nhằm phục vụ bản năng thấp của con
người Những sáng chế máy móc tinh vi không làm bớt những đau khổ tinh thần
của con người Đạo đức cũng thừa nhận những nỗi lo âu của con người nhưng có cách giải quyết
Cuối cùng tác giả cho rằng năm điều giới cấm của Phật giáo là cần thiết để ngăn ngừa dòng thác phi đạo đức và duy trì nền tảng đạo đức của dân tộc và nhân loại
2.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
* Pháp sư Maha Thongkham Medhivongs thuộc Phật giáo nguyên thủy biên
soạn “ 38 pháp hạnh phúc” Ngài đã trình bày những pháp có tính cách thiết thực
như : giữ mình theo lẽ chánh, học nhiều hiểu rộng, có nghề, người nói lời chân thật, nết hạnh phụng dưỡng mẹ cha, nết hạnh tiếp độ con, làm xong việc của mình, nết hạnh bố thí, giúp đỡ quyến thuộc, nết hạnh bố thí, nết hạnh khiêm nhường, nhẫn
Trang 127
nại Trong đó có thể chia làm hai loại: hạnh phúc của các bậc học bác uyên thâm tự tìm thấy nguyên do của hạnh phúc và hạnh phúc của các bậc giác ngộ thuyết theo chánh pháp Trong 38 pháp nầy có thể phân ra ba chủ đề :
+ Từ pháp 1 đến 18: những điều để tạo đời sống hạnh phúc trong xã hội
+ Từ pháp 19 đến 30: dạy tâm thanh tịnh không bị vật chất lung lay
+ Từ pháp 31 đến 38: cách dứt phiền não để được an vui
Đây chính là 38 pháp để người Phật tử chân chính tìm được an lạc cho cuộc sống đời thường
*Ven Thubten Chodron với tác phẩm “Thuần hóa tâm hồn” do Tiến sĩ
Thích Minh Thành dịch Nội dung gồm bốn phần: Phần một nói lên những mối quan hệ của chúng ta như: cha mẹ đối với con cái, tình bạn, đồng nghiệp và khách hàng Phần hai là cái nhìn bao quát thế gian và nếp sống theo chánh pháp với những nội dung như: pháp tu học cao thượng về đạo đức, đời của một người là quý báu, lòng thương, tâm từ ái Phần ba là truyền thừa lời Phật dạy gồm có Phật giáo tác động vào đời sống xã hội như thế nào, các lễ hội Phật giáo Phần bốn nói về Phật giáo ngày nay, nói về sự hài hòa giữa Phật giáo và những tôn giáo khác và sự đối thoại giữa các tôn giáo
Tác phẩm có cái nhìn chung về Phật giáo với tấm lòng rộng mở và những tư tưởng nhập thế để mọi người đến và thấy về Phật giáo với lòng ngưỡng mộ chân chánh của một con người dù không phải là tín đồ của Đạo Phật
*Trong diễn từ của ông Sanae Shirata, Tùy viên văn hóa tòa Đại sư Nhật có viết cái băn khoăn sâu thẳm nhất của con người là hiểu biết về bản thân mình và nhân quần
xã hội để giáo dục đến đường ngay lẽ phải Vì khuyng hướng học hỏi và trau luyện trí tuệ là nét trổi vượt trong trào lưu tiến hóa của con người Từ đó con người phân biệt mình với loài vật Do đó Đạo Phật là đạo của trí tuệ và Đức Phật là người giúp con người ra khỏi bờ mê Ngài đã dấn thân qua mọi thử thách để truy nguyên chân lý tìm đường thoát khổ cho chúng sinh Học thuyết của Ngài là hệ thống giáo dục toàn diện vì
có thể hướng dẫn mọi người ở mọi trình độ khác nhau Ngài không tự nhận mình là mặt trăng mà là ngón tay chỉ mặt trăng để mọi người tự thể hiện lấy
Trang 13“ Phật giáo là một niềm tin linh động, một giải pháp sáng suốt và dễ hiểu cho bài toán
thế sự, một ánh sáng dẫn đạo xứng đáng cho những tâm hồn chưa thỏa vọng còn đang tìm kiếm chân lý” [5, tr.19] Phật giáo đến với nước Pháp là bắt tay với tín đồ chúa
Ki-tô Nhờ vậy nhiều nhà thần linh học đã tìm lại được giá trị uyên nguyên của Cơ-đốc-giáo Bác ái Cơ-đốc mở cửa đón nhận Phật giáo có nghĩa là nhìn nhận mối giao tiếp giữa tình thương nhân loại và lòng tự nguyện xả phú cầu bần Tác giả đã giới thiệu những học giả người Pháp đã viết về Phật giáo như Giáo sư Paul Mus của Collège de France, trong bài “ Giới thiệu”, đưa ra những nhận định về vị trí hiện tại của Phật giáo; Jeanine Auboyer lập “ một bảng tổng kê nghệ thuật và văn hóa Phật giáo ở Á châu”; Gaston Renondeau trình bày nền Phật giáo Nhật bản Nhà nhân chủng học Lévi-Strauss đã viết trong quyển “ Tristes tropiques” về tính cách hiện
đại của Phật giáo: “ dù con đường dẫn đến Bồ đề có 12 chặng , hoặc nhiều hơn,
hoặc ít hơn, tôi vẫn phải luôn luôn sống những hoàn cảnh, những tình thế mà mỗi lúc đòi hỏi ở tôi một cái gì đó: tôi có nhiều bỏn phận đối với người cũng như tôi có nhiều bổn phận đối với trí tuệ” [51,tr.21]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích :
Nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức Phật giáo ở chùa Từ Quang và một
số chùa thuộc địa bàn thành phố Sa Đéc hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức Phật giáo ở Sa Đéc hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục đạo đức của Phật giáo + Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức Phật giáo trên địa bàn thành phố Sa Đéc hiện nay
Trang 149
+ Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục đạo đức Phật giáo cho Phật tử ở chùa Từ Quang và một số chùa khác
Đối tượng khảo sát là những tín đồ Phật giáo đang học đạo đức Phật giáo, những người giảng dạy cho các Phật tử này, cũng như chương trình đào tạo dành cho Phật tử
- Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian: Nghiên cứu về giáo dục đạo đức Phật giáo chủ yếu ở
chùa Từ Quang và một số chùa khác ở thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
* Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập tài liệu và được thống kê từ năm 2013
đến 2016 về công tác giáo dục đạo đức Phật giáo tại chùa Từ Quang vì đây là thời điểm chúng tôi tiếp cận với ngôi chùa này Ngoài ra còn đến với một số chùa khác để thấy được thực trạng của công tác giáo dục đạo đức ở tỉnh nhà nhằm đưa ra những kiến nghị, giải pháp phát triển hơn trong tương lai
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
*Lý thuyết nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo thông qua 3 yếu tố niềm tin, thực hành
và cộng đồng.Vì từ niềm tin về Phật giáo, người Phật tử mới theo lời Phật dạy thực hiện nếp sống đạo đức và lan tỏa ra những người chung quanh cũng như trong gia đình và ngoài xã hội Từ đó có thể tìm ra ý nghĩa của hoạt động giáo dục đạo đức tại các chùa có ảnh hưởng sâu rộng như thế nào và nhất là nói lên vai trò quan trọng của các đạo tràng trong việc thực hiện giáo dục đạo đức cho tín đồ
*Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp đối thoại có chủ đích
của người nghiên cứu đối với đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập những thông tin
Trang 15- Phương pháp quan sát tham dự: Đây là phương pháp trực tiếp tham gia vào
cộng đồng để quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức Phật giáo ở chùa Từ Quang
