Hải quan điện tử là một vấn đề mới và phức tạp về đối tượng, phạm vi áp dụng, điều kiện thực hiện…do thời gian và nguồn lực có hạn, chuyên đề chỉ tập trung vào nghiên cứu các điều kiện thực hiện Hải quan điện tử, nhằm tìm ra những vướng mắc trong quá trình thực hiện để phát triển Hải quan điện tử tại Việt Nam.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế của thế giới hiện nay là hội nhập toàn cầu, bản thân mỗi quốcgia đã và đang cố gắng hòa nhập cùng với xu thế của thế giới Tuân theo quyluật tất yếu đó, Việt Nam cũng đang tích cực mở cửa và cải cách các thủ tụchành chính theo hướng hiện đại, thông thoáng, phù hợp với các chuẩn mựccủa thế giới Một trong những nỗ lực đó chính là hiện đại hóa Hải quan, thựchiện thí điểm Hải quan điện tử Hiện đại hóa Hải quan với những ưu điểmvượt trội không chỉ giúp các doanh nghiệp giảm bớt chi phí thời gian và tiềnbạcmà còn phục vụ nhu cầu hiện đại hoá ngành Hải quan, giúp công tác quản
lý và xử lý công việc của Hải quan được chặt chẽ hơn, nhanh chóng hơn, hiệuquả hơn; từ đó, từng bước tiến tới phù hợp với những yêu cầu của Hải quantrong khu vực và trên thế giới
Sau hơn bốn năm thực hiện, Hải quan điện tử đã đạt được một số thànhcông, được Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội hoan nghênh, tạo rađộng lực cải cách hiện đại hoá Hải quan Tuy nhiên, do việc này còn rất mới
mẻ lại đòi hỏi trình độ công nghệ thông tin cao nên vẫn còn rất nhiều vướngmắc Nhận thấy đây là vấn đề mới mẻ, và còn nhiều vướng mắc nên em đãchọn đề tài chuyên đề thực tập: “Thực trạng và giải pháp pháp triển Hải quanđiện tử tại Việt Nam”
2 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở lý luận về Hải quan điện tử, đề tài đi sâu vào nghiên cứuthực trạng Hải quan điện tử tại Việt Nam từ đó rút ra những bài học thực tiễnnhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả cho việc thôngquan, đáp ứng đòi hỏi của đất nước đang trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực
Trang 23 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các Cục Hải quan và các doanhnghiệp tham gia vào Hải quan điện tử
Phạm vi nghiên cứu là các loại hàng hóa xuất nhập khẩu, các loạiphương tiện vận tải xuất cảnhxuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng
Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến nay
Hải quan điện tử là một vấn đề mới và phức tạp về đối tượng, phạm vi
áp dụng, điều kiện thực hiện…do thời gian và nguồn lực có hạn, chuyên đềchỉ tập trung vào nghiên cứu các điều kiện thực hiện Hải quan điện tử, nhằmtìm ra những vướng mắc trong quá trình thực hiện để phát triển Hải quan điện
tử tại Việt Nam
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận có bố cục gồm 03 phần:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về Hải quan điện tử
Chương II: Thực trạng về tình hình thực hiện hải quan điện tử tại Việt
Nam
Chương III: Một số giải pháp phát triển Hải quan điện tử tại Việt Nam
Đây là một vấn đề lớn và khá mới mẻ, do đó em đã gặp rất nhiều khókhăn trong việc thu thập tài liệu, tìm hiểu về hoạt động hải quan trong nước
và một số nước khác trên thế giới…trong khi đó do còn thiếu kinh nghiệmthực tế và kiến thức còn hạn hẹp, nên nội dung chuyên đề thực tập không thểtránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô giáo,cũng như đơn vị thực tập về vấn đề này
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới người thầy củamình, PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trongsuốt quá trình hoàn thành chuyên đề thực tập này
Trang 3CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ 1.1 Những vấn đề chung về Hải quan điện tử
1.1.1 Khái niệm Hải quan điện tử
Thực hiện Hải quan điện tử là yêu cầu bắt buộc khi Việt Nam vàoWTO, nhằm đảm bảo hội nhập, phù hợp với xu thế phát triển chung của hảiquan quốc tế Vậy Hải quan điện tử là gì? Nếu theo nghĩa hẹp ta có thể hiểuHải quan điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin để xử lý thông quan tựđộng; còn theo nghĩa rộng Hải quan điện tử là môi trường trong đó cơ quanhải quan áp dụng các phương pháp, phương tiện, trang thiết bị hiện đại, đặcbiệt là công nghệ thông tin để điều hành hoạt động của mình và cung cấp cácdịch vụ thông quan hải quan cho người khai hải quan hàng hóa xuất nhậpkhẩu, chủ phương tiện vận tải, hành khách xuất nhập cảnh và các bên có liênquan Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nên đề tài sử dụng khái niệmHQĐT theo nghĩa hẹp để nghiên cứu
Để triển khai hiện đại hóa Hải quan Việt Nam, chúng ta phải hiểu thếnào là Hải quan điện tử và định nghĩa của một số khái niệm khác liên quanđến Hải quan điện tử như:
Khai quan điện tử là việc tạo, gửi, nhận, xử lý và lưu dữ nội dung thôngtin khai hải quan bằng phương tiện điện tử sử dụng kỹ thuật trao đổi dữliệu điện tử
Giao dịch hải quan điện tử (gọi tắt là giao dịch) giữa cơ quan hải quan
và người khai hải quan bao gồm:
a) Giao dịch khai hải quan điện tử là quá trình khai hải quan điện tử vàtrao đổi các thông điệp dữ liệu giữa cơ quan hải quan và người khai hảiquan điện tử
Trang 4b) Giao dịch điều chỉnh thuế là quá trình cơ quan hải quan thông báo vềviệc điều chỉnh tăng (giảm) số thuế phải nộp và trao đổi các thông điệp dữliệu giữa cơ quan hải quan và người khai hải quan điện tử.
c) Giao dịch xử lý vi phạm là quá trình cơ quan hải quan thông báo vềviệc xử lý vi phạm và trao đổi các thông điệp dữ liệu giữa cơ quan hảiquan và người khai hải quan điện tử
d) Các giao dịch khác là quá trình trao đổi các thông điệp dữ liệu giữa
cơ quan hải quan và người khai báo hải quan điện tử
Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan: là hệ thống thông tin hảiquan tập trung, thống nhất thông qua đó để thực hiện thủ tục hảiquan điện tử, do Tổng cục hải quan quản lý
Chứng từ hải quan điện tử: được tạo thành từ các thông điệp dữ liệutheo một quy định được thống nhất về mặt nội dung, hình thức vàphương pháp cấu trúc xử lý thông tin, bao gồm: tờ khai hải quanđiện tử, lệnh thông quan điện tử, bản lược khai điện tử, giấy phépthông quan điện tử, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) điện
tử, hóa đơn thương mại điện tử và các chứng từ điện tử khác theokhuân dạng chuẩn do pháp luật quy định
Tờ khai hải quan điện tử là chứng từ hải quan điện tử bao gồm cáctiêu thức do Bộ Tài chính quy định để sử dụng làm thủ tục hải quanđiện tử và làm căn cứ cho các hoạt động quản lý nhà nước khác cóliên quan
Lệnh thông quan điện tử: là chứng từ hải quan điện tử bao gồm cáctiêu thức do cơ quan hải quan quy định Lệnh thông quan hải quanđiện tử do hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan thông báo vàhướng dẫn cho người khai hải quan thực hiện thủ tục thông quanhàng hóa khi tờ khai điện tử được chấp nhận đăng ký
Trang 5 Tổ chức cung cấp dịch vụ truyền nhận chứng từ hải quan điện tử là
tổ chức có đủ điều kiện đảm bảo về năng lực công nghệ thông tinlàm trung gian trao đổi dữ liệu hải quan điện tử theo chuẩn mựcthống nhất do cơ quan hải quan quy định
Đế hiểu hơn về Hải quan điện tử ta có thể hình dung mô hình quản lý
hệ thống thông quan bằng điện tử ở Việt Nam theo mô hình dưới đây:
Mô hình 1: Quản lý hệ thống thông quan điện tử tại Việt Nam
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Trang 6Việc nắm và hiểu được các khải niệm trên là rất quan trọng vì chỉ có thếchúng ta mới nhận thức được thực hiện Hải quan điện tử cần thực hiện nhữngcông việc gì, phương pháp quản lý mới như thế nào… cho phù hợp với thựctiễn của Việt Nam, và quá trình hiện đại hóa Hải quan được hiệu quả nhất.
1.1.2 Xu thế của thế giới và tác động của nó đến Hải quan Việt Nam
Xu thế toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ với những mối quan
hệ kinh tế ngày càng được mở rộng, hình thành nên một thị trường rộng lớn
và thống nhất theo cơ chế thị trường, nó có vai trò to lớn tạo điều kiện thuậnlợi cho việc giao lưu, mở rộng quan hệ hợp tác giữa các nước trên nhiều lĩnhvực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Sự phát triển của mạng lưới thông tin toàncầu: mạng lưới điện thoại, fax, Internet đã tạo ra khả năng kết nối toàn cầu,thu hẹp khoảng cách về không gian và thời gian giữa các quốc gia, dân tộc;mạng lưới và hệ thống tài chính toàn cầu; hệ thống và mạng lưới trụ sở laođộng toàn cầu; cùng với sự vận động của các công ty xuyên quốc gia làm dịchchuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, khoa học công nghệ…đã thúcđẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hình thành nên thị trường thế giới ngàycàng thống nhất với những “luật chơi” chung Việc hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới để phát huy lợi thế so sánh cũng như tranh thủ vốn, công nghệ, thịtrường và tri thức quản lý - kinh doanh tiên tiến…đã trở thành nhu cầu tất yếukhách quan của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, vì đứng ngoài quá trìnhhội nhập đồng nghĩa với việc bị tách ra khỏi trào lưu phát triển chung và tụthậu Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải cải cách rất nhiều thủ tụchành chính trong đó có hoạt động Hải Quan Đặc biệt trong giai đoạn hiệnnay, khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, thì việc cải cách hoạt độngnghiệp vụ Hải Quan theo hướng phù hợp với chuẩn mực của Hải Quan hiệnđại khu vực và thế giới lại càng trở nên cần kíp
Xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ đã làm cho thương mại quốc tế phát triển ngày càng đa dạng,
Trang 7phong phú với số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu khổng lồ gây ách tắc tại cáccửa khẩu Nếu trước kia chỉ có thương mại truyền thống, thì ngày nay nhiềuloại hình thương mại mới đã ra đời như: thương mại điện tử, thương mại dịchvụ…Không giống như thương mại truyền thống trước đây, thương mại điện
tử xóa nhòa đi biên giới giữa các quốc gia, dân tộc, tác động đến thị trườngcạnh tranh toàn cầu và chứa đầy những biến thể Với những lợi ích như thuthập được nhiều thông tin, giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí bán hàng, tiếpthị và giao dịch, tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế trí thức, giảm thiểu nhữngrủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hoá (giảm ách tắc và tai nạn giaothông…), thương mại điện tử sẽ ngày càng phát triển và tương lai sẽ là mộthình thức chiếm ưu thế Việc hiện đại hóa Hải quan, hình thành hải quan điện
tử tại Việt Nam hiện nay là một sự thay đổi tương ứng với hình thức thươngmại điện tử khi mà các giao dịch đều thông qua hệ thống máy tính và internetdựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại
Hiện nay các nước trên thế giới đã và đang dần dần xóa bỏ các rào cảnthương mại như thuế quan, phi thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu…
để hội nhập vào kinh tế quốc tế, thực chất Hải Quan cũng là một loại rào cảnphi thuế quan đối với thương mại quốc tế, một trong những nhiệm vụ của Hảiquan là kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới Hải quan, nếu theothủ tục hải quan truyền thống thì tốn rất nhiều thời gian và chi phí của chủhàng hóa và phương tiện…Ở đây xuất hiện sự mâu thuẫn giữa xu thế dỡ bỏcác rào cản thương mại và nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng của Hải quan trướctình hình các tổ chức tội phạn quốc tế hoạt động ngày càng tinh vi, khủng bố,buôn lậu hàng hóa qua biên giới ngày càng gia tăng…hải quan điện tử đượcxem là giải pháp hợp lý và phù hợp với xu thế của thế giới, nó vừa giúp choquá trình thông quan hàng hóa được diễn ra nhanh chóng do đã loại bỏ cácthủ tục hành chính rườm rà vừa giúp cho cơ quan Hải Quan quản lý đượchàng hóa xuất nhập khẩu, đảm bảo an ninh quốc gia và nắm được tình hình
Trang 8xuất nhập khẩu hàng hóa chính xác, kịp thời thông qua các số liệu thống kêđược tổng hợp bằng máy móc hiện đại nhằm hạn chế, ngăn chặn các hoạtđộng phạm pháp kịp thời.
Quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa, thị trường hóa, và sự hình thànhcủa các công dân số đã làm xuất hiện nhu cầu hình thành Chính phủ điện tửtrên thế giới, trong đó Chính phủ được xem như người cung cấp các dịch vụ:giúp đỡ các công dân và các tổ chức kinh doanh của mình cạnh tranh trongmôi trường toàn cầu hóa, “kiểm soát các rủi ro toàn cầu”…và Hải Quan điện
tử là một trong những cấu thành của Chính phủ điện tử, giúp thực hiện cácdịch vụ của các cơ quan nhà nước cho công dân và các tổ chức, doanhnghiệp…
Hiện đại hóa Hải Quan và cải cách các thủ tục, nghiệp vụ Hải Quan phùhợp với chuẩn mực Hải Quan hiện đại của khu vực và thế giới là hành langthông thoáng giúp chúng ta tận dụng được tối đa những lợi ích của hội nhậpkinh tế quốc tế, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại…đẩy mạnh thươngmại giữa Việt Nam và các quốc gia, khu vực trên thế giới, và hòa nhập vàokinh tế quốc tế
1.1.3 Vai trò và lợi ích của hải quan điện tử
Thực hiện HQĐT đem lại rất nhiều lợi ích, điều này đã được chứngminh trên thực tế tại nhiều nước trên thế giới, việc làm rõ các lợi ích này làđiều rất quan trọng vì nó khuyến khích các bên tích cực tham gia HQĐT tạiViệt Nam
Đối với Chính phủ: thực hiện hải quan điện tử đem lại những lợi ích
to lớn cho Chính phủ:
Hải quan điện tử với công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại cho phéptruyền và xử lý thông tin nhanh chóng chính xác từ các chi cục Hải quan, Cụchải quan, Tổng cục Hải quan đến Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên
Trang 9quan Do đó Chính phủ tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc xử lý giấy
tờ vốn còn nhiều chồng chất và vướng mắc
Hải quan điện tử làm tăng tính hiệu quả, dân chủ và minh bạchtrong thủ tục thông quan hải quan, giảm thiểu hiện tượng quan liêu thamnhũng của các cán bộ hải quan…do đó tạo dựng được lòng tin cho công dânđối với Chính phủ
Hải quan điện tử giúp cho việc thu thập ý kiến của người dân, cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu…được dễ dàng, tạo điều kiện thuậnlợi cho Chính phủ hoạch định các chính sách hải quan tốt hơn, phù hợp hơn
Đối với cơ quan Hải quan
Giảm khối lượng công việc khổng lồ mà các cơ quan Hải Quanphải tiến hành trước đây Vì nếu theo phương pháp hải quan truyền thống đểlàm thủ tục hải quan cho một lô hàng doanh nghiệp và cơ quan chức năngphải mất ít nhất 7-8 giờ, thì với việc áp dụng phương thức hải quan điện tửthời gian được rút ngắn còn vài phút
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2004-2008
(Nguồn Tổng cục Hải quan)
Nâng cao hiệu quả thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu
Trang 10 Giúp cơ quan Hải Quan sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệuquả, vì nếu mỗi lô hàng đều phải tiến hành kiểm tra theo cách truyền thống thìvới kim ngạch xuất nhập khẩu ngày một tăng thì biên chế hải quan bao nhiêucho vừa.
