1 MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin trong mỗi cá nhân truyền thông cá nhân, giữa các cá nhân truyền thông liên cá nhân, các nhóm truyền thông nhó
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯU BÁ TÒNG
TRUYỀN THÔNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI XÃ HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 8.22.90.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LƯƠNG THỊ THU HƯỜNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lưu Bá Tòng, người thực hiện luận văn này
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Những trích dẫn cần thiết trong luận văn được tôi chú thích rõ ràng và trung thực
Tác giả luận văn
Lưu Bá Tòng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là thành quả của quá trình học tập, nghiên cứu của học viên tại Khoa Tôn giáo học - Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện Khoa học Xã hội đã tạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập và nghiên cứu tại đây
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo, những người phụ trách Khoa Tôn giáo học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại học viện
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lương Thị Thu Hường đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm có giá trị, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Thượng tọa Thích Đồng Bổn, trụ trì Chùa Phật học Xá Lợi đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè, đồng môn, những người đã gắn
bó và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình tôi và những người thân đã tạo điều kiện để tôi yên tâm học tập trong suốt thời gian qua
Xin cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 4năm 2018
Học viên
Lưu Bá Tòng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ TRUYỀN THÔNG PHẬT GIÁO 12
1.1 Cơ sở lý thuyết 12
1.2 Quá trình hình thành và phát triển các trang thông tin điện tử Phật giáo 21
1.3 Khủng hoảng truyền thông Phật giáo 30
1.4 Một số khái niệm 32
Chương 2 THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG PHẬT GIÁO (QUA KHẢO SÁT NĂM TRANG BÁO/ THÔNG TIN ĐIỆN TỬ) ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1 Hình thức truyền thông Phật giáo của năm trang báo/thông tin điện tử 36
2.2 Nội dung truyền thông của năm trang báo/thông tin điện tử 44
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 56
3.1 Vấn đề đặt ra đối với truyền thông Phật giáo ở nước ta hiện nay 56
3.2 Khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của truyền thông Phật giáo ở nước ta 63
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Mô hình truyền thông của Haroll Laswell 16
Hình 1.2: Mô hình truyền thông của Claude Shannon 17
Hình 2.1: Biểu đồ truy cập giacngo.vn tháng 2-2018 40
Hình 2.2: Biểu đồ truy cập giacngo.vn tháng 3-2018 40
Hình 2.3: Biểu đồ truy cập phatgiao.org.vn tháng 2-2018 41
Hình 2.4: Biểu đồ truy cập phatgiao.org.vn tháng 3-2018 41
Hình 2.5: Biểu đồ truy cập daophatngaynay.com tháng 2-2018 42
Hình 2.6: Biểu đồ truy cập daophatngaynay.com tháng 3-2018 42
Hình 2.7: Biểu đồ truy cập phattuvietnam.net tháng 3-2018 43
Hình 2.8: Biểu đồ truy cập hoalinhthoai.com tháng 3-2018 44
Trang 71
MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin trong mỗi cá nhân (truyền thông cá nhân), giữa các cá nhân (truyền thông liên cá nhân), các nhóm (truyền thông nhóm) hoặc rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình, trang thông tin điện tử trên nền tảng Internet
Trong đó, đối với truyền thông đại chúng (như trang thông tin điện tử) nguồn truyền tin phải sử dụng các phương tiện trung gian là những công cụ
kỹ thuật hay những kênh để qua đó tiến hành việc phổ biến, loan truyền thông điệp đến mọi người trong xã hội
Báo điện tử cùng với các trang thông tin điện tử là loại hình báo chí được xây dựng theo hình thức một trang báo điện tử và phát hành dựa trên nền tảng internet
Mặc dù ra đời muộn hơn các loại hình báo chí khác, song báo điện tử cùng với các trang thông tin điện tử lại được xem là sự hội tụ của cả ba loại hình báo chí đó là báo nói, báo in và báo hình
Báo điện tử cùng với các trang thông tin điện tử vừa có thông tin, hình ảnh, đoạn phim minh họa và cả âm thanh được truyền trên mạng
Chính vì vậy, từ khi ra đời báo điện tử cùng với các trang thông tin điện
tử đã chiếm một vị trí quan trọng trong truyền thông nói chung và truyền thông về một thực thể/đối tượng nhất định nói riêng
Do đó, trong những thập niên gần đây, không một ai hoài nghi về vai trò của truyền thông đối với đời sống xã hội Truyền thông nói chung được coi như “quyền lực mềm”
Tuy nhiên, truyền thông luôn mang tính hai mặt, và tính hai mặt này (tích cực và tiêu cực) tác động đến nhận thức và ứng xử của công chúng ở tất
cả các phạm vi và cấp độ khác nhau, từ cấp độ nhà nước đến đời sống của các
Trang 82
cá nhân, từ cấp độ quốc gia, khu vực đến quốc tế; từ lĩnh vực kinh tế đến chính trị, văn hóa - xã hội
Truyền thông Phật giáo cũng không nằm ngoài xu thế trên