và các chùa khác Phương pháp này sẽ luôn được chúng tôi thực hiện trong quá trình đi khảo sát Các thông tin thu thập từ phương pháp này được chúng tôi ghi lại dưới dạng ghi chú (note) và nhật ký điền dã, được thể hiện trong đề tài dưới dạng miêu tả
- Phương pháp so sánh :với phương pháp nầy có thể thấy được ưu, khuyết
điểm của các chùa trong việc dạy đạo đức Từ đó có thể áp dụng cho các mô hình dạy đạo đức sau nầy
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: sử dụng để phân tích và tổng hợp các
kết quả từ các tài liệu thứ cấp và sơ cấp
Ngoài ra, chúng tôi còn sưu tầm thông tin thư tịch, các văn bản, số liệu thống
kê, các báo cáo từ các thư viện, các cơ quan chức năng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Thực hiện đề này nhằm hướng đến việc phân tích, đánh giá công tác giáo dục đạo đức Phật giáo tại Thành phố Sa Đéc theo hướng khoa học Đó là việc sử dụng các dữ liệu thực tế để đánh giá đúng nguyên nhân và phân tích vấn đề dưới góc nhìn khoa học xã hội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những giải pháp, kiến nghị cho việc giáo dục đạo đức Phật giáo ở các chùa được hoàn thiện hơn, góp phần giúp ích cho giáo
Trang 1611
hội và xã hội Ngoài ra, đề tài cũng có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về đạo đức Phật giáo và công tác giáo dục đạo đức Phật giáo hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn chia thành ba chương, mỗi chương
có đề cập những vấn đề sau :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiển giáo dục đạo đức Phật giáo ở nước ta
hiện nay Nội dung chương nầy nhằm nêu lên một số kinh điển tiêu biểu có đề cập
đến vấn đề đạo đức và thực tiễn giáo dục đạo đức Phật giáo ở nước ta hiện nay đối với Phật tử
Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay ở Thành phố Sa Đéc
Chương nầy nêu lên một số phương thức học tập của các chùa cũng như các yếu tố và
hệ quả của việ dạy đạo đức trong đời sống, tiêu biểu là chùa Từ Quang và một số chùa khác ở thành phố Sa Đéc
Chương 3: Một số nhận xét đánh giá và khuyến nghị giải pháp Chương nầy
đưa ra một số nhận xét và đánh giá về ưu, khuyết điểm và một số khuyến nghị giải pháp đối với Giáo hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp, với Trung ương Giáo hội và lãnh
đạo chính quyền các cấp
Trang 17
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
PHẬT GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn
1.1.1 Giáo dục
- Tự điển Việt Nam Phổ thông : Gíáo là dạy như chỉ giáo, gia giáo Dục là nuôi,
chăm nom để bồi đắp như đức dục, thể dục [54, tr 164]
- Tự điển Hán Việt : Giáo là lệnh dạy, lệnh truyền Mệnh lệnh của thiên tử gọi là
chiếu, mệnh lệnh của thái tử và chư hầu gọi là giáo Gíáo là dạy dỗ, như giáo dục là dạy
nuôi, giáo sư là thầy giáo.Tôn giáo gọi tắt là giáo như giáo hội [ 13, tr.231] Dục là ham
muốn [13, tr.19], là sinh , nuôi [13, tr 295], nuôi cho khôn lớn [13, tr.265]
- Phật Quang đại từ điển : Gíáo tiếng Phạm là Sastra nghĩa là lời dạy Ví dụ :
Thánh giáo là những lời dạy bảo của bậc Thánh, Ngôn giáo là giáo pháp được biểu
đạt bằng lời nói, Giáo pháp là lời nói được dùng làm phép tắc Dục tiếng Phạn là
Chanda hoặc Rajas là tác dụng tinh thần mong muốn sự nghiệp được hoàn thành
[16, tr.1969] Dục có ba tính : thiện, ác và vô ký Dục tính thiện là nguồn gốc phát
khởi tâm tinh tiến, cần mẫn, dục mang tính ác thì thèm muốn tài vật của người khác,
gọi là tham, là một trong những phiền não căn bản [16, tr.1321]
- Phật học từ điển : Gíáo dùng về động từ nghĩa là dạy dỗ, khuyên nhủ, sai
khiến, dùng về danh từ nghĩa là sự giáo hóa, cuộc giáo độ, sự dạy bảo về phong
hóa, về đạo lý là việc chỉ dạy cho người ta làm lành Giáo cũng có nghĩa là nền
tôn giáo, là khoa giáo dạy người tu học như Phật giáo, Nho giáo Phật tùy lúc,
tùy dịp, tùy tình ý của chúng sanh, tùy nhơn duyên mà thuyết giáo với chúng
sanh [12, tr.600]
Vậy giáo dục ở đây chính là những lời dạy để con người được hoàn thiện
1.1.2 Đạo đức
- Định nghĩa của John Yale trong tác phẩm “Tôn giáo là gì?’’ cho rằng:“Tôn
giáo cần phải được thực hiện ngay bây giờ Và đối với bạn, trở nên đạo đức có
nghĩa là bạn sẽ cố gắng lần lượt tiến trên con đường đã chọn, và thực hiện nhiều
việc, nhận thấy những sự việc đó cho chính mình bạn” [31, tr 47]
Trang 1813
- Tự điển Phật học : Đạo là chánh pháp Đức là đắc đạo, chẳng để cho sai lạc nền chánh pháp.Nguyên lý tự nhiên, cái chơn tánh là đạo Vào được lòng người, cảm ứng với người là đức Đạo đức là nền Pháp giáo mà người ta nên theo để trở nên từ thiện, để thoát khỏi các khổ não [12, tr.524]
- Từ điển Hán Việt: Đạo là dẫn đưa, chỉ dẫn(13, tr.138) Đạo là đường cái thẳng, đạo lý là một cái lẽ nhất định ai cũng phải noi đấy mà theo(13, tr.614) Đức : có nhiều nghĩa, thứ nhứt là cái đạo để lập thân như đức hạnh, đức tính Thứ hai nghĩa là thiện Làm thiện cảm hóa tới người gọi là đức chính, đức hóa Thứ ba nghĩa là ơn Thứ tư nghĩa là cái khí tốt trong bốn mùa [13, tr.177]
- Phật Quang Đại Từ Điển: Đạo đức là nguyên lý thiện ác, chính tà có liên
quan đến hành vi của nhân loại Đạo đức, chữ La tinh là mors, cùng nghĩa với chữ
êthos(tập tục), bỏi vì tập tục là nền tảng của đạo đức và pháp luật, trong đó pháp
luật là phép tắc trong hoạt động xã hội, còn đạo đức là mẫu mực tất yếu của cá nhân trong phép tắc sinh hoạt của xã hội loài người
- Tự điển Việt Nam phổ thông: đạo đức là đạo lý và đức hạnh (người có đạo đức) Đạo đức gia: nhà đạo đức [54 ,tr.180]
- Theo Tâm lý học, đạo đức là hình thái yếu tố xã hội, tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực, nhờ đó con người điều chỉnh hành vi Đạo đức còn là những quy tắc, chuẩn mực thể hiện sự tự giác trong giao tiếp giữa người và người Đó còn
là toàn bộ các quan niệm về thiện, ác, danh dự, trách nhiệm, lương tâm và lòng tự trọng về công bằng và những qui tắc đánh giá hành vi giữa người và người, giữa con người và xã hội
Trong tinh thần căn bản của Phật giáo, thì Đức là tự mình được lợi ích, Đạo là làm lợi ích cho người khác Nói chung, đạo đức là đạo lý và đức hạnh của con người
1.1.3 Đạo đức Phật giáo
Theo Hòa Thượng Minh Châu: “Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại
hạnh phúc và an lạc cho mọi loài chúng sanh đặc biệt là loài người của chúng ta” [6,
tr.25 ] Và nếp sống ấy cần phải được thực hành chứ không phải để cầu xin nghĩa là phải ứng dụng nền đạo đức ấy vào thế giới loài người, nhất là con người hiện đại ngày
Trang 1914