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của hải quan.Trong hải quan điện tử hoạt động quản lý diễn ra cả trước, trong và sau khithông quan, các hoạt động này đều được tự động hóa và sử dụng tối đa các ưuthế của công nghệ thông tin do đó đảm bảo được tính khách quan rất cao, thờigian thông quan rút ngắn tối thiểu, chủ động được kiểm tra thực tế hàng hóa
và tỷ lệ lô hàng được giải phóng ngay, mọi hoạt động quản lý đều được minhbạch, rõ ràng, có tính dự báo và tính toán được trước…
Đối với các doanh nghiệp
Hải quan điện tử giúp giảm sự ách tắc trong quá trình làm thủ tục thông quan hàng hóa do đó làm giảm lượng hàng hóa bị lưu kho
tại cảng hoặc cửa khẩu, giảm được chi phí kinh doanh, thời gian và các chiphí khác phát sinh
Giúp doanh nghiệp chủ động trong khai báo, đặc biệt giảm sựtiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp với công chức Hải Quan qua đó gópphần giảm sách nhiễu, phiền hà và tiêu cực của Hải Quan
Tránh được những rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu trongquá trình thông quan vì với thông quan điện tử việc kiểm tra hàng hóa sẽ domáy thực hiện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên Ví dụ 100 lô hàng nhưng máychỉ chọn ngẫu nhiên 1 – 2 lô kiểm tra Tuy lượng kiểm tra ít nhưng chặt chẽ,
đỡ mất thời gian, lượng hàng thông thương nhanh hơn
1.2 Đối tượng, phạm vi áp dụng và lộ trình thực hiện hải quan điện tử
1.2.1 Đối tượng áp dụng
Trang 11Theo Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/2005 và Quyết định
số 50/2005/QĐ-BTC ngày 19/07/2005 về việc thực hiện thí điểm TTHQĐTgiai đoạn đầu, đối tượng áp dụng là các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tựnguyện đăng ký tham gia TTHQĐT và cần đáp ứng các điều kiện sau:
a Minh bạch trong tài chính: có xác nhận của Cơ quan Thuế nộiđịa trong việc chấp hành tốt kê khai và nộp thuế theo quy định
b Không vi phạm pháp luật HQ quá 01 lần thuộc thẩm quyền xửphạt vi phạm hành chính của Cục trưởng Cục HQ tỉnh, liên tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương trở lên trong thời gian 01 năm, tính đến ngày đăng
ký tham gia làm TTHQĐT
c Có kim ngạch XNK và/hoặc có lưu lượng tờ khai đạt mức doTổng cục trưởng Tổng cục HQ quyết định cụ thể theo từng giai đoạn thựchiện thí điểm TTHQĐT
d Sẵn sàng nối mạng máy tính với Chi cục HQ điện tử hoặc sửdụng dịch vụ của Đại lý làm thủ tục HQ để làm TTHQĐT
Giai đoạn từ 01/10/2007 đến nay
Theo Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007 (bắt đầu cóhiệu lực từ ngày 01/10/2007) đối tượng áp dụng của TTHQĐT giai đoạn 2 là:
- Các DN tự nguyện đăng ký và được cơ quan HQ chấp nhậntham gia TTHQĐT
- Cơ quan HQ, công chức HQ thực hiện TTHQĐT
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp các thôngtin liên quan thuộc phạm vi áp dụng của TTHQĐT
1.2.2 Phạm vi áp dụng
Theo Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007, thí điểmTTHQĐT được thực hiện tại các Cục HQ tỉnh, thành phố do Tổng cục trưởngTổng cục HQ quyết định và được áp dụng đối với:
a Hàng hoá XK, NK theo loại hình:
Trang 12- Hàng hoá XK, NK theo hợp đồng mua bán
- Hàng hoá XK, NK để thực hiện hợp đồng gia công với thươngnhân nước ngoài hoặc đặt gia công tại nước ngoài
- Hàng hoá XK, NK theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuấthàng XK
- Hàng hoá kinh doanh tạm nhập tái xuất
- Hàng hoá đưa ra, đưa vào DN chế xuất
- Hàng hoá XK, NK tại chỗ
- Hàng hoá XK, NK để thực hiện các dự án đầu tư
b Hàng hoá XK, NK chuyển cửa khẩu
c Phương tiện vận tải đường biển, đường hàng không xuất cảnh,nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cảng
1.2.3 Lộ trình thực hiện Hải quan điện tử
a Giai đoạn I (năm 2005)
Áp dụng cho hàng hoá XK, NK theo hợp đồng mua bán của các DNđăng ký làm thủ tục XNK hàng hoá tại Chi cục HQ điện tử thuộc Cục HQ TP.HCM và Chi cục HQ điện tử thuộc Cục HQ TP HP
b Giai đoạn II (từ ngày 01/01/2006 đến ngày 30/08/2006)
Sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm giai đoạn I và lựa chọnthêm một số các Cục HQ tỉnh, thành phố có đủ điều kiện để tham gia vào thựchiện TTHQĐT
Tuy nhiên, qua thực tế, Tổng cục HQ mới chỉ mở rộng thêm đối tượng
và loại hình kinh doanh được tham gia vào thí điểm TTHQĐT, cụ thể là:
- Tại TP HCM, thực hiện thông quan điện tử đối với các DN có vốnđầu tư nước ngoài XK/NK hàng hoá theo loại hình kinh doanh theo công văn
số 558/TCHQ-CNTT ngày 14/02/2006 của Tổng cục HQ Việc lựa chọn các
DN có đủ điều kiện tham gia TTHQĐT được giao cho Cục HQ TP HCM chủ
Trang 13động lựa chọn và TTHQĐT đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài XK/NKhàng hoá theo loại hình kinh doanh được thực hiện theo Quyết định số50/2005/QĐ-BTC ngày 19/07/2005 và văn bản 3339/TCHQ-HDH trên cơ sở
hệ thống TTHQĐT đã triển khai tại Cục HQ TP HCM
- Mở rộng TTHQĐT đối với loại hình kinh doanh tại sân bay Tân SơnNhất cho các DN đã đăng ký và được chấp nhận tham gia TTHQĐT tại Cục
HQ TP HCM theo công văn số 1193/TCHQ-CNTT ngày 28/03/2006 củaTổng cục HQ
- Mở rộng TTHQĐT cho loại hình gia công XK/NK và nhập nguyênliệu để sản xuất hàng XK theo công văn số 50/TCHQ-CNTT ngày20/03/2006
c Giai đoạn III (từ tháng 09/2006 đến tháng 02/2007)
- Tổng kết, đánh giá, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiệnthí điểm
- Triển khai mở rộng DN tham gia, mở rộng cho các Cục HQ khác hội
đủ điều kiện
- Triển khai Cấu phần TTHQĐT (định hướng Single Windows - chế độ
HQ một cửa trong khuôn khổ hợp tác ASEAN) trong Dự án Thương mại điện
tử theo Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phêduyệt kế hoạch Tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010
Trong giai đoạn II, mặc dù việc thực hiện thí điểm đã có nhiều ưu điểm
so với giai đoạn I nhưng bên cạnh đó vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định Do
đó, ngày 22/06/2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số BTC quy định về thí điểm TTHQĐT, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày01/10/2007 Quyết định này có những điểm mới căn bản, giải quyết đượcnhững vướng mắc khi thực hiện Quyết định 50/2005/QĐ-BTC, cụ thể:
Trang 1452/2007/QĐ-Thứ nhất, Quyết định này quy định TTHQ đối với nhiều loại hình khácngoài loại hình kinh doanh như gia công, sản xuất XK, chế xuất, XNK tạichỗ, đầu tư, chuyển cửa khẩu, thủ tục đối với phương tiện vận tải.
Thứ hai, quy định Đại lý HQ được thực hiện TTHQĐT; quyền và nghĩa
vụ cụ thể của Đại lý thủ tục HQ theo quy định của Luật HQ, Luật quản lýthuế; Đại lý HQ được sử dụng một khoản đảm bảo chung khi làm TTHQĐT
Thứ ba, quy định cụ thể QLRR trong từng khâu nghiệp vụ TTHQĐT.Thứ tư, quyền quyết định, cách thức thực hiện các bước nghiệp vụtrong TTHQĐT được quy định rõ (quyết định thay đổi hình thức và mức độkiểm tra; quyết định cho phép đưa hàng về bảo quản; xác nhận giấy phéptrích; xác nhận giải phóng hàng, thông quan; kiểm tra sau thông quan, quyếtđịnh QLRR trong phạm vi được phân cấp…)
Ngoài ra, Quyết định này còn có quy định thêm về việc xác nhận thựcxuất DN sẽ khai bổ sung thông tin về vận đơn sau khi hàng xuất, hệ thống sẽ
tự động đối chiếu số vận đơn của tờ khai xuất với số thông tin manifest (thôngtin về lược khai hàng hoá) để xác nhận Đối với lô hàng lẻ đóng chungcontainer hệ thống sẽ kết hợp thông tin giám sát cho CFS với thông tinmanifest, house bill để đối chiếu xác nhận; Quy định thời hạn thu hộ phí chocác Hiệp hội, tổ chức theo thời hạn thu lệ phí HQ hàng tháng, biên lai thu tiềncho tất cả các tờ khai HQ trong một tháng được in từ hệ thống của HQ thay vìphải viết biên lai nộp tiền cho từng tờ khai như trước; Quy định việc xác nhận
đã làm TTHQ và kiểm tra hàng hoá do Chi cục HQ điện tử thực hiện chứkhông do Chi cục HQ cửa khẩu thực hiện như trước đây
1.3 Quy trình thủ tục hải quan và hải quan điện tử (theo Quyết định 1699/QĐ-TCHQ ngày 25/09/2007)
1.3.1 Quy trình thủ tục hải quan
1.3.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan
Trang 15Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chứchải quan phải thực hiện theo quy định của Luật Hải quan đối với hàng hoáxuất nhập khẩu.