Truyền thông Phật giáo có lịch sử tồn tại từ hơn 2.500 năm trước Sau khi chứng ngộ, với lòng từ bi, Đức Phật đã mang sự giác ngộ đó giáo hóa chúng sinh Khi Đức Phật sắp nhập niết bàn, thầy A Nan hỏi đức Phật sau này ghi lại những lời dạy của Phật thì lấy gì làm bằng chứng cho người khác tin, đức Phật dạy thầy A Nan nên bắt đầu mỗi bài kinh bằng câu: “Như thị ngã văn,” tức là “Tôi nghe như vầy” - là nghe đức Phật giảng như thế nào thì tụng lại, ghi lại như thế đó, không thêm không bớt Đây chính là bản chất của truyền thông chân chính: Sự trung thực
Truyền thông hiện đại cũng đề cao sự trung thực Ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các cán bộ tuyên truyền rằng: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe” [19] Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tính “chân thực” bởi nó vừa là sức mạnh của bài nói, bài viết cũng đồng thời là thước đo đạo đức của người làm báo cách mạng Mỗi bài viết của nhà báo phải đúng sự thật, tức là phải bắt nguồn
từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc
Hiện nay, trong các tài liệu, giáo trình giảng dạy về truyền thông luôn coi trọng tính chân thật của thông tin Trong bài viết “Một định hướng đào tạo cán
bộ báo chí trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay ở nước ta” của Giáo
sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Quang đăng trên tạp chí Triết học, số 6 (205), tháng 6 -
2008 có nhấn mạnh: “Sức mạnh của chúng ta chính là ở sự thật Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang tiến hành là phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội Cho nên, báo chí càng nói đúng sự thật bao
Trang 93
nhiêu, càng giúp chúng ta ý thức rõ được con đường phát triển của chúng ta bấy nhiêu Sự thật nào đi ngược lại quy luật phát triển lịch sử thì cần khắc phục Sự thật nào phù hợp quy luật phát triển thì cần được phát huy, dù lúc đầu nó còn non yếu, nhỏ nhoi, thậm chí bị cái cũ lấn át”
Trong bài viết “Một số quan điểm về tính khách quan, chân thật trên báo chí hiện nay” đăng trên tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông năm
2009, tác giả Trần Thị Cẩm Thúy có trích nhận định của nguyên Trưởng Ban
Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân:
“Khách quan, chân thật của thông tin bao giờ cũng là vấn đề hết sức cơ bản”
Hơn 2500 năm trước, Đức Phật đã đề cập đến bản chất của truyền
thông là sự chân thật
Cũng từ đó, công tác truyền thông được phát triển bằng nhiều hình thức khác nhau qua mỗi giai đoạn, nhằm mục đích mang đến cho mọi người nhận thức đúng đắn về những lời chỉ dạy của Đức Phật, hướng dẫn Tăng Ni và tín
đồ Phật giáo sống đúng chánh pháp, hướng đến giác ngộ và giải thoát
Vì vậy, sứ mạng của truyền thông Phật giáo là mang đến cho công chúng những thông điệp về niềm tin và thực hành theo giáo lý Phật giáo; giá trị của Phật giáo; cũng như thông tin về cộng đồng Phật giáo đúng - như - là
Đồng thời, truyền thông Phật giáo còn mang trong mình trọng trách quan trọng trên mặt trận đấu tranh với những thông tin sai lệch về Phật giáo
và cộng đồng Phật giáo
Tại Việt Nam, ngược dòng lịch sử, khi phong trào chấn hưng Phật giáo thập niên 1930 nổ ra, các tu sĩ đã nhận thấy vai trò của truyền thông phục vụ
cho công cuộc chấn hưng, đã cho ra đời nhiều tờ báo như ở Nam bộ có Pháp
Âm, Từ Bi Âm, Duy Tâm, Tiến Hóa, Bát Nhã Âm…; ở Trung bộ có Viên Âm, Tam bảo; ở Bắc bộ có tờ Đuốc Tuệ, Tiếng Chuông Sớm… Các tờ báo này đã
mạnh dạn nêu lên những hoạt động không đúng chánh pháp như mê tín dị
Trang 104
đoan; các tăng, ni chỉ lo cúng đám mà không sách tấn tu tập, học hành… Nhờ vào những tiếng nói truyền thông trung thực như vậy mà Phật giáo thời kỳ này chú trọng về phẩm hơn chú trọng về lượng, nên Phật giáo và sự nghiệp hoằng pháp thời kỳ này phát triển như trăm hoa đua nở, từ đội ngũ tăng tài tinh ba đến số lượng đồ sộ kinh sách được soạn, dịch… đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử: Đạo Pháp - Dân Tộc
Hiện nay, do bản chất của truyền thông luôn có tính hai mặt; thêm nữa,
do năng lực thẩm định/biên tập các bài trên báo điện tử và các trang thông tin điện tử chưa đi vào chất lượng nên việc đưa tin về Phật giáo và các hoạt động của Phật giáo đem lại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí trong những trường hợp nhất định còn đưa đến cách hiểu sai lạc
Vì vậy, cần có những nghiên cứu nhằm chỉ ra bản chất của một nền truyền thông chân chính và chỉ ra thực trạng của truyền thông Phật giáo ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Ngày nay, khi sức mạnh truyền thông trở thành một lực lượng vật chất quan trọng, có khả năng tạo nên những ảnh hưởng nhất định trong xã hội, thì vai trò của truyền thông Phật giáo ngày càng được chú trọng
Cụ thể là, nhận thấy “sức mạnh mềm”của truyền thông, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc kỳ VII, ngày 24/11/2012 Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập Ban Thông tin Truyền thông Bên cạnh đó, các chùa, tự viện và cư sĩ cũng thành lập các trang thông tin điện tử, ấn tống kinh sách, băng đĩa… để truyền bá Phật pháp cho tăng ni và tín đồ Phật giáo