nay Ngài cho rằng đạo đức Phật giáo là nếp sống trong sạch và lành mạnh và chỉ như thế mới có thể đem lại đời sống hạnh phúc
Theo Tự điển Việt Nam phổ thông: Đạo có nhiều nghĩa: là đường như chính đạo,
là bổn phận như đạo làm người, là nói như đàm đạo, là tôn giáo như đạo Thiên Chúa, là toán quân như đạo quân, là ăn trộm như đạo tặc, là bài bản luật pháp như đạo luật.- Đức:
là cá tính của người đời hợp với đạo lý như công ,dung, ngôn, hạnh là bốn đức chính của đàn bà, là ý chí làm điều lành như ăn ở có đức, là ân huệ như âm đức, là tiếng gọi thần, thánh, vua như đức Chúa, đức Vua
Đạo còn là những lý thuyết, triết thuyết, những nguyên tắc
So sánh đạo đức thông thường với đạo đức Phật giáo có những điểm tương
tự khi kết hợp một số nghĩa như đạo đức là cá tính của người hợp với đạo lý và ý chí làm điều lành cũng như nếp sống đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi loài Tuy nhiên, giáo dục đạo đức với giáo dục đạo đức Phật giáo có nhiều điểm khác biệt Với giáo dục đạo đức đời thường sẽ giúp người được giáo dục có những đức tính tốt, hướng đến chân, thiện , mỹ Đạo đức Phật giáo cũng giúp con người đến những sự tốt lành, phân biệt thiện/ ác, tốt/ xấu nhưng còn hướng con người đến
sự an lạc, giải thoát và hướng thượng
1.1.4 Phật tử
- Định nghĩa của Phật Quang Đại Từ Điển : có 3 nghĩa (16, tr.4299)
* Người tin và nhận theo giáo pháp của Phật, thừa kế gia nghiệp của Ngài, tức là người mong cầu thành Phật để làm cho hạt giống Phật không dứt mất
* Chỉ cho những người tín đồ Phật giáo thọ giới Bồ tát thừa
* Chỉ cho hết thảy chúng sinh Chúng sinh thuận theo Phật, sự nhớ nghĩ của Phật đối với chúng sanh cũng giống như cha mẹ thương nhớ con cái, vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, vì thế gọi chúng sinh là Phật tử
- Phật học từ điển: Phật tử là con của Phật về Pháp giáo, đệ tử của Phật, tín
đồ Phật giáo
- Tự điển Hán Việt : Phật dịch âm tiếng Phạn (Buddha), nói đủ phải nói là Phật đà là bậc tu đã tới cõi giác ngộ hoàn toàn, lại giáo hóa cho người được hoàn toàn giác ngộ (13, tr.20) Tử là con, bất luận trai gái đều gọi là tử (13, tr 123)
Trang 2015
Nói chung, Phật tử là con Phật tức những người đã quy y tam bảo, hay còn gọi
là cư sĩ, tức những người tu tại gia, thỉnh thoảng đến chùa làm công quả Một số người đến chùa hiện nay dù chưa quy y tam bảo vẫn được gọi là Phật tử
Ngoài ra, có một số thuật ngữ về Phật giáo được dùng trong bài như sau:
- Hoằng pháp hay hoằng dương chánh pháp là làm cho Phật pháp được lớn mạnh và phổ biến sâu rộng
- Thân giáo là lấy tự bản thân mình làm gương để giáo dục người khác, như những vị đạo cao đức trọng được mọi người tôn kính và noi gương
-Xương minh Phật pháp: là làm cho Đạo Phật được phát triển tốt đẹp
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số kinh điển tiêu biểu có đề cập đến vấn đề đạo đức
* Kinh Giáo thọ Thi-Ca-La-Việt (Singalovada-Suttanta), [37, tr.529],
thuộc Trường bộ kinh tương đương với Kinh Thiện Sanh trong Trường A Hàm
Thi-Ca-La-Việt là tên người con ở thành Vương Xá (Rajagaha) tại Trúc lâm (Veluvana) vâng lời cha mỗi sáng lễ sáu phương và được Thế Tôn giảng giải về việc nầy: phương Đông là cha mẹ, phương Tây là vợ con, phương Nam là sư trưởng, phương Bắc là bạn bè, phương dưới là tôi tớ, và phương trên là Sa-môn, Bà-la-môn Do đó người có những bổn phận sau:
+ Đối với cha mẹ phải nuôi dưỡng, làm bổn phận của người con, giữ gìn gia đình và truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự, làm tang lễ khi cha mẹ qua đời Cha mẹ đối với con : phải ngăn chận con làm điều ác, khuyến khích con làm điều thiện, dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con, đúng thời trao của thừa tự cho con
+ Đối với các bậc sư trưởng đứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp Đối lại, các bậc sư trưởng phải huấn luyện
đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyện, dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì, dạy cho thuần thục các nghề nghiệp, khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc, bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt
+ Chồng phải kính trọng vợ, không bất kính với vợ, trung thành với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ Vợ đối với chồng, khéo tiếp đón bà
Trang 21+ Đối với người giúp việc phải giao việc đúng với sức của họ, lo cho họ ăn uống và tiền lương, điều trị cho họ khi bịnh hoạn, chia sẻ các mỹ vị đăc biệt cho họ, thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép Người giúp việc đối với chủ nhân phải dậy trước khi chủ dậy, đi ngủ sau chủ, tự bằng lòng với các vật đã cho, khéo làm các công việc, đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ
+ Đối với các vị Sa-môn phải có lòng từ về thân, có lòng từ trong hành động
về khẩu, có lòng từ trong hành động về ý, mở rộng cửa để đón tiếp các vị ấy, cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết Như vậy vị Sa-môn ấy phải có lòng thương tưởng vị tín đồ ấy như ngăn họ không làm điều ác, khuyến khích họ làm điều thiện, thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe, làm cho thanh tịnh điều
đã được nghe, chỉ bày con đường đưa đến cõi Trên
Ngoài ra, Thế Tôn còn giảng người đệ tử Phật còn phải diệt trừ bốn nghiệp phiền não, không làm ác nghiệp, không phung phí tài sản
+ Bốn phiền não được diệt trừ là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo
+ Không làm ác nghiệp theo bốn lý do là tham dục, sân hận, ngu si, sợ hải
+ Sáu nguyên nhân làm phung phí tài sản là: du hành đường phố phi thời, la cà đình đám hí viện, đam mê cờ bạc, giao du ác hữu, quen thói lười biếng
Khi nghe xong lời giảng của Thế Tôn Thi-Ca-La-Việt cảm thấy“ như người
dựng đứng lại những gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc” [37, tr.547]
* Kinh Thiện Sanh [36, tr.555] là một trong số bài kinh của Kinh Trường
A- hàm
Trang 2217
Tương tợ như kinh Thi-Ca-La-Việt,Thiện Sanh là tên con một vị Trưởng giả nghe lời cha lễ bái sáu phương Ngoài bổn phận đối với những người tương ứng với
sáu phương như trên, Thế Tôn đã giảng như sau:“Nếu biết bốn kết nghiệp, không ở
trong bốn xứ mà làm ác hạnh, và lại nếu có thể biết sáu nghiệp làm hao tổn tài vật, thì gọi là khéo sống (Thiện Sanh)” [36, tr.557]
+ Bốn kết nghiệp là: sát sanh trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ
+ Bốn xứ là: dục, sân, bố, si
+ Sáu nghiệp tổn tài là: đam mê rượu chè, cờ bạc, phóng đãng, say mê kỹ nhạc, kết bạn với người ác, biếng lười
Sau đó, Thiện Sanh thưa Thế Tôn:“ Ngài dẫn dụ ý nghĩa về lời dạy của cha