Như vậy, có hai đối tượng tham gia vào quy trình TTHQ đó là: ngườikhai HQ và công chức HQ Theo nghĩa rộng người khai HQ bao gồm: chủhàng hoá, chủ phương tiện vận tải hoặc người được chủ hàng hoá, chủ vận tải
uỷ quyền
Về nguyên tắc, mọi hàng hoá XK, NK, quá cảnh, phương tiện vận tảixuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được làm TTHQ, chịu sự kiểm tra giámsát HQ, vận chuyển đúng tuyến đường, qua cửa khẩu theo quy định của phápluật (Điều 15 - Luật HQ) Nói cách khác TTHQ chính là các công việc làmphát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của người khai HQ và các công chức
HQ Khi thực hiện TTHQ người khai HQ có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ cácquy định của pháp luật hiện hành về các lĩnh vực HQ, về thuế, môi trường
và các quy định khác có liên quan đến hàng hoá XNK, phương tiện xuất nhậpcảnh đó Sau khi đã làm TTHQ cơ quan HQ sẽ quyết định hàng hoá được XK,
NK, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh, hay nói cách khác (theothuật ngữ chuyên môn) thì hàng hoá, phương tiện vận tải được thông quan saukhi đã làm TTHQ
1.3.1.2 Quy trình thủ tục Hải quan
Qui trình thủ tục hải quan là trình tự thực hiện các thủ tục hải quan HQ
ở bất cứ nước nào dù lịch sử dài hay ngắn cũng đều trải qua các bước thủ tục
HQ cơ bản sau đây: Khi hàng hóa đến, chủ hàng khai báo vào mẫu tờ khai do
HQ quy định, nộp tờ khai cùng bộ hồ sơ HQ cho cơ quan HQ tại cửa khẩu(sân bay, cảng biển, cửa khẩu đường bộ,…) Tại đó cán bộ HQ tự kiểm tra,chấp nhận bộ hồ sơ, cho đăng ký tờ khai và chuyển cho bộ phận kiểm trahàng hóa để kiểm tra thực tế hàng hóa (100%), đồng thời phân loại hàng hóa
để áp mã thuế Trên cơ sở bộ hồ sơ, cán bộ HQ tính thuế, ra thông báo thuế và
Trang 16thu thuế và chuyển cho các bộ phận có liên quan xác nhận hàng hóa đã hoàntất các thủ tục HQ, cho giải phóng hàng hóa - kết thúc toàn bộ quy trình thủtục, quản lý HQ đối với lô hàng xuất nhập khẩu Trên đây là quy trình HQtruyền thống, nó có đặc điểm là mọi hoạt động quản lý của HQ chỉ diễn ra từkhi hàng hóa đến cảng cho đến khi giải phóng hoàn toàn hàng hóa ra khỏi khuvực quản lý của HQ với lực lượng tham gia vào hoạt động quản lý này thuầntúy là cơ quan HQ và đối tượng chịu sự quản lý là hàng hóa XNK Thời gianthông quan và tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa hoàn toàn phụ thuộc vào quyếtđịnh của cán bộ HQ làm trực tiếp vì thẩm quyền quyết định các nghiệp vụthông quan thuộc về cấp cơ sở, do đó HQ chịu hoàn toàn trách nhiệm về hiệuquả quản lý của mình trong và sau quá trình thông quan Trong khi đó tráchnhiệm của chủ hàng khi làm thủ tục thông quan chỉ là khai báo HQ, nộp thuế(nếu có), và nhận hàng, phạm vi trách nhiệm chỉ khuôn gọn trong thời gianlàm thủ tục thông quan hàng hóa.
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đã tạo
ra sự bùng nổ hàng hóa XNK dẫn đến ách tắc tại các cửa khẩu, trong khi đóthủ tục HQ truyền thống lại mang tính thủ công, rườm rà và phụ thuộc rấtnhiều vào tính chủ quan của cán bộ HQ Để giải quyết vấn đề này, bên cạnhviệc trang bị các thiết bị hiện đại kiểm tra, giám sát để nâng cao tốc độ, hiệuquả, phạm vi kiểm tra, kiểm soát HQ, việc rà soát, xây dựng lại quy trình hiện
có theo hướng đơn giản, hiện đại, tạo thông thoáng…cũng cần được triểnkhai Chính vì vậy căn cứ theo Luật Hải quan năm 2001, Luật Hải quan sửađổi bổ sung năm 2005 và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi bổsung, qui trình thủ tục hải quan hiện hành của Việt Nam đã được xây dựngtheo nguyên tắc đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong quá trình chuyểnđổi từ thủ công sang hiện đại
Việc ban hành qui trình thủ tục hải quan là một tất yếu của công tácquản lý nhà nước về Hải quan Qui trình thủ tục hải quan cho phép cụ thể hoá
Trang 17công việc của từng công chức hải quan và của doanh nghiệp qua các bướcthực hiện Do đó trách tình trạng thực hiện thủ tục hải quan theo ý chủ quancủa từng công chức hải quan đồng thời phân định rõ trách nhiệm của từng cán
bộ tham gia trong quy trình thủ tục hải quan
1.3.1.3 Mục đích, yêu cầu của quy trình thủ tục hải quan
Quy trình thủ tục hải quan ra đời trước hết là nhằm phục vụ quản lý nhànước về hải quan: Kiểm tra giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu, phương tiệnxuất nhập cảnh; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá quabiên giới; Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu; Thống kê nhà nước về hàng hoá xuất nhập khẩu
Việc ban hành quy trình thủ tục hải quan là để tạo mọi thuận lợi nhấtcho hoạt động xuất nhập khẩu mà cụ thể đó là các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu Vì vậy quy trình thủ tục hải quan phải đảm bảo đơn giản, nhanh chóng,hợp lý và thuận tiện
Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay thì việc giao lưu buôn bánquốc tế diễn ra hết sức đa dạng, phong phú, vì vậy, việc ban hành Qui trìnhthủ tục hải quan còn nhằm đáp ứng yêu cầu khối lượng công việc tăng nhanh
do lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày một tăng và yêu cầu giải phóng hànghoá nhanh, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp
1.3.2 Quy trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Ngày 19/08/2005, Tổng cục HQ có công văn số 3339/TCHQ-HĐHhướng dẫn chi tiết quy trình thực hiện TTHQĐT Theo đó, các tờ khai đăng
ký được phân làm 03 luồng:
- Luồng xanh: Chấp nhận thông quan trên cơ sở thông tin khai HQ điệntử
- Luồng vàng (là hàng thuộc diện phải có giấy phép NK, giấy phépmiễn thuế; hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành: kiểm dịch, kiểm tra chất
Trang 18lượng, hàng nộp thuế ngay): Kiểm tra chứng từ giấy thuộc hồ sơ HQ trước khithông quan hàng hoá
- Luồng đỏ (là hàng dán tem, hàng có nghi ngờ về thuế suất, hàng kiểmtra ngẫu nhiên theo xác suất): Kiểm tra chứng từ giấy thuộc hồ sơ HQ vàkiểm tra thực tế hàng hoá trước khi thông quan hàng hoá
Việc phân luồng tờ khai được thực hiện theo Quyết định số52/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007, dựa vào các thông tin được lưu trữ trong
cơ sở dữ liệu của HQ, như: Thông tin cưỡng chế thuế; Thông tin vi phạm;Thông tin trị giá HQ; Chính sách mặt hàng (hàng thuộc diện quản lý, hàngphải nộp thuế ngay…); Các thông tin tình báo khác…
Sơ đồ 1: Quy trình phân luồng tờ khai hàng hoá XNK
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
PHÂN LUỒNG TỜ KHAI
3.Duyệt phân luồng
1.Lấy thông tin
hỗ trợ phân luồng phân luồng 2.Đề xuất
4.Gửi thông báo hướng dẫn thủ tục Hải quan điện tử cho DN
Bắt đầu phân luồng nghiệp vụ kế tiếp Chuyển khâu
Thông tin cưỡng chế Thông tin vi phạm Thông tin trị giá Hải quan Chính sách mặt hàng
Trang 191.3.2.1 Quy trình TTHQ đối với tờ khai hàng hoá thuộc luồng xanh
Khai HQ được phân vào luồng xanh khi đáp ứng một trong các trườnghợp sau:
- Luật quy định miễn kiểm tra hồ sơ và thực tế hàng hoá
- Những hàng hoá có điểm rủi ro trong khoảng phân luồng xanh theocách tính của tiêu chí tính điểm
- Các trường hợp khác theo quy định của Tổng cục HQ phân luồng xanh
- Trên cơ sở xem xét đề xuất phân luồng vàng của các đơn vị nghiệp vụtrong ngành
- Đối với các thương nhân đặc biệt
- Đối với lô hàng của các DN tuân thủ pháp luật HQ
Nếu đáp ứng được một trong các trường hợp trên, DN sẽ tiến hành:
Bước 1: DN khai báo các thông tin theo yêu cầu của cơ quan HQ, gửithông tin đến Chi cục HQ điện tử nơi đăng ký tham gia
Bước 2: Cơ quan HQ điện tử kiểm tra, gửi thông báo hướng dẫn làmTTHQ cho DN, cụ thể:
- Sửa đổi, bổ sung các nội dung thông tin khai điện tử theo yêu cầu của
cơ quan HQ (nếu có)
- In tờ khai (02 bản) dựa trên thông tin khai điện tử đã được cơ quan HQchấp nhận, ký, đóng dấu vào tờ khai HQ/2005-TKĐ, phụ lục tờ khaiHQ/2005-PLTKĐT nếu hàng hoá XK, NK có từ 04 mặt hàng trở lên
Bước 3: DN mang tờ khai in đến bộ phận giám sát của Chi cục HQ cửakhẩu để thông quan hàng hoá
Trang 20Sơ đồ 2: Quy trình TTHQĐT đối với tờ khai được phân
luồng xanh
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
1.3.2.2 Quy trình TTHQ đối với tờ khai hàng hoá thuộc luồng vàng
Khai HQ phân vào luồng vàng khi đáp ứng một trong các trường hợpsau:
- Luật quy định phải kiểm tra hồ sơ HQ
- Các khai HQ bị đánh giá có mức độ rủi ro trung bình trên cơ sở kết hợpgiữa tiêu chí tính điểm và tiêu chí lựa chọn
- Các trường hợp do Tổng cục trưởng Tổng cục HQ và Chi cục trưởngquyết định phân luồng vàng
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI LUỒNG XANH
Phân luồng xanh Gửi thông báo hướng dẫn thủ tục Hải quan điện tử
cho doanh nghiệp
Duyệt thông quan
Trang 21- Trên cơ sở xem xét đề xuất phân luồng vàng của các đơn vị nghiệp vụtrong ngành
- Theo tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên phân luồng vàng
Như vậy, nếu đáp ứng được một trong những trường hợp này,
DN sẽ phải tiến hành khai HQ theo các bước, cụ thể:
Sơ đồ 3: Quy trình TTHQĐT đối với tờ khai được phân
luồng vàng
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Bước 1: DN khai báo các thông tin theo yêu cầu của cơ quan
HQ, gửi thông tin đến Chi cục HQ điện tử nơi đăng ký tham gia
Bước 2: Cơ quan HQ điện tử kiểm tra, gửi thông báo hướng dẫnlàm TTHQ cho DN, yêu cầu DN xuất trình tờ khai in và chứng từ giấythuộc bộ hồ sơ HQ (chứng từ hàng hoá, chứng từ vận tải, giấy phép…)
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI LUỒNG VÀNG
Thông báo đồng ý thông
quan cho DN và thông
tin điều chỉnh (nếu có) Kiểm tra hồ sõ
Trang 22Bước 3: Cơ quan HQ điện tử kiểm tra các chứng từ giấy thuộc hồ
sơ HQ do DN nộp, xuất trình tuỳ theo từng trường hợp về chính sách mặthàng, chính sách thuế, trị giá HQ, mã số hàng hoá… và quyết định chothông quan trên hệ thống nếu thấy hợp lệ, hoặc chuyển sang kiểm trathực tế hàng hoá (luồng đỏ)
Bước 4: DN mang tờ khai in đến bộ phận giám sát của Chi cục
HQ cửa khẩu để thông quan hàng hoá
1.3.2.3 Quy trình TTHQ đối với tờ khai hàng hoá thuộc luồng đỏ
Khai HQ phân vào luồng đỏ khi là một trong các trường hợp sau:
- Luật, quy định phải kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hoá
- Các khai HQ bị đánh giá có mức độ rủi ro cao trên cơ sở kếthợp giữa tiêu chí tính điểm và tiêu chí lựa chọn:
Căn cứ tính điểm rủi ro của khai báo HQ là:
- Mức độ rủi ro của DN (Cao, Thấp, Trung bình)
- Mức độ rủi ro hàng hoá (Cao, Thấp, Trung bình)
- Mức độ rủi ro xuất xứ (Cao, Thấp, Trung bình)
- Mức độ rủi ro loại hình (Cao, Thấp, Trung bình)
- Mức độ rủi ro phương thức thanh toán (Cao, Thấp, Trung bình)
- Mức độ rủi ro tuyến đường vận chuyển (Cao, Thấp, Trungbình)
- Mức độ rủi ro của nước đi, nước đến (Cao, Thấp, Trung bình)
- Mức độ rủi ro cảng đi, cảng đến (Cao, Thấp, Trung bình)
Ở Việt Nam, điểm rủi ro được tính theo phương pháp:
n
R = ∑ ki*ri
i = 1
Trang 238
K = ∑ ki
i = 1 Trong đó:
R: Mức độ rủi ro tổng thểri: Mức độ rủi ro của từng đối tượngK: Tổng trọng số
ki: Trọng số tương ứng với từng tiêu chí rủi ron: Tổng số tiêu chí
Thang điểm đánh giá mức độ rủi ro khai HQ là:
Điểm rủi ro (R) Mức độ rủi ro (Cao, Thấp, Trung
lý HQ từ năm 2004 Cơ quan HQ đã xây dựng một bộ tiêu chí cho đến nay
Trang 24gồm 75 tiêu chí (bộ tiêu chí này đang dần từng bước được bổ sung cho đầy đủhơn và theo định hướng là phải đạt được khoảng 450 tiêu chí)
Các tiêu chí trong bộ tiêu chí này được xây dựng dựa trên công thứcđược nêu ở trên Bộ tiêu chí này được mã hoá và xây dựng cụ thể thành mộtphần mềm độc lập gọi là "Risk Management" (viết tắt là RISKMAN) Khi
DN tiến hành khai điện tử, cán bộ HQ sẽ nhập các dữ liệu liên quan đến DN,đến lô hàng XNK vào phần mềm Riskman, sau đó hệ thống phần mềm sẽ căn
cứ dựa trên các bộ tiêu chí để chấm điểm và sẽ đưa ra lệnh kiểm tra hình thức
lô hàng đó được phân loại mức độ rủi ro tăng dần theo "luồng xanh", "luồngvàng" hay "luồng đỏ" Về nguyên tắc, cán bộ công chức HQ tuân thủ theolệnh kiểm tra hình thức mà máy tính đưa ra; tuy nhiên trong những trườnghợp cán bộ HQ có cơ sở nghi vấn về lô hàng XNK đó thì có quyền đề xuấtchuyển hình thức phân luồng từ "luồng xanh" chuyển sang "luồng vàng" hay
"luồng đỏ"
DN sẽ phải tiến hành theo năm bước nếu đáp ứng một trong các điềukiện đã nêu như trên, năm bước đó là:
Bước 1: DN khai báo các thông tin theo yêu cầu của cơ quan
HQ, gửi thông tin đến Chi cục HQ điện tử nơi đăng ký tham gia
Bước 2: Cơ quan HQ điện tử kiểm tra, gửi thông báo hướng dẫnlàm TTHQ cho DN, yêu cầu DN xuất trình tờ khai in và chứng từ giấythuộc bộ hồ sơ HQ (chứng từ hàng hoá, chứng từ vận tải, giấy phép…)
Bước 3: Cơ quan HQ điện tử kiểm tra các chứng từ giấy thuộc hồ
sơ HQ do DN nộp, xuất trình, tuỳ theo từng trường hợp về chính sáchmặt hàng, chính sách thuế, trị giá HQ, mã số hàng hoá… và ghi nhận kếtquả kiểm tra vào hệ thống
Bước 4: DN xuất trình hàng hoá cho Chi cục HQ cửa khẩu đểkiểm tra thực tế Công chức HQ tại Chi cục HQ cửa khẩu tiến hành kiểm
Trang 25tra thực tế hàng hoá theo yêu cầu về hình thức, mức độ kiểm tra thực tếhàng hoá do Chi cục trưởng Chi cục HQ điện tử quyết định trên hệ thống
và ghi nhận kết quả kiểm tra thực tế vào hệ thống Chi cục HQ điện tửkiểm tra, thông báo quyết định đồng ý thông quan và thông tin điềuchỉnh nếu có cho DN
Bước 5: DN mang tờ khai in đến bộ phận giám sát của Chi cục
HQ cửa khẩu để thông quan hàng hoá
Sơ đồ 4: Quy trình TTHQĐT đối với tờ khai được phân
luồng đỏ
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI LUỒNG ĐỎ
Thông báo đồng ý thông quan cho DN và thông
Trang 26Khi đã hoàn thành TTHQ, DN mang tờ khai in tới Chi cục HQ cửakhẩu để thông quan Tại đây, Bộ phận giám sát của Chi cục HQ cửa khẩuthực hiện:
- Tiếp nhận tờ khai in do DN xuất trình
- Kiểm tra tiêu chí đã được thông quan của hàng hoá trên hệthống xử lý dữ liệu HQ điện tử
- Đối chiếu tờ khai in do DN xuất trình với thông tin khai điện tửtrên hệ thống
- Xác nhận đã thông quan điện tử đối với hàng NK; hoặc xácnhận đã thông quan điện tử và thực xuất (đối với hàng XK) trên tờ khaiin; ký, đóng dấu nghiệp vụ “Đã thông quan điện tử” vào ô 32 của tờ khai in, giao cho người khai HQ 01 bản, chuyển 01 bản cho Chi cục HQđiện tử lưu
1.3.3 Các điều kiện thực hiện HQĐT
Các điều kiện về con người
Con người là chủ thể của hành động, để tiến hành bất kỳ hoạt độngnào chúng ta cũng phải thỏa mãn điều kiện về con người đầu tiên Đặc biệtHQĐT là vấn đề mới mẻ và rất phức tạp đòi hỏi từ các cấp lãnh đạo đến cáccán bộ công nhân viên phải có nhận thức đúng đắn về những lợi ích màHQĐT đem lại cho quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp và cả lợi ích cá nhân Từnhững thay đổi về nhận thức các bên tham gia HQĐT sẽ có những hành động,sáng kiến tích cực đóng góp cho sự phát triển HQĐT tại Việt Nam
Mặt khác, thực hiện HQĐT còn đòi hỏi các bên tham gia phải có kiếnthức sâu rộng về HQ nói chung và HQĐT, am hiểu về công nghệ thông tin,thành thạo trong xử lý các phần mềm, biết sử dụng các trạng thiết bị kỹ thuậthiện đại… để thỏa mãn điều kiện này, cần có sự đào tạo chuyên sâu về HQĐT
Trang 27tới các cán bộ Hải quan, các doanh nghiệp, cũng như các tổ chức khác có liênquan…
Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đầy đủ, đồng bộ
Ngành HQ trong quá trình hoạt động của mình phải thực hiện rấtnhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau trong hệ thống pháp luậtViệt Nam Không chỉ là luật kinh tế mà còn liên quan đến Hiến pháp, Bộ luậthình sự, Bộ luật dân sự, Luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng dân sự, LuậtThương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật thuế xuất khẩuThuế nhập khẩu, Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế…Không chỉ liên quan đếnpháp luật trong nước mà còn liên quan chặt chẽ với các điều ước, thông lệquốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và câm kết thực hiện khi gia nhậpWTO Với đặc thù của HQĐT, nhà nước còn cần xây dựng Luật giao dịchđiện tử để đảm bảo tính bảo mật trong quá trình trao đổi thông tin giữa cácbên có liên quan, điều này là rất cần thiết vì các thông tin được trao đổi khôngchỉ quan trọng đối với các doanh nghiệp, tổ chức và cả cơ quan HQ; mặt kháccần chuẩn hóa Chính sách mặt hàng, danh mục các biểu thuế hoàn chỉnh hơn
Các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
Để thực hiện HQĐT nhất thiết phải có cơ sở vật chất kỹ thuật theođúng tiêu chuẩn, đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống Các điều kiện cơ sở vậtchất kỹ thuật cần có tại cơ quan HQ để thực hiện HQĐT phải đảm bảo:
Trang 28Còn với hệ thống bảo mật phải sử dụng các giải pháp bảo mật hiệuquả như: Firewall, IPS/IDS, Anti – virus, VPN/SSL…Đối với những trungtâm có kết nối Internet phải sử dụng dạng Firewall 2 lớp
- Hệ thống máy chủ - lưu trữ: hệ thống này cần được xây dựng dựatrên mô hình ứng dụng phân lớp: Client – Web Server – Application server –Database server
- Phần mềm chương trình: đòi hỏi phải có đầy đủ và đồng bộ cácchương trình phần mềm: ECUS; Chương trình kiểm tra mã số, thuế suất, tínhthuế bán tự động; Hệ thống quản lý giá tính thuế GT22, hệ thống kế toán 559,
hệ thống thông tin vi phạm; Chương trình chức năng trừ lùi giấy phép, cảnhbáo tự động lô hàng có độ rủi ro cao, các thông tin về ân hạn thuế; tự kiểm tra
và phản hồi các bất hợp lý; trao đổi thông tin hai chiều giữa DN và HQ; tự mãhoá danh mục hàng XK, NK để phân biệt, chọn lựa tự động; tích hợp tên cán
bộ HQ phân luồng về DN để liên hệ khi làm thủ tục; tự động thông báo cho
DN các lô hàng gần đến hạn nộp thuế, lệ phí, chứng từ; cập nhật kết quả giámđịnh, phân tích phân loại, xử lý vi phạm; sửa chữa, hiệu chỉnh đến chi tiếthàng; xử lý việc chậm nộp hoặc không nộp thuế; in biên lai trực tiếp; xoáthông tin yêu cầu giám định trong trường hợp có sai sót, nhầm lẫn; theo dõichứng từ nợ thuộc bộ hồ sơ HQ; theo dõi tờ khai; ghi nhận xử lý nghiệp vụcác khâu kiểm tra sau thông quan, QLRR…các phần mềm này đều phải đượctích hợp với nhau và với hệ thống QLRR
- Hạ tầng cơ sở trung tâm dữ liệu phải gồm có: Hệ thống điều hòakhông khí; Hệ thống phát hiện chất lỏng; Hệ thống phát hiện khói sớm, Hệthống chữa cháy bằng khí sạch; Hệ thống thông gió; Hệ thống điện và UPS;
Hệ thống trần sàn; Hệ thống chống sét
Trang 29- Hệ thống an ninh: đây là hệ thống an ninh cho trung tâm xử lý dữliệu, nhằm phát hiện kịp thời và ngăn chặn tất cả các hoạt động tấn công, pháhoại trung tâm.
Áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong phân luồng hàng hóa và kiểm tra sau thông quan
Theo công ước Kyoto sửa đổi yêu cầu HQ các nước áp dụng kiểmsoát hiệu quả và hiệu lực thông qua kỹ thuật quản lý rủi ro nhằm hoàn thànhđồng thời các nhiệm vụ thu thuế, thực hiện chính sách thương mại, bảo vệcộng đồng, quản lý sự gia tăng thương mại và du lịch quốc tế, giảm biên chế
HQ và tạo thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp, khách du lịch và nhà vậntải tuân thủ pháp luật
Từ quá tình trao đổi thông tin và tư vấn giữa các doanh nghiệp và cơquan HQ, giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan với cơ quan HQ, xác địnhphạm vi rủi ro, sử dụng bộ tiêu chí quản lý rủi ro để đánh giá độ mạnh, yếucủa rủi ro; rủi ro sẽ phát sinh ở đâu/ khi nào/ như thế nào và do ai; nguy cơ vàảnh hưởng nào sẽ xảy ra nếu rủi ro bị bỏ qua và tại sao rủi ro bị bỏ qua Bướctiếp theo là đánh giá và xác định cấp độ rủi ro để tiến hành xử lý rủi ro, phânluồng hành hóa tự động theo các cấp độ: luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ.Trong cả quá trình trên phải giám sát, đánh giá hoạt động, tính hiệu quả, tácđộng của hệ thống quản lý rủi ro và những thay đổi có thể ảnh hưởng đến hệthống này
Có tổ chức cung cấp dịch vụ VAN
VAN (Value added network): mạng giá trị gia tăng dựa trên cơ sở hạtầng mạng sẵn có VAN sử dụng cho HQĐT là : mạng giá trị gia tăng sử dụngcho việc kết nối, trao đổi dữ liệu và thực hiện các quy trình được quy địnhtrong TTHQĐT VAN đóng vai trò trung gian trong tất cả các giao dịch giữadoanh nghiệp và cơ quan HQ, nó có những ưu điểm là:
Trang 30- Giảm được chi phí cho doanh nghiệp do không phải thiết lậpcác đường kết nối riêng tới cơ quan hải quan.
- Giảm thiểu các sai sót không cần thiết khi khai hải quan điện tử
do việc VAN tiến hành bước kiểm tra sơ bộ về chuẩn dữ liệu trước khi gửithông tin đến cơ quan Hải quan
Có sự liên kết với các ban ngành, tổ chức trong việc thực hiện HQĐT
Để thực hiện HQĐT nhất thiết phải có sự liên kết giữa các cơ quan hữuquan như: Cảng vụ, các đại lý hãng tàu, Công an, Cục thuế, Kho bạc nhànước, ngân hàng, các cơ quan chức năng cung cấp các giấy tờ cần thiết chohoạt động xuất nhập khẩu…hình thức liên kết phải được điện tử hóa theo địnhhướng Single window e – customs services
1.4 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc thực hiên hải quan điện tử
Thực hiện HQĐT đã trở thành một tất yếu khách quan trong thời kỳ hộinhập kinh tế quốc tế nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các quốc gia kháctrên thế giới Tuy nhiên, thực hiện HQĐT là một nhiệm vụ hết sức khó khăn,nhất là đối với một quốc gia có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng, điều kiệntrang thiết bị, nguồn tài chính và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nhưViệt Nam Để tránh khỏi những sai sót và đưa ra được mô hình Hải quan điện
tử đúng đắn, phù hợp với điều kiện của Việt Nam thì việc nghiên cứu kinhnghiệm của một số quốc gia trên thế giới là điều rất cần thiết Trong bài cótìm hiểu về kinh nghiệm của 3 quốc gia là: Hàn Quốc, Singapore, Malaysia;
vì lý do: Hàn Quốc là quốc gia đi đầu ở Châu Á trong việc thực hiện toàn bộcác khâu nghiệp vụ của quy trình TTHQ bằng thủ tục HQ điện tử Singapore
là nước đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện TTHQĐT và có hệ thống thôngquan điện tử tương đối hoàn chỉnh ở tất cả các khâu Và Malaysia là một quốc
Trang 31gia có những điểm chung nhất định về kinh tế - xã hội, không có sự chênhlệch quá lớn về trình độ phát triển và đặc biệt là Malaysia đã có những bướctiến lớn trên lĩnh vực thực hiện khai báo HQ bằng điện tử trong những nămgần đây.
Tại khâu quản lý và giám sát trước hàng hoá: Bao gồm 03 nhóm thựchiện các công việc như: Kiểm tra thông tin Manifest trên máy tính, kiểm trahàng hoá sử dụng máy soi và kiểm tra thực tế hàng hoá Mục đích của khâunày là nhằm quản lý và giám sát trước hàng hoá trước khi DN khai báo, pháthiện kịp thời các hàng hoá nguy hiểm, các chất nổ, hàng hoá cấm
Tại khâu làm TTHQ đối với hàng NK: TTHQ tại đây hoàn toàn phigiấy tờ và do bộ phận làm thủ tục NK thực hiện Tại khâu này cũng phân chialàm 03 nhóm đảm nhận các công việc chính là: Nhóm kiểm tra hồ sơ trên máy(chiếm khoảng 1/3), nhóm kiểm tra hàng hóa (chiếm khoảng 1/3), và nhómlàm nhiệm vụ khác Về cơ bản, các lệnh thực hiện kiểm tra sẽ hoàn toàn domáy tính dựa vào phần mềm QLRR và hệ thống thông tin tình báo để phânluồng hàng hoá và xác định tỉ lệ bao nhiêu % những lô hàng phải tiến hànhkiểm tra thực tế, chỉ những lô hàng nào phải tiến hành kiểm tra thực tế hoặc
Trang 32có vấn đề phải kiểm tra chi tiết thì cơ quan HQ mới yêu cầu chủ hàng xuấttrình hồ sơ giấy và sau khi kiểm tra cơ quan HQ sẽ lưu lại những hồ sơ giấy
đó, tất cả những lô hàng khác đều được thông quan tự động Sau khi kiểm tra
hệ thống yêu cầu DN nộp tiền thuế thông qua hệ thống e-banking (những DN
có lịch sử chấp hành việc nộp thuế tốt được HQ cho phép nộp chậm sau 30ngày) hoặc được phép nộp thuế hàng tháng
TTHQ XK do một đội chuyên trách, độc lập với đội làm thủ tục hàng
NK thực hiện Người khai HQ thông qua VAN sẽ chuyển các thông tin khaibáo đến cơ quan HQ, đối với những lô hàng cần phải có giấy phép thì hệthống sẽ tự động yêu cầu các cơ quan có liên quan cấp phép cho lô hàng đó
Kiểm tra sau thông quan chỉ áp dụng đối với lô hàng NK (chủ yếu liênquan đến áp mã và giá) Hệ thống sẽ dựa trên bộ tiêu chí QLRR đối với kiểmtra sau thông quan để lựa chọn lô hàng cần kiểm tra Bộ phận về kiểm tra sauthông quan sẽ xem xét lô hàng cần kiểm tra dựa trên việc phân tích thông tinliên quan và đưa ra ý kiến của mình về kết quả kiểm tra sau thông quan
Điều nổi bật mà ta có thể nhận thấy thông qua việc xem xét nghiên cứuquy trình TTHQĐT của Hàn Quốc đó là: Hoạt động QLRR được áp dụng vàotất cả các nghiệp vụ HQ Điều đó được thể hiện cụ thể ở từng khâu, từng bướccủa quy trình nghiệp vụ Tại khâu Giám sát hàng hóa đó là lựa chọn lô hàngcần kiểm tra trước khi DN khai báo Tại khâu TTHQ NK đó là lựa chọn tờkhai NK để kiểm tra hồ sơ giấy, kiểm tra hàng hóa Tại khâu TTHQ XK là lựachọn tờ khai XK để kiểm tra hồ sơ giấy, kiểm tra hàng hóa Tại khâu Kiểm trasau thông quan đó là lựa chọn lô hàng để kiểm tra
Toàn bộ hệ thống tự động hoá này của Hàn Quốc được xây dựng vàvận hành theo mô hình tập trung Toàn bộ hệ thống được vận hành tập trungtại 01 trung tâm xử lý dữ liệu đặt tại cơ quan HQ Trung ương Deajoon đượcvận hành 24/24h Các địa điểm làm TTHQ (Customs House) kết nối với hệ
Trang 33thống thông qua mạng diện rộng và chạy chương trình tại trung tâm xử lý đểthực hiện TTHQĐT Hệ thống tự động hóa của HQ Hàn Quốc kết nối với đơn
vị truyền nhận chứng từ điện tử (hay còn gọi là VAN) KT-NET để trao đổichứng từ điện tử với các bên liên quan như người vận tải, giao nhận, ngânhàng, chủ hàng, kho ngoại quan, cơ quan quản lý nhà nước quản lý chuyênngành để cấp giấy phép, cảnh sát, HQ các nước Hệ thống được thiết kế dựatrên công nghệ trao đổi dữ liệu điện tử EDI (ứng dụng chuẩn UN/EDIFACTnhưng có sửa đổi lại cho phù hợp với yêu cầu đặc thù của HQ Hàn Quốc).Người khai HQ (chủ hàng/khai thuê) thông qua VAN thực hiện việc khai điện
tử tới hệ thống HQ Tại Hàn Quốc việc lựa chọn VAN dựa trên tiêu chuẩn doluật quy định HQ, Hiệp hội DN tổ chức lựa chọn VAN dựa trên tiêu chí quyđịnh tại luật
Thông qua việc nghiên cứu TTHQĐT tại Hàn Quốc những kinhnghiệm mà ta cần nghiên cứu và xem xét đó là: 1/ Trong quá trình làmTTHQ, cần xem xét tách riêng bộ phận làm thủ tục XK và NK để chuyên mônhoá 2/ Phải coi trọng hơn tới khâu giám sát hàng hoá trước khi khai HQ 3/Phải áp dụng đồng bộ kỹ thuật QLRR tại tất cả các khâu nghiệp vụ của quytrình, nhằm đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống 4/ Sử dụng VAN là trunggian trong trao đổi chứng từ điện tử, điều này khiến cho các đầu mối phảiquản lý, bảo trì giảm xuống và được phân cấp Phải chuẩn hoá VAN, điều nàyphải được thực hiện và có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan HQ và cộngđồng DN 5/ Tổ chức mô hình hệ thống tự động theo mô hình tập trung thốngnhất quản lý và nên đặt tại cấp Trung ương
1.4.2 Singapore
Singapore là một nước triển khai thực hiện TTHQĐT từ rất sớm, kháthành công và bài bản, có hệ thống thông quan điện tử tương đối hoàn chỉnh.Bên cạnh đó, HQ Singapore xây dựng chiến lược phát triển rất chi tiết, có rất
Trang 34nhiều kinh nghiệm quý báu có thể học tập và áp dụng trong thực tiễn triểnkhai ở Việt Nam.
Singapore áp dụng HQ điện tử tại tất cả các lĩnh vực giám sát quản lý,thu thuế, kiểm tra sau thông quan, chống buôn lậu, gian lận thương mại, kiểmtra sau thông quan và áp dụng tại tất cả các khâu nghiệp vụ của quy trìnhTTHQ Tại Singapore thực hiện thông quan điện tử và thông quan trước đốivới hàng hoá qua Trade Net, ta có thể hình dung thông qua sơ đồ mô tả dướiđây:
Sơ đồ 5: Thông quan điện tử và thông quan trước hàng hóa qua
Trade Net
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Trước khi làm TTHQ, DN phải được HQ cấp phép, sau khi DN khaibáo đầy đủ các dữ liệu, cùng các thông tin tình báo thu thập được, cơ quan
HQ xác định mục tiêu, qua Trade Net đồng thời truyền cho: (1) Cơ quan HQcửa khẩu (2) Cơ quan kiểm soát nhập cư và kiểm tra cửa khẩu (ICA) để làmcăn cứ quyết định thông quan trước đối với hàng hoá theo luồng xanh/đỏ Khi
Cơ quan ICA Hải quan
Trang 35hàng hoá đến cửa khẩu (1) luồng xanh: không kiểm tra, giải phóng hàng ngay,(2) luồng đỏ: kiểm tra tại các địa điểm kiểm tra: có thể kiểm tra bằng máyhoặc kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng.
Hệ thống quản lý tính và thu thuế tại Singapore do xuất phát từ đặcđiểm của nước Singapore là một cảng tự do, theo đó đa phần các hàng hoákhông phải là đối tượng của thuế HQ nên các nội dung liên quan đến công tácquản lý, thu thuế không quá phức tạp Pháp luật Singapore quy định, cơ quan
HQ chịu trách nhiệm thu 03 sắc thuế là: Thuế HQ (ở Singapore có tới 92% làhàng chuyển tải, hiện chỉ có 04 mặt hàng NK phải nộp thuế là thuốc lá, rượu,xăng dầu, xe ôtô và môtô), thuế hàng hoá và dịch vụ (GST), thuế gián thu(đánh vào các mặt hàng được tiêu dùng trong nội địa) Việc tính thuế và nộpthuế được thực hiện được thực hiện dựa trên nguyên tắc "tự tính, tự nộp thuế"như sau: Thông qua Trade Net người NK gửi khai báo tới cơ quan HQ vànhận được lệnh thông quan thông qua hệ thống, theo đó người NK sẽ chuẩn bị
tờ khai, tự tính thuế trên máy tính tại trụ sở của họ và gửi tới hộp thư của cơquan HQ hoặc chuyển tới các cơ quan quản lý chuyên ngành có liên quan(trong trường hợp lô hàng NK cần phải được cấp giấy phép chuyên ngành).Ngay lập tức chỉ sau vài phút người NK sẽ nhận được phản hồi từ các cơ quanquản lý Trường hợp chấp nhận cho thông quan thì lệnh thông quan sẽ đượcgửi lại cho người NK qua hệ thống thư điện tử Lệnh này sẽ được người NK
in ra giấy và được coi như là chứng từ hợp pháp cho việc hoàn thành TTHQ.Toàn bộ quy trình này chỉ diễn ra trong vòng 3 phút và được thao tác hoàntoàn trên hệ thống
Về chính sách thuế, để đảm bảo thu đủ thuế, Singapore yêu cầu người
NK phải có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc nộp một khoản tiền bảo lãnh đểđảm bảo cho cơ quan HQ có thể thu được thuế khi người NK không nộp thuếhoặc trường hợp rủi ro khác Việc nộp tiền bảo lãnh được thực hiện trong thời
Trang 36gian một năm cho tất cả các chuyến hàng của người NK Trường hợp chuyếnhàng có giá trị lớn và rủi ro không thu được thuế cao, HQ Singapore sẽ yêucầu DN nộp thêm tiền bảo lãnh
Qua thống kê, 99% việc thu nộp thuế được thực hiện một cách tự độngthông qua hệ thống liên ngân hàng Giro Mọi khoản thanh toán cho thuế hànghoá và dịch vụ, thuế HQ được người NK nộp cho cơ quan HQ thông qua hệthống này Theo quy định của pháp luật thì các đại lý khai thuê và các tổchức, cá nhân sử dụng hệ thống Trade Net phải sử dụng một tài khoản theo số
đã đăng ký tại cơ quan HQ cho mục đích thanh toán các khoản thuế
Với mục tiêu đơn giản hoá TTHQ, tạo thuận lợi cho hoạt động XNKSingapore đã áp dụng quy trình thủ tục tự động từ rất sớm (hoạt động củaTrade Net bắt đầu được triển khai từ 1988) và đến nay kết quả là các cửa khẩuđều thực hiện thủ tục thống nhất, minh bạch với DN, giảm thời gian làm thủtục từ đơn vị tính là ngày xuống đơn vị tính là phút
Kinh nghiệm thực tế rút ra qua nghiên cứu mô hình HQ điện tử cầnxem xét, nghiên cứu đó là: 1/ Phải tập trung chú trọng vào việc xây dựngđược mô hình QLRR có hiệu quả, chú trọng thu thập, khai thác các thông tinngay từ khâu trước khi làm TTHQ Nhờ xây dựng được bộ tiêu chí QLRR chocác hoạt động kiểm tra, kiểm soát HQ mà hoạt động kiểm tra của Singapoređảm bảo được yếu tố tập trung nguồn lực dẫn tới hạn chế rủi ro trong công tácquản lý 2/ Cần xây dựng các quy định pháp luật cho hoạt động của hệ thốngthông quan điện tử và phải đạt mục đích là phân định rõ trách nhiệm cuả các
tổ chức, cá nhân khi tham gia hệ thống; ràng buộc trách nhiệm của các cơquan quản lý có liên quan (các đơn vị ngoài ngành HQ phải coi việc tham gia
và sử dụng hệ thống là nhiệm vụ chung 3/Học hỏi kinh nghiệm về hệ thốngthu thuế tự động liên ngân hàng, điều này rất quan trọng vì nó làm giảm đáng
kể thời gian và chi phí cho cả hai phía: cơ quan HQ và DN 4/Cần xây dựng
Trang 37cơ chế để đạt được sự hợp tác của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc
xây dựng và phát triển HQ điện tử
1.4.3 Malaysia
TTHQ tại Malaysia được thực hiện kết hợp giữa TTHQĐT và TTHQthủ công truyền thống dựa trên giấy tờ, đây cũng là một nét tương đối tươngđồng với Việt Nam và là một trong những nguyên nhân để cơ quan HQ ViệtNam lựa chọn để nghiên cứu khảo sát khi triển khai TTHQĐT Xuất phát từthực tế, TTHQĐT tại Malaysia chỉ được áp dụng tại một số khâu nghiệp vụcủa quy trình là khâu làm thủ tục NK và khâu làm thủ tục XK
Tại khâu làm thủ tục NK: Người khai HQ khai qua hệ thống mạngVAN nối với Cơ quan HQ, in tờ khai và mang các chứng từ liên quan đến nộptrực tiếp cho cán bộ HQ tiếp nhận đăng ký tờ khai để kiểm tra đối chiếu, nếuphù hợp thì chấp nhận cho đăng ký tờ khai Trung tâm xử lý dữ liệu sẽ tựđộng phân các tờ khai điện tử theo Chi cục mà người khai đăng ký làm thủtục để cán bộ tiếp nhận tại các Chi cục xử lý Cán bộ tiếp nhận đăng ký tờkhai kiểm tra bộ hồ sơ giấy, đối chiếu với tờ khai điện tử trên máy, nếu hợp lệthì chấp nhận cho đăng ký tờ khai Cán bộ tiếp nhận đăng ký tờ khai quyếtđịnh phân luồng dựa trên thông tin phân tích của bộ phận QLRR và phânthành 2 luồng: Cho thông quan ngay hoặc phải kiểm tra hàng hoá trước khithông quan Như vậy, cán bộ tiếp nhận đăng ký bộ hồ sơ được trao thẩmquyền rất lớn trong việc quyết định lô hàng nào được thông quan và lô hàngnào cần phải tiến hành kiểm tra, quyết định tỉ lệ phần trăm kiểm tra đối với 01
lô hàng, có hay không yêu cầu phải kiểm tra qua máy soi container Việckiểm tra thực tế hàng hoá sẽ do các cán bộ HQ ở Chi cục thực hiện Sau khikiểm tra xong, việc tính thuế cũng do cán bộ tiếp nhận đăng ký kiểm tra và rathông báo thuế cho DN DN phải nộp thuế ngay mới được thông quan hànghoá Bên cạnh hình thức thanh toán trực tiếp cũng có hình thức nộp thuế bằng
Trang 38cách chuyển tiền điện tử (EFT) thông qua hệ thống nối mạng HQ – Ngânhàng Tất cả các bộ hồ sơ hàng hóa NK được nộp cho cơ quan HQ lưu trữ
Tại khâu làm thủ tục XK: Người khai HQ khai qua hệ thống mạngVAN nối với Cơ quan HQ, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử sẽ tự động chấpnhận tờ khai đăng ký (việc phản hồi thông tin cho DN về kết quả xử lý tờ khai
sẽ được gửi lại sau khi cán bộ HQ kiểm tra hồ sơ trên hệ thống máy tính) Cán
bộ tiếp nhận đăng ký hồ sơ tại các Chi cục kiểm tra hồ sơ trên hệ thống máytính (chủ yếu dựa trên tờ khai điện tử) và thực hiện việc phân luồng dựa trênthông tin phân tích của bộ phận QLRR thành 03 luồng: a/ Thông quan ngay(phê duyệt thông quan và gửi thông báo cho người khai qua hệ thống VAN).b/ Phải kiểm tra hồ sơ giấy trước khi thông quan (thông báo qua hệ thốngVAN cho người khai mang các chứng từ giấy kèm theo trong bộ hồ sơ HQđến trụ sở HQ để kiểm tra) c/ Phải kiểm tra hàng hóa trước khi thông quan(thông báo qua hệ thống VAN cho người khai mang các chứng từ giấy kèmtheo trong bộ hồ sơ HQ đến trụ sở HQ để kiểm tra hồ sơ giấy và kiểm trahàng hóa) Tại các bước kiểm tra thực tế hàng hoá và tính thuế được thực hiệntương tự như ở khâu NK Việc lưu giữ hồ sơ: Tất cả bộ hồ sơ đối với hànghóa XK được nộp cho cơ quan HQ lưu trữ sau 7 ngày đối với lô hàng thuộcluồng a
Công tác Kiểm tra sau thông quan tại HQ Malaysia được tiến hành dựatrên căn cứ cơ sở định hướng của Tổng cục hàng năm lập kế hoạch, thu thậpthông tin và quyết định kiểm tra đối với từng DN
Thông qua việc xem xét HQĐT tại Malaysia, một số kinh nghiệm mà tacần rút ra và nghiên cứu đó là : 1/ Xuất phát từ thực tế và nguồn lực mà từngbước triển khai áp dụng HQĐT tại từng khâu nghiệp vụ phù hợp để từng bướcrút kinh nghiệm, có thể áp dụng tại khâu XK, NK hoặc giới hạn chỉ tại bướckhai báo và đăng ký tờ khai 2/ Cân nhắc, xem xét và phân định thẩm quyềncủa các cán bộ trong quy trình nghiệp vụ, tại Malaysia thẩm quyền của cán bộ
Trang 39thực hiện công việc tiếp nhận hồ sơ là tương đối lớn (điều này ngược lại tạiViệt Nam) 3/ Cần phải có sự kết nối giữa mạng của cơ quan HQ và Ngânhàng để quản lý số thu, tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời giảm chi phí cho
có trình độ phát triển thấp hơn như Malaysia Với quan điểm đó, lãnh đạo BộTài chính, lãnh đạo ngành HQ đã xác định quan điểm trong việc triển khaiHQĐT đó là: Dựa trên thực tế hiện có, kết hợp với thực tiễn nghiên cứu họchỏi kinh nghiệm triển khai của nhiều nước trên thế giới để xây dựng một môhình HQ điện tử cho phù hợp nhưng đồng thời phải hướng tới một mô hìnhchuẩn theo khuyến nghị của tổ chức HQ thế giới (WCO)
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN HẢI QUAN
ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng thực hiện hải quan điện tử tại một số Chi cục Hải quan
2.1.1 Đánh giá chung
Trong quá trình thực hiện, HQĐT đã chứng minh được những ưu điểmcủa nó so với hải quan truyền thống và bước đầu đạt được những mục tiêu,nội dung chính đã đề ra Về mặt nhận thức, HQĐT đã đem đến những tácđộng tích cực đối với cộng đồng doanh nghiệp, cơ quan hải quan và các cơquan khác của Chính phủ Nhìn chung, qua hơn bốn năm, việc thực hiện thíđiểm TTHQĐT theo Quyết định 50/2005/QĐ-BTC ngày 19/07/2005 đã thuđược một số kết quả cơ bản, đó là:
Việc thí điểm TTHQĐT bước đầu đã cải cách hoạt độngnghiệp vụ HQ theo hướng phù hợp với quản lý HQ hiện đại, chuyển đổi
từ TTHQ thủ công sang TTHQĐT Qua đó, TTHQĐT đã được Chínhphủ, cộng đồng DN cũng như toàn xã hội hoan nghênh và tạo ra động lựccải cách, hiện đại hoá TTHQ
Hệ thống quy trình thủ tục hải quan điện tử đã bao trùm cáckhâu trước, trong và sau thông quan Đã mở rộng thủ tục hải quan điện tử