Qua những công trình nghiên cứu nêu trên, các vấn đề xoay quanh hoạtđộng đảm bảo chất lượng đào tạo đã dần sáng tỏ; và có thể dựa vào mô hìnhđánh giá chất lượng giáo dục cơ bản ở một cơ
Trang 1BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
ĐÀO ANH DUY
GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
ĐÀO ANH DUY
GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS NGUYỄN VĂN PHÁN
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 17
1.2 Nội dung cơ bản (các yếu tố) đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy trường đại học 26
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU 38
2.1 Khái quát về Trường Đại học Bạc liêu 38
2.2 Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc Liêu 41
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU 63
3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 70
3.2 Hệ thống giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc Liêu 72
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 90
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ .85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .87
PHỤ LỤC .90
Trang 4BẢNG QUY ƯỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BGH: Ban Giám hiệu
Bộ GD&ĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
CĐ: Cao đẳng
CLGDĐH: Chất lượng giáo dục đại học
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
QLKH-HTQT: Quản lý khoa học – Hợp tác Quốc tế
SV: Sinh viên
TB: Trung bình
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên Hiệp Quốc
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàngđầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong
đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo,coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm địnhchất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáodục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội"
Tuy nhiên, chất lượng đào tạo đại học vẫn chưa theo kịp yêu cầu ngàycàng cao của thị trường lao động; chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết từnhu cầu của xã hội, nhất là trong các ngành kỹ thuật Đào tạo chưa thật sự gắngiữa nhu cầu với sử dụng; vẫn còn khoảng cách lớn giữa trình độ của sinh viên
ra trường và yêu cầu của các đơn vị sử dụng lao động Do đó hiện nay đang tồntại một nghịch lý là “cung - thừa” “cầu – thiếu”, trong khi các trường tìm cách đểduy trì và mở rộng quy mô đào tạo, số lượng tốt nghiệp đại học chưa có việc làmngày càng tăng nhưng các cơ quan, doanh nghiệp đều khó tuyển dụng đượcnhững lao động đáp ứng được yêu cầu của công việc, hoặc tuyển dụng được thìcũng phải bồi dưỡng, đào tạo lại thì mới có thể sử dụng được
Nhiều ý kiến cho rằng: trong những nguyên nhân quan trọng là cáctrường đại học chỉ đào tạo “cái mình có” mà chưa chú trọng đến đào tạo “cái
xã hội cần” tức là chưa thực hiện tốt quy luật “cung – cầu” của thị trường laođộng Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung – cầu đào tạo cả về quy mô, cơcấu và đặc biệt là chất lượng, gây ra lãng phí lớn và giảm hiệu quả đào tạo.Chính vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo và đảm bảo các điều kiệncho nó đang được các nhà trường đại học cũng như toàn xã hội quan tâm; và
là vấn đề cấp thiết hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa của đất nước
Trang 6Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học thể hiện ở những yếu tố tạo nênchất lượng sản phẩm đào tạo, đó chính là chất lượng nguồn nhân lực được quađào tạo Việc đảm bảo chất lượng đào tạo trong các trường đại học cũng nhưchất lượng đào tạo nghề nghiệp nói chung đang là một yêu cầu bức thiết hiệnnay trong việc phát triển nguồn nhân lực cả trước mắt và lâu dài Hiện nay,
Bộ GD&ĐT đang triển khai kiểm định chất lượng giáo dục theo mô hìnhđược nhiều nước trên thế giới sử dụng, đã triển khai công tác đảm bảo chấtlượng và đã thu được một số kết quả nhất định Nhiều trường đại học đã vàđang triển khai có hiệu quả công tác đảm bảo chất lượng theo tập huấn hàngnăm của Bộ GD&ĐT
Đối với trường Đại học Bạc Liêu, qua hơn 5 năm (2006-2012) xây dựng
và phát triển đã từng bước phấn đấu xây dựng và trưởng thành Nhà trường lànơi đào tạo nhiều ngành nghề với nhiều loại hình đào tạo từ ngắn hạn, dài hạn,chính quy, tại chức, liên thông từ trung cấp đến cao đẳng, lên đại học, nhằm tạomọi cơ hội học tập cho sinh viên Chất lượng đào tạo của nhà trường phụ thuộcvào nhiều yếu tố, có yếu tố thuộc phạm vi bên ngoài, hoặc do liên kết mà có,
do vậy ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng sản phẩm đào tạo
Tuy nhiên, là một trường Đại học mới thành lập nên Đại học Bạc Liêuvẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, trong
đó nhiều yếu tố của đảm bảo chất lượng còn thiếu như: nguồn tài chính, cơ sởvật chất, đội ngũ giảng viên, chất lượng đầu vào Đặc biệt công tác tổ chức,quản lý đào tạo hệ thống các bậc học, ngành học đan xen nhau; và đào tạo hệchính quy bậc đại học còn nhiều hạn chế, vì còn ít kinh nghiệm do mới thànhlập và còn thiếu những giải pháp phù hợp Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuấtnhững giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo nhất là hệ chính quy là hết sứccấp thiết đối với nhà trường trong giai đoạn hiện nay; bởi nó đáp ứng đòi hỏi
sự phát triển về chất lượng nguồn nhân lực lao động của các ngành nghề trêncác tỉnh thuộc bản đảo Cà Mau
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc
Trang 7Liêu” nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 trường Đại
học Bạc Liêu trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giaokhoa học công nghệ cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm qua, giáo dục đại học đã có nhiều đổi mới đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu nhân lực có trình độ đại học để phục vụ cho sự pháttriển kinh tế - xã hội; công tác đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng đào tạogiáo dục chuyên nghiệp đã đạt được những kết quả nhất định, nhân lực trình
độ đại học ngày càng đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động Đây là hiệuquả của việc đầu tư về nhân lực, vật lực và sự đổi mới quản lý của các trườngđại học Nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo của các trường trong xu thế cạnhtranh hứa hẹn sẽ tạo ra những “sản phẩm” có chất lượng, đáp ứng yêu cầu xãhội
Để giải quyết hiệu quả bài toán giữa duy trì và phát triển quy mô, ngànhnghề đào tạo vừa đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng nhu cầu xãhội, cần phải tiến hành nhiều giải pháp một cách đồng bộ Trong đó các giảipháp quản lý là mang tính bao trùm và có ý nghĩa quyết định đến việc đảmbảo chất lượng đào tạo ở các trường đại học là rất quan trọng và cần thiết Bởi
vì, thông qua quản lý xác định được những cách thức tổ chức, điều khiển toàn
bộ quá trình hoạt động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất củangười học trong quá trình đào tạo để có được đội ngũ lao động có năng lựcchuyên môn nghề nghiệp, năng lực thích nghi được với môi trường xã hộiluôn luôn biến đổi, phát triển thì công tác quản lý nâng cao chất lượng đào tạo
ở các trường đại học là rất quan trọng và cần thiết
Để có thể đánh giá chính xác chất lượng, hiệu quả hoạt động của một hệthống hay một tổ chức giáo dục, giới nghiên cứu hết sức quan tâm đến việcxây dựng một bộ thước đo bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số làmcăn cứ chủ yếu để xem xét chất lượng giáo dục gắn với mục tiêu theo nhữngyêu cầu và trong những lĩnh vực, điều kiện thực tế khác nhau
Vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo đến nay đã nhận được sự quan tâmđúng mực của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 8Theo Phạm Xuân Thanh (2005), trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước
có hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Phần lớn các hệ thống nàyđược hình thành trong những năm 90 (thế kỷ 20) Các hệ thống đảm bảo chấtlượng giáo dục đại học được lập ra là nhằm để thích ứng với sự phát triển vềquy mô đào tạo của giáo dục đại học
Cũng theo tác giả này, việc đảm bảo chất lượng được nhận thức và thựchiện rất khác nhau giữa các quốc gia Chẳng hạn như:
Tại Mỹ, đảm bảo chất lượng là một quy trình đánh giá một cơ sở haymột chương trình nhằm xác định xem các tiêu chuẩn về giáo dục đại học, họcthuật và cơ sở hạ tầng có được duy trì và tăng cường không (CHEA, 2001)
Tại Australia, đảm bảo chất lượng bao gồm các chính sách, thái độ,hành động và quy trình cần thiết để đảm bảo rằng chất lượng đang được duytrì và nâng cao (AUQA, 2002)
Tại Anh, đảm bảo chất lượng là một công cụ qua đó cơ sở giáo dục đạihọc khẳng định rằng các điều kiện dành cho sinh viên đã đạt được các tiêuchuẩn do nhà trường hay cơ quan có thẩm quyền đề ra (CHEA, 2001)
Trong nhiều nước châu Âu trước đây, đảm bảo chất lượng được sử dụngnhư một hệ thống đánh giá bên ngoài mà không cần phải có một sự công nhậnchính thức các kết quả đạt được Tuy nhiên, một xu hướng mới được hình thành
là xúc tiến xây dựng hệ thống kiểm định trong mỗi quốc gia châu Âu
Ở các nước Đông Nam Á, việc đảm bảo chất lượng cũng rất khác nhau
Ở Thái Lan, nhằm vào các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện, cáckết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển, việc đảm bảo chất lượng đượcgiới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm toán chất lượngbên ngoài và kiểm định công nhận (BHES, 2002)
Ở Indonesia, đảm bảo chất lượng được xác định thông qua kiểm tra nội
bộ các chương trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trường vàkiểm định công nhận (Tajudin, 2001)
Một số nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gianhư: BADC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP
Trang 9(Philipines), ONESQA (Thái Lan) Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia có sựkhác nhau Chẳng hạn như: Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chương trình;các nước như: Malaysia, Brunei, Thái Lan thực hiện kiểm định ở cấp trường.
Ở Việt Nam, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế tri thức đòi hỏi nguồnnhân lực chất lượng cao đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.Nhiệm vụ chính của giáo dục và đào tạo là cung cấp nguồn nhân lực đó Đểthực hiện nhiệm vụ này, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục đại học vàtrung cấp chuyên nghiệp của nước ta nói riêng, không những phải mở rộngquy mô mà còn phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo, xây dựng các biện pháp khả thi đểthực hiện nhiệm vụ này đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Có thể kể đến một số sách, công trình nghiên cứu tiêu biểu đã đề cậpđến vấn đề này ở nhiều mức độ, nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), (2008), Chất lượng giáo dục, những vấn
đề lí luận và thực tiễn, NXB Giáo dục.
Nguyễn Đức Chính (chủ biên), (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Lê Vinh Danh (2006), Một số vấn đề lí luận về đảm bảo chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học, Kỷ yếu Hội thảo “Đảm bảo chất lượng trong đổi
mới giáo dục đại học”, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực, NXB Giáo dục.
Nguyễn Công Giáp (1997), Bàn về phạm trù chất lượng và hiệu quả giáo dục, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 10.
Lê Đức Phúc (1997), Chất lượng và hiệu quả giáo dục, Tạp chí Nghiên
cứu giáo dục, số 5
Phạm Xuân Thanh (2005), Kiểm định chất lượng giáo dục đại học, Tạp
chí Giáo dục, số 115
Trang 10Qua những công trình nghiên cứu nêu trên, các vấn đề xoay quanh hoạtđộng đảm bảo chất lượng đào tạo đã dần sáng tỏ; và có thể dựa vào mô hìnhđánh giá chất lượng giáo dục cơ bản ở một cơ sở giáo dục có các hệ tiêu chíđánh giá sau:
Thứ nhất: các tiêu chí thể hiện bối cảnh chung của cơ sở giáo dục (các
chuẩn mực được thiết lập bởi cơ quan quản lý cấp trên, hoàn cảnh kinh tế - xãhội địa phương, sự hỗ trợ của cộng đồng…);
Thứ hai: các tiêu chí đầu vào (nguồn lực tài chính, trình độ chuyên môn
và kinh nghiệm của đội ngũ giáo viên, nguồn tuyển sinh, kích cỡ lớp học,trang thiết bị của nhà trường, cơ sở vật chất…);
Thứ ba: các tiêu chí đánh giá quá trình (các chủ trương, chính sách, sự
lãnh đạo của nhà trường, đội ngũ giáo viên, môi trường sư phạm, phươngpháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập…)
Thứ tư: các chỉ số về đầu ra (sản phẩm) (kết quả đạt được của sinh viên
về các môn học cơ bản, tỉ lệ lên lớp, bỏ học, tiếp tục theo học bậc cao hơn và
tỉ lệ sinh viên tìm được việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp…)
Tiếp tục phát triển các hệ tiêu chí đánh giá này, ĐBCLGD sẽ tiến hànhxây dựng các quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục cho từngloại hình trường và dùng quy định tiêu chuẩn đó làm công cụ để đánh giá mức
độ yêu cầu và điều kiện mà các cơ sở của từng loại hình trường phải đáp ứng
để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Các tiêu chuẩn (gồmnhiều tiêu chí) kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phải quán triệt quan điểmtiếp cận tổng thể, đánh giá toàn bộ các lĩnh vực hoạt động giáo dục của nhàtrường Các yếu tố được đánh giá có mối quan hệ biện chứng với nhau trongmột chỉnh thể thống nhất, có tác động ảnh hưởng qua lại với nhau và với chấtlượng sản phẩm giáo dục của nhà trường
Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục ở Việt Nam chịu ảnh hưởng củanhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này Trước hết,
nó chịu ảnh hưởng của mô hình đảm bảo chất lượng của Hoa Kỳ và các nướcBắc Mỹ; chịu ảnh hưởng của các mô hình đảm bảo chất lượng của các nước
Trang 11Châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá nhiều năm để triển khaixây dựng mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục; đặc biệt chịu ảnh hưởng củacác nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồngtrong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn Những ảnh hưởngcủa các nước khác đến mô hình đảm bảo chất lượng của Việt Nam chủ yếuthông qua sự hỗ trợ hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế,đặc biệt là Ngân hàng thế giới Mạng lưới chất lượng Châu Á - Thái BìnhDương (APQN), SEAMEO và của một số nước như Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan.
Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình đảm bảo chất lượng và kiểmđịnh chất lượng giáo dục trên thế giới, mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục
ở Việt Nam đang từng bước được hình thành, phù hợp với mô hình đảm bảochất lượng của nhiều nước trên thế giới, nhất là mô hình của Châu Âu, Châu
Á - Thái Bình Dương, AUN, những mô hình được tiếp tục phát triển trên môhình chung của Châu Âu
Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam cơ bản bao gồm:
Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường;
Hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường (hệ thống đánh giángoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá);
Hệ thống các tổ chức đảm bảo chất lượng (các tổ chức đánh giá ngoài
và các tổ chức kiểm định độc lập, đang đề nghị cho phép thành lập)
Đảm bảo chất lượng giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam
Có thể nói, ở cấp hệ thống, nó được bắt đầu từ khi Phòng kiểm định chất lượngĐào tạo trong vụ Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) được thành lập
từ tháng 01/2002, sau đó được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạokhác kể từ năm 2003, sau khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục(KT&KĐCLGD) được thành lập Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh từtháng 12/2004 khi Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại họcđược ban hành và được tiếp tục củng cố và phát triển gắn với việc ban hành cácquy trình và các tiêu chuẩn kiểm định khác Tuy nhiên, sự hiểu biết của cán bộ
Trang 12quản lý, giảng viên nói riêng và của xã hội nói chung về kiểm định còn rất hạnchế; nhiều người đang hiểu về vấn đề này theo nhiều cách khác nhau.
Nhìn chung, vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo đại học đã được quantâm đúng mức; nhiều bài viết, công trình khoa học, nhiều hội thảo, tọa đàm đãđược tổ chức luận bàn xoay quanh vấn đề này, thể hiện tầm quan trọng của nóliên quan đến chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học Những cuốnsách, công trình nghiên cứu trên, là nguồn tài liệu lý luận hết sức phong phú,giúp tác giả nghiên cứu kế thừa phục vụ cho quá trình xây dựng cơ sở lý luậncủa vấn đề nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu lý luận và thực trạng đảm bảo chất lượng, luận văn hướngtới đề xuất giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại Trường Đạihọc Bạc Liêu, đáp ứng yêu cầu phát triển nhà trường trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng đào tạo đại học
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về chất lượng đào tạo hệ chínhquy tại trường Đại học Bạc Liêu
Đề xuất một số giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tạitrường Đại học Bạc Liêu
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Bạc Liêu
Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại họcBạc Liêu
Trang 135 Giả thuyết khoa học
Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học, có vai trò quan trọng, quyết địnhtrực tiếp đến chất lượng sản phẩm đào tạo và uy tín của trường đối với xã hội
Vì vậy, trường đại học Bạc Liêu chỉ có thể nâng cao chất lượng đào tạo hệ chính quy khi thực hiện tốt những vấn đề như: đổi mới hoạt động tổ chức
quản lý đào tạo và thường xuyên tự đánh giá chất lượng; nâng cao chất lượngchương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra và chất lượng đội ngũ cán bộgiảng dạy, nghiên cứu; tạo điều kiện tốt cho sinh viên phát triển toàn diện;phát triển công nghệ thông tin và tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo,nghiên cứu khoa học; tăng cường cơ sở vật chất và chủ động, đa dạng hóanguồn tài chính phục vụ hiệu quả giáo dục đào tạo…
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm tưtưởng về giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước và Ngành Giáo dục - Đào tạo,nhất là chủ trương đổi mới quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo hệchính quy của các trường đại học
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài quán triệt và vận dụng các quan điểmtiếp cận hệ thống - cấu trúc, lôgic - lịch sử và quan điểm thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả luận văn sử dụng tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu khoa học giáo dục như:
Các phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: Phương pháp phân tích
-tổng hợp, phân loại - hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan
để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
Quan sát hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo đại học hệ chính quycủa trường đại học Bạc Liêu
Điều tra bằng bảng hỏi ý kiến để tìm hiểu, thu thập thông tin thực tiễnliên quan đến đề tài
Nghiên cứu các sản phẩm đánh giá chất lượng đào tạo và tổng kết kinhnghiệm đảm bảo chất lượng đào tạo
Trang 14Tiến hành tham khảo ý kiến của chuyên gia về những vấn đề liên quanđến đề tài Tổ chức tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi củabiện pháp đề xuất.
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu từ các kết quả nghiên cứu
7 Ý nghĩa của luận văn
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những quan điểm về đảm bảo chất lượngđào tạo đại học hệ chính quy và thực trạng vấn đề đảm bảo chất lượng ởtrường ĐHBL; từ đó đưa ra những giải pháp khả thi, hiệu quả hơn giúp nhàtrường ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả nghiên cứu có thểdùng làm nguồn tham khảo cho cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên trong tìmhiểu về lĩnh vực hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trườngđại học vùng đồng bằng sông Cửu Long
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm có 3 chương (7 tiết), kết luận, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Chất lượng đào tạo
Chất lượng
Từ chất lượng (quality) bắt nguồn từ từ ‘qualis’ trong tiếng Latin, cónghĩa là “loại gì” Đây là một từ đa nghĩa và nhiều hàm ý, một khái niệm khónắm bắt (Pfeffer and Coote, 1991)
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng Bên cạnh sựthay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhau cũng dẫn đếnnhững khái niệm khác nhau về chất lượng Như vậy, chất lượng được xemnhư là đích tới luôn thay đổi và luôn có tính lịch sử cụ thể; vì vậy xin nêu một
số khái niệm tiêu biểu về chất lượng như sau:
Viện tiêu chuẩn Anh Quốc (British Standards Institution, viết tắt là BSI)định nghĩa chất lượng là “toàn bộ các đặc trưng cũng như tính chất của mộtsản phẩm hoặc một dịch vụ giúp nó có khả năng đáp ứng những yêu cầu đượcxác định rõ hoặc ngầm hiểu” (BSI, 1991)
Điều này có nghĩa, chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng Và cũng có thể nói, chất lượng làcái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật,làm cho sự vật này khác sự vật kia” Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêucầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu cần được hiểu làcác nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc
Theo Từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thịnhững thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tươngđối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quancủa sự vật”
Trang 16Theo ISO 9000 (năm 2000): “Chất lượng là mức độ mà một tập hợp cácđặc trưng vốn có đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng và những ngườikhác có quan tâm”.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN – ISO 8402 – 86): Chất lượng củasản phẩm là tổng thể những đặc điểm, những đặc trưng của sản phẩm thể hiệnđược sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định và phùhợp với công cụ, tên gọi sản phẩm
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814 – 94: Chất lượng là sự tập hợp các đặctính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đối tượng có khả năng thỏamãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn
Chất lượng được hiểu theo khía cạnh (Theo Harvey & Green; 1993) đólà: “Chất lượng tuyệt đối” được hiểu là “sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú Xuấtsắc; sự hoàn hảo; sự phù hợp, thích hợp; sự thể hiện giá trị; sự biến đổi vềchất” Đó là cái mà hầu hết chúng ta muốn có, và chỉ một số ít có thể có được
“Chất lượng tương đối” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán chosản phẩm Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm hoặc một dịch vụđược xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn do người sảnxuất định ra và các yêu cầu mà người sử dụng đòi hỏi
Như vậy: “chất lượng tương đối” có hai khía cạnh:
Thứ nhất, chất lượng là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do
người sản xuất đề ra, ở khía cạnh này được xem là “chất lượng bên trong”
Thứ hai, chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi
của người sử dụng, ở khía cạnh này được xem là “chất lượng bên ngoài"
Vậy chất lượng là những thuộc tính phản ánh bản chất của sự vật, chỉ rõ
nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác,chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật
Có thể nhận thấy rằng khái niệm chất lượng là một khái niệm khó xácđịnh và phụ thuộc vào ngữ cảnh Nó có một phổ nghĩa từ “chuẩn mực” đến
“xuất sắc” “Chuẩn mực có thể được hiểu bằng khái niệm ‘ngưỡng’ tối thiểu
mà theo đó hiệu quả của công việc sẽ được đánh giá (Ashcroft & Peck, 1996) Trong bối cảnh này, chất lượng đồng nghĩa với hoạt động đánh
Trang 17Foreman-giá, được hiểu theo nghĩa nó là tập hợp các tiêu chuẩn dựa trên quy chiếunhóm chuẩn (norm-referenced standards) Ở phía bên kia của phổ nghĩa làquan điểm xem chất lượng là sự xuất sắc (tương tự như những gì Green vàHarvey gọi là vượt trội) Xuất sắc là trạng thái thành tích đặc biệt, vượt trội,không có lỗi và đạt mức hài lòng cao nhất từ các bên có liên quan Trong giáodục đại học, mục tiêu của chúng ta là đạt được các “chuẩn mực” và tiến gầnhơn về sự “xuất sắc”.
Để đánh giá chất lượng của một hoạt động, thông thường người ta sosánh kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra Với cách tiếp cận này, hiệu quả củahoạt động đào tạo cũng cần phải được xem xét trong mối tương quan giữa kếtquả và chi phí (theo nghĩa rộng), đồng thời có tính tới hiệu quả xã hội
Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam, ‘Chất lượng’ được xem là ‘phù hợpvới mục tiêu’ – đáp ứng hoặc xác nhận các tiêu chuẩn đã được công nhận nóichung theo định nghĩa của một cơ quan kiểm định chất lượng hoặc một cơquan đảm bảo chất lượng
Do đó, chất lượng (giáo dục trường đại học) ở Việt Nam được hiểu: Là
sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêugiáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhânlực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước
Chất lượng đào tạo
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động cómục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo điềukiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”
Như vậy, đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chứcnhằm hình thành và quá trình có hệ thống các tri thức, kỹ năng, thái độ mộtcách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống vàkhả năng đảm nhận được một công việc nhất định Đào tạo là một loại côngviệc xã hội, một hoạt động đặc trưng của giáo dục (nghĩa rộng) nhằm chuyểngiao kinh nghiệm hoạt động từ thế hệ này qua thế hệ khác Quá trình đào tạo
có thể diễn ra trong nhà trường hoặc ngoài cơ sở sản xuất kinh doanh theo
Trang 18một ngành nghề cụ thể nhằm giúp cho người học đạt được một trình độ nhấtđịnh trong lao động nghề nghiệp.
Người ta thấy rằng các định nghĩa chất lượng nói chung và chất lượngđào tạo nói riêng luôn được thay đổi theo thời gian Hiện nay, khái niệm vềchất lượng đào tạo còn nhiều điểm khác nhau, do từ “chất lượng” được dùngchung cho cả hai quan niệm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng chonhững sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, nhữngtiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với nghĩa chấtlượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu
Với quan niệm chất lượng tương đối thì được hiểu theo hai khía cạnh:Thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề
ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong” Thứ hai,chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của người tiêudùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Ở mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ ủy thác, nhiệm vụ nàythường do các chủ sở hữu quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhàtrường Từ nhiệm vụ được ủy thác này, nhà trường xác định các mục tiêu đàotạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được
“chất lượng bên ngoài”; và các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vàonhằm đạt mục tiêu đào tạo đó, đạt “chất lượng bên trong”
Do đó, hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo:Theo tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp (Đại học quốc gia HàNội) chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo
đã đề ra đối với một chương trình đào tạo
Theo tác giả Trần Khánh Đức, chất lượng giáo dục là kết quả của quátrình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách
và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tươngứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể
Theo cách tiếp cận quản lý chất lượng thì: Chất lượng đào tạo được coi
là sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu Chất lượng đào tạo có hai phần: phần cứng
Trang 19là bộ ba kiến thức, kỹ năng, thái độ người học tiếp thu trong quá trình đào tạo;phần mềm là năng lực sáng tạo và thích ứng Chất lượng đào tạo phụ thuộcvào ba yếu tố: Hoạch định (thiết kế và xây dựng mục tiêu); Tổ chức đào tạo;
Sử dụng; miền chất lượng là vùng giao nhau của ba yếu tố trên; miền chấtlượng càng lớn chứng tỏ cơ sở đào tạo đã tổ chức tốt quá trình đào tạo phùhợp với mục tiêu thiết kế ban đầu đạt hiệu quả và có khả năng cạnh tranh vớicác cơ sở đào tạo khác
Xét dưới góc độ hệ thống các trường đại học, thì chất lượng đào tạođược hiểu là một trong các thành phần đầu ra của các trường đại học, nóđược xã hội đặt hàng thông qua luật giáo dục
Xét dưới góc độ trường đại học, chất lượng giáo dục trường đại học là
sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêugiáo dục đại học của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhânlực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của ngành
Với quan điểm tiếp cận thị trường: “Chất lượng đào tạo là mức độ đạtđược so với các chuẩn của mục tiêu đào tạo và mức độ thỏa mãn yêu cầu củakhách hàng”
Có thể coi các tiêu chí nêu trên thể hiện nội hàm của khái niệm chấtlượng đào tạo, là mục tiêu mà các cơ sở đào tạo cần hướng tới Và từ quanniệm về chất lượng đào tạo nêu trên, tác giả Trần Khánh Đức cho rằng hệthống các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo (sản phẩm đào tạo) tương ứngđối với từng ngành đào tạo nhất định
Từ những phân tích trên, có thể hiểu chất lượng đào tạo chính là sự tổnghòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình đào tạo so vớithang chuẩn quốc gia của nhà nước hoặc xã hội nhất định
Chất lượng đào tạo ngày nay không chỉ đơn thuần là trình độ, khả nănghọc tập, rèn luyện ở nhà trường được đánh giá bằng điểm số của các môn thi,môn kiểm tra, mà quan trọng hơn là bằng những kết quả thực tế và bằng hiệuquả sử dụng những phẩm chất và năng lực của sinh viên trong hoạt động thựctiễn ở nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 20Mặc dù có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau nhưng có thể khái
quát: Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánh giá của người dạy, người học, người quản lý và người sử dụng sản phẩm đào tạo.
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của các cơ sở đào tạo,
và là mục tiêu mà tất cả các nhà trường cần hướng tới Việc phấn đấu nâng caochất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất trongcông tác quản lý của các cơ sở đào tạo nói chung và trường đại học nói riêng
1.1.2 Đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về đánh giá chất lượng tronggiáo dục đại học, song nhiều tài liệu thống nhất khái quát về đánh giá chất
lượng trong giáo dục đại học: Là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả giáo dục, dựa trên sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn, tiêu chí đã đề ra nhằm đề xuất những ý kiến thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo.
Do cách tiếp cận khác nhau về đánh giá chất lượng giáo dục đại học,nên hiện có 6 quan điểm (6 cách tiếp cận) tương đối phổ biến hiện nay vềđánh giá chất lượng giáo dục đại học đó là:
Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”
Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trườngđại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó”
Chất lượng một trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào(quan điểm nguồn lực) Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển đượcsinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết
để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem
là trường có chất lượng cao
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động, vai trò của quá trình đào tạo diễn
ra rất đa dạng và liên tục trong suốt quá trình đào tạo
Thực tế, theo cách đánh giá này, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” vàphỏng đoán chất lượng “đầu ra” Nó sẽ khó giải thích trường hợp một trườngđại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào
Trang 21tạo hạn chế ; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn,nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình đào tạo hiệu quả.
Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”
Chất lượng “đầu ra” của trường quan trọng hơn so với “đầu vào” “Đầura” chính là sản phẩm của trường Quan điểm này cho rằng “đầu ra” của giáodục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đàotạo “Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức
độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp cáchoạt động đào tạo của trường đó
Có 2 vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận CLGDĐH này Một
là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức.Trong thực tế mối liên hệ này là có thực, cho dù đó không phải là quan hệnhân quả
Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không cónghĩa là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá
“đầu ra” của các trường rất khác nhau
Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”
Trường đó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cánhân của sinh viên Theo quan điểm này, một trường đại học có tác động tíchcực tới sinh viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ
và cá nhân của sinh viên “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của
“đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” màtrường đại học đã đem lại cho sinh viên và được đánh giá là CLGDĐH Giátrị gia tăng cao tức chất lượng đào tạo của trường cao
Thế nhưng, nếu theo quan điểm này thì sẽ khó có thể thiết kế một thước
đo chuẩn để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” thống nhất cho mọinhà trường Các trường trong hệ thống giáo dục đại học lại rất đa dạng, khôngthể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học Vả lại,cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định
sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạotrong từng trường đại học
Trang 22Giá trị gia tăng chưa nói lên được đầy đủ chất lượng đào tạo, chưa biếtđược khâu nào, lĩnh vực nào có vai trò chủ yếu.
Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của độingũ GV để thẩm định công nhận chất lượng đào tạo Đây là quan điểm truyềnthống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá củacác chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từngtrường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điềunày có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tínkhoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao
Tuy nhiên, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cáchkhách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của cáctrường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu khoa học Ngoài
ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy
và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương phápluận ngày càng đa dạng
Hạn chế của phương pháp này là không tính đến vai trò của các thành tốkhác Trong thực tế có nhà trường không có đội ngũ GV cơ hữu chất lượngcao nhưng do biết quản lý tốt đã liên kết được với các trường khác có đội ngũ
GV có chất lượng cao
Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”
Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của công tác quản lý Trường phải tạo
ra được “Văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình cải tiến chất lượng Quanđiểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được “Văn hoá tổchức riêng” hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy một trườngđược đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hoá tổ chức riêng” với nétđặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Một nhà trường có môi trường văn hoá giáo dục được tổ chức tốt thìchất lượng của nhà trường sẽ cao; tuy nhiên văn hoá tổ chức của các nhàtrường rất khác nhau, khó thiết kế được tiêu chí, một thước đo nhất quán về
Trang 23vấn đề này cho các nhà trường Quan điểm này xuất phát từ lĩnh vực côngnghiệp và thương mại nên khó có thể phù hợp với giáo dục.
Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”
Quan điểm này cho rằng, thông tin là cơ sở của chất lượng giáo dục.Thời đại thông tin, ai có nhiều thông tin thì hoạt động sẽ đạt chất lượng.Thông tin là tài sản Nếu người quản lý có đủ thông tin cần thiết thì có thể cóđược quyết định chính xác
Kiểm toán là đo đếm được số lượng thông tin trong nhà trường Chấtlượng của thông tin đó đến đâu Kiểm toán chất lượng quan tâm xem cơ sởđào tạo có thu thập đủ thông tin phù hợp và cần thiết để đưa ra quyết định haykhông, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệuquả không
Quan điểm này xem trọng quá trình bên trong trường đại học và nguồnthông tin cung cấp cho việc ra quyết định; và cho rằng nếu một cá nhân có đủthông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác, và chất lượngGDĐH được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn “Đầu vào” và “Đầu ra” chỉ
là các yếu tố phụ
Tuy nhiên, chất lượng còn phụ thuộc vào năng lực xử lý thông tin; đôikhi một cơ sở đào tạo có đầy đủ thông tin cần thiết, song vẫn có thể có nhữngquyết định chưa phải là tối ưu
Tóm lại, mặc dù có nhiều quan điểm đánh giá chất lượng trong giáo dụcđại học rất khác nhau, quan điểm nào cũng có tính hợp lý và những mặt chưahợp lý, điều đó đòi hỏi những người quản lý giáo dục đại học phải có quanđiểm toàn diện khi xem xét vấn đề này, không cực đoan, một chiều khi đánhgiá chất lượng giáo dục của một trường đại học nào đó Đồng thời, việc tậphợp các quan điểm đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học như trên, tạo
cơ sở cho việc nghiên cứu làm rõ cũng như xem xét các hoạt động đảm bảochất lượng đào tạo ở các trường đại học được khách quan hơn
1.1.3 Đảm bảo chất lượng và đảm bảo chất lượng đào tạo
Đảm bảo chất lượng
Trang 24Trong hai thập kỷ vừa qua, có nhiều thuyết đảm bảo chất lượng đại họcbắt đầu xuất hiện ở châu Âu và một vài thuyết trong số đó đã trở thành nổitiếng trên thế giới Trước đây, mô hình kiểm soát chất lượng thường được sửdụng để kiểm tra chất lượng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hànghóa Hiện nay, các lý thuyết có liên quan đến đảm bảo chất lượng như: tiêuchuẩn hóa quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO) và quản lý chất lượngtoàn diện xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã được đưa vào giáo dục,đặc biệt là giáo dục đại học.
Đảm bảo chất lượng là một qui trình có tính hệ thống và được hoạchđịnh dùng để đánh giá một cơ sở hoặc một chương trình đào tạo nhằm xemxét các tiêu chuẩn giáo dục đã được chấp nhận từ trước, tính chuyên môn và
cơ sở hạ tầng có được duy trì và củng cố hay không
Đảm bảo chất lượng thường được xem là các mong đợi rằng các cơ chếkiểm soát chất lượng được vận hành và hiệu quả Ở nhiều nước, đảm bảo chấtlượng còn là các biện pháp mà theo đó một cơ sở đào tạo chứng thực rằngmình có đầy đủ các điều kiện cần thiết để sinh viên đạt được các tiêu chuẩn
do chính nhà trường hoặc cơ sở cấp bằng khác qui định
Trong giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệthống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từtrước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng(Woodhouse,1998; 1999; 1999a) Định nghĩa này cũng được cơ quan đảmbảo chất lượng Australia sử dụng ISO định nghĩa đảm bảo chất lượng nhưsau: “tất cả các hoạt động có hoạch định hay có hệ thống cần thiết nhằm cungcấp sự đủ tự tin rằng một sản phẩm hay một dịch vụ là đáp ứng được các yêucầu về chất lượng”
Trong giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng được xem là “tổng sốcác cơ chế và quy trình được áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng đã đượcđịnh trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục – bao gồm việc hoạchđịnh, việc xác định, khuyến khích, đánh giá và kiểm soát chất lượng”(Warren Piper, 1993)
Trang 25Như vậy: Đảm bảo chất lượng là toàn bộ các hoạt động có hệ thống và
kế hoạch chặt chẽ, được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể (tổ chức) sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng.
ĐBCL Có 2 mục đích:
ĐBCL bên trong nhằm tạo niềm tin cho tổ chức
ĐBCL bên ngoài nhằm tạo niềm tin cho các bên liên quan
Chất lượng đào tạo được đảm bảo bởi hệ thống đảm bảo chất lượng, hệthống này sẽ chỉ ra chính xác phải làm thế nào và theo những tiêu chuẩn nào;
và các tiêu chuẩn chất lượng được sắp xếp theo những thể thức trong hệ thốngđảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng đào tạo
Từ quan niệm về đảm bảo chất lượng, có thể khái quát: Đảm bảo chất lượng đào tạo, là một công cụ nhằm mục đích xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của cơ sở giáo dục, thông qua sự đánh giá tổng thể về tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
Muốn đánh giá một cơ sở giáo dục có đảm bảo chất lượng đào tạo haykhông và đảm bảo đến mức độ nào, thì phải thông qua khâu kiểm định chấtlượng Kiểm định chất lượng đào tạo có kiểm định từ bên trong (cơ sở đào tạo
tự đánh giá các mặt đảm bảo chất lượng đào tạo), và kiểm định từ bên ngoài(của cơ quan kiểm định chất lượng của nhà nước đối với cơ sở đào tạo) Kếtquả kiểm định là thước đo cơ sở giáo dục trong chuẩn chất lượng, đạt đượcnhững gì, còn thiếu những gì để điều chỉnh, bổ sung các điều kiện và tổ chứcgiáo dục, nhằm đạt chuẩn chất lượng Kết quả kiểm định sẽ được công khai với
cơ quan chức năng quản lý và xã hội Ðiều đó một mặt là sự thể chế hóa đượcphát triển đầy đủ nhất về tính chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đối với côngluận, mặt khác sẽ thúc đẩy tích cực các cơ sở giáo dục phải tìm nhiều giải pháp,giải bài toán đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị mình
ĐBCL được coi là hoạt động có hiệu quả khi không chỉ đánh giá xemmột trường hay một chương trình đào tạo có đạt chất lượng hay không mà cònphải có vai trò như những chuyên gia tư vấn sẵn sàng giúp nhà trường giải
Trang 26quyết các vấn đề tồn đọng và không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt độnggiáo dục - đào tạo.
Một số nơi, ĐBCL còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơquan quyền lực hay các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Người họctrước khi lựa chọn trường để đăng ký dự tuyển, các doanh nghiệp sử dụng laođộng trước khi tuyển chọn cũng thường cân nhắc xem nhà trường hay ngànhđào tạo đã được kiểm định hay chưa
Đảm bảo chất lượng có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi:
Quyền tự chủ (quản lý, học thuật và tài chính) của các cơ sở đào tạođược mở rộng;
Tỉ trọng (số người theo học) và thành phần (loại trường đào tạo) phi chínhphủ (ngoài công lập) trong hệ thống giáo dục quốc dân ngày một phát triển;
Yếu tố nước ngoài tham gia đào tạo (trong và ngoài công lập) ngày mộttăng (do toàn cầu hóa)
Kết quả ĐBCL góp phần định hướng các hoạt động sau đây của xã hội:
Định hướng lựa chọn của người học để xác định cơ sở giáo dục có chấtlượng, hiệu quả, phù hợp với khả năng của mình;
Định hướng đầu tư của nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực theo nhữngngành nghề cần thiết cho sự phát triển trong tương lai
Định hướng đầu tư của các doanh nghiệp để đào tạo nguồn nhân lựcthích hợp cho doanh nghiệp của mình
Định hướng cho các nhà đầu tư nước ngoài làm từ thiện hay cần pháttriển vốn của mình
Định hướng phát triển cho các cơ sở giáo dục để tăng cường năng lựccạnh tranh trong và ngoài nước (xây dựng văn hóa chất lượng, không ngừngnâng cao chất lượng và hiệu quả học thuật, quản lý và tài chính…)
Định hướng cho sự hợp tác đào tạo (chuyển đổi, công nhận văn bằngchứng chỉ…) giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước…
Đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học
Từ các quan niệm trên, có thể khái quát: Đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học: Là công cụ phương tiện để xác định mức độ đáp ứng mục
Trang 27tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường đại học trong từng giai đoạn, thông qua sự đánh giá tổng thể về tất cả các yếu tố, các mặt đảm bảo cho việc duy trì và phát triển chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội.
Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học
Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần có một cách làm phù hợp với nộidung của chương trình đã đề ra; cách thức hành động sẽ ảnh hưởng đến chấtlượng nội dung của công việc cũng như hiệu quả của công việc tiến hành; do
đó để thực hiện tốt công việc thì cần phải có những giải pháp thích hợp
Về phương diện quản lý hoặc đảm bảo cho hoạt động nào đó, thì giảipháp được các chủ thể đề ra, có tính bắt buộc đối với đối tượng Đồng thời,giải pháp đề ra luôn được chủ thể tiến hành, thực chất là đưa ra các cách thức
tổ chức, điều khiển có hiệu quả hoạt động của một nhóm nào đó; tuy nhiêncách thức tổ chức, điều khiển này phải dựa trên bản chất, chức năng, yêu cầucủa hoạt động đó
Từ các vấn đề trên, có thể hiểu:
Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học: Là hệ thống công cụ phương tiện để xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường đại học trong từng giai đoạn, thông qua sự đánh giá tổng thể
về tất cả các yếu tố đảm bảo cho việc duy trì và phát triển chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội.
Tóm lại, sự khái quát quan niệm về đảm bảo chất lượng đào tạo trườngđại học và giải pháp đảm bảo chất lượng đó mới chỉ là bước đầu, có thể cònphải tiếp tục nghiên cứu để là rõ hơn, song nó cũng đã lột tả được phần nàobản chất của vấn đề, tạo cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu làm rõ nộidung đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy trường đại học và đề xuất một
số giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo đại học một cách cụ thể và kháchquan hơn
Trang 281.2 Nội dung cơ bản (các yếu tố) đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy trường đại học
1.2.1 Chuẩn đầu ra
Các nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều kháiniệm về chuẩn đầu ra Tuy nhiên, theo quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạoViệt Nam thì: Chuẩn đầu ra là quy định về nội dung kiến thức chuyên môn;
kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; côngviệc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thùkhác đối với từng trình độ, ngành đào tạo Cũng theo Bộ Giáo dục và Đào tạo,chuẩn đầu ra là sự khẳng định người học làm được những gì và kiến thức, kỹnăng, thái độ, hành vi mà người học phải đạt được khi tốt nghiệp ở một ngànhđào tạo hoặc ở một chương trình đào tạo
Chuẩn đầu ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cả nhà trường,
người học và người sử dụng lao động Đối với nhà trường, chuẩn đầu ra như
một lời cam kết của nhà trường về chất lượng đào tạo với xã hội, về năng lựccủa người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Đó cũng là chuẩnmực thấp nhất có thể chấp nhận được nhà trường quy định cho một sinh viênkhi hoàn thành khóa đào tạo Trên cơ sở chuẩn đầu ra để nhà trường rà soát vàđiều chỉnh chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Việc xây dựng
và công bố chuẩn đầu ra cũng giúp cho các trường thay đổi nếp nghĩ, cáchlàm về xây dựng một chương trình đào tạo, đó là việc xây dựng chương trìnhhướng nhiều hơn đến người học, lấy người học làm trung tâm chứ không chỉtập trung vào đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất hiện có của nhà trường
Trên cơ sở chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được công bố mà cáctrường xây dựng chuẩn cho nội dung chương trình của từng học phần, mônhọc hoặc mô-đun, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường cơ sở vật chất,tài chính, đổi mới quản lý và các điều kiện đảm bảo chất lượng khác nhằmnâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội
Trang 29Chuẩn đầu ra cũng là căn cứ để các trường xây dựng chuẩn đầu vào đốivới người học, mặt khác giúp cho việc công nhận văn bằng, tín chỉ, xây dựngchương trình đào tạo liên thông giữa các trình độ.
Đối với người học, chuẩn đầu ra giúp sinh viên định hướng nghề
nghiệp, giúp họ hiểu họ được mong đợi những gì, họ có thể đảm nhận đượccông việc nào sau khi học xong chương trình Và cũng nhờ vậy, sinh viênhiểu được điều gì họ phải cố gắng để đạt chuẩn, từ đó họ sẽ không ngừng nỗlực học tập, rèn luyện Khi người học đạt chuẩn, họ sẽ thành công hơn trongthực tiễn công tác khi ra trường
Đối với người sử dụng lao động, chuẩn đầu ra cung cấp thông tin cho
nhà tuyển dụng về những kiến thức và hiểu biết tối thiểu của sinh viên khi tốtnghiệp Từ đó, tạo cơ hội tăng cường hợp tác, gắn kết giữa nhà trường vàngười sử dụng lao động trong đào tạo và sử dụng nhân lực cho xã hội, đápứng yêu cầu của các nhà tuyển dụng và sử dụng lao động
Với ý nghĩa đó của chuẩn đầu ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã coi việcxây dựng và công bố chuẩn đầu ra là nhiệm vụ trọng tâm của các trường vàtoàn ngành trong hai năm học 2009-2010 và 2010-2011 nhằm góp phần đổimới quản lý giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp
1.2.2 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảmbảo chất lượng đào tạo ở mọi cấp, ngành học Theo lãnh đạo nhiều trườngđại học, cao đẳng, cần thiết phải có một cuộc “cách mạng” triệt để trong việcxây dựng chương trình theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT với yêu cầu tăngtính chuyên sâu về môn học, đảm bảo sự cân đối giữa lý thuyết với thựcnghiệm và đặc biệt là phải gắn với thực tiễn sản xuất, thực tế xã hội
Chương trình đào tạo là cơ sở nền tảng ban đầu góp phần quyết địnhchất lượng đào tạo Nếu xác định chính xác chuẩn đầu ra cho từng đối tượng
sẽ là cơ sở xác định chương trình đào tạo phù hợp Đảm bảo chất lượng đàotạo phải căn cứ từ chuẩn đầu ra, đồng thời phải xem xét mức độ phù hợp haychưa phù hợp của chương trình với mục tiêu đào tạo
Trang 30Luật Giáo dục Đại học có hiệu lực, đồng thời sự ra đời của Thông tư
57, sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệchính quy theo hệ thống tín chỉ Bộ GD&ĐT ban hành đã tạo sự chủ động,thuận lợi hơn rất nhiều cho các trường trong việc quyết định chương trìnhđào tạo Với quy định mới này, các trường có điều kiện đưa vào chương trìnhnhững nội dung mới; tham khảo, sử dụng các chương trình đào tạo của cáctrường tiên tiến, các trường có uy tín; tiếp cận được với các chương trình tiêntiến trên thế giới
Việc đầu tiên khi xây dựng hay cải tiến chương trình là phải khảo sát ýkiến của đơn vị sử dụng lao động, tham khảo ý kiến họ xem sinh viên củamình ra trường yếu, mạnh ở điểm nào, phải bổ sung gì, thường đơn vị sửdụng lao động phải đào tạo lại những gì Sau khi đi khảo sát sẽ điều chỉnh lạichuẩn đầu ra cho phù hợp với yêu cầu của họ Tiếp theo, tiến hành xây dựngchuẩn đầu ra, việc xây dựng chuẩn đầu ra cũng cần lấy ý kiến đơn vị sử dụnglao động Sau đó, trên cơ sở chuẩn đầu ra sẽ xây dựng chương trình; tiếp tụclấy ý kiến của họ trước khi chương trình hoàn thiện Một số chương trình đàotạo của nhà trường cũng cần thực hiện thăm dò cả ý kiến sinh viên Trường
sẽ thực hiện điều chỉnh chương trình khi cần thiết, và cái gốc của điều chỉnhlàm sao phải sát với thực tế sử dụng lao động, phải thực sự vì chất lượng
Việc xây dựng chương trình đào tạo hệ chính quy của trường đại họcđược thực hiện theo quy trình và trên cơ sở chương trình khung do Bộ GD & ĐTban hành, có sự tham gia của các chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục Mục tiêu,cấu trúc và tính hệ thống của chương trình đào tạo, sự đáp ứng yêu cầu vềchuẩn kiến thức, kỹ năng của đào tạo trình độ đại học và đáp ứng linh hoạtyêu cầu sử dụng nhân lực của xã hội
Sự bổ sung, điều chỉnh chương trình đào tạo theo định kỳ, dựa trên cơ sởtham khảo các chương trình tiên tiến, các ý kiến phản hồi từ các tổ chức sử dụngsản phẩm đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Chương trình đào tạo hệ chính quy của trường đại học phảiđảm bảo liên thông giữa các trình độ đào tạo (cao đẳng, đại học và sau đại học);
và định kỳ đánh giá, thực hiện cải tiến chúng; việc đa dạng hoá các hình thức
Trang 31đào tạo, đỏp ứng yờu cầu học tập của người học theo quy định.
1.2.3 Tổ chức quản lý đào tạo
Đối với bất kỳ một cơ sở đào tạo đại học nào, dự cụng lập hay tư thụcthỡ cụng tỏc tổ chức và quản lý luụn là khõu quan trọng hàng đầu để đảmbảo chất lượng đào tạo và nghiờn cứu khoa học của nhà trường Nếu thựchiện tốt khõu tổ chức và quản lý đào tạo sẽ tạo sức mạnh tổng hợp vànguồn lực to lớn để đảm bảo chất lượng đào tạo Trỏi lại, tổ chức và quản
lý yếu kộm sẽ làm giảm sỳt, thất thoỏt nguồn lực, dẫn đến chất lượng đàotạo bị suy giảm
Việc tổ chức quản lý đào tạo của nhà trường đại học, hoặc đối với mộtngành học cụ thể là cả quỏ trỡnh được bắt đầu từ lỳc sinh viờn hoàn thành thủtục nhập học và kết thỳc lỳc tốt nghiệp ra trường; nú diễn ra trong hệ thốnggồm cỏc tổ chức cỏ nhõn tham gia: BGH, cỏc đơn vị trực thuộc, giảng viờn,sinh viờn, được làm rừ trỏch nhiệm tham gia quỏ trỡnh đào tạo
Tổ chức quản lý đào tạo hệ chớnh quy của nhà trường đại học, bao gồmcỏc cụng việc cụ thể như: Cụng tỏc lập kế hoạch, phõn bổ và đỏnh giỏ cỏc nguồnlực cho hoạt động đào tạo Nhiệm vụ này đũi hỏi tớnh nghiờm tỳc, chặt chẽ trongxõy dựng và triển khai kế hoạch đào tạo; kế hoạch phải phản ỏnh rừ các mục tiêu
cụ thể của từng công việc, xác định đợc các chỉ số thực hiện qua từng giai
đoạn Kế hoạch phải xác định đợc các nhiệm vụ then chốt, các định hớngchính trong thời gian 4-5 năm; đồng thời phải có các chơng trình hành động
cụ thể trong từng giai đoạn, nhằm giải quyết các vấn đề cần u tiên và xác
định đợc các mục đích trọng tâm về các lĩnh vực hoạt động quan trọngnhất của nhà trường Kế hoạch phải nêu rõ việc phân bổ hợp lý các nguồn lực
và chi phí cho việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo; định kỳ có đánh giá việcthực hiện và sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh kế hoạch khi cần
Tổ chức bộ mỏy và quản lý đào tạo phải theo biờn chế của trường đại học,phự hợp với biểu biờn chế của Bộ GD & ĐT quy định, đỏp ứng với yờu cầucủa trường đại học Hệ thống văn bản tổ chức quản lý đào tạo phải đầy đủ, nhất
là quy chế giỏo dục, đào tạo nhằm phỏt huy tốt hiệu quả quản lý hoạt động đàotạo Trong quy chế giỏo dục, đào tạo phải phõn định rừ chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của cỏc bộ phận, cỏn bộ quản lý cỏc cơ quan, khoa giỏo viờn và sinh
Trang 32viờn; đồng thời phải cú cơ chế chớnh sỏch và biện phỏp giỏm sỏt, đỏnh giỏ việcthực hiện cỏc kế hoạch đào tạo của nhà trường, nhất là hoạt động dạy học củacỏc hoa giỏo viờn.
1.2.4 Chất lượng đào tạo và nghiờn cứu khoa học
Chất lượng đào tạo
Là một nội dung đảm bảo khú và phức tạp nhất trong toàn bộ hoạt độngđảm bảo chất lượng Chất lượng đào tạo phản ỏnh chất lượng toàn bộ quỏtrỡnh đào tạo của nhà trường đại học; nú khụng chỉ thể hiện ở kết quả tốtnghiệp ra trường của cỏc đối tượng sinh viờn hàng năm, mà nú cũn biểu hiện
ở sự phỏt triển phẩm chất, năng lực của họ và sự phỏt huy tỏc dụng của sảnphẩm đào tạo trong thực tiễn Chất lượng đào tạo được đỏnh giỏ khụng chỉ ởtại nơi đào tạo, mà cũn phải thụng qua sự phản hồi từ những nơi sử dụng sảnphẩm đào tạo, tức là mức độ phỏt huy năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụcủa người học
Trước hết, chất lượng đào tạo phản ỏnh ở tỷ lệ sinh viờn tốt nghiệp hàngnăm so với chỉ tiờu đào tạo, và tỷ lệ sinh viờn đạt loại giỏi, khỏ, trung bỡnh trờntổng số sinh viờn tốt nghiệp hàng năm Sau đú là sự phỏt triển về trớ tuệ và nhõncỏch của sinhviờn; sự phỏt triển về trỡnh độ kiến thức, kĩ năng và thỏi độ tư tưởngđạo đức so với trước khi được đào tạo tại trường
Chất lượng đào tạo cũn phản ỏnh ở sự phỏt huy tỏc dụng của sản phẩmđào tạo; đú là tỷ lệ sinh viên ra trờng có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có
uy tín cao, có ảnh hởng tích cực đến nơi cụng tỏc; và sau khi tốt nghiệp ratrường, sinh viờn đỏp ứng yờu cầu của nơi sử dụng ở mức độ nào
Nghiờn cứu khoa học
Nghiờn cứu khoa học ở nhà trường đại học, là nhiệm vụ quan trọngnhằm phục vụ trực tiếp cho giỏo dục, đào tạo; đồng thời nú cũng là một trongnhững yờu cầu và nhiệm vụ của cỏn bộ, giảng viờn; kết quả của hoạt độngnghiờn cứu khoa học sẽ tạo động lực thỳc đẩy và là một trong những mặt đảmbảo quan trọng cho chất lượng và hiệu quả đào tạo
Biểu hiện của hoạt động nghiờn cứu khoa học của trường đại học ở chỗ:
ý thức, trách nhiệm của cán bộ, giảng viên, sinh viên tham gia nghiên cứu
Trang 33khoa học; các biện pháp động viên khuyến khích và bắt buộc họ tham gianghiên cứu khoa học; sự đầu tư tương xứng cho cỏc đề tài, đề ỏn được thựchiện, nghiệm thu theo đỳng quy trỡnh và kế hoạch; những đúng gúp mới chokhoa học và giỏ trị ứng dụng thực tế trong cỏc đề tài nghiờn cứu để giải quyết cỏcnhiệm vụ giỏo dục, đào tạo và sự phỏt triển kinh tế - xó hội của đất nước Định mức
về số lợng công trình đợc công bố trong mỗi năm học cho từng đối tượng cán
bộ, giảng viên; các chính sách khuyến khích đối với các tác giả có nhiềucông trình khoa học có chất lợng tốt Số lượng bài bỏo đăng trờn cỏc tạp chớchuyờn ngành trong nước và quốc tế; số đề tài nghiờn cứu khoa học phự hợpvới định hướng nghiờn cứu và phỏt triển của trường Tỷ lệ cỏc cụng trỡnh xuấtbản cú giỏ trị về mặt lý luận, thực tiễn và tớnh ứng dụng trong giỏo dục đàotạo, nghiờn cứu phỏt triển
1.2.5 Đội ngũ cỏn bộ quản lý, giảng viờn
Đội ngũ cỏn bộ quản lý
Những người làm cụng tỏc quản lý giỏo dục trong nhà trường cú ảnhhưởng rất lớn đến đảm bảo chất lượng đào tạo Bao gồm ban giỏm hiệu,trưởng phú cỏc phũng ban, khoa, tổ của trường, những người quản lý vàhoạch định chiến lược giỏo dục của nhà trường Cỏc mục tiờu của giỏo dụcđào tạo sẽ khú thể thực hiện tốt nếu khụng cú đội ngũ cỏn bộ quản lý đủmạnh, trường khụng thể thiếu đội ngũ cỏn bộ quản lý với năng lực, trỡnh độ,trỏch nhiệm cao trong bộ mỏy quản lý hành chớnh
Thực tế cho thấy, mọi hoạt động trong nhà trường cần được tiến hànhmột cỏch đồng bộ và thống nhất; vỡ vậy cần phải cú hệ thống quản lý từ Bangiỏm hiệu đến cỏc phũng, ban chức năng để thực hiện cỏc cụng việc từ quản
lý con người đến quản lý và điều hành cỏc hoạt động giỏo dục rốn luyện ýthức đạo đức cho sinh viờn, cũng như hoạt động giảng dạy, hoạt động phục vụcho giảng dạy, hạch toỏn thu chi, mua sắm và vận hành, bảo quản cỏc trangthiết bị, cơ sở vật chất… Một bộ phận nào đú trong hệ thống trờn bị trục trặchay suy yếu đều ảnh hưởng và gõy ỏch tắc tới hoạt động của cỏc bộ phậnkhỏc, do đú ảnh hưởng tới việc nõng cao chất lượng đào tạo và tăng chi phớđào tạo nguồn nhõn lực Nhưng việc thực hiện tốt cỏc hoạt động trong hệ
Trang 34thống trên lại phụ thuộc vào trình độ năng lực và ý thức trách nhiệm củachính những con người được quyền phân công và sử dụng đội ngũ cán bộ,giảng viên trong nhà trường Cho nên phải có đội ngũ cán bộ quản lý có nănglực trình độ phù hợp với công việc và ý thức trách nhiệm cao sẽ là yếu tốhàng đầu đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường.
Đội ngũ giảng viên
Sứ mệnh đào tạo con người mới là trách nhiệm chung của toàn xã hội,nhưng đội ngũ giảng viên vẫn là yếu tố đảm bảo quan trọng và quyết địnhnhất đến chất lượng đào tạo Tục ngữ có câu: “không thầy đố mày làm nên“cho đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị
Giảng viên phải là người tổ chức các hoạt động học tập, hướng dẫn,rèn luyện sinh viên cách học, cách thu thập, xử lý thông tin để phục vụ việchọc tập; không phải chỉ dạy cho sinh viên nắm được cái gì mà còn phải biếthướng dẫn họ vận dụng tổng hợp những kiến thức, kĩ năng đã học để pháthiện, giải quyết vấn đề trong thực tiễn đời sống Do vậy người giảng viênphải có năng lực, trình độ cao để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương phápgiảng dạy, vận dụng nhiều hình thức tổ chức giáo dục và kiểm tra, đánh giágiáo dục mới khác nhau và hiện đại
Chất lượng của đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng sảnphẩm giáo dục đào tạo, mặc dù lấy người học làm trung tâm của đào tạo Mọi
sự bất cập về số lượng, chất lượng, trách nhiệm của người thầy so với yêu cầuđào tạo đều có ảnh hưởng đến kết quả đào tạo Đối với sinh viên, tấm gương
về đạo đức, nhân cách, tài năng của người thầy có tác dụng rất lớn đối vớiviệc hình thành nhân cách, tài năng của họ Muốn có trò giỏi (nguồn nhân lực
có chất lượng) ắt phải có thầy giỏi, bởi trong thực tế người thầy không thể chohọc sinh của mình cái mà mình chưa có được Trình độ chuyên môn của thầyyếu dẫn tới việc truyền tải tri thức và tay nghề cho sinh viên không đầy đủ,thậm chí còn sai lệch, học sinh thông minh nhưng không có thầy giỏi dẫn dắtthì sự thông minh ấy không thể trở thành nhân tài được Vì vậy phải xây dựngđội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có trách nhiệm vàlương tâm nghề nghiệp là mục tiêu của các nhà trường Đồng thời, các trường
Trang 35phải chỳ trọng nõng cao trỡnh độ giỏo viờn, tạo điều kiện cho họ cập nhật vớicỏc tri thức khoa học hiện đại và học tập nghiờn cứu nõng cao trỡnh độ chuyờnmụn, năng lực giảng dạy, ngày càng cú uy tớn đối với sinh viờn; bởi họ là yếu
tố đảm bảo quan trọng nhất, quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo củabất kỡ nhà trường nào
1.2.6 Thư viện, giỏo trỡnh, sỏch, tài liệu tham khảo và cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, tài chớnh
Thư viện, giỏo trỡnh, sỏch, tài liệu tham khảo
Mọi cơ sở đào tạo đại học nào, dự cụng lập hay tư thục thỡ thư viện,giỏo trỡnh, sỏch, tài liệu tham khảo luụn là khõu quan trọng đối với giảngviờn và sinh viờn, nú gúp phần đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiờn cứukhoa học của nhà trường Thư viện được trang bị đầy đủ sỏch, tài liệu củacỏc chuyờn ngành và liờn ngành cũng như cỏc sỏch mở rộng, nõng cao kiếnthức chuyờn mụn cho giảng viờn, sinh viờn học tập nghiờn cứu, đáp ứng yêucầu nõng cao chất lượng dạy học Thư viện theo quy chuẩn, hệ thống cungứng tài liệu hiện đại, khoa học, phục vụ trực tiếp cỏc chương trỡnh đào tạo vànhu cầu nghiờn cứu, tham khảo của cỏn bộ, giảng viờn, sinh viờn Phươngthức tổ chức hoạt động của thư viện thuận tiện cho người đọc; và đa dạng hoỏcỏc hỡnh thức cung cấp tài liệu, tư liệu
Trong điều kiện hiện nay, cỏc trường đại học cần cú hệ thống thư việnđiện tử đảm bảo nhu cầu học tập, nghiờn cứu của cỏn bộ, giảng viờn, họcviờn; và việc cung cấp cỏc thiết bị tin học để hỗ trợ hiệu quả cỏc hoạt độngdạy học, nghiờn cứu khoa học và quản lý
Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và tài chớnh
Cơ sở vật chất và phương tiện kĩ thuật dạy học của trường đại học, baogồm tất cả những cụng trỡnh, nhà cửa, đường xỏ, trang thiết bị sinh hoạt; cỏcphũng học, phũng chuyờn dựng; cỏc phương tiện kỹ thuật dạy học, sỏch giỏokhoa, giỏo trỡnh và cỏc tài liệu dạy học; cỏc bói tập luyện thể thao, rốn luyệnthể lực Trang thiết bị dạy và học để hỗ trợ cho cỏc hoạt động đào tạo,nghiờn cứu khoa học được đảm bảo về chất lượng và sử dụng cú hiệu quả,
đỏp ứng yờu cầu của cỏc chuyờn ngành đang đào tạo tại trường Diện tớch lớp
Trang 36học theo quy định cho việc dạy và học, trang thiết bị và sân bãi cho các hoạtđộng văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao theo quy định Hệ thống điện ánhsáng cho các phòng học đảm bảo đúng quy chuẩn và hệ thống giảng đường vàcác công trình phụ bảo đảm vệ sinh môi trường.
Cơ sở đào tạo nguồn nhân lực đều phải dựa trên những điều kiện cơ sởvật chất nhất định để cho các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu đượcdiễn ra đúng kế hoạch, mục tiêu đề ra Để thực hiện được tất cả những hoạtđộng nêu trên, cần có sự hỗ trợ rất lớn về tài chính và những điều kiện vậtchất Ngoài nguồn lực tài chính dùng để trả lương cho đội ngũ cán bộ giảngdạy và quản lý trong các trường, còn cần một lượng không nhỏ để xây dựng
mở mang trường lớp, các thiết bị văn phòng, máy tính, dụng cụ vật tư kỹ thuậtcho thí nghiệm thực hành, các thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy cóchất lượng cao, giáo trình và tài liệu cho sinh viên học và tham khảo
Thực tế đã chứng minh để đáp ứng yêu cầu nhân lực kỹ thuật không thểthiếu điều kiện trang thiết bị và xưởng thực hành Không có các điều kiện trênviệc tiếp xúc với trang thiết bị trở nên xa lạ, sinh viên không được làm quenvới các thao tác nghề, những kiến thức lý thuyết thu nhận được sẽ mai mộtdần theo năm tháng, kỹ năng của người thợ không được hình thành Hơn nữa,nếu không có nguồn tài chính để bổ sung các thiết bị hiện đại cho sinh viênthực hành sẽ không đáp ứng khoa học công nghệ hiện nay và cũng không thểđáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực theo hướng kinh tế tri thức
1.2.7 Môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của
cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiệnthuận lợi để giáo dục đạt kết quả cao nhất Nhiệm vụ chăm lo sự nghiệp giáodục, xây dựng phong trào học tập và phát triển môi trường giáo dục lànhmạnh đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được xác địnhtrong Luật Giáo dục để mọi cá nhân và tổ chức phải thực hiện Do đó, việcxác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường văn hoá giáo dục chothế hệ trẻ là trọng tâm của ngành Giáo dục
Trang 37Mục tiêu chung của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ,
để giáo dục được một con người trưởng thành là một việc rất khó nhưng cũng rất
vĩ đại Do bản chất nhân văn của giáo dục, cùng với đạo lí và lẽ sống tình ngườiđang thôi thúc chúng ta phải góp một viên gạch vào xây dựng một môi trườngsống tốt đẹp cho mọi người Môi trường giáo dục cũng là một trong những yếu
tố quan trọng tác động, ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục đào tạo
Những yếu tố trên là điều kiện vật chất, phương tiện, tài chính phục vụhoạt động dạy học và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, sinh viên, lànhững yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường
Việc khái quát nội dung cơ bản (yếu tố) đảm bảo chất lượng đào tạo hệchính quy trường đại học trên như: chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, tổchức quản lý đào tạo, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên, thư viện giáo trình, sách, tài liệu tham khảo và cơ sởvật chất kĩ thuật… là những nội dung cơ bản tạo nên cơ sở nền tảng lý luậntrực tiếp giúp cho việc đề xuất các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo đượckhách quan hơn
*
Cất lượng giáo dục trường đại học, là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường
đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học phù hợp với yêu cầuđào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cảnước Còn chất lượng đào tạo, là sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánhgiá của người học, người dạy, người quản lý và người sử dụng sản phẩm đàotạo Đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học, là quá trình hình thànhnhững nhận định, phán đoán về kết quả giáo dục dựa trên sự phân tích nhữngthông tin thu được đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn, tiêu chí đã đề ranhằm đề xuất những ý kiến thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nângcao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo
Đảm bảo chất lượng đào tạo, là một công cụ nhằm mục đích xác địnhmức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của cơ sở giáo dục,
Trang 38thông qua sự đánh giá tổng thể về tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượngđào tạo.
Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học: Là hệ thống công
cụ phương tiện để xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục đào tạo củanhà trường đại học trong từng giai đoạn, thông qua sự đánh giá tổng thể vềtất cả các yếu tố đảm bảo cho việc duy trì và phát triển chất lượng đào tạo củanhà trường, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội
Nội dung đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học bao gồm các yếu
tố như: chuẩn đầu ra; đội ngũ giảng viên và sinh viên; chương trình nội dung
đào tạo; tổ chức quá trình đào tạo; chất lượng đào tạo; thư viện, giáo trình,
sách, tài liệu tham khảo; công tác quản lý khoa học, quản lý cơ sở vật chất
kỹ thuật…
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU
2.1 Khái quát về Trường Đại học Bạc liêu
2.1.1 Thông tin khái quát về nhà trường
Trường Đại học Bạc Liêu trực thuộc UBND tỉnh Bạc Liêu và chịu sựquản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường tọa lạc tạitrung tâm thành phố Bạc Liêu, hiện nay, trường có hai cơ sở, cơ sở I tọa lạctrên đường Võ Thị Sáu, Phường 8, thành phố Bạc Liêu; cơ sở II nằm trênđường Lê Duẩn, Phường 1, thành phố Bạc Liêu
Đại học Bạc Liêu là trường đại học công lập, là cơ sở giáo dục đại học
đa ngành, đa hệ, có chức năng đào tạo các bậc từ trung cấp đến sau đại học;Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Trường Đại học Bạc Liêu được thành lập ngày 24/11/2006, theo Quyếtđịnh số 1558/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, sự ra đời của trường hợptheo ý chí, nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bạc Liêu, đáp ứng yêucầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệpCNH-HĐH của tỉnh và vùng bán đảo Cà Mau
Trường Đại học Bạc Liêu có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực có trình độđại học, trên đại học, sinh viên được đào tạo đạt ba mục tiêu: Có kiến thứcchuyên ngành vững chắc; đảm bảo các kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xãhội; trở thành một công dân có trình độ văn hóa cao và nhân cách tốt Giữ vaitrò nòng cốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệcho khu vực Bán đảo Cà Mau, trên các lĩnh vực Nông nghiệp - Thủy sản - Dulịch - Dịch vụ
Nhiệm vụ của trường là dựa trên sự đầu tư của nhà nước cộng với sựphát triển các mối quan hệ trong và ngoài nước để nâng cao năng lực đào tạo,
mở rộng ngành nghề đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh Bạc Liêu vàcác tỉnh vùng bán đảo Cà Mau
Để đảm bảo thực hiện sứ mạng và chất lượng đào tạo, nhà trường đẩymạnh phát triển nguồn nhân lực đào tạo Cải tiến chương trình, đổi mới
Trang 40phương pháp giảng dạy và mở rộng ngành nghề đào tạo; ứng dụng công nghệthông tin vào quản lý và đào tạo Thực hiện đổi mới cơ bản toàn diện đảm bảomang lại cho cán bộ, giảng viên, nhân viên nhà trường một môi trường thuậnlợi, có thể phát huy toàn bộ năng lực trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo
và phát triển giáo dục đại học Tạo cho sinh viên môi trường học tập vànghiên cứu khang trang, hiện đại, đảm bảo chất lượng giáo dục theo ba mụctiêu mà sứ mạng đề ra
Về bộ máy, cơ cấu tổ chức đến thời điểm này đã được kiện toàn, hoànthiện và hoạt động hiệu quả Cơ sở vật chất không ngừng được tăng cường, từchỗ thiếu trầm trọng phòng học, phòng làm việc, thiết bị thực hành thínghiệm, trường tích cực tranh thủ các nguồn vốn đầu tư cải tạo, xây dựngmới, mua sắm thiết bị, đến nay cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng được nhiệm vụđào tạo
Cơ sở vật chất của trường hiện sử dụng, có tổng diện tích là 50.049 m2,gồm 2 khu Có 15 đơn vị trực thuộc là các phòng, khoa, tổ bộ môn với 282 cán
bộ, giảng viên, nhân viên, lưu lượng sinh viên đào tạo hàng năm khoảng 6.000.Trong thời gian qua công tác xây dựng đội ngũ được coi trọng và pháttriển về cả số lượng cũng như chất lượng Năm 2008 đội ngũ giảng viên chỉ
90 người với 30 thạc sĩ thì tháng 11/2012 có 188 giảng viên với 5 tiến sĩ và
118 thạc sĩ
Hiện nay trường có 04 khoa, từ khi thành lập đến nay, trường Đại họcBạc Liêu đã hoàn thành các Đề án và được Bộ Giáo dục và Đào tạo giaonhiệm vụ tuyển sinh các ngành có trình độ Đại học, Cao đẳng sau đây:
Hệ Đại học chính qui:
Tin học ứng dụng, Quản trị kinh doanh, Kế toán tổng hợp, Kế toán kiểmtoán, Tài chính - Ngân hàng, Nuôi trồng thuỷ sản, Bệnh học thuỷ sản, Chănnuôi, Bảo vệ thực vật, Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, Ngôn ngữ Anh, Sưphạm Sinh, Sư phạm Toán, Sư phạm Hóa học
Hệ Đại học liên thông:
Nuôi trồng thủy sản (từ trung cấp lên đại học)