con, khiến con như người áp mặt xuống được ngước lên, những gì đang đậy kín được mở ra, như người đang mê được tỉnh ngộ, như trong nhà tối thắp đèn lên để người có mắt thấy được các vật chung quanh ” [36, tr.573]
Kinh Pháp cú (Dhammapada) thuộc thành phần kinh tạng Pali Kinh nầy là
kinh thứ 2 trong 15 tập kinh thuộc kinh Tiểu bộ ( Khuddakanikaya ) Kinh Pháp cú có nghĩa là những bước chân đưa đến giác ngộ, giải thoát, đưa đến chân, thiện Kinh này được nhiều tác giả cho là thánh thư của Đạo Phật và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới Kinh gồm 423 bài kệ chia thành 26 Phẩm, thâu tóm tinh hoa giáo lý Đức Phật Sau đây là một số bài kệ có liên quan đến đạo đức Phật giáo :
+ Phẩm Song Yếu (Yamakavagg), bài kệ số 5 :
Với hận diệt hận thù, Đời nầy không có được, Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu
Từ trước đến nay những người thù hận với nhau chỉ trả lại bằng hận thù và như thế nối tiếp nhau đời nầy qua đời khác Chỉ khi nào ta không còn thù oán với nhau, lấy tình người với lòng từ bi đối đãi nhau thì hận oán mới dần tiên tan, biến thù thành bạn, hóa giải được oán hờn
+ Phẩm Tâm (Cittavagga) , bài kệ 43 :
Điều mẹ, cha, bà con, Không có thể làm được,
Trang 2318
Tâm hướng chánh làm được, Làm được tốt đẹp hơn
Chỉ có chính ta mới có thể hướng tâm về néo chánh, những người thân như cha, me, anh em trong nhà hay người khác không có thể làm được thay ta
+ Phẩm Hoa (Pupphavagga), bài kệ 50 :
Không nên nhìn lỗi người, Người làm hay không làm, Nên nhìn tự chính mình,
Có làm hay không làm
Thực tế nhiền người không nhận thấy lỗi mình mà chỉ thấy lỗi người khác nên thường gây ra hiềm khích lẫn nhau Nếu mọi người biết tự trở về với chính mình thì gia đình hạnh phúc, xã hội an lành
+ Phẩm Ngu (Bàlavagga), bài kệ 66:
Người ngu si thiếu tri,
Tự ngã thành kẻ thù Làm các nghiệp không thiện Phải chịu quả đắng cay
Người ngu thiếu trí tuệ nên làm những việc bất thiện nên tạo quả xấu nên
vô tình tự tạo kẻ thù cho chính mình
+ Phẩm Hiền trí (Panditavagga), bài kệ 78:
Chớ thân với bạn ác, Chớ thân kẻ tiểu nhân, Hãy thân người bạn lành, Hãy thân bậc thiện nhân
Người xưa thường nói “ gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” nên khuyên ta gần với bạn lành và thân cận với bậc thiện tri thức để có thể trở thành người toàn thiện
+ Phẩm Ngàn (Sahassavagga), bài kệ 103:
Dầu tại bãi chiến trường, Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn, Thật chiến thắng tối thượng
Trang 24Người xưa có câu “ Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác”, cho nên người làm điều thiện gặp thiện, làm ác gặp ác vậy
+ Phẩm Hình phạt (Dandavagga), bài kệ 136:
Người ngu làm điều ác, Không ý thức việc làm
Do tự nghiệp, người ngu,
Bị nung nấu như lửa
Người hay làm ác đôi khi không ý thức được việc mình làm và như thế cứ trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi
Tự mình làm lành tránh ác, không ai có thể thay ta làm điều nầy Do đó,
tự mình là chủ nhân cuộc đời mình, không ai có thể sống thay ai, nên tự mình hướng về cuộc sống thánh thiện để không bị đọa vào đường dữ
Trang 2520
Chính lời chư Phật dạy
Bài kệ nầy tóm ý được những lời Phật dạy về chữ “tâm” Khi tâm ý trong sạch sẽ gặp điều lành tránh điều ác như ta cũng có câu “ ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ” như một chân lý muôn nơi và muôn thuở vậy
* Ngũ giới cấm: là năm điều ngăn cấm cơ bản đối với tín đồ Phật giáo
- Thứ nhất là không sát sanh
Đó là không giết hại sinh vật dù nhỏ như côn trùng và lớn nhất là con người
Trẻ em thường hay giết những côn trùng nhỏ như trùng dế, nếu không được giáo dục đạo đức Phật giáo thì khi lớn lên chúng sẽ quen việc giết hại Có nhiều lý do để Phật giáo cấm sát sanh :
Trước hết là tôn trọng sự công bằng Vì sinh mạng con người rất quý ví như con rùa một mắt ở dưới biển đến một trăm năm mới nổi lên một lần và làm sao gặp được bọng cây nổi trên mặt biển mà chui vào Cho nên Phật bảo “nhân thân nan đắc” tức thân người khó gặp Nếu một khi có ai xâm phạm đến tính mạng do bản năng tự
vệ ai cũng chống trả lại quyết liệt Con vật cũng thế, khi nó sắp đem bị giết thì cũng giẫy giụa chống trả Người xưa cũng bảo việc gì mình không muốn người khác làm
cho mình thì mình cũng nên làm cho người khác “ kỷ sở bất dục , vật thi ư nhân”
Kế đến không sát sanh là bảo vệ Phật tánh bình đẳng của mỗi chúng sanh Con người cũng như loài vật cũng có mạng sống như nhau, cùng đồng tánh Phật Giết một con vật đồng thời là sát hại Phật tánh Lại nữa, không sát sanh là nuôi dưỡng lòng từ bi tức ban vui cứu khổ chúng sanh dù là người hay vật Đức Khổng Tử cũng có nói: “Văn
kỳ thanh bất nhẫn thực kỳ nhục, kiến kỳ sanh bất nhẫn kiến kỳ tử” tức là nghe tiếng kêu
la của con vật, không nở ăn thịt nó; thấy nó sống không đành thấy nó chết Như vậy, sát hại loài vật cũng là giết chết lòng từ bi của mình Không sát sanh tức là tránh được luật nhân quả Vì đã là luật nên khi ta sát hại người hay vật đều có báo ứng oán thù Lại nữa,
Phật đã từng dạy trong kinh Lăng Gíà rằng:“Người thường sanh tâm sát hại , càng tăng
trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sanh tử, không có ngày ra khỏi”
Ngoài ra, không sát sanh có các điều lợi ích sau :
Trang 2621
Về cá nhân: người không sát nhân, hại vật lòng sẽ không bức rức hối hận, thân và tâm được nhẹ nhàng, giấc ngủ được bình an Vì tướng từ tâm sanh nên nét mặt sẽ hiện vẻ hiền hòa trong sáng
Về xã hội: nếu mọi người trên thế gian nầy đều giữ giới không sát sanh thì thế gian sống trong yên ổn hòa bình và giải thoát được nghiệp sanh tử luân hồi như người xưa có dạy:
Nhứt thiết chúng sanh vô sát nghiệp,
Thập phương hà xứ động đao binh
Gia gia, hộ hộ đồng tu niệm,
Thiên hạ hà sầu bất thái bình
Nghĩa là:
Hết thảy chúng sanh không nghiệp giết,
Mười phương nào có nổi đao binh
Mỗi nhà, mỗi chốn đều tu thiện,
- Thứ hai là không trộm cướp
Những người do lòng gian tham lấy của người một cách bất chính dù với bất cứ hình thức nào đều là trộm cướp cả Đó là những việc làm của người không
“chánh mạng” tức nuôi mạng sống của mình bằng những việc làm không chân chánh Phật cấm trộm cướp là tôn trọng sự công bằng vì mọi người đều tôn trọng quyền sở hữu của người khác như thế sẽ tạo nên một xã hội công bằng, nuôi dưỡng lòng từ bi và tránh nghiệp báo oán thù
Trang 2722
Thời nhà Trần nước ta được thanh trị nhờ nhà vua có lòng nhân Vua Trần Thái Tông có lời cảnh tỉnh những người trộm cướp như sau:
Tạc bích xuyên tường ý bất hưu,
Thiên ban bách kế, khổ vinh cầu;
Kim sanh cầu đắc tha nhơn vật,
Bất giác chung thên thọ mã ngưu
Nghĩa là:
Khoét vách xoi tường chí những đâu,
Ngàn mưu trăm kế luống tham cầu;
Của người dầu có đời nay được,
Đời khác luôn luôn kiếp ngựa trâu
Người xưa có câu:“Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ” tức là ta
không nên giao thiệp với những người không có tình nghĩa, vật không phải của ta thì không nên lấy
- Thứ ba là không tà hạnh
Người tai gia không được tà hạnh, nghĩ ngợi bất chánh, lén lút làm việc phi pháp, phi lễ với người khác Vì từ đó sẽ làm cho nhiều gia đình tan nát, mất hạnh phúc Gia đình là đơn vị nhỏ nhất của xã hội mà không hạnh phúc thì khó có được một xã hội tốt đẹp an vui Từ cha mẹ sẽ ảnh hưởng đến con cái, thế hệ trẻ sẽ ra sao khi tuổi trẻ bị sa đọa không có giáo dục gia đình khởi nguyên từ đạo đức ở cha mẹ
Phật cấm tà hạnh vì tôn trọng sự công bằng, bảo vệ hạnh phúc gia đình, tránh
được quả báo xấu Trong kinh Tứ thập nhị chương có nói:“Người ôm lòng ái dục
cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, quyết bị nạn cháy tay”
Ngoài ra, người không tà hạnh sẽ được bốn điều lợi ích như trong kinh Thập thiện có nói : một là sáu căn đầy đủ, hai là được người kính trọng, ba là trừ được phiền não, bốn là tình duyên không ai xâm phạm Nếu mọi người được như vậy thì
xã hội sẽ yên ổn, người người an vui
- Thứ tư là không được nói sai sự thật
Có bốn cách nói sai sự thật :
Trang 2823
* Nói dối là chuyện có nói không, chuyện không nói có; trước mặt khen, sau lưng chê; khi thích thì dịu dàng, khi ghét thì đắng cay Nói chung lời nói và việc làm bất nhất đều thuộc về nói dối
* Nói thêu dệt: việc ít nói nhiều làm cho người nghe sân hận, nói châm chích làm người nghe phải khổ, nói lời cám dỗ làm người say mê hay loạn tâm
* Nói lưỡi hai chiều: nói tốt bên nầy, nói xấu bên kia và ngược lại làm cho hai bên chống đối, oán thù nhau
* Nói lời hung ác : chưởi mắng nhau làm cho người nghe đau khổ, buồn rầu Đạo Phật khuyên người không dối trá vì dối trá thì khó đạt đạo Trong xã hội
cũng thế vì “chữ tín là chìa khóa mở cửa thành công”, nếu nói dối không ai tin nữa Phật dạy:“Phù sĩ xử thế phủ tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân do kỳ ác ngôn” nghĩa là
người đời, lưỡi búa nằm trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời ác Từ đó sẽ không
khỏi tránh cảnh “ác lai ác báo” Do vậy , nói dối là tai họa lớn cho xã hội
- Thứ năm là không uống rượu
Nói chung những chất làm say người như rượu, bia đều không được uống Trật tự xã hội sẽ rối loạn vì chất say sẽ khiến người có những hành động không làm chủ được chính mình mà tự họ không hay biết như tai nạn giao thông Phật cấm không uống rượu vì sẽ làm mất giống trí tuệ Người không uống rượu gia đình được bình yên, con cái ít bịnh, xã hội an ổn, nòi giống khỏe mạnh
Những tín đồ Phật giáo giữ Ngũ giới chính là năm bậc thang cho người tu tại gia đạt đến đạo hạnh Đó chỉ là việc làm của một người bình thường mà trong bất
cứ xã hội nào cũng có Càng có nhiều người giữ năm giới xã hội càng tốt đẹp và an
bình vì “tâm bình thì thế giới bình”
*Kinh Thập thiện: tức 10 điều lành là: 1-Không sát sinh, 2-Không trộm
cắp, 3-Không dâm dật, 4-Không nói dối, 5-Không nói thêu dệt, 6-Không nói lưỡi hai chiều, 7-Không nói hung ác, 8-Không tham muốn, 9-Không giận tức, 10-Không si mê
*Bát chánh đạo: hay tám con đường chánh hạnh để đưa con người đến đời
sống tốt đẹp, đó là:
Trang 2924
1-Chánh kiến: là thấy, nghe, hay biết một cách ngay thẳng, đúng với sự thật
Người có chánh kiến sẽ nhận định đúng vấn đề, không bị tập quán hay thành kiến sai trái, biết phân biệt giả, thật, rõ biết vật thật, lời chơn không làm điều sai quấy, trái với lương tâm
2-Chánh tư duy: là suy nghĩ, xét nghiệm chơn chánh, đúng với lẽ phải
Người chánh tư duy thường hay suy nghĩ đạo lý, suy xét những hành vi lỗi lầm hay
ý nghĩ xấu xa để tránh hầu tìm cho mình hướng đi đúng
3-Chánh ngữ: là lời nói chân thật, công bình và hợp lý Người có chánh ngữ
sẽ không nói sai sự thật, không thiên vị, xuyên tạc Họ thận trọng lời nói và luôn
suy nghĩ trước khi nói Trước khi nhập Niết bàn, Phật dạy đệ tử : “Chẳng luận là
lời nói của ai miễn lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý thì cứ tin theo mà tu”
4-Chánh nghiệp: là hành động, việc làm chơn chánh, hợp lý, có lợi cho
người và vật Người có chánh nghiệp luôn giữ gìn không làm tổn hại đến người khác Người ấy tôn trọng lương tâm nghề nghiệp và làm lợi ích cho mọi người Họ
có thể hy sinh quyền lợi và tánh mạng để giải khổ cho người khác và luôn giữ gìn
ba nghiệp thân, miệng, ý được thanh tịnh
5-Chánh mạng: là sống chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện Họ sống
cuộc đời ngay thật, không làm giàu trên nỗi đau người khác, chỉ làm lợi ích cho mình và người, không vọng cầu và an vui với việc làm của mình
6-Chánh tinh tấn: là chuyên cần đi đến mục đích, làm theo chánh nghĩa, làm
lợi ích cho mình và người, luôn làm mọi hạnh lành để tự độ và độ người khác
7-Chánh niệm: là ghi nhớ chơn chánh những điều hay, lẽ phải, lợi mình, lợi
người theo đạo lý chơn chánh Chánh niệm gồm có hai: 1-Chánh ức niệm là nhớ các lỗi lầm và thành tâm sám hối, nhớ nghĩ đến bốn ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sanh, ân Tam bảo 2-Chánh quán niệm: dùng tâm từ bi, mở rộng tình thương yêu với tất cả chúng sinh
8-Chánh định: là tập trung vào vấn đề để thấy rõ chân chính, tư tưởng
thường tập trung vào các vấn đề sau: 1-Quán thân bất tịnh: thấy thân không thanh tịnh để từ bỏ si ái, tham dục, 2-Quán từ bi: thấy mọi người đều bình đẳng, mở rộng
Trang 3025
lòng thương để cứu độ chúng sinh, 3-Quán nhân duyên: quán tất cả muôn vật đều là giả hợp, không thật có để trừ tham chấp 4-Quán giới phân biệt: thấy sự giả hợp của thân và không chấp có cái ta thường tồn ( trừ ngã chấp) và mọi vật ở thế gian đều là giả hợp (trừ pháp chấp), 5-Quán hơi thở: chuyên chú đến hơi thở ra vào để trừ tâm tán loạn [25,tr.152-158]
“ Bát chánh đạo” là pháp môn thông dụng vì đem lại lợi ích thiết thực cho đời sống cá nhân, xã hội vì cải thiện được bản thân, hoàn cảnh và được lợi lạc
cho hiện tại và tương lai Giáo lý “Bát chánh đạo” được ứng dụng thực tế vào bối cảnh kinh tế hiện nay Với tinh thần “chánh mạng”, mọi người nên có nghề
nghiệp chân chánh để nuôi sống Thực hiện được điều nầy, người cư sĩ sẽ được 4 lạc thú: Một là được hưởng cảm giác an toàn do có của cải và cơ sở kinh tế có được bằng phương pháp chính đáng Hai là có thể khẳng khái sử dụng của cải ấy cho mình, cho người nhà và cho bạn hữu, đồng thời dùng nó để làm nhiều việc từ thiện Ba là không bị khổ sở vì nợ nần Bốn là có thể sống cuộc đời thanh tịnh, không lỗi lầm (47,online)
*Tứ nhiếp pháp: là bốn phương pháp làm lợi ích cho người khác gồm: bố
thí nhiếp, ái ngữ nhiếp, lợi hành nhiếp và đồng sự nhiếp
- Bố thí nhiếp
Con người có nhiều nỗi khổ như thiếu thốn về vật chất, mê mờ về tinh thần,
lo sợ về nhiều việc Cho nên người có lòng từ bi phải xả bỏ tánh ích kỷ, cho người khác những gì họ mong muốn tức là hạnh bố thí Do đó sẽ thu phục được lòng người Có 3 loại bố thí là tài thí, pháp thí và vô úy thí
+ Tài thí: là bố thí tiền của
+ Pháp thí: là giảng dạy giáo pháp cho người vì người càng đến với đạo thì đời càng bớt khổ
+Vô úy thí: làm cho chúng sanh không sợ hãi
Việc bố thí phải làm một cách tự nhiên không phải là làm phúc hay ban ơn
- Ái ngữ nghiếp
Tùy theo căn tánh chúng sanh mà khéo nói cho họ cảm mến Vì trong lúc khổ lời an ùi rất quý báu, xoa dịu thương đau, dẫn dắt họ đến Phật pháp
Trang 3126
- Lợi hành nhiếp
Làm lợi ích cho người bằng lời nói, ý nghĩ hay hành động Ngài Trì Địa Bồ tát suốt đời gánh đất đấp đường, bắt cầu cho mọi người đi lại dễ dàng Người giàu có thể xây bệnh xá, trường học, lập trại tế bần những công trình làm lợi ích chúng sanh
- Đồng sự nhiếp
Giúp đỡ những người cùng chung hoàn cảnh hay công việc, nghề nghiệp Ta
có thể là người để họ nương nhờ để có thể nhiếp hóa mọi người theo chánh pháp
Do những lời dạy trên, người thực hành tứ nhiếp pháp sẽ góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, an lành
Trên đây là những kinh, luật có nội dung giáo dục đạo đức cho các tín đồ Phật giáo có thể thực hiện trong cuộc sống để làm tốt đạo đẹp đời
1.3 Thực tiễn giáo dục đạo đức Phật giáo ở nước ta hiện nay
Nói về giáo dục đạo đức cho Phật tử ở nước ta là nói đến hoạt động hoằng pháp và ban hướng dẫn Phật tử ở Trung ương và địa phương Sau đây là hoạt động tiêu biểu của Trung ương và một số tỉnh thành trong nước
1.3.1 Các hình thức sinh hoạt
* Các hình thức sinh hoạt ở Trung ương
Theo báo cáo của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương trong nhiệm kỳ VII (2012-2017) về hoạt động của 4 phân ban như sau [20,tr.94]
- Hoạt động của Phân ban cư sĩ Phật tử Trung ương
Thông qua thành viên Ban Hướng dẫn Phật tử các cấp, chư Tôn đức Tăng,
Ni trụ trì và quý vị giảng sư, công tác tổ chức quản lý, hướng dẫn sinh hoạt tu học của hàng Phật tử tại gia khá tốt, các đạo tràng, khóa tu, lớp giáo lý, giảng đường ngày càng phát triển về chất lượng cũng như số lượng Phật tử tham dự.[20,tr.94] Sau đây là các hình thức và nội dung giáo dục đạo đức trong nước:
+ Bát-quan-trai giới: từ “quan” là cửa, “ trai” tiếng Phạn là Posadha nghĩa là
khi đã qua giờ ngọ không được ăn Vây Bát-quan-trai giới là một pháp tu hành của người tại gia áp dụng trong một ngày, một đêm giữ gìn cho thân tâm được thanh tịnh trong 24 giờ bằng cách ngăn chận 8 điều ngăn cấm sau (28,tr.170)
Trang 3227
- Không được sát sanh
- Không được trộm cắp
- Không được dâm dục
- Không được nói dối
- Không được uống rượu
- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát
- Không được nằm ngồi giường cao rộng, đẹp đẽ
- Không được ăn quá ngọ
Nghi thức thọ Bát-quan-trai giới: phải có thầy truyền giới, sau đó đến đạo tràng
thắp hương, đọc bài nguyện, tụng chú Đại bi, đọc bài nguyện, bài sám hối, bài phát nguyện thọ giới Sau đó tụng kinh Bát nhã, chú vãng sanh, chú Tiêu tai cát tường và hồi hướng
Nghi thức thọ trai (cúng cơm): tín đồ vào bàn ăn, bắt tay kiết ấn cúng dường,
để bát xuống, một người đi cúng xuất sanh, trước khi ăn tụng tam đề ngũ quán, ăn xong đọc chú tước dương chi, uống nước tụng chú ẩm thủy; ăn cơm, uống nước xong tụng chú kiết trai; sau cùng là phục nguyện
Xả Bát-quan-trai giới: sau 24 giờ, người thọ giới thỉnh giời sư lên chùa và
đọc bài tác bạch Nếu không có giới sư, tự mình làm lễ xả giới thì đến trước Tam bảo thắp hương, quỳ xuống khấn nguyện Sau đó tụng kinh Bát nhã, đọc chú vãng sanh, đọc bài tán Phật, đọc chú Thất Phật diêt tội chơn ngôn Xong, đứng dậy xướng lạy, xá 3 xá rồi lui ra
Kỷ luật tu Bát-quan-trai giới trong 24 giờ:
- Không được ra ngoài phạm vi đại giới (trong vườn chùa hoặc vườn nhà mình)
- Không nên tiếp khách và nói chuyện lớn tiếng
- Bớt nói chuyện, không ăn trầu và hút thuốt
- Oai nghi cử chỉ phải giữ gìn cẩn thận
- Phải giữ đúng giờ tu tập
- Không nên nghĩ đến việc nhà hoặc việc thế tục
- Phải nhứt tâm niệm Phật
Chương trình tu Bát-quan-trai-giới trong một ngày, một đêm
Trang 3328
-BUỔI SÁNG : 6 giờ Thọ giới
: 7 giờ Ăn điểm tâm
: 8 giờ Sám hối
: 9 giờ Xem kinh
: 10 giờ Niệm Phật
: 12 giờ Thọ trai
: 12 giờ 30 Kinh hành niệm Phật (đi vòng quanh chánh điện)
- BUỔI CHIỀU : 1 giờ 30 Chỉ tịnh (nghỉ )
: 3 giờ Tụng kinh
: 4 giờ Xem kinh
: 5 giờ Niệm Phật
: 6 giờ Dùng nước
-BUỔI TỐI : 7 giờ Tịnh độ
: 8 giờ Học hoặc nghe thuyết pháp
: 10 giờ 15 Quán sổ tức (niệm hơi thở ra vào)
: 10 giờ 40 Nghỉ
: 4 giờ khuya Tịnh niệm (niệm Phật)
: 6 giờ sáng Làm lễ xả giới
Về cơ bản chương trình như trên nhưng tùy theo mỗi chùa có những thay
đổi khác nhau Những ngày thọ Bát-quan-trai trong tháng là: mùng 8, 14, 15, 23, 29,
30, có thể chọn vào ngày chủ nhựt trong tuần
+ Đạo tràng Niệm Phật, niệm chú, tụng kinh
Nghi thức vào đạo tràng giống như trên , sau khi an vị xong tín đồ ngồi xếp
bằng niệm Phật Sau 30 phút đứng dậy đi kinh hành quanh chánh điện, 30 phút sau
ngồi xuống niệm Phật Đến 11 giờ thọ trai (dùng cơm trưa theo nghi thức) Sau đó
nghỉ trưa Đến 2 giờ bắt đầu như buổi sáng, 30 phút niệm Phật và 30 phút đi kinh
hành Thời gian đến 4 giờ chiều chấm dứt thời khóa niệm Phật
Đạo tràng niệm Phật có thể thay là niệm chú Đại bi hay tụng kinh Pháp Hoa,
kinh Dược sư Kinh Địa tạng, kinh Lương Hoàn Sám và đạo tràng sẽ mang tên đó
như Đạo tràng Pháp Hoa, Đạo tràng Dược sư
Trang 3429
+ Tu thiền
Nghi thức cũng giống như các đạo tràng nhưng thay vì niệm chú, tụng kinh thì tín đồ ngồi thiền Thời gian cũng 30 phút ngồi và 30 phút đi kinh hành Trong thời gian ngồi thiền, hành giả có thể quán sổ tức là niệm hơi thở ra, hơi thở vào Có đạo tràng ngồi thiền qua niệm câu thoại đầu là câu luôn nghĩ nhớ trong lúc ngồi thiền như: Tôi là ai ?- Tôi từ đâu đến?- Khi chết tôi sẽ về đâu?- Vũ trụ là gì ? tùy theo nghi vấn của mỗi người và nhiều lần như thế cho đến khi ngộ đạo Một loại thiền khác là Vipassana hay Thiền Minh sát, hành giả tự chọn cho mình một nghi vấn và đến đạo tràng để thiền định dưới sự giám sát của một Thiền sư Sau thời gian hành thiền khoảng hai tuần, hành giả sẽ trình kiến giải lên vị Đạo sư và sẽ được chỉ dẫn để biết những suy nghĩ đó đúng hay sai
+ Phật thất:
Hành giả sẽ ở trong thất một thời gian tùy ý để suy nghĩ về một vấn đề trong giáo lý nhà Phật, không tiếp xúc với bên ngoài, cơm nước có người đem dến gọi là hộ thất
+ Lớp giáo lý
Đó lớp học dạy những bài kinh ngắn gọn , dễ hiểu cho người tu tại gia như kinh Áo trắng, kinh Pháp cú, kinh Tâm Thính chúng là những Phật tử thường xuyên đến chùa, có thời khóa và chương trình học tập
+ Giảng đường
Đó là những buổi thuyết pháp do chùa ấn định thời gian và mời giảng sư đến thuyết pháp Số lượng thính chúng không hạn định Về thời gian có chùa tổ chức thường xuyên, có chùa tổ chức vào những ngày lễ hội hay lễ húy kỵ các vị tổ sư
+ Hội Quy
Ở các tỉnh, thành phía Bắc, những Phật tủ đã quy y Tam bảo được sinh hoạt
tu học ở chùa Các mô hình tu học có thể là: Mật tông (tụng chú), Địa tạng, Lương hoàn sám (tụng kinh)
Tổng số có 319.912 Phật tử tham gia sinh hoạt tu học định kỳ tại 2.733 Đạo tràng, khóa tu, lớp giáo lý và thính pháp tại các giảng đường Sau đây là hoạt động chung và hoạt động riêng của 6 tiểu ban
Trang 35- Thường xuyên tổ chức hội thi giáo lý Phật pháp cho các Phật tử tại mỗi tỉnh, thành, được các cấp chánh quyền đánh giá cao và ghi nhận ấn tượng tốt trong dư luận quần chúng xã hội như TP.Hồ Chí Minh, Long An, An Giang, Bình Dương
- Cấp chứng nhận cho các Phật tử theo học giáo lý như ở tỉnh Bình Định, Bình Dương
- Riêng tỉnh Bình Định tổ chức Khóa tu sinh viên mỗi tháng một ngày chủ nhật tại chùa Giáo hội tỉnh Đây là một trong những Phật sự quan trọng do Chư Tôn đức trẻ thuộc Ban Hoằng pháp, Ban Hướng dẫn Phật tử tổ đình Long Khánh đảm trách Mỗi khóa tu đều có chủ đề riêng và có giảng sư thuyết giảng, đặc biệt trong khóa tu có thời pháp thoại giúp các em hiểu và ứng dụng giáo lý Phật pháp vào cuộc sống
- Trong năm 2013, 2014, nhằm mở rộng kiến thức Phật pháp, nâng cao trình
độ tu học, tích cực ứng dụng những lời Phật dạy vào cuộc sống, góp phần xây dựng những gia đình Phật tử đạo đức mẫu mực; trong năm qua Phân ban cư sĩ Phật tử có những hoạt động như thăm viếng và sách tấn tu học, tặng kinh sách cho các đạo tràng tại các tỉnh, thành; kết hợp Ban Hoằng pháp Trung ương triển khai thực hiện đồng bộ giáo trình giảng dạy giáo lý 5 năm đến các đạo tràng và ấn hành tập giáo lý
cơ bản theo chương trình giáo lý 5 năm
Trang 3631
* Hoạt động của 6 tiểu ban [20, tr.96]
- Tiểu ban Phật tử người Hoa: Tiểu ban nầy có một Đạo tràng Bát quan trai
với 1.200 lượt Phật tử tham dự 3 tháng một lần, 3 Đạo tràng niệm Phật với 3.000 Phật tử tham dự 4 kỳ trong tháng, 2 lớp giáo lý với 1.000 lượt Phật tử tu học 2 kỳ trong tuần Tổ chức các thời thuyết giảng cho Phật tử người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng xa như Bình Phước, Dak Lak., Dak Nông, Lâm Đồng có hơn 12.000 thính chúng tham dự Phát tâm cúng dường, làm từ thiện với tổng số
tiền là 28.039.500.000 đồng
- Tiểu ban Phật tử Khất sĩ:
Trong nhiệm kỳ qua các Đạo tràng Tịnh xá thuộc hệ phái Khất sĩ hướng dẫn Phật tử làm công tác từ thiện xã hội cụ thể như : ủy lạo đồng bào nghèo, cứu trợ thiên tai lũ lụt, thăm viếng tăng quà cho trại mồ côi, trại tâm thần, tặng tập vở cho nọc sinh nghèo, trợ cấp học bổng cho học sinh nghèo học giỏi, ủng
hộ chiến sĩ Trường Sa, thiên tai lốc xoáy, cúng dường các trường hạ gồm tiền mặt và nhu yếu phẩm tổng trị giá trên 165.000.000.000 đồng
- Tiểu ban Phật tử Nam tông Kinh: Thường xuyên tổ chức các buổi lễ Sám
hối, nghe pháp tu Bát quan trai, thọ đầu đà vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng tư,
lễ Dâng y Kathina (rằm tháng 9 và tháng 10 Phát triển các hoạt động từ thiện xã hội Xây dựng các tủ sách giáo lý tại chùa, tu viện để tín đồ nghiên cứu tu học Thành lập Gia đình Phật tử như Sakyamuni, Gotama, Kassapa, Sarriputa, Ananda Hệ Nam tông từng bước ổn định theo Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương nhưng một số hoạt động mang tính tự phát chưa đi vào nề nếp
- Tiểu ban Phật tử Nam tông Khmer: Tiêu biểu một vài hoạt động như: Đón
Tết cổ truyền Chol Chnăm Thmây , lễ Ooc Om Boóc, lễ Dol Ta, lễ Rước Trăng
Tổ chức xuất gia tu học cho các thanh niên dân tộc Khmer trước khi lập gia đình
Tổ chức 3 điểm học tiếng Pali từ Sơ cấp đến Trung cấp trực thuộc Trường Trung cấp Phật học tỉnh An Giang có 100 Tăng sinh và Tịnh nhân (cư sĩ) theo học
- Tiểu ban Phật tủ Hải ngoại và Tiểu ban Phật tủ Văn nghệ sĩ chưa đi vào hoạt động
Trang 3732
Nhìn chung tình hình tu học của Phật tử cũng khá sôi nổi, được chư Tôn đức trụ trì hướng dẫn tu học nhưng mang tinh cách cá nhân nhỏ lẻ, chưa được đồng bộ và thống nhất dưới sự chỉ đạo của Ban Hướng dẫn Phật tử Tỉnh, Thành [20,t.96] Mỗi năm Phật tử theo học Phật pháp, tham gia vào các đạo tràng ngày một tăng, giáo lý Phật nhiều người áp dụng hơn, mang lại lợi ích thiết thực, xoa dịu nỗi khổ niềm đau cho nhiều người, có sự an lành trong cuộc sống hiện tại và tương lai.[19, tr.8]
- Hoạt động của Phân ban Gia đình Phật tử Trung ương
Theo báo cáo Tổng kết công tác Phật sự, Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương nhiệm kỳ VII (2012-2017), hiện nay có 35 tỉnh, thành có Gia đình Phật tử sinh hoạt theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam với số lượng tổng kết sau:
- Số lượng đơn vị Gia đình Phật tử: 1.059 dơn vị
- Số lượng Huynh trưởng các cấp: 9.821 Huynh trưởng
- Dố lượng Đoàn các ngành: 64.678 Đoàn sinh
- Tổng số Huynh trưởng và Đoàn sinh tính đến cuối năm 2016: 74.499
Ban hướng dẫn Phân ban tỉnh, thành đã tổ chức cho Huynh trưởng các cấp thọ Bát-quan-trai ba tháng một lần, thọ Thập giới, Bồ tát giới, tu tâp tự thân Các Ban hướng dẫn Phân ban Gia đình Phật tử tỉnh, thành tổ chức các trại họp bạn truyền thống, các Trại du ngoạn, tham quan trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh, thành,
tổ chức sinh hoạt giao lưu, trại họp bạn Lục hòa.[19,tr.13]
Về từ thiện - xã hội: Theo báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2014, Ban Hướng dẫn Phân ban Gia đình Phật tủ các tỉnh , thành đã thực hiện các việc từ thiện sau:
- Tổ chức các bữa cơm chay từ thiện vào các ngày 14,15,30 và mùng một hàng tháng tại các bịnh viện trong tỉnh do Huynh trưởng Gia đình Phật tủ trong tỉnh thực hiện
- Giúp đỡ các đồng bào dân tộc nghèo vùng sâu, vùng xa, người già neo đơn, trẻ em mồ côi, trại phong, bịnh viện tâm thần, trẻ em khuyết tật, hổ trợ người bị ung thư, bịnh nhân chất độc da cam, tổ chức chương trình Quốc tế thiếu nhi cho các em nhỏ với tổng số tiền là 851.000.000 đồng Ngoài ra còn trao những phần quà gồm :
200 mét vải, 10 xe đạp và 1 xe lăn
Trang 3833
- Phát thưởng và học bổng cho 616 sinh viên , học sinh là đoàn viên Gia đình Phật tử có thành tích xuất sắc và học giỏi, vượt khó tại các trường trong tỉnh, tinh tấn trong sinh hoạt với tổng số tiền là 477.400.000 đồng
- Hiến máu tình nguyện có 599 Huynh trưởng là Đoàn sinh tình nguyện tham gia hiến máu
- Tham gia dự án “Sáng kiến lãnh đạo Phật giáo ”
- Tham gia hổ trợ chương trình “Tiếp sức mùa thi” do Ban Hướng dẫn Phật
tử Trung ương và Phân ban Thanh thiếu niên Phật tử Trung ương kết hợp với báo Giác Ngộ tổ chức
- Ban hướng dẫn Phân ban Gia đình Phật tử tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu giúp đỡ xây dựng một nhà “ Tình lam” cho một Huynh trưởng đang gặp khó khăn về nhà ở
- Tham gia chương trình ý nghĩa như : Phòng chồng HIV /AIDS do tổ chức Bắc
Âu trợ giúp Việt Nam (NAV) Tham gia chương trình sáng kiến lãnh đạo các tôn giáo phòng chống HIV/AID Tham Gia chương trình ứng phó phòng ngừa-giảm nhẹ rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu (2012-2017) (20,tr.100)
- Hoạt động của Phân ban Thanh thiếu nhi Phật tử
Phân ban nầy có những hoạt động tiêu biểu sau:
- Chương trình tiếp sức mùa thi: các tình nguyện viên với các hoạt động như đón nhận và hổ trợ các suất ăn chay, chỗ ở cho thân nhân và thí sinh, phương tiện đưa đón thí sinh đến trường thi
- Hội trại “Tuổi trẻ & Phật giáo ”: Đây là hoạt động thường niên vào mỗi dịp
hè Từ năm 2014 quy tụ tất cả các Thanh thiếu nhi của các tỉnh, thành cùng nhau tham dự với chương trình sôi nổi, hào hứng giúp các bạn trẻ tiếp xúc với Phật pháp
và có mùa hè bổ ích đầy ý nghĩa Năm 2014 tổ chức Hội trại lần thứ 9 với chủ đề
“Sáng mãi niềm tin” với 1.100 trại sinh tại khu du lịch Kawasami, huyện Long Hải, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Năm 2015, hội trại lần 10 với chủ đề “ Niềm tin & Hội nhập” tại Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam ở Cần Thơ Năm 2017, hội trại lần thứ 11 với chủ đề “ Nghĩa tình miền Tây” tại Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam ở Cần Thơ
Đây là hoạt động mang lại nhiều hiệu ứng xã hội tich cực và rèn luyện nếp sống đạo đức, hướng thượng của thế hệ trẻ trong xã hội ngày nay [20, tr.101]
Trang 3934
- Khóa tu, Hội trại và trại hè tại các tỉnh, thành: đã đem lại kết quả khả quan cho hoạt động của tuổi trẻ Phật giáo Các khóa sinh được học những nghi thức cơ bản trong nhà Phật kết hợp với học giáo lý, đạo đức, biết tri ân, báo ân với các bậc sinh thành, học nghi thức thọ trai, tụng kinh, hành thiền Bên cạnh đó có các sinh hoạt văn nghệ, trò chơi giải trí lành mạnh tạo sinh khí tu học thoải mái cho các khóa sinh
Ngoài ra có các hoạt động khác vào các dịp lễ lớn như Mùa Phật đản tổ chức diễu hành xe đạp, phát quà từ thiện, khóa tu Phật đản Vào dịp lễ Vu lan đã đem hoa hồng xuống phố cài cho tất cả mọi người để tưởng nhớ công ơn snh thành dưỡng dục của cha mẹ ở khắp các siêu thị, chợ, bến xe, bến tàu tại thành phố Hồ Chí Minh Vào dịp lễ Trung thu tổ chức chương trình “Vui Hội Trăng Rằm” ở khắp các tỉnh, thành như trao quà cho các em nhỏ, đố vui Phật pháp,văn nghệ, rước đèn Phân ban Thanh thiếu nhi Phật tử : tổ chức khóa tu, hội trại, sinh hoạt hè, tư vấn mùa thi, tiếp sức mùa thi mỗi hoạt động như vậy thường kéo dài từ 2 đến 7 ngày với nhiều nội dung phong phú như học giáo lý, học đạo đức, đố vui Phật pháp, tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền, trò chơi dân gian Đặc biệt là Câu lạc bộ Thanh thiếu nhi Phật
tử được sinh hoạt thường xuyên tại một số tự viện vào mỗi chiều chủ nhựt đã góp phần vào việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ
Do vậy, Phân ban Thanh thiếu nhi Phật tử với mục đích tập hợp và giáo dục tầng lớp Phật tử trẻ sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, đã đáp ứng phần nào nhu cầu tu học của giới trẻ Phật giáo trong việc tìm kiếm sân chơi lành mạnh, bổ ích Vì vậy, số Thanh thiếu nhi Phật tủ tham gia vào các tổ chức Phật giáo ngày càng đông Đây là thuận lợi lớn cho thế hệ trẻ sống tốt đạo đẹp đời.[20,tr.102]
- Hoạt động của Phân ban Phật tử dân tộc
Phân ban nầy có những hoạt động sau :
- Nghiên cứu và cập nhật số liệu cụ thể 53 dân tộc trên toàn quốc, nghiên cứu
về lễ hội, phong tục của các dân tộc ở Tây Nguyên- Tây Bắc-Trung bộ-Nam bộ
- Vận động ủy lạo, giúp đỡ, tặng quà cho những đồng bào có hoàn cảnh khó khăn vào những dịp Lễ, Tết
Trang 4035
- Tại Đắc Lắc có 2 cơ sở tu học dành cho đồng bào dân tộc, số người tham gia trên 2.000 người, tổ chức thuyết giảng bằng tiếng Ê-Đê
- Năm 2015, Phân ban Phật tử dân tộc tỉnh Bình Phước tổ chức khóa tu mùa
hè cho Thanh thiếu nhi Phật tử dân tộc Stieng, mỗi khóa tu có 300 em tham dự, năm
2017, tổ chức cho dân tộc Khmer có 200 em tham dự
- Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh Kon Tum đã tổ chức quy y cho 4.000 Phật tử
là dân tộc thiểu số, tổ chức các khóa tu học cho cư sĩ Đến nay đã có hơn 5.000 người dân tộc thiểu số về với Phật pháp chia thành 5 khu vực : thành phố Kon Tum, Đắc Hà Đắc, Sa Thầy, Kon Loong, Kon Rẩy
Tuy nhiên, Phân ban nầy vừa mới thành lập trong nhiệm kỳ VII nầy nên vẫn còn nhiều hạn chế như là đối với các tỉnh vùng sâu vùng xa, vì chưa có sinh hoạt tu học, thiếu điều kiện cho giảng sư đến thuyết pháp và hoàn cảnh sống khó khăn nên
dù có tinh thần tu học nhưng chưa được hướng dẫn và Phật pháp phát triển chưa sâu rộng, nên cần phải tổ chức xây dựng cơ sở tại chỗ để sinh hoạt tu học ổn định Do
đó cần sự quan tâm của các cấp chính quyền và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh có đồng bào dân tộc sinh sống
Nhìn chung, Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương dưới sự lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn nêu cao phương châm “ Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa
xã hội.” Nhờ vậy Ban hướng dẫn Phật tử đã pát triển vững mạnh và thành công trong nhiều lãnh vực Phật sự quan trọng
*Các hình thức sinh hoạt tại các Tỉnh, Thành
từ thiện như thăm nom, chăm sóc các bịnh nhân khuyết tật, tâm thần Tỉnh còn kết hợp với chùa mở các lớp học giáo lý vào các ngày chủ nhật hay thứ bảy trong