Tuy nhiên, sau năm năm đi vào hoạt động, truyền thông Phật giáo
sử dụng môi trường internet tại Việt Nam vẫn trong tình trạng sơ khai, chưa khai thác được sức mạnh vốn có Các phương thức truyền thông được Giáo hội đưa ra vẫn còn lúng túng, theo lối mòn, chưa có đột phá Việc thiếu các quan điểm chỉ đạo chung đã dẫn đến sự không nhất quán
Trang 115
trong hoạt động truyền thông giữa các chùa; sự sáng tạo trong truyền thông chưa được khai thác tối đa, dẫn đến việc các bài viết về Phật pháp thường sao chép qua lại, khiến chất lượng của các trang thông tin điện tử
về Phật giáo nghèo nàn, nhàm chán; vô hình chung khiến cho các tín đồ không quan tâm nhiều đến truyền thông Phật giáo
Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, truyền thông cũng chưa làm rõ vai trò của Phật giáo đối với các vấn đề đạo đức, giáo dục, y tế, và an sinh xã hội
Do đó, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ vai trò của truyền thông Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt
lý luận và còn cả thực tiễn
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Truyền thông Phật giáo đối với
xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về truyền thông
Trong những năm gần đây, truyền thông được rất nhiều tác giả đề cập
như Truyền thông đại chúng (Tạ Ngọc Tấn), Truyền thông đại chúng những
kiến thức cơ bản (Claudia Mast), Truyền thông đại chúng - Công tác biên tập
(Claudia Mast), Cơ sở lý luận của báo chí (tập 1 và 2) (E.P Prôkhôrốp), Một
số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại (Phan Văn Kiền, Phan
Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu), Introduction to Mass
Communication: Media Literacy and Culture - Giới thiệu về Truyền thông Đại cương: Truyền thông và Văn hoá Truyền thông (Stanley Baran), Mass Media in a Changing World - Truyền thông đại chúng trong Thế giới Thay đổi (George Rodman)… Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này thiên về
truyền thông nói chung và vai trò của truyền thông trong thời đại hiện nay, không đi vào nghiên cứu truyền thông tôn giáo
Trang 126
2.2 Nghiên cứu về báo điện tử
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, có khá nhiều luận văn, sách,
báo đề cập như Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản[8], Sáng tạo tác phẩm
- Báo mạng điện tử[9], Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử[10],Báo mạng điện tử – Đặc trưng và phương pháp sáng tạo[11]… Những tài liệu này đi sâu
phân tích về ưu thế của báo điện tử, đặc điểm và vai trò của báo điện tử trong thời đại ngày nay
2.3 Nghiên cứu về truyền thông Phật giáo
Cho tới nay, các khoá luận, luận văn và sách báo nghiên cứu về truyền thông tôn giáo tại Việt Nam vẫn chưa có nhiều, đặc biệt là Phật giáo Chỉ có vài luận văn, khóa luận như:
Luận án Tiến sĩ: Truyền thông tôn giáo từ năm 1990 đến nay qua khảo sát trường hợp Phật giáo và Công giáo, của Nguyễn Thúy Hà (2013), Học
viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Luận văn làm rõ về khái niệm truyền thông tôn giáo, về thực trạng truyền thông tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, chủ thể chủ yếu, được đối tượng tiếp nhận là tín đồ, chức sắc tôn giáo nhận xét đánh giá qua khảo sát đồng bào Công giáo và Phật giáo ở Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Luận án này chủ yếu đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước về truyền thông tôn giáo, chủ thể truyền thông là các cơ quan truyền thông của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, không đề cập đến vai trò chủ thể truyền thông là các tôn giáo[12]
Luận văn Thạc sĩ: Hoạt động truyền thông về vấn đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay (2005 - 2010) của Hoàng Thị Thùy Dương (2011), Trường
đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Luận văn này khảo sát thực tiễn vai trò của hoạt động báo chí trong đời sống chính trị xã hội, đặc biệt thông qua
Trang 137
ba tờ báo và một tờ tạp chí thuộc dòng báo chính luận (Nhân Dân, Tuổi Trẻ, Người Công giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo) cùng với một số báo tôn giáo yêu nước Tác giả luận văn đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động báo chí nói chung, nội dung và hình thức của các tác phẩm báo chí nói riêng, góp phần thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo trên báo chí[6]
Luận văn Thạc sĩ: Báo chí Phật giáo tại Việt Nam: Thực trạng và vấn
đề, của Lê Thị Hồng Hạnh (2010), Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Hà Nội Luận văn này phác họa lại quá trình lịch sử của báo chí Phật giáo tại Việt Nam; đánh giá những yếu tố ảnh hưởng của báo chí Phật giáo đối với công chúng báo chí nói chung và công chúng báo chí Phật giáo nói riêng; khảo sát để đưa ra một cách nhìn tổng thể về thực trạng và vấn đề của báo chí Phật giáo tại Việt Nam trong thời gian 2005 - 2010 Luận văn viết gần như quyển sử về báo chí Phật giáo và thiên về báo giấy, không đề cập đến báo điện tử, một loại hình truyền thông đặc biệt trong giai đoạn hiện nay[13]
Còn lại là những bài viết trên các tạp chí nghiên cứu hoặc trên các trang mạng Ví dụ như: Ngọc Chơn với “Vai trò truyền thông Phật giáo thời hiện đại”[38]; Diệu Hòa với “Truyền thông Phật giáo và mạng xã hội”[54]; Thích Thiện Bảo, “Truyền thông trong hoạt động hoằng pháp”[36]; Minh Thạnh,
“Truyền thông và sự phát triển tư tưởng Phật giáo”[77]; Dương Kinh Thành,
“Website truyền thông Phật giáo những sự im lặng không đúng lúc”[73]; Minh Thạnh, “Báo chí Phật giáo có nhất thiết phải hiền đến mức không trung thực”[74]; H Diệu, “Cách ứng xử với truyền thông, báo chí” [45]; Nguyên Giác Phan Tấn Hải, “Truyền thông nhìn từ Phật giáo” [49]; Huỳnh Kim Quang, “Nghĩ về truyền thông và Phật giáo” [65]; Sơ Cơ, “Truyền thông Phật giáo đang đứng ở đâu” và “Vì sao các trang Phật giáo- ít người truy cập?” [41,42]
Trang 148
Tất cả những công trình, tài liệu trên hoặc mới chỉ đề cập đến truyền thông và thực trạng truyền thông nói chung; hoặc chỉ đề cập đến truyền thông tôn giáo nói chung và những mảng đề tài lẻ trong truyền thông Phật giáo Do
đó việc nghiên cứu thực trạng truyền thông Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay vẫn còn là mảng trống vắng Luận văn hướng tới việc góp phần khỏa lấp mảng trống này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng truyền thông Phật giáo đối với các phương diện cơ bản của đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội và đặt
ra một số vấn đề trong công tác truyền thông Phật giáo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Khái quát vai trò của báo điện tử và trang thông tin điện tử;
+ Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng về truyền thông Phật giáo dựa trên hai phương diện cơ bản là hình thức và nội dung đưa tin;
+ Đưa ra khuyến nghị và giải pháp góp phần nâng cao vai trò của truyền thông Phật giáo đối với xã hội nói chung
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Truyền thông Phật giáo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát năm trang
thông tin điện tử Phật giáo có nhiều người truy cập như Giác Ngộ (giacngo.vn), Đạo Phật ngày nay (daophatngaynay.com), Giáo hội Phật giáo Việt Nam (phatgiao.org.vn), Phật tử Việt Nam (phattuvietnam.net), Hoa Linh Thoại (hoalinhthoai.com)
Trang 159
* Về thời gian: Từ khi hình thành Ban Thông tin Truyền thông Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (24/11/2012) đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng để làm hệ quy chiếu đánh giá thực trạng truyền thông Phật giáo hiện nay
- Luận văn vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo để tìm hiểu truyền
thông Phật giáo hiện nay: “Chỉ có thể biết được các hiện tượng gọi là tôn giáo
thông qua xác định mối quan hệ giữa con người với cái thiêng bằng niềm tin vào cái thiêng, được biểu đạt bằng thực hành gắn kết với niềm tin đó, tạo thành cộng đồng người có cùng niềm tin vào cái thiêng, trước hết là cộng đồng luân lý, và như M Mauss nói, các yếu tố đó tạo ra các hệ thống được gọi là tôn giáo”[29]
Như vậy luận văn sẽ khảo sát nội dung truyền thông của các nhà truyền thông Phật giáo về các mặt: Niềm tin Phật giáo, thực hành Phật giáo và cộng đồng Phật giáo
- Vận dụng lý thuyết về mô hình truyền thông:
Trong các nghiên cứu về truyền thông trên thế giới, có nhiều lý thuyết
về mô hình truyền thông, tuy nhiên luận văn này chỉ sử dụng 2 lý thuyết sau:
+ Mô hình truyền thông của Haroll Laswell
Mô hình này bao hàm những phần tử chủ yếu của quá trình truyền thông, trong đó: S - Ai (source, sender): Nguồn, người cung cấp, khởi xướng M - Nói, đọc, viết gì (message): Thông điệp, nội dung thông báo C- Kênh (channel): Bằng kênh nào, mạch truyền nào R - Cho ai (receiver): Người tiếp nhận, nơi nhận E - Hiệu quả (effect): Hiệu quả, kết quả của quá trình truyền thông
+ Mô hình truyền thông của Claude Shannon
Trang 1610
Theo lý thuyết thông tin và điều khiển học (Cybernetics) của Claude Shannon và nhiều người nghiên cứu khác, quá trình truyền thông còn được bổ sung thêm hai yếu tố: Hiện tượng nhiễu (Noise) và phản hồi (Feedback)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát: Tiến hành khảo sát các trang thông tin điện tử Phật giáo để tìm hiểu nội dung và phương pháp truyền thông Phật giáo được thực hiện như thế nào
- Phương pháp lập bảng và biểu đồ hiển thị tần suất và lưu lượng truy cập trang thông tin điện tử nhằm đánh giá sức hấp dẫn của thông tin
- Phương pháp phân tích, nhận xét, đánh giá: Bằng cách đối chiếu giữa thực tiễn với lý luận, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá về những mặt làm được và những mặt chưa làm được trong công tác truyền thông Phật giáo, đồng thời đề ra những giải pháp khắc phục những điểm yếu và phát huy những mặt mạnh
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn Thượng tọa Thích Nhật Từ, chủ biên trang Đạo Phật ngày nay, 1 cư sĩ có vai trò trong Giáo hội Phật giáo đánh giá về hiệu quả truyền thông Phật giáo và quan điểm xử lý khủng hoảng truyền thông Phật giáo
Tuy nhiên trong quá trình làm luận văn, chúng tôi không tách biệt riêng
lẻ các phương pháp mà có sự kết hợp chặt chẽ, logic giữa các phương pháp nhằm mang lại hiệu quả cho luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở tập hợp một cách hệ thống những lý luận về truyền thông hiện đại và tôn giáo học để khảo sát về vai trò của truyền thông Phật giáo đối với đời sống xã hội
Trang 176.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua việc khảo sát khách quan, luận văn làm sáng tỏ chất lượng và hiệu quả của truyền thông Phật giáo đồng thời góp phần đưa ra một số giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả của truyền thông Phật giáo trong việc truyền tải và phản ánh thông tin
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho Ban Trị sự Giáo hội Việt Nam các tỉnh thành, lãnh đạo các tự viện và cho những hoạt động truyền thông Phật giáo nói chung có được gợi ý để phát huy sức mạnh của truyền thông một cách có hiệu quả
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ bản, nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về truyền thông và truyền thông
Phật giáo
Chương 2: Thực trạng truyền thông Phật giáo (qua khảo sát năm trang
báo điện tử) đối với xã hội Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số nhận xét và khuyến nghị giải pháp
Trang 1812
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG
VÀ TRUYỀN THÔNG PHẬT GIÁO
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Lý thuyết thực thể tôn giáo
Trong “Triển khai lý thuyết thực thể tôn giáo”, TS Nguyễn Quốc Tuấn
đã chỉ ra rằng: muốn tìm hiểu về một tôn giáo, chúng ta phải tìm hiểu về 3 yếu tố: Niềm tin về cái thiêng, thực hành gắn kết với niềm tin đó và cộng đồng những người cùng một niềm tin [29]
Cái thiêng mà các tín đồ Phật giáo đặt hết niềm tin vào chính là Đức
Phật Niềm tin của các tín đồ Phật giáo (tức người đã quy y Tam bảo) là niềm tin tuyệt đối vào Đức Phật, Phật pháp và Tăng già; thọ trì Năm giới
Tín đồ Phật giáo tin rằng Đức Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn; ngài có trí tuệ và phương tiện thiện xảo; Đức Phật có thể dìu dắt chúng sinh ra khỏi vòng vô minh lầm lạc, đạt đến an lạc, cứu cánh Niết bàn
Tín đồ Phật giáo tin rằng Phật pháp là chân lý mà Đức Phật đã thân chứng, là phương pháp diệt khổ, là con đường đưa đến an lạc giải thoát
Tín đồ Phật giáo cũng tin rằng Tăng già là đoàn thể những người tiếp bước chư Phật đi trên con đường giác ngộ giải thoát và dìu dắt chúng sinh ra khỏi sự đau khổ của kiếp nhân sinh bằng sự giác ngộ Luận Đại thừa khởi tín
có nói: “Lòng tin có bốn: Một là lòng tin cội gốc, nghĩa là luôn nghĩ pháp Chơn như Hai là tin Đức Phật có vô lượng công đức, thường tưởng nhớ, gần gũi cung kính, cúng dường, phát khởi tâm lành để cầu Nhứt thiết trí Ba là tin Pháp có nhiều lợi ích, thường nhớ tu hành cho rốt ráo Bốn là tin Tăng hay tu hành hạnh lợi mình lợi người, thường gần gũi các bậc Bồ tát cầu học hạnh như thật” [46]
Trang 1913
Bên cạnh niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng là lòng tự tín của người tín đồ Phật giáo Đây là niềm tin căn bản nhất không thể thiếu Lòng tự tín là lòng tin vào khả năng giác ngộ của chính mình, tin rằng mình sẽ thành Phật nếu nỗ lực tu hành Bởi sự giác ngộ là tự mình giác ngộ chứ không ai có thể giác ngộ thay cho,
vì thế nếu không có lòng tự tín thì chúng ta không nỗ lực Đức Phật đã dạy:
“Hãy tự xem con là hải đảo của con Hãy tự xem con là chỗ nương tựa của con Không nên tìm nương tựa nơi ai khác” (Trường A-hàm, kinh Đại bát Niết bàn) [27], và “Các con phải tự mình nỗ lực, các đấng Như Lai chỉ là người thầy dẫn đường” (Kinh Pháp Cú, kệ 276) [2]
Thực hành trong Phật giáo bao gồm các nghi lễ và thực hành những
lời dạy của Đức Phật
Đức Phật trong thực tế đã không đưa ra các nghi thức và các nghi lễ mà chúng ta đang thực hiện ngày hôm nay Ngài cũng không vì vấn đề nghi thức
và nghi lễ mà khuyến khích dân chúng thực hành theo một số truyền thống của Ấn Độ lâu đời đang thịnh hành tại đất nước này vào thời đó Ngài chỉ quan tâm đến việc giảng dạy giáo Pháp – chân lý của cuộc sống hay lẽ thực của cuộc đời
Sau khi Ngài nhập diệt, các môn đệ của Ngài ở các nước khác nhau và tại những thời điểm khác nhau đã đưa các truyền thống và văn hóa địa phương của đất nước họ vào Phật giáo khi tôn giáo này đã trở nên phổ biến và phát triển tại các quốc gia đó Theo lời dạy của Đức Phật, các đệ tử của Ngài
đã xây dựng hệ thống đạo đức trên cơ sở hệ thống giáo lý, đó là mối quan hệ giữa giới, định, tuệ để đi đến giải thoát và giải thoát tri kiến, trong đó giới có vai trò làm nền tảng cho việc giải thoát
Đạo đức Phật giáo bao gồm các giới cùng các chuẩn mực và các phạm trù có liên quan tới nhau một cách chặt chẽ Phật giáo xây dựng một hệ thống đạo đức hoàn chỉnh từ nhận thức, lý luận đến thực hành và việc áp dụng nó để
Trang 2014
xây dựng một nếp sống tốt đẹp Bên cạnh đó Phật giáo còn xây dựng mẫu người đạo đức đó là con người từ bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha mà thâu tóm là đứng vững trên hai chân: từ bi và trí tuệ
Triết lý của Phật giáo về từ bi, về tình thương yêu rất phù hợp với truyền thống giàu lòng nhân ái vốn có của người Việt: “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”; “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”; “Lá lành đùm lá rách”; “Thương người như thể thương thân”… Đây là sự kết hợp những nét độc đáo trong phương pháp tư duy, trong văn học, nghệ thuật của người Việt Nam Những giá trị, khuyến thiện, hướng thiện không chỉ phát huy tác dụng trong hàng ngũ tín đồ mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống nhân dân, góp phần hình thành nên những quan niệm sống giàu tính nhân văn sâu sắc Đồng hành cùng với sự phát triển của đất nước, đạo đức Phật giáo đã góp phần tạo nên truyền thống văn hóa thực sự giàu bản sắc
Với triết lý từ, bi, hỷ, xả, khuyến khích con người hướng thiện, đạo đức Phật giáo đã dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống, vị tha, bình đẳng, bác ái Thực tế đã chứng minh, đạo đức Phật giáo phù hợp với đạo đức lẽ sống của con người Việt Nam và
nó đã có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho xã hội trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống đã được đặt ra
Cộng đồng Phật giáo là những người có niềm tin vào Đức Phật (tức cái
thiêng) dù là Phật giáo Bắc tông, Nam Tông hay Kim Cương thừa Phật giáo Nam tông phát triển mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á (Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar) Bắc tông phát triển ở Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Singapore) và bao gồm nhiều phân nhánh nhỏ hơn như Tịnh độ tông, Thiền tông, Thiên thai tông Còn Kim Cương thừa phát triển ở Tây Tạng, Mông Cổ và Bhutan
Mặc dù phát triển chủ yếu ở châu Á, nhưng hiện nay đạo Phật được tìm thấy ở khắp thế giới Ước tính số người theo đạo Phật vào khoảng 365 triệu
Trang 2115
tín đồ chính thức và 1,2 tỷ người có cảm tình với Phật giáo
Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về con đường đưa đến giải thoát, tính chính thống của các bài giảng đạo và kinh điển, đặc biệt là
ở phương thức tu tập
1.1.2 Đức Phật và truyền thông “Như thị ngã văn”
“Như thị” có nghĩa: Ðúng là như vậy, hoàn toàn đáng tin cậy “Như” có nghĩa là bất biến, không thể nào khác được “Thị” là như vậy, hoàn toàn là chính xác “Như thị” nghĩa là hoàn toàn như thật, hoàn toàn đích xác, không gì thay đổi được Mọi Kinh Phật đều mở đầu bằng bốn chữ “Như thị ngã văn” Bốn chữ này là do A Nan tiếp chỉ từ Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật lúc sắp nhập Niết bàn đã
di giáo lại Dịch sang ngôn ngữ thuần Việt có nghĩa là “Tôi nghe như vầy”
Theo lịch sử Phật giáo, lúc Phật Thích Ca sắp nhập Niết bàn, A Nan bạch Phật: “Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả những lời dạy của Ngài được tuyên thuyết trong đời này Sau khi Ngài nhập diệt, chúng con phải kiết tập Kinh điển, chúng con nên dùng chữ gì để mở đầu các kinh điển, xin Ngài di giáo” Ðức Phật liền dạy: “Ông nên dùng bốn chữ “Như thị ngã văn” để làm sự mở đầu cho các kinh điển
Vì vậy, tất cả các kinh Phật hiện giờ đều mở đầu bằng “Như thị ngã văn” - “Tôi nghe như vầy”: Là tất cả những kinh pháp đều đích thân A Nan tận tai nghe Ðức Phật tuyên thuyết - đây cũng chính là thông tin có cơ sở/chứng cứ/nguồn gốc chân thật Tất nhiên Tôn giả A Nan là “Ða văn đệ nhất” nên Ðức Phật mới mật ý phó chúc cho A Nan “tái phát âm” Vì tôn giả
A Nan có một công năng kỳ lạ mà không ai có: Bất kỳ một điều gì nghe qua đều nhớ rõ mồn một, gọi là “quá nhĩ bất vong”, không bao giờ quên sót
Như vậy, hơn 2500 năm trước, Đức Phật đã đề cập đến bản chất của truyền thông là sự chân thật trong thông tin
1.1.3 Lý thuyết mô hình truyền thông và báo mạng điện tử
1.1.3.1 Các mô hình truyền thông
Trong lịch sử nghiên cứu sự phát triển của truyền thông đại chúng, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai loại mô hình truyền thông cơ bản, đó là mô hình
Trang 2216
truyền thông một chiều mang tính áp đặt và mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo
+ Mô hình truyền thông của Haroll Laswell
Năm 1948, H.Lasswell đã đưa ra mô hình truyền thông đại chúng một chiều [24] bao gồm những yếu tố:
Hình 1.1: Mô hình truyền thông của Haroll Laswell
Mô hình này bao hàm những phần tử chủ yếu của quá trình truyền thông, trong đó: S - Ai (source, sender): Nguồn, người cung cấp, khởi xướng M - Nói, đọc, viết gì (message): Thông điệp, nội dung thông báo C- Kênh (channel): Bằng kênh nào, mạch truyền nào R - Cho ai (receiver): Người tiếp nhận, nơi nhận E - Hiệu quả (effect): Hiệu quả, kết quả của quá trình truyền thông
Với mô hình này của Laswell, mọi việc nghiên cứu có thể được tiến hành và tập trung vào những phẩn tử đó Phân tích nguồn (S) (Ai là người cung cấp?) Phân tích nội dung (M) (thông điệp chứa đựng gì?) Phân tích phương tiện (C) (kênh nào được sử dụng và sử dụng như thế nào?) Phân tích đối tượng (R) (Ai là người nhận?) Phân tích hiệu quả (E) (Thay đổi hành vi
ra sao?)
Từ mô hình truyền thông trên cho thấy, phương thức thông tin được chuyển tải theo một chiều Bắt đầu từ nguồn phát, những thông điệp được truyền qua kênh truyền thông, đến người tiếp nhận thông tin Khi hoàn thành quá trình này sẽ tạo ra hiệu quả thông tin
Đây là mô hình thông tin đơn giản, nhưng rất thuận lợi khi chuyển tải những thông tin nhanh Trong mô hình này, nguồn phát giữ vai trò quyết định, có khả năng áp đặt quan điểm, tư tưởng của mình đối với người tiếp nhận thông tin Công chúng chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động, không
Trang 2317
có họăc ít có sự phản hồi trở lại dù đó là sự tác động tích cực để thấy được thái độ tiếp nhận thông tin của công chúng hoặc những thông tin đã chuyển tải có phù hợp hay không Chính vì những hạn chế như vậy nên mô hình truyền thông này chưa làm thoả mãn được nhu cầu thông tin, chưa thu hút, chưa tạo được sự quan tâm của công chúng
+ Mô hình truyền thông của Claude Shannon
C.Shannon đưa ra mô hình quá trình truyền thông hai chiều mềm dẻo khắc phục được nhược điểm của mô hình truyền thông một chiều Ông đã đưa vào mô hình thông tin của mình những yếu tố mới như sau:
Hình 1.2: Mô hình truyền thông của Claude Shannon
Theo lý thuyết thông tin và điều khiển học (Cybernetics) của Claude Shannon và nhiều người nghiên cứu khác, quá trình truyền thông còn được bổ sung thêm hai yếu tố: Hiện tượng nhiễu (Noise) và phản hồi (Feedback) Do
đó, mô hình của Harold Laswell có thể bổ sung như sau:
Phản hồi (Feedback) được hiểu là sự tác động ngược trở lại của thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin Phản hồi là phần tử cần thiết để điểu khiển quá trình truyền thông, làm cho quá trình truyền thông được liên tục từ nguồn đến đối tượng tiếp nhận và ngược lại Nếu không có phản hồi, thông tin chỉ một chiều và mang tính áp đặt
Nhiễu (Noise) luôn tồn tại trong quá trình truyền thông Đó là hiện tượng thông tin truyền đi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của tự nhiên và xã hội, phương tiện kỹ thuật gây ra sự sai lệch hay kém chất lượng vể nội dung thông
Trang 2418
tin cũng như tốc độ truyền tin Do vậy, nhiễu là hiện tượng cần được xem xét, và được coi như một hiện tượng đặc biệt trong quá trình lựa chọn kênh để xây dựng nội dung thông điệp Các dạng nhiễu có thể có như vật lý, cơ học, luân lý, tôn giáo, môi trường, cung độ, lứa tuổi, giới tính, ngôn ngữ, học vấn, dân tộc v.v Mặt khác, nhiễu vẫn luôn được coi lả quy luật của quá trình truyền thông, nếu biết xử lý nhiễu sẽ tăng thêm hiệu quả cho quá trình truyền thông [24]
Xét về mặt bản chất thì mô hình truyền thông hai chiều của C Shannon
là sự phát triển logic từ mô hình truyền thông của H.Lasswell Trong điều kiện xã hội phát triển, được sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhiều phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại ra đời nó cho phép thiết lập mối quan hệ hai chiều liên tục, trực tiếp giữa nguồn phát và người tiếp nhận thông tin Trong mô hình truyền thông này, vai trò của công chúng tiếp nhận được xem là một trong những yếu tố quyết định quá trình truyền thông Tính tích cực của công chúng với tư cách là đối tượng tiếp nhận thông tin, không chỉ chỉ thể hiện ở việc lựa chọn những thông điệp tiếp nhận mà còn là
sự tham gia trực tiếp, trở thành một yếu tố quyết định trong quá trình thực hiện hoạt động truyền thông đại chúng
Trên cơ sở này, có thể thấy trong việc nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng thì vấn đề nghiên cứu công chúng có vai trò hết sức quan trọng, nó cho phép nhà truyền thông nắm bắt được nhu cầu, hình thành được nội dung và phương pháp nghiên cứu thích ứng
1.1.3.2 Khái niệm báo điện tử
Báo điện tử, trang thông tin điện tử (gọi tắt là báo điện tử) là loại hình báo chí được xây dựng theo hình thức một trang thông tin điện tử và phát hành dựa trên nền tảng Internet Báo điện tử được tòa soạn điện tử xuất bản, còn người đọc báo dựa trên máy tính, thiết bị cá nhân như máy tính bảng, điện thoại di động trung cao cấp có kết nối Internet
Trang 2519
Khác với một trang thông tin điện tử nói chung, báo điện tử cập nhật thường xuyên tin tức, đặc biệt là đăng “tin tức thời” hay “tin giật gân” (breaking news) Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian Sự phát triển của báo điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống [90]
Báo điện tử là một loại hình báo chí mới, có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết, hình ảnh và âm thanh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế Báo điện tử là hình thức báo chí được sinh
ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, qui trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu
1.1.3.3 Đặc điểm và vai trò thông tin của báo điện tử
* Đặc điểm của báo điện tử
- Tính không giới hạn: Báo điện tử có ưu điểm nổi bật là khả năng truyền tải thông tin vô biên giới Với mạng Internet (world wide web), thông tin có thể truyền tải đi khắp toàn cầu Đồng thời, với một biển thông tin trên Internet, người dùng có thể tự do khám phá nó nhờ các siêu liên kết Nó đã kích thích trí tò mò, sự ham hiểu biết cái mới của con người
- Tính thời sự: Thông tin trên Internet nói chung và báo điện tử nói riêng có tính thời sự rất cao Thông tin tức thời, gần như ngay lập tức, biết tin sớm nhất từ những khoảng cách xa nhất Mọi thông tin từ khi thu nhập được đến khi phát hành được diễn ra trong thời gian ngắn hơn nhiều so với báo in Chính khả năng này làm cho thông tin trên báo điện tử luôn sống từng ngày, từng giờ, thậm chí có khi từng phút Hơn nữa, báo điện tử có ưu điểm là khả năng xã hội hóa các sản phẩm đơn lẻ Việc cập nhật theo từng trang tin, chuyên mục có thể được thực hiện bất cứ lúc nào Không như các loại hình báo chí khác phải chờ đầy đủ các tin, bài mới lên khuôn in hay lên chương trình phát sóng
Trang 2620
- Tính tích hợp: Vì là một dịch vụ trên Internet, báo chí xuất bản trên mạng Internet hội đủ các ưu thế của một mạng máy tính Tờ báo có thể cung cấp một ngôn ngữ truyền tải mới lạ hấp dẫn dạng thông tin đa phương tiện
Đó là khả năng kết hợp ngôn ngữ chữ viết, hỉnh ảnh, âm thanh sống động vào trang báo Nghĩa là một sự tổng hợp về báo in, báo hình và báo nói
- Tính hệ thống: Tiếp theo và mang tính cơ bản là khả năng lưu giữ thông tin của báo điện tử Báo điện tử có thế mạnh hơn báo in ở chỗ lưu giữ thông tin một cách có hệ thống Báo điện tử cho phép độc giả tìm kiếm thông tin theo chủ
đề, theo thời gian rất tiện lợi so với việc phải vào thư viện tìm số báo đã ra cách đây nhiều năm về một chủ đề nào đó Báo điện tử khai thác gần như miễn phí mọi nguồn tin từ báo chí, từ Internet, chọn lọc những thông tin hấp dẫn nhất tung lên mạng trong một thời gian rất nhanh
- Tính tương tác: Khả năng giao lưu, tương tác giữa độc giả và tòa soạn cũng như tác giả của chính bài báo đó cũng là ưu điểm nổi bật của báo điện
tử Báo điện tử cho phép sự phản hồi thông tin từ người sử dụng đến tòa soạn báo nhanh chóng, thuận tiện Bằng các phương tiện dễ dàng như email hay chatting, cầu nối giữa bên cung cấp thông tin và bên tiếp nhận thông tin chặt chẽ Khi làm báo truyền thống, muốn biết phản hồi từ độc giả, khán giả để cải tiến nội dung, phương thức đưa tin, cách duy nhất là phải tổ chức các cuộc điều tra dư luận Điều này phải cần thời gian dài trong khi đó độ chính xác lại không cao Nhưng với báo điện tử câu trả lời sẽ là 100% chính xác Báo điện
tử với công nghệ hiện đại, cung cấp các công cụ điều tra bạn đọc một cách khách quan, nhanh chóng, chính xác
- Tính kinh tế: Việc xuất bản báo chí trên mạng Internet rất kinh tế Báo điện tử không có trọng lượng, nó không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý,
nó không hạn chế số trang Với khối lượng thông tin hết sức đồ sộ nhưng báo điện tử lại không tốn chi phí cho việc in ấn, phát hành Báo điện tử chỉ có một bản duy nhất cho hàng trăm triệu độc giả
Trang 2721
* Vai trò của báo điện tử
Báo điện tử có vai trò tạo ra bước ngoặt trong quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin, làm thay đổi cách làm báo, tăng cường mối quan hệ nhà báo, công chúng và nguồn tin, góp phần tăng hiệu quả xã hội của báo chí.[4]
Báo điện tử ra đời tạo ra bước ngoặt trong quá trình truyền tin và tiếp nhận thông tin, dựa trên sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí truyền thống và của Internet
Báo điện tử cung cấp lượng thông tin lớn, cập nhật, hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều người, đồng thời cũng buộc người tiếp nhận thông tin phải tham gia tích cực vào quá trình sản xuất ra thông tin và truyền thông tin
Báