1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp chuẩn hóa giáo viên tiếng anh ở các trường trung học cơ sở huyện hồng dân, tỉnh bạc liêu

111 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 862 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ GV đã đượcChủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo,công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân

Trang 1

ĐÀO CÔNG HUẤN

BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN TIẾNG ANH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐÀO CÔNG HUẤN

BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN TIẾNG ANH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số : 60 14 01 14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN TẤN

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.2 Nội dung chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở 231.3 Những nhân tố tác động đến chuẩn hóa giáo viên tiếng

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN

TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC

2.1 Khái quát chung về kinh tế - xã hội và giáo dục – đào tạo

312.2 Thực trạng giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở huyện Hồng

2.3 Thực trạng chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở

2.4 Đánh giá chung

40

Chương 3 NGUYÊN TẮC, BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA

GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU HIỆN

3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý chuẩn hóagiáo viên Tiếng Anh trung học cơ sở huyện Hồng Dân,

3.2 Các biện pháp chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh trung học

cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu hiện nay 463.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi các biện pháp đề xuất

Trang 4

GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục ngày nay đang khẳng định vai trò là động lực trực tiếp phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khi mà yếu tố con người là nhân tố trung tâmcủa sự phát triển Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta xác định: “Giáodục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồidưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá

và con người Việt Nam” [8, tr.77] Để phát triển sự nghiệp giáo dục, trongnhững năm gần đây Đảng và Nhà nước ta xác định phải mới căn bản và toàndiện nền giáo dục cho phù hợp với xu thế thực tiễn giáo dục Việt Nam và xu thếphát triển của giáo dục thế giới trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, pháttriển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,dân chủ hoá và hội nhập quốc tế Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chính làviệc chuẩn hoá đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục và đàotạo trong giai đoạn cách mạng mới

Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò của đội ngũ nhà giáo đối với sự nghiệpgiáo dục, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “nhà giáo giữ vai trò quyết địnhtrong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.” [26, tr.19] Chiến lược phát triển giáodục giai đoạn 2011 – 2020 được Đảng ta xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diệnnền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá và hộinhập quốc tế, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên vàcán bộ quản lý là khâu then chốt” [8, tr 20] Đồng thời, Đảng cũng đặt ra yêucầu “giáo viên phải có đủ đức và tài”; các lực lượng giáo dục, trước hết là đội

ngũ giáo viên cần phải được “chuẩn hoá” Vì vậy, mỗi nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân cần phải đặc biệt quan tâm đến việc “chuẩn hoá” đội

ngũ giáo viên

Một trong những điều kiện để hội nhập tốt với thế giới là phải tạo ra mộtđội ngũ các nhà tri thức trong tương lai phải biết ngoại ngữ mà chủ yếu là

Trang 6

tiếng Anh Tiếng Anh có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dụcđào tạo và trong sự phát triển của đất nước Trong sự nghiệp công nghiệp hóa

- hiện đại hóa của đất nước ta, để có thể đi tắt, đón đầu, để con người ViệtNam có thể vươn lên tầm cao trí tuệ thế giới thì phải đầu tư, phát triển giáodục, phải biết tiếng Anh bởi vì phần lớn các tài liệu tri thức khoa học củanhân loại được viết bằng tiếng Anh, nhiều quốc gia sử dụng tiếng Anh nhưtiếng mẹ đẻ Tại Việt Nam, môn tiếng Anh cũng được Bộ GD – ĐT đưa vàochương trình dạy từ bậc phổ thông đến đại học Để dạy và học tiếng Anh đạthiệu quả cần phải hội đủ nhiều yếu tố và một trong những nhân tố đó là trình

độ đội ngũ giáo viên (GV), những người đang trực tiếp giảng dạy ở các cơ sởgiáo dục Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành TW Đảng khoáVIII đã khẳng định: “ GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được

xã hội tôn vinh Chất lượng giáo dục trong nhà trường phụ thuộc phẩm chất,năng lực của đội ngũ GV” Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói khi bàn vềvai trò của người thầy trong sự nghiệp giáo dục: “Thầy giáo là nhân vật trọngtâm trong nhà trường, là người quyết định và tạo nên những con người mới.Vậy thầy giáo phải không ngừng vươn lên, rèn luyện tu dưỡng về mọi mặt đểthực sự xứng đáng là người thầy xã hội chủ nghĩa” Đối với GV ngoại ngữ,theo đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn

2008 - 2020, GV dạy ngoại ngữ phải có năng lực ngôn ngữ giảng dạy cao hơntrình độ chung của cấp dạy hai bậc

Qua kết khảo sát trình độ GV tiếng Anh do Sở GD – ĐT Bạc Liêu phốihợp tổ chức, tất cả GV tiếng Anh ở các trường đều không đạt chuẩn theo quyđịnh của Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giaiđoạn 2008 - 2020 Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng GV đạtchuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo nhưng trình độ thực tế chưa tươngxứng là do trong thời gian qua công tác chuẩn hóa cho đội ngũ này còn nhiều

Trang 7

hạn chế Trong những năm qua, Phòng GD – ĐT Hồng Dân và Sở GD – ĐTBạc Liêu hàng năm đều có tổ chức bồi dưỡng GV nhưng đó là chương trìnhbồi dưỡng GV THCS nói chung chứ chưa phải là chương trình đặc thù dànhriêng cho chuẩn hóa GV tiếng Anh Đối với các trường, hiệu trưởng nhàtrường cũng chưa thật sự quan tâm đến chương trình chuẩn hóa riêng cho GVdạy môn tiếng Anh Kết quả của kì thi khảo sát năng lực, đặt ra cho các nhàquản lí là phải làm sao tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ GV từ mục đích,nguyên tắc, phương pháp, nội dung, hình thức, các bước khi bồi dưỡng GV đểđạt được trình độ chuẩn theo quy định Như vậy để có được một đội ngũ GV

đủ trình độ thì cần phải làm tốt công tác chuẩn hóa GV, làm cho mỗi GV thấyđược việc bồi dưỡng để chuẩn hóa là nhu cầu của mình nhằm đáp ứng cáctiêu chuẩn về trình độ theo đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáodục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu”, làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Ở Ấn Độ vào năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâmhọc tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người Việcbồi dưỡng, phát triển GV được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệuquả rất thiết thực

Hội nghị UNESCO tổ chức tại NêPan vào năm 1998 về tổ chức quản lýnhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GV là vấn đề cơbản trong phát triển giáo dục”

Tại Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạmcho đội ngũ GV và quy định trong thời gian 3 tháng cần bồi dưỡng những nộidung gồm: giáo dục nghiệp vụ dạy học; Cơ sở tâm lý GV; Phương pháp

Trang 8

nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh đối với đội ngũ GV mới vàonghề chưa quá 3 năm.

Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GV không tiến hành

tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thờigian học sinh nghỉ hè Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyêntắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn vềquan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hèthứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và Hè thứ tư gồmkiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tàiliệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo

Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ GV, CBQL giáodục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theo thực tếcủa từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thứcbồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định Cụ thể là mỗi

cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 GV được đào tạo lại một lần theo chuyên mônmới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học

Tại Triều Tiên một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồidưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ GV, tất cả GV đều phải tham gia học tập đầy

đủ các nội dung về chương trình về nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụtheo quy định Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng GV mới” để bồidưỡng đội ngũ GV được thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” đểđưa GV đi tập huấn ở nước ngoài

Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục như: M.I.Kônđacốp,P.V Khuđominxki…đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thôngqua các biện pháp quản lý có hiệu quả Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải

có đội ngũ GV có năng lực chuyên môn Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt độngcủa nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tácquản lý bồi dưỡng, phát triển đội ngũ

Trang 9

Tại Singapore, một quốc gia có nền giáo dục phát triển ở Đông Nam Á vàChâu Á, một kế hoạch bồi dưỡng chuyên nghiệp dành cho GV được đưa ra trong

đó việc đào tạo và bồi dưỡng, phát triển năng lực sư phạm cho GV đang giảngdạy được kết hợp một cách chặt chẽ với sự phát triển sự nghiệp Các thầy côgiáo được trả lương mỗi người 100 giờ một năm và một số chi phí nhất định đểxây dựng và thực hiện những kế hoạch đào tạo bồi dưỡng

Ở Việt Nam, ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai trò củangười thầy giáo như: “Không thầy đố mày làm nên”, không có thầy giáo thì

sẽ không có giáo dục Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt vàtoàn diện đến giáo dục mà chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất đó chính làđội ngũ GV

Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ GV đã đượcChủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo,công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16

tháng 10 năm 1968 rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự

nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới”, “Cán bộ và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại”

Kể từ sau cách mạng tháng Tám thành công và các cuộc cải cách giáodục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới” nhiều công trìnhnghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng và phát triển đội ngũ

GV như: Nguyễn Thị Phương Hoa (2002, Con đường nâng cao chất lượng

cải cách các cơ sở đào tạo GV); Đinh Quang Báo (2005, Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV); Đặng Quốc

Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007, Cẩm nang nâng cao năng lực

Trang 10

và phẩm chất đội ngũ GV); Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Văn Cường, Trần Bá

Hoành, Nguyễn Bá Kim, Lâm Quang Thiệp (Đổi mới nội dung đào tạo GV

THCS theo chương trình cao đẳng sư phạm mới); Bùi Văn Quân, Nguyễn

Ngọc Cầu (Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ giảng

viên) v.v…Các công trình này nghiên cứu phát triển đội ngũ theo 3 hướng:

Nghiên cứu phát triển đội ngũ GV dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực;Nâng cao chất lượng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục vàNghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ GVtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Sau hơn hai thập kỷ đổi mới, nhiều giải pháp nhằm xây dựng và pháttriển đội ngũ GV ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộngrãi Đặc biệt từ khi có chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội vềđổi mới chương trình giáo dục phổ thông thì một số dự án, công trình nghiêncứu khoa học lớn liên quan đến đội ngũ GV ở tất cả các cấp học, bậc học đãđược thực hiện

Trong những năm gần đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục đàotạo nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng, nhiều nhà nghiêncứu trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lý học như: Trần Hồng Quân,Phạm Minh Hạc, Phan Trọng Luận, Vũ Văn Tảo, Đỗ Đình Hoan, Trịnh Xuân

Vũ, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổimới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học vớithục tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm trong hoạtđộng dạy học

Xét ở góc độ nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục, dựa trên quan điểmcủa chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học nước

ta đã tiếp cận quản lý giáo dục (QLGD) và quản lý trường học để đề cập đếnviệc phát triển công tác quản lý trường học; các tác phẩm tiêu biểu như:

Trang 11

Phương pháp luận khoa học giáo dục của Phạm Minh Hạc; Khoa học Quản

lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trần Kiểm

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổimới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiệnđại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơchế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV và CBQL giáo dục là khâuthen chốt”

Đối với môn ngoại ngữ, các trường phổ thông của Việt Nam tập trungvào tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung và tiếng Pháp, trong đó tiếng Anhchiếm hơn 90% số lượng học sinh theo học Đây là môn học có nhiều tiết họctrong tuần (3 tiết/tuần), là một trong ba môn thi tốt nghiệp THPT Bên cạnh

đó, ngành giáo dục cũng đã đầu tư rất lớn về CSVC, thiết bị dạy học ngoạingữ, biên soạn lại nội dung chương trình cho phù hợp với tình hình xã hộimới Điều đó chứng tỏ Nhà nước rất quan tâm, chú trọng đến bộ môn ngoạingữ Đối với học sinh, sinh viên Việt Nam, ngoại ngữ có một ý nghĩa đặc biệt

vì nước ta đang trong bối cảnh hợp tác, quan hệ, hội nhập quốc tế ngày càngrộng mở Biết ngoại ngữ không những để vượt qua các kỳ thi bắt buộc, để đápứng yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao với các quy trình công nghệthường xuyên được đổi mới, mà còn là một năng lực cần thiết đối với người ViệtNam hiện đại

Bàn về vai trò, tiêu chuẩn người giảng viên trong công trình lý luận dạyhọc của tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thị Đức cho rằng: Đối với ngườicán bộ giảng dạy đại học, nâng cao trình độ chuyên môn, nghệ thuật sư phạm vàphẩm chất đạo đức là điều kiện chủ yếu để tạo nên uy tín của người thầy Tuychưa đề cập sâu sắc những yêu cầu cụ thể về năng lực chuyên môn, nghệ thuật

sư phạm nhưng những khái quát của tác giả đã định hướng cho việc xác định

tiêu chuẩn và chuẩn hoá đội ngũ giảng viên

Trang 12

Khi bàn về phát triển đội ngũ giáo viên trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tác giả Trần Kiểm nhấn mạnh: Muốn pháttriển đội ngũ giáo viên phải xác định được trình độ hiện có của đội ngũ ngườithầy giáo trong tương lai; yêu cầu đặt ra cho sự phát triển đội ngũ giáo viên trongthời kỳ mới trở thành những thách thức không nhỏ Việc vượt qua những tháchthức đó, đến lượt nó trở thành nhân tố quyết định chất lượng giáo dục theo yêucầu xã hội Việc đầu tư phát triển đội ngũ giáo viên là trách nhiệm của Nhà nước

và toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Những năm gần đây, sự tăng nhanh về số lượng các trường trung học cơ sởtrong cả nước dẫn đến sự thiếu hụt và mất cân đối của đội ngũ giáo viên Vì thế,nhiều đề tài ở các cấp độ khác nhau trong đó có các luận văn thuộc chuyênngành Quản lý giáo dục đã đề cập đến vấn đề này: Luận văn thạc sỹ của tác giảNguyễn Thị Thanh, Đại học Sư phạm Hà Nội, “Các giải pháp tổ chức nhằm ổnđịnh đội ngũ cán bộ dạy ở trường Đại học Sư phạm” (1999); Luận văn thạc sỹcủa tác giả Trần Công Chánh, có đề tài: “Các giải pháp quản lý công tác pháttriển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng sư phạm Bạc Liêu” (2001); Luận vănthạc sỹ của tác giả Nguyễn Sơn Thành, Đại học Sư phạm Hà Nội, “Một số giảipháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Hải Phòng đếnnăm 2010” (2004); Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Đình Dũng, Đạihọc sư phạm Hà Nội, “Một số biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên trườngCao đẳng Thống kê” (2005); Đề tài luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị HồngSinh đã đề cập đến “Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên nhằm đápứng yêu cầu nâng cấp trường Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Thành phố HồChí Minh” (2006); Luận văn thạc sỹ của tác giả Đặng Văn Doanh, Đại họcThái Nguyên “Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳngkinh tế - kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên” (2008); Luận văn thạc sỹ củatác giả Lê Đình Huấn, Đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh “Thực

Trang 13

trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng BìnhPhước” (2010); Các công trình này nghiên cứu phát triển đội ngũ theo 3hướng: Nghiên cứu phát triển đội ngũ GV dưới góc độ phát triển nguồn nhânlực; Nâng cao chất lượng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục vànghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ GVtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhìn chung, các đề tài đã đề ra những giải pháp cụ thể, thiết thực để pháttriển đội ngũ giảng viên của các trường cao đẳng, đại học nhằm chuẩn hóa độingũ, đáp ứng các đặc điểm, yêu cầu của từng nhà trường Tuy nhiên, giới hạncủa các đề tài là chỉ đáp ứng các yêu cầu thực tiễn phù hợp với thực trạng củatừng nhà trường Đối với giảng viên các trường đại học, cao đẳng, các đề tài đãphân tích được thực trạng về tình hình đội ngũ và đào tạo, bồi dưỡng giảng viêntrong những năm vừa qua Đồng thời, các đề tài cũng đã đưa ra một số phương

án, giải pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng hiện có nhằmnâng cao trình độ cho đội ngũ này, chưa đáp ứng được các yêu cầu của nội dungxây dựng và phát triển đội ngũ nhằm chuẩn hóa không chỉ về chất lượng mà cònphát triển về số lượng và cơ cấu hợp lý

Tuy nhiên, các công trình kể trên hầu hết vẫn còn để lại khoảng trốngnghiên cứu về quản lý đội ngũ GV trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, về chính sách tuyển dụng, sử dụng và về vai trò, vị trí mới củađội ngũ GV trong tiến trình phát triển nhà trường Việt Nam trong thời kỳ hộinhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa Hầu hết các công trình nghiên cứu đềuchỉ dừng lại ở lí luận quản lý, lí luận dạy học Có rất ít các công trình nghiêncứu đối với đặc thù của bộ môn tiếng Anh Nội dung các công trình nghiêncứu về bộ môn tiếng Anh đã góp phần nêu lên được những tồn tại, khó khăn

và bất cập về nội dung chương trình, phương pháp dạy học tiếng Anh và cả

QL dạy học tiếng Anh hiện nay Các công trình trên cũng đã đề xuất được

Trang 14

một số biện pháp QL dạy học tiếng Anh hiệu quả và thiết thực Hầu hết các đềtài nghiên cứu có liên quan đề cập đến nhiều vấn đề dạy học môn tiếng Anh,phương pháp dạy nhưng chưa đề cập đến vấn đề chuẩn hóa đội ngũ GV,đặc biệt là chuẩn hóa về trình độ theo chuẩn Đề án dạy và học ngoại ngữtrong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 Tại huyện HồngDân chưa có công trình nghiên cứu nào về thực trạng dạy môn Tiếng Anh màđặc biệt là về trình độ GV tiếng Anh Chính vì vậy, việc nghiên cứu công tácchuẩn hóa GV tiếng Anh ở các trường THCS huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêucàng trở nên bức thiết.

Vấn đề xây dựng, chuẩn hóa giáo viên trong những năm gần đây đượcđặc biệt quan tâm của toàn xã hội, trong đó những vấn đề về chất lượng, đã cónhiều nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục và quản lý giáo dục đã có nhữngđóng góp đáng chân trọng Ở đây có thể kể đến các tác giả như: Bùi Minh Hiềnvới đề tài: Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục phải coi trọng

ba vấn đề chủ yếu: Đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơcấu Trong đó, chuẩn về chất lượng giáo viên cần đạt chuẩn ở ba khía cạnh:Chuẩn về trình độ chuyên môn sư phạm (học vấn), chuẩn về trình độ nghiệp vụ

sư phạm, chuẩn về đạo đức tư cách người thầy [17]

Khi đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên, tácgiả Trần Bá Hoành đã đưa ra ba nhân tố: Quá trình đào tạo, sử dụng và bồidưỡng giáo viên; hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của người giáo viên;

ý trí, thói quen và năng lực của người giáo viên [18] Đây cũng là nhữngvấn đề cần lưu ý trong quá trình chuẩn hoá đội ngũ giáo viên

Từ sự khái quát những nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn chúngtôi nhận thấy:

Một là, những tư tưởng, những nghiên cứu đều cho rằng chuẩn hoá giáo

viên giữ vai trò quan trọng, là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng giáo

Trang 15

dục và đào tạo, phát huy tốt nhất vai trò của đội ngũ giáo viên trong sự nghiệptrồng người.

Hai là, muốn chuẩn hoá giáo viên phải bảo đảm chuẩn hoá về chất lượng,

chuẩn về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Đặc biệt, chú trọng chuẩn hoá về chấtlượng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghềnghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của

sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

Ba là, mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vào những vấn đề cụ thể

riêng, căn cứ vào tình hình, đặc điểm, nhiệm vụ của từng địa phương, nhà trường

mà các tác giả đề xuất hệ thống giải pháp với mong muốn công trình có nhữngđóng góp nhất định trong việc chuẩn hoá giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu giáodục và đào tạo của cơ sở nói riêng, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đất nướcnói chung

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chuẩn hoá giáo viên nói chung, từ đóđánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở, đềxuất các biện pháp chuẩn hóa giáo viên tiếng anh các trường Trung học cơ sởhuyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu hiện nay

Trang 16

4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu

Quản lý giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở huyện HồngDân, tỉnh Bạc Liêu

Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh các trường Trunghọc cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu hiện nay

Phạm vi

Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trường Trunghọc cơ sở trên địa bàn huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu hiện nay Từ đó đề xuấtcác biện pháp chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở huyệnHồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, đáp ứng với yêu cầu dạy và học môn tiếng Anh trongtình mới

Các số liệu, kết quả điều tra, khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên trongphạm vi 5 năm từ 2008 đến 2013

5 Giả thuyết khoa học

Chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở huyện HồngDân, tỉnh Bạc Liêu là nội dung rất quan trọng nếu trong quá trình chuẩn hóa chủthể quản lý đề xuất và thực hiện tốt các biện pháp như: nâng cao nhận thức vềvai trò tầm tầm quan trọng của chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh; xác định mục tiêuchuẩn hóa; xây dựng nội dung chuẩn hóa; tiến hành tốt các phương pháp, hìnhthức chuẩn hóa; phát huy vai trò của Hiệu trưởng trong quá trình chuẩn hóa; bảođảm các điều kiện thực hiện chuẩn hóa giáo viên dạy môn tiếng Anh viên thìchất lượng giảng dạy môn tiếng Anh của các trường Trung học cơ sở sẽ khôngngừng được nâng lên

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và cơ sở lý luận theo đường lối, quan điểm của Đảng

Trang 17

Cộng sản Việt Nam; Chỉ thị, Hướng dẫn của các cấp về giáo dục và đào tạo vàquản lý giáo dục đào tạo mà trực tiếp nhất là chuẩn hóa đội ngũ giáo viên.

Để đạt được mục đích nghiên cứu và luận giải các nhiệm vụ của đề tài,chúng tôi sử dụng các quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc; lịch sử - lôgíc;quan điểm thực tiễn để xem xét, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn củachuẩn hoá đội ngũ giáo viên nói chung và chuẩn hoá đội ngũ giáo viên tiếngAnh các trường Trung học cơ sở

Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Thực hiện việc thu thập, nghiên cứu tài liệu; phân tích, tổng hợp, hệ thốnghoá, khái quát hoá các tài liệu về giáo dục và đào tạo, đặc biệt là những tài liệu

có liên quan đến chuẩn hoá đội ngũ giáo viên; nghiên cứu Nghị quyết của Đảng

uỷ, ủy ban nhân tỉnh, kế hoạch chuẩn hoá đội ngũ giáo viên ở các trường Trunghọc cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

Phương pháp nghiên cứu từ các sản phẩm, công cụ quản lý: Chương trình,quy trình đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn đội ngũ giáo viên tiếng Anh

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý củađội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong công tác chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cáctrường trung học cơ sở; hoạt động dạy học, giáo dục, hoạt động học tập nâng caotrình độ, rèn luyện của đội ngũ giáo tiếng Anh để rút ra những kết luận về nộidung nghiên cứu

Phương pháp điều tra: Điều tra xã hội học bằng phiếu đối với 150 phiếu Đốitượng điều tra bao gồm: Giáo viên 100 phiếu; cán bộ lãnh đạo quản lý 50 phiếu

Phương pháp tọa đàm, trao đổi: Toạ đàm, trao đổi với đội ngũ giáo viêntiếng Anh, cán bộ quản lý giáo dục về chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh vàthực trạng về chuẩn hoá đội ngũ giáo viên của các trường Trung học cơ sở

Trang 18

Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học,kết quả chuẩn hoá đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở.

Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học, cán bộ quản

lý giáo dục về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan tới việc nghiên cứucủa đề tài

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kếtquả nghiên cứu

7 Ý nghĩa của đề tài

Từ những kết quả nghiên cứu lý luận về chuẩn hóa đội ngũ giáo viên tiếngAnh các trường Trung học cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc liêu thành công sẽgóp phần rất quan trọng giúp cho các nhà quản lý giáo dục, ứng dụng việc chuẩnhóa GV tiếng Anh THCS các địa phương khác và cũng là tài liệu tham khảo trongnghiên cứu chuẩn hóa và phát triển giáo viên trong tỉnh hiện nay

8 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: Mở đầu, 3 chương (10 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN TIẾNG ANH

TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm chuẩn hoá

Chuẩn là cái được đặt ra và mang tính pháp lý để là thước đo đo lường số

lượng, trong lượng, giá trị hoặc chất lượng Chuẩn Theo từ điển Tiếng Việt

(Hoàng Phê chủ biên) có 3 nghĩa; Là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, đểhướng tới theo đó làm cho đúng; Là vật được chọn làm mẫu để thể hiện mộtđơn vị đo lường; Là cái được công nhận đúng theo quy định hoặc thói quen

trong xã hội Thuật ngữ “chuẩn hoá” được sử dụng phổ biến hiện nay trên

nhiều lĩnh vực như: kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao… Do

đó, khái niệm “chuẩn hoá” có nhiều quan niệm khác nhau

Theo quan niệm của Quốc tế về “chuẩn hoá” (Standardization) là nhữngquá trình là cho các sự vật, đối tượng thuộc phạm trù nhất định (kinh doanh, dịch

vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao…) đáp ứng được các chuẩn đã ban hànhtrong phạm vi áp dụng và hiệu lực của các chuẩn đó Đồng thời, chuẩn hoá cũng

có nghĩa nói đến những sự vật, đối tượng đã đạt chuẩn, có tính chuẩn, thí dụ trắcnghiệm chuẩn hoá, phần mềm chuẩn hoá, văn bản hành chính chuẩn hoá… như

là những kết quả của việc áp dụng chuẩn, tuân thủ chuẩn

Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Chuẩn hóa” nghĩa là “xác lập chuẩn

mực” Theo đó, có thể hiểu chuẩn hóa là một quá trình xác lập chuẩn mực về

một lĩnh vực nào đó trong đời sống, xã hội

Theo nghĩa chung nhất, chuẩn hoá là “làm cho trở thành có chuẩn rõ

ràng” Theo quan niệm trên, thì chuẩn hoá là làm cho đối tượng có những tiêu

chuẩn có thể xác định được định lượng, định tính

Trang 20

Như vậy, chuẩn hoá là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể, nhằm tác động vào một đối tượng nào đó, làm cho nó biến đổi đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn đã xác định.

Muốn chuẩn hoá một đối tượng nào đó thì chủ thể phải xác định tiêuchuẩn của đối tượng đó Tiêu chuẩn chính là căn cứ để xác định, để làm thước

đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ , đồng thời để đối chiếu,

để hướng theo mà làm cho đúng Căn cứ vào tiêu chuẩn mà chủ thể tìm ra cácbiện pháp tác động làm cho đối tượng biến đổi phát triển nhằm đạt được kết quảmong muốn

Như vậy, từ khái niệm trên có thể thấy rằng chuẩn hoá có các chức năng

cơ bản là: Định hướng các hoạt động quản lý và thực hiện các chức năng, cácnhiệm vụ, các biện pháp quản lý khác nhau trên những nguyên tắc nhất quán;Quy cách hoá sản phẩm và các quá trình tạo ra sản phẩm (nguồn lực, công nghệ,phương tiện ), làm cho chúng có tính chuẩn mực thống nhất, tức là đưa nhữngđối tượng này vào trật tự nhất định; khuyến khích sự phát triển, tạo môi trường ngàycàng thích hợp hơn cho sự phát triển đồng thời ngày càng hạn chế những nhân tố tựphát, phi chính thức trong phát triển hoặc những nhân tố phản phát triển

Cái được chọn làm chuẩn, làm mục tiêu của chuẩn hoá có nhiều cấp độ.Chuẩn hoá trong giáo dục đang được bàn đến với nội hàm rất rộng: Chuẩn hoácác khâu, các bước; chuẩn hoá các nhân tố; chuẩn hoá toàn bộ quá trình giáo dục

và đào tạo hoặc chuẩn hoá cấp trường, chuẩn hoá cấp ngành, chuẩn quốc gia,chuẩn quốc tế Giáo dục hiện đại chỉ ra rằng, các nhân tố của quá trình giáo dục

có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa chế ước nhau, ràng buộc lẫn nhau, vừa

hỗ trợ nhau, tác động vào nhân tố này sẽ ảnh hưởng đến các nhân tố khác

1.1.2 Khái niệm chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở

Chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở là một hoạt động mangtính mục đích, tính kế hoạch của các chủ thể quản lý giáo viên tiếng Anh Chủ

Trang 21

thể quản lý đó là: Chi bộ, Ban Giám hiệu (là người đại diện cao nhất trong nhàtrường) Đó là những chủ thể trực tiếp hay gián tiếp tiến hành các hoạt động tácđộng vào khách thể chuẩn hoá là giáo viên tiếng Anh Các hoạt động chuẩn hoácủa chủ thể tiến tới thực hiện mục tiêu là làm cho khách thể biến đổi, phát triển

về số lượng và chất lượng đạt được mục đích chuẩn hoá của nhà trường đề ra là:chuẩn hoá về đầu vào, trình độ, kỹ năng sư phạm, chức danh, tin học – ngoại ngữ

Việc tiến hành hoạt động chuẩn ngũ giáo viên tiếng Anh các trường trunghọc cơ sở của các chủ thể phải được thể hiện ở tính kế hoạch hoá, thực hiện bằng

kế hoạch và mang tính mục đích rõ dàng Kế hoạch chuẩn hoá là một văn bảnpháp lý để các lực lượng trong nhà trường quán triệt và tổ chức thực hiện mộtcách nghiêm túc và có hiệu quả cao, trong đó vai trò quyết định là các chủ thể vàkhách thể của việc chuẩn hoá Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở khoa học,xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ nhà giáo nói chung,của các trường trung học cơ sở và căn cứ vào các văn bản, hướng dẫn về côngtác chuẩn hoá, phát triển, quy hoạch cán bộ, giáo viên của nhà trường, bộ môntiếng Anh Có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn theo nhiệm vụ năm học hay theonhiệm kỳ của chi bộ nhà trường Kế hoạch đó được thể hiện ở các Nghị quyếtĐại hội chi bộ nhà trường; Kế hoạch năm học, học kỳ, của cơ quan chức năng.Trong kế hoạch các chủ thể xây dựng các tiêu chí chuẩn hoá, nội dung và biệnpháp thực hiện từng tiêu chí Trên cơ sở kế hoạch đã được xây dựng cả chủ thể

và khách thể cùng thực hiện và có sự phối hợp, tác động lẫn nhau và có mốiquan hệ biện chứng trong quá trình hoạt động Hoạt động chuẩn hoá của chủ thể

và khách thể cùng hướng tới mục đích cao nhất là nâng cao chất lượng giáo viêntiếng Anh đáp ứng yêu cầu phát triển đổi mới căn bản và toàn diện trong đó códạy và học tiếng Anh ở bậc trung học cơ sở

Thuật ngữ chuẩn hóa giáo viên chỉ việc nâng cao, hoàn thiện trình độchính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho các giáo viên đang dạy học

Trang 22

Bồi dưỡng giáo viên để chuẩn hóa được xem là đào tạo lại, cập nhậtkiến thức kỹ năng nghề nghiệp, ở nước ta có 3 loại hình bồi dưỡng: Bồidưỡng thường xuyên theo chu kỳ, bồi dưỡng chuẩn hóa và bồi dưỡng đểdạy chương trình sách giáo khoa mới.

Chuẩn hóa cần làm cho giáo viên tham gia bồi dưỡng có những hiểubiết đầy đủ những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục; có

kỹ năng dạy học đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của học sinh

Trước những yêu cầu đổi mới của đất nước, của xã hội, của ngành giáodục, yêu cầu đổi mới với người GV rất đa dạng, phong phú Nhiều kiến thứccủa các lĩnh vực khác nhau cần được trang bị để nâng cao trình độ

Thế giới đã quen dùng thuật ngữ giáo dục GV (Teacher education) để chỉviệc đào tạo GV bao gồm cả việc đào tạo tiếp tục sau đào tạo ban đầu trước khidạy học (Preservice training, initial T) và đào tạo tiếp tục sau đào tạo ban đầu, tiếnhành khi GV đang dạy học (In – service T, postinitial T) Nước ta thường dùngthuật ngữ đào tạo GV và bồi dưỡng GV Điều này có ưu điểm là đào tạo ban đầuvới bồi dưỡng sau đào tạo, vốn có một số đặc điểm khác nhau, nhưng đồng thời

có nhược điểm là chưa phản ánh được quan điểm đào tạo liên tục, tiếp nối, thườngxuyên trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của người GV

Từ sự những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng: Chuẩn hoá giáo viên

tiếng Anh các trường Trung học cơ sở là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý, nhằm tác động vào giáo viên tiếng Anh để đạt được các tiêu chí về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ giảng dạy môn tiếng Anh của nhà trường.

Để tiến hành chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở đạt được mụctiêu đề ra, các chủ thể tiến hành đồng bộ các cách thức, biện pháp tác động vàogiáo viên để tạo ra sự biến đổi về chất lượng và số lượng Trên cơ sở các chủ

Trang 23

trương biện pháp lãnh đạo của chi bộ, Ban giám hiệu, xây dựng kế hoạch hoáviệc chuẩn hoá đội ngũ, phân công, phân cấp quản lý việc thực hiện kế hoạch,khuyến khích phát triển, tạo môi trường thuận lợi hơn cho mỗi giáo viên tự họctập, tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu vươn lên đạt chuẩn, xây dựng và phát triển độingũ đạt chuẩn về chất lượng, số lượng và cơ cấu.

Với vai trò là chủ thể của chuẩn hoá giáo viên: Chi bộ, Ban Giám hiệu;thực hiện các chủ trương, biện pháp chuẩn hoá

Ngoài ra, các cơ quan chức năng tham mưu, hướng dẫn, triển khai thựchiện các biện pháp chuẩn hoá; đề xuất các nội dung, hình thức, phương phápchuẩn hoá, theo dõi kết quả thực hiện, sơ kết, rút kinh nghiệm chuẩn hoá, gópphần xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh của nhà trường

GV có một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng giáodục Vấn đề này đã được xác định trong Điều 15 của Luật Giáo Dục: “Nhàgiáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục.”

Trong nhà trường, đội ngũ GV có vai trò quan trọng trong việc đào tạorèn luyện, phát triển trí tuệ nhân cách cho thế hệ trẻ Ở tầm vĩ mô, đội ngũ GVgóp phần nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục

vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc

Ở những thập kỉ qua, người thầy luôn giữ vai trò quan trọng là cầu nốigiữa nền văn hóa dân tộc và nhân loại với việc tái hiện và phát triển nền vănhóa ấy ở thế hệ trẻ Thầy giáo là người giúp học sinh biến tinh hoa của nềnvăn hóa thành tài sản riêng của mình Trong nhà trường thầy giáo là người tổchức chính và quyết định chất lượng đào tạo

Nghị quyết TW 2 (Khóa VIII) đã chỉ rõ: “GV phải có đủ đức, đủ tài”

“phải nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ GV” Phẩm chất “đức” vànăng lực “tài” là hai bộ phận tạo nên cấu trúc nhân cách của mỗi con người,trong đó có GV Nói đến phẩm chất là nói đến hệ thống những thuộc tính tâm

Trang 24

lí biểu hiện các mối quan hệ xã hội cụ thể của mỗi người, thường được thểhiện ra những thái độ, hành vi ứng xử Nói đến năng lực là nói đến nhữngthuộc tính tâm lí, sinh lý tạo ra cho con người khả năng hoàn thành một loạihoạt động nào đó với chất lượng cao Phẩm chất và năng hòa quyện vào nhau,chi phối lẫn nhau.

Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong côngcuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiềuvăn kiện về việc đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dụcquốc dân nước ta

Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ ở các trường đạihọc, trung học chuyên nghiệp và các trường phổ thông Chỉ thị nêu rõ dạy vàhọc một ngoại ngữ ở các trường cấp II và phấn đấu dạy và học hai ngoại ngữ

ở các trường cấp III Các thứ tiếng được dạy là: tiếng Nga, tiếng Trung Quốc,tiếng Anh và tiếng Pháp

Điều 24 của Luật Giáo dục (1998) cũng khẳng định vị trí quan trọngcủa ngoại ngữ trong nội dung học vấn phổ thông và đề ra yêu cầu bảo đảmcho học sinh có kiến thức cơ bản về ngoại ngữ

Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá 10 về đổi mới chươngtrình giáo dục phổ thông đã yêu cầu xây dựng đề án dạy và học ngoạingữ ở trường phổ thông đến năm 2010

Ngày 11/6/2001, Thủ tướng chính phủ ra Chỉ thị số14/2001/CT-TTg vềđổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, trong đó yêu cầu xây dựng

đề án “Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong trường phổ thông.”

Báo cáo của Chính phủ tại kì họp thứ 6 Quốc hội khoá XI (12/2004)cũng đã nêu lên một trong những giải pháp đẩy mạnh khả năng chủ động hợptác quốc tế trong giáo dục là “Triển khai chiến lược dạy và học ngoại ngữ

Trang 25

trong hệ thống giáo dục quốc dân, tập trung chủyếu vào tiếng Anh, khuyếnkhích dạy và học ngoại ngữ thứ hai Cho phép một số cơ sở giáo dục đại học

và sau đại học giảng dạy song ngữ (bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài) ởmột số môn học, ngành học.”

Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giáo dục (sửađổi), trong đó có quy định tại Điều 7, mục 3 như sau: “Ngoại ngữ được quyđịnh trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến tronggiao dịch quốc tế Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáodục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả”

Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ngày 30 tháng 9 năm

2008 đã thông qua Quyết định Số: 1400/QĐ-TTg về phê duyệt đề án “Dạy

và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”.

Tiếng Anh với tư cách là một môn ngoại ngữ, là môn văn hoá cơ bản,bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là một bộ phận không thểthiếu của học vấn phổ thông Trong nhà trường môn tiếng Anh đã được tổchức dạy cho học sinh từ lớp 3

Mục tiêu dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng ở cáctrường THCS là hình thành, bổ sung và phát triển ở học sinh những kiến thức,

kỹ năng cơ bản về ngoại ngữ, góp phần phát triển trí tuệ cần thiết để có thểtiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động Ngoài ra, nó còn cung cấpcho học sinh một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học,

kĩ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và phong phú trên thếgiới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế

1.2 Nội dung chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở

1.2.1 Những căn cứ chuẩn giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở

Phát triển, chuẩn hóa giáo viên các trường phải dựa trên quan điểm,đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công

Trang 26

tác giáo dục và đào tạo; Luật Giáo dục; Chiến lược phát triển giáo dục, đào tạotrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; các văn bản, hướng dẫn của

Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác giáo dục và đào tạo; Những quan điểm củaĐảng và Nhà nước ta về tiêu chuẩn chung của người giáo viên nói chung và giáoviên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở nói riêng

Với yêu cầu chuẩn hóa giáo viên các trường trung học cơ sở trong thời

kỳ mới thực hiện đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt nam vàluật giáo dục, đây là căn cứ quan trọng để chuẩn hóa đội ngũ này Để thựchiện tốt chức trách, nhiệm vụ, họ phải là người thầy đáp ứng đầy đủ các tiêuchí của người giáo viên nói chung, đồng thời họ có những phẩm chất nhâncách của một nhà sư phạm mẫu mực Bên cạnh đó, họ phải là người nắmvững quy chế, quy định về giáo dục và đào tạo, đồng thời phải có phươngpháp tác phong, nghệ thuật ứng xử linh hoạt, tế nhị để giải quyết phù hợp

1.2.2 Nội dung chuẩn hoá đội ngũ giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở

Chuẩn hóa về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống

Làm cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở phảithực sự là những cán bộ, giáo viên mẫu mực về chính trị; luôn tuyệt đối trungthành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trướcmọi khó khăn gian khổ; đặc biệt nắm chắc và hiểu sâu sắc lý luận chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam, chính sách và pháp luật của Nhà nước, vận dụng sáng tạo, đúngđắn trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh, thực hiện chứctrách nhiệm vụ của bản thân

Có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có lối sống trung thực,giản dị, lành mạnh; có tình yêu con người, yêu nghề, yêu trường; có ý thức tổ

Trang 27

chức kỷ luật cao; gương mấu trong đạo đức và lối sống, lời nói và hành động,

là tấm gương sáng cho học sinh noi theo

Chuẩn hóa khâu tuyển dụng

Việc tuyển chọn đầu vào đội ngũ giáo viên tiếng Anh phải căn cứ vàoquy định: Ưu tiên tuyển chọn nhà giáo có phẩm chất, năng lực tốt, có kinhnghiệm hoạt động thực tiễn; những học viên tốt nghiệp loại giỏi, loại xuất sắc đểtiếp tục đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ và bố trí làm nhà giáo Do đó, phảilựa chọn, tuyển chọn những người có những phẩm chất chính trị, đạo đức vànăng lực sư phạm, tố chất của một nhà sư phạm Năng khiếu sư phạm đượcthể hiện ở trình độ tư duy nhanh nhạy, mền dẻo, sắc sảo, khả năng ứng xử, diễnđạt lưu loát, rõ ràng, mạch lạc Người được tuyển chọn làm giáo viên tiếng Anhphải là người có phong cách, lối sống, lao động và học tập kiên trì, bền bỉ, giản

dị, khiêm tốn, gần gũi với mọi người, quan hệ, giao tiếp tốt Đồng thời, họ phải

có khả năng nghiên cứu khoa học, yêu mến tâm huyết với nghề nghiệp

Chuẩn hóa về năng lực sư phạm

Giáo viên tiếng Anh phải có đầy đủ năng lực sư phạm đáp ứng yêu cầunhiệm vụ giáo dục và đào tạo của nhà trường trong mọi giai đoạn cách mạng.Năng lực sư phạm phải được thể hiện ở năng lực giảng dạy chuyên môn cóphẩm chất, năng lực và nhân cách tốt; có năng lực nghiên cứu khoa học; có khảnăng thiết kế, xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng và biênsoạn tài liệu giảng dạy môn học, tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy môntiếng Anh; có thể tham khảo tài liệu tài liệu nước ngoài và có thể tham gia hộithảo quốc tế Họ phải là những người sử dụng và khai thác thành thạo máy vi tính

và những phương tiện công nghệ thông tin hiện đại, sử dụng thành thạo một ngoạingữ chuyên môn; có khả năng đổi mới phương pháp, nội dung dạy học

Đối với GV dạy tiếng Anh ngoài những yêu cầu như những GV dạycác môn học khác, còn phải đạt được các kỹ năng chủ yếu để dạy một ngônngữ không phải là tiếng mẹ đẻ từ kiến thức, phương pháp dạy, kỹ năng thực

Trang 28

hành, độ chính xác khi phát âm…Yêu cầu đối với các kỹ năng nghe, nói, đọc,viết ở trình độ này cụ thể là:

Đối với kĩ năng nói: Có thể tham gia đối thoại và trình bày ý kiến, quan

điểm về các chủ đề quen thuộc

Đối với kĩ năng nghe: Có thể hiểu nội dung chính các cuộc đối thoại,

độc thoại về các vấn đề quen thuộc trong đời sống, văn hóa, xã hội

Đối với kĩ năng đọc: Đọc hiểu các thông tin cần thiết và thâu tóm được

ý chính các văn bản liên quan đến chuyên môn và nghề nghiệp

Đối với kĩ năng viết: Có thể ghi những ý chính về những điều đã nghe

hoặc đọc Có thể viết thư giao dịch thông thường

Chuẩn hóa về cơ cấu

Cơ cấu giáo viên được chuẩn hoá để đảm bảo chuẩn về cơ cấu độ tuổi;trình độ đào tạo giáo viên theo quy định tại Điều 33, Điều lệ trường THCS,THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học; học vị Xác định cơ cấu về độ

tuổi một cách hợp lý có tỉ lệ độ tuổi một cách đồng đều tránh hiện tượng “già

hoá” đội ngũ, thiếu lực lượng kế cận Có cơ cấu hợp lý giữa các trình độ, giữa

các chức danh và trình độ khác nhau để có quy hoạch chuẩn về cơ cấu trình

độ, độ tuổi theo quy định của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học và Chiếnlược phát triển Giáo dục của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với yêu cầunhiệm vụ giáo dục và đào tạo của các trường trung học cơ sở

1.3 Những nhân tố tác động đến chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở

1.3.1 Thực hiện chủ trương phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước đang tác động mạnh mẽ đến chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở.

Xu thế thời đại ngày nay là xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế, nó bắtnguồn từ sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ và sự phát

Trang 29

triển của nền kinh tế tri thức, trong đó con người là yếu tố trung tâm của sựphát triển Xét cho cùng, đó là những thành quả của sự phát triển giáo dục đãđem lại, nó là động lực trực tiếp của sự phát triển của nhân loại Nhữngthành quả đó đặt ra những cơ hội và thách thức đối với tất cả các quốc giatrên thế giới Để tranh thủ được những cơ hội, vượt qua thách thức thì mỗiquốc gia cần phải luôn đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục cho phù hợpvới thực tiễn và đi trước sự phát triển.

Để bắt kịp với sự phát triển giáo dục trên thế giới và đạt được nhữngmục tiêu kinh tế - xã hội đất nước đặt ra, bên cạnh việc thực hiện chủ trươngchuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá công tác giáo dục, hướng tới xây dựngnền kinh tế tri thức và xây dựng xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước taphải tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà cho phùhợp với thực tiễn và xu thế phát triển của thế giới, quốc gia và quân đội.Nghị quyết Trung ương 6 (khoá XI) xác định rõ định hướng đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế: “Chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về mặt tưtưởng chính trị, đạo đức, trình độ đào tạo, năng lực nghề nghiệp” Đây là mộttrong những định hướng quan trọng trong phương hướng phát triển giáo dục vàđào tạo đến năm 2020 của Đảng và Nhà nước ta

Thực hiện chủ trương của Đảng, đội ngũ nhà giáo nói chung và giáodạy tiếng Anh nói riêng cần phải được chuẩn hoá để nâng cao trình độ về mọimặt đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước trongthời kỳ mới Vì vậy, giáo viên tiếng Anh phải học tập liên tục, học tập suốtđời để không bị tụt hậu và đạt tới tiêu chí của chuẩn hoá giáo viên trong hệthống giáo dục quốc dân

1.3.2 Tác động bởi xu hướng đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh các trường trung học cơ sở

Trang 30

Trong điều kiện hiện đại, khoa học công nghề phát triển nhanh chóng, dạyhọc cần đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội theo phương châm mà UNESCO đã đưa

ra là “ học để làm”, đang đòi hỏi nhà trường Trung học cơ sở cần bảo đảm nângcao chất lượng dạy học dó là xu thế khách quan của quá trình giáo dục nước ta

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang đổi hỏi giáo dục Việt nam ở tấc cảcác cấp học, bậc học phải nhanh chóng đổi mới các phương pháp đào tạo, cáchquản lý nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường

Thực chất của đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh là toàn

bộ hoạt động có kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng,

và được minh chứng là đủ mức cần thiết để thỏa mãn các yêu cầu chất lượng bảođảm chất lượng dạy học môn tiếng Anh trung học cơ sở

1.3.3 Do tác động của mục tiêu đã đề ra trong Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 và để đáp ứng được các yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Theo nội dung đề án, GV dạy ngoại ngữ phải có năng lực ngôn ngữ giảng dạycao hơn trình độ chung của cấp dạy hai bậc theo khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu

Khung trình độ năng lực ngoại ngữ đã chỉ rõ trình độ của những nănglực cụ thể cần đạt được tương ứng các năng lực nghe, nói, đọc và viết Theochuẩn Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giaiđoạn 2008 – 2020, GV dạy ngoại ngữ THCS phải đạt trình độ bậc 4/6 do Hiệphội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành (CEFR B2) tươngđương chứng chỉ Fce tối thiểu 60 điểm, chứng chỉ Toefl trên giấy tối thiểu

525 điểm, chứng chỉ Ielts tối thiểu 5.5 điểm, chứng chỉ Cae tối thiểu 45 điểmhoặc các chứng chỉ được công nhận tương đương khác đạt năng lực ngoại ngữbậc 4 (B2) trở lên theo khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung châu Âu

1.3.4 Trình độ, năng lực thực tế giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở tác động đến chuẩn hóa

Trang 31

Đây là nhân tố có vai trò rất quan trọng trong chuẩn hóa giáo viên tiếngAnh Trung học cơ sở, suy cho đến cùng chất lượng giáo dục, đào tạo đều phụthuộc và chất lượng giáo viên Trong những năm qua, tuy còn nhiều khó khănnhưng các trường cũng có nhiều nỗ lực, từng bước bảo đảm ngày càng tốt hơnyêu cầu cho giáo viên học tập công tác và phát triển chuyên môn, tạo điều kiệncho đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá.

Nghề dạy học là một dạng nghề nghiệp đặc biệt của xã hội với đặcđiểm lao động sư phạm và chức năng nhiệm vụ là giáo dục và dạy học, đàotạo nguồn nhân lực cho xã hội Giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở luôn đặt

ra yêu cầu cao đối với chính bản thân mình về mọi mặt Trong xu thế thời đạimới và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩnhoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế, người giáo viên phải có ýthức, có nhu cầu và tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện về đạo đức, nhâncách, về chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạotrong hoạt động sư phạm; biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể nhà trườngtrong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Qúa trình đào tạo ở các trường sưphạm chỉ là sự đào tạo ban đầu, đặt cơ sở nền móng cho quá trình đào tạo tiếptục, trong đó có tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực,phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Vì vậy, giáo viên tiếng phải luôn tích cực

tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất đạođức nghề nghiệp phấn đấu chuẩn hoá đội ngũ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụgiáo dục và đào tạo hiện nay

Để chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh có động cơ nghề nghiệp đúng đắn, cótinh thần trách nhiệm cao trong tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao tài nghệ

sư phạm của người thầy Động cơ nghề nghiệp và trách nhiệm của người giáoviên được hình thành và phát triển trên cơ sở giác ngộ chính trị sâu sắc; ngườigiáo viên thấy rõ vinh dự và trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và phát

Trang 32

triển phẩm chất, nhân cách, kỹ năng nghề nghiệp cho các em học sinh Động cơnghề nghiệp và trách nhiệm của giáo viên được xác lập là chất keo dính, giúp họtoàn tâm, toàn ý với sự nghiệp “trồng người” Đây là nhân tố có ý nghĩa quyếtđịnh kết quả chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh.

Những nhân tố trên đã và đang tác động trực tiếp và gián tiếp đến chuẩnhoá giáo viên tiếng Anh các trường trung học cơ sở hiện nay Chúng không tồn tạibiệt lập, tách rời mà đan xen tác động lẫn nhau Nhận thức đúng và đầy đủ sự tácđộng đó là vấn đề hết sức quan trọng để chuẩn hoá giáo viên Tiếng Anh

*

* *

Chương 1 đã làm rõ những khái niệm có liên quan đến đề tài như:chuẩn hóa, chuẩn hóa giáo viên, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn tiếngAnh các trường Trung học cơ sở, chỉ rõ nội dung chuẩn hóa giáo viên tiếngAnh Chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ hiện nay là tấtyếu khách quan, là nhiệm vụ then chốt để nâng cao chất lượng dạy môn tiếngAnh Chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh là hoạt động có mục đích, có kế hoạchcủa chủ thể quản lý sử dụng các biện pháp, cách thức nhằm tác động vào giáoviên để đạt được các tiêu chí về chất lượng, số lượng và cơ cấu giảng viên; trong

đó chuẩn hoá về chất lượng được coi là khâu trung tâm, then chốt của quá trìnhchuẩn hoá

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HÔNG DÂN, TỈNH

BẠC LIÊU 2.1 Khái quát chung về kinh tế - xã hội và giáo dục – đào tạo

2.1.1 Kinh tế - xã hội

Hồng Dân là một huyện vùng sâu nằm ở phía Bắc của tỉnh Bạc Liêu.Huyện lỵ là thị trấn Ngan Dừa Huyện có diện tích tự nhiên là 428 km² và có107.420 nhân khẩu gồm các dân tộc Kinh, Hoa và Khmer Số nhân khẩu trong

độ tuổi lao động gồm 71.063 người

Trong huyện có 9 đơn vị hành chính cấp xã, gồm thị trấn thị trấn NganDừa và các xã Vĩnh Lộc,Vĩnh Lộc A, Ninh Thạnh Lợi,Ninh Thạnh Lợi

A, Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới, Ninh Quới A 7/9 xã thị trấn thuộc vùngđặt biệt khó khăn Tỷ trọng của các khu vực kinh tế trong GDP của huyện nhưsau: Nông nghiệp 60,7%, công nghiệp và xây dựng 10,4%, thương nghiệp vàdịch vụ 28,9% Trên địa bàn huyện không có các nhà máy sản suất lớn, chỉ cócác cơ sở sản suất nhỏ Từ đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giải quyếtviệc làm nhất là các đối với các trường hợp đã qua đào tạo

Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện được thực hiện khá tốt, côngtác xóa đói giảm nghèo được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể quantâm, triển khai và thực hiện có hiệu quả Mặc dù tình hình kinh tế còn rấtnhiều khó khăn nhưng trong những năm qua, một số lĩnh vực của huyện đãđạt những kết quả nổi bật, trong đó có giáo dục và đào tạo

2.1.2 Giáo dục – đào tạo

Đặc điểm chung

Trang 34

Giáo dục và đào tạo huyện Hồng Dân luôn nhận được sự quan tâm, lãnhđạo và đầu tư của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyệncùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, giáo viên trong ngành đã có bướcphát triển vững chắc cả về quy mô, chất lượng, hiệu quả

Mạng lưới trường lớp ở các cấp học, ngành học tiếp tục được mở rộng vàphát triển đến cả các vùng đồng bào dân tộc, đáp ứng khá tốt nhu cầu học tập củahọc sinh Tất cả các trường đã được tập trung đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nângcấp nhiều hạng mục, đủ điều kiện để tổ chức các hoạt động dạy và học

Toàn huyện có 10 trường THCS phân bố đều ở các xã thị trấn Có 07trường nằm trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn 05/10trường THCS được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia Hàng năm tỉ lệ họcsinh đạt giải học sinh giỏi bậc THCS cấp tỉnh của huyện luôn nằm ở tốp đầutrong khối phòng giáo dục và đào tạo Năm học 2011 – 2012 có 01 trườngđược chọn 01 trong 06 lá cờ đầu của ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Bạc Liêu,năm học 2012 – 2013 có 02 trường được chọn Kết quả học sinh lớp 9 đượcxét công nhận tốt nghiệp THCS hàng năm trên 95%

2.2 Thực trạng giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

2.2.1 Số lượng, cơ cấu giáo viên tiếng Anh

Số lượng giáo viên tiếng Anh ( xem bảng 2.1)

Bảng số liệu cho thấy toàn huyện có 10 trường THCS với 139 lớp Tổng

số GV dạy Tiếng Anh ở các trường là 27 GV, trong đó có 16 GV nữ Nhìnchung đội ngũ GV Tiếng Anh tương đối đủ về số lượng, tất cả các trường đều

có giáo viên dạy tiếng Anh; cơ cấu về giới thì tỉ lệ GV nữ chiếm tỉ lệ cao hơn

Về tuổi đời của giáo viên tiếng Anh (xem bảng 2.2)

Biểu đồ tổng hợp về tuổi đời của đội ngũ GV cho ta thấy lực lượng GVtiếng Anh của các trường phần lớn ở đội tuổi từ 30 – 40 Đội ngũ GV có tuổiđời 30 – 40 chiếm đến 96.29% Trong khi đó, tuổi đời từ 41 đến 50 tuổi chỉ

Trang 35

chiếm 3.71% Lực lượng GV có tuổi đời như vậy có nhiều thuận lợi Đây làlứa tuổi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và vẫn còn sựsay mê nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo Sự kết hợp giữa kinh nghiệm, sự năngđộng sẽ tạo ra hiệu quả cao trong giảng dạy

2.2.2 Chất lượng giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc liêu (xem bảng 2.3)

Qua bảng thống kê ta thấy: Xét về trình độ đào tạo theo quy định củaĐiều lệ trường THCS, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấphọc thì 100% GV tiếng Anh ở huyện Hồng Dân có bằng đại học và cao đẳng,đảm bảo đủ chuẩn và trên chuẩn đào tạo Trong đó tỉ lệ trên chuẩn chiếm đến81,48%

Tuy nhiên đối chiếu với yêu cầu về trình độ của đề án dạy và học ngoạingữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 thì tất cả GVđều không đạt

2.2.3 Đánh giá chung

Ưu điểm: Đội ngũ giáo viên tiếng Anh THCS huyện Hồng Dân đảm bảo

đủ về số lượng Tất cả GV tiếng Anh đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đàotạo theo quy định của Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông cónhiều cấp học 100% GV có từ bằng cao đẳng trở lên, trong đó số GV có bằngđại học chiếm đến hơn 81%

Hạn chế: Qua kết quả khảo sát của Sở GD – ĐT Bạc Liêu, không có giáo

viên đạt chuẩn về trình độ theo Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thốnggiáo dục quốc dân Số giáo viên đạt trình độ A2 (thấp hơn mức quy định 02bậc) chiếm tỉ lệ rất cao 92,59%

2.3 Thực trạng chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

2.3.1 Mục đích khảo sát

Trang 36

Chọn lọc từ các lĩnh vực yêu cầu yêu cầu về trình độ của GV ngoại ngữtheo Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Khảo sát nhận thức về vị trí của môn tiếng Anh trong trường phổ thông,mức độ hiểu về Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dângiai đoạn 2008 – 2020 của CBQL và giáo viên tiếng Anh ở 06 trường THCStrên địa bàn huyện Hồng Dân

Khảo sát tự đánh giá năng lực chuyên môn, nhu cầu chuẩn hóa của giáoviên tiếng Anh THCS huyện Hồng Dân theo chuẩn Đề án dạy và học ngoạingữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020

2.3.2 Đối tượng, phạm vi khảo sát

Phạm vi khảo sát: 06 trường THCS đặc trưng cho các trường THCS trên

địa bàn huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

Đối tượng khảo sát:

+ Lãnh đạo, chuyên viên phòng GD – ĐT, CBQL và giáo viên tiếngAnh các trường Cụ thể:

Lãnh đạo phòng GD – ĐT: 01 người

Chuyên viên phòng GD – ĐT: 01 người

Trường THCS Chu Văn An: 02 CBQL và 05 giáo viên tiếng Anh

Trường THCS Ninh Hòa: 01 CBQL và 02 giáo viên tiếng Anh

Trường THCS Ninh Quới: 01 CBQL và 03 giáo viên tiếng Anh

Trường THCS Đoàn Thị Điểm: 01 CBQL và 01 giáo viên tiếng AnhTrường THCS Nguyễn Du: 01 CBQL và 02 giáo viên tiếng Anh

Trường THCS Trương Vĩnh Ký: 02 giáo viên tiếng Anh

2.3.3 Xây dựng phiếu khảo sát

Mẫu khảo sát được dựa trên quan điểm sau: Mục đích chính là để đánhgiá thực trạng trình độ và công tác chuẩn hóa đội ngũ giáo viên tiếng Anh các

Trang 37

trường THCS huyện Hồng Dân theo chuẩn Đề án dạy và học ngoại ngữ trong

hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020

Để làm cơ sở cho việc đánh giá công tác chuẩn hóa giáo viên trong nhữngnăm qua, đề tài đã tiến hành khảo sát nhiều nội dung về nhận thức, mức độ thựchiện liên quan đến công tác chuẩn hóa GV tiếng Anh trong các trường

Mẫu phiếu khảo sát dành cho đối tượng là giáo viên tiếng Anh

Mẫu 1a: Gồm 02 câu hỏi và 07 gợi ý để khảo sát về nhận thức của giáo

viên đối với vị trí của môn tiếng Anh và Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệthống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020 (phụ lục số 1)

Mẫu 1b: Gồm 04 câu hỏi và 18 gợi ý để khảo sát về mức độ tự chuẩn

hóa của giáo viên và ý kiến giáo viên qua kì thi kiểm tra năng lực ngoại ngữ(phụ lục số 2)

Mẫu 1c: Gồm 07 tiêu chí khảo sát về mức độ thực hiện một số hoạt động

chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh (phụ lục số 3)

Mẫu 1d: Gồm 04 nội dung để khảo sát về trình độ giáo viên theo các kĩ

năng đặc thù của tiếng Anh (phụ lục số 4)

Mẫu 1e: Gồm 21 tiêu chí để khảo sát về mức độ thực hiện nội dung,

chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh (phụ lục số 5)

Mẫu 1f: Gồm 22 tiêu chí, khảo sát về nhu cầu của giáo viên trong việc

thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp đạt chuẩn của Đề án dạy và họcngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (phụ lục số 6)

Mẫu phiếu khảo sát dành cho đối tượng là cán bộ quản lý

Mẫu 2a: Gồm 02 câu hỏi và 07 gợi ý để khảo sát về nhận thức của

CBQL đối với vị trí của môn tiếng Anh và Đề án dạy và học ngoại ngữ trong

hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020 (phụ lục số 7)

Mẫu 2b: Khảo sát thông tin về xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề

nghiệp năm học 2011 – 2012 (phụ lục số 8)

Trang 38

Mẫu 2c: Gồm 07 tiêu chí khảo sát mức độ nhận thức của CBQL về một

số hoạt động chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh (phụ lục số 9)

Mẫu phiếu khảo sát đối với lãnh đạo phòng giáo dục và đào tạo Hồng Dân

Mẫu 3a: Gồm 07 nội dung khảo sát về mức độ chuẩn hóa giáo viên tiếng

Anh ở các trường THCS huyện Hồng Dân trong các năm qua (phụ lục số 10)

Mẫu phiếu khảo sát đối với chuyên viên phòng GD – ĐT Hồng Dân

Mẫu 3b: Gồm 07 nội dung giống như phiếu khảo sát đối với lãnh đạo

Qua kết quả khảo sát cho thấy: CBQL và GV tiếng Anh đều đánh giá rấtcao về tầm quan trọng của môn tiếng Anh trong nhà trường phổ thông 100%CBQL và GV đánh giá từ mức quan trọng trở lên, trong đó có đến 80% giáo

viên và 50% CBQL được hỏi ý kiến đánh giá là “rất quan trọng” Đối với

mức độ hiểu biết về nội dung Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáodục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020, có đến 86.67% giáo viên và 50% CBQL

được hỏi ý kiến trả lời là “ có biết nhưng không rõ”.

Mẫu 1b, nội dung câu hỏi 1 và 2: Mức độ tự chuẩn hóa của giáo viên để nâng cao trình độ thể hiện qua bảng số liệu (xem bảng 2.5)

Trang 39

Đa số giáo viên thực hiện tự chuẩn hóa còn ít, chỉ có 20% số giáo viênđược hỏi ý kiến dành thời gian tự học 01 giờ mỗi ngày, 80% còn lại chỉ tự học

từ 01 đến 02 giờ mỗi tuần hoặc ít hơn Đối với việc tham gia các khóa họchoặc bồi dưỡng có đến 93.3% giáo viên tham gia học đại học để nâng caotrình độ

Mẫu 1b, nội dung câu hỏi 3 và 4: Tổng hợp ý kiến giáo viên về kì thi kiểm tra năng lực giáo viên tiếng Anh do Sở GD – ĐT Bạc Liêu phối hợp với trung tâm khảo thí của trường đại học Cambridge tổ chức (xem bảng 2.5, 2.6)

Kết quả cho thấy 100% giáo viên tham gia ôn tập đầy đủ các buổi theo

kế hoạch của Sở GD – ĐT Bạc Liêu, 60% nghiên cứu tài liệu ôn tập và chỉ có20% giáo viên tự mua tài liệu luyện thi Đối với ý kiến về nhóm nguyên nhândẫn đến kết quả thi khảo sát không cao, tất cả 06 gợi ý đều có giáo viên lựa

chọn và gợi ý nguyên nhân “Giáo viên không có thời gian nhiều để tự ôn tập

vì còn nhiều công việc phải làm ở trường và ở gia đình” được đa số giáo viên

chọn, chiếm đến 86,7% Chỉ có 13,3% giáo viên cho rằng mức độ yêu cầu đề

độ đào tạo theo quy định hiện hành Trong đó số giáo viên trên chuẩn đào tạo

là 70.58% Đối với đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên thì không có giáoviên nào xếp loại trung bình và loại kém, 100% giáo viên xếp loại từ khá trở

Trang 40

lên Trong đó 12 GV xếp loại xuất sắc, chiếm tỉ lệ 70,58% Tuy nhiên xét vềtrình độ qua khảo sát năng lực thì không có giáo viên nào đạt chuẩn theo yêucầu của Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giaiđoạn 2008 – 2020 Trong số các kĩ năng được khảo sát, kĩ năng nghe còn yếu

nhất, có đến 14/15 giáo viên chọn mức độ “yếu”, chiếm 92,3%; kế đến là kĩ

năng nói, có đến 67,7% giáo viên không đạt yêu cầu Đa số giáo viên thựchiện được kĩ năng đọc, 92,3% giáo viên đạt từ trung bình trở lên

Mẫu 2c: Khảo sát mức độ nhận thức của CBQL về tầm quan trọng của các hoạt động chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh THCS huyện Hồng Dân ( xem bảng 2.10).

Đối với các hoạt động bồi dưỡng giáo viên, CBQL đánh giá rất cao nội

dung “ Làm tốt công tác chuẩn hóa giáo viên theo chu kỳ khi có kế hoạch

của Phòng, Sở GD – ĐT”, 100% CBQL được hỏi ý kiến đều cho rằng “rất quan trọng”, xếp thứ 2 là nội dung “Hàng năm có xây dựng chương

trìnhchuẩn hóa về chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên Tiếng Anh”, được83,3% lựa chọn, nội dung ít quan trọng nhất là khuyến khích giáo viên tựchuẩn hóa

Mẫu 1c: Khảo sát mức độ thực hiện đối với các hoạt động chuẩn hóa giáo viên tiếng Anh (xem bảng 2.11)

Công tác chuẩn hóa giáo viên theo kế hoạch của cấp trên được nhiều giáoviên đánh giá ở mức độ cao, 100% giáo viên được hỏi ý kiến cho rằng thực

hiện “khá” và “tốt”, trong đó 80% đánh giá “tốt” Đối với việc xây dựng

chương trình chuẩn hóa riêng cho giáo viên tiếng Anh hàng năm, có đến 11

trong số 15 người được hỏi ý kiến cho rằng “chưa tốt”, xếp thứ 6 trong số 8

nội dung khảo sát Nội dung xếp cuối cùng là việc xây dựng chương trình đểchuẩn hóa giáo viên tiếng Anh theo Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệthống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020

Ngày đăng: 21/06/2018, 17:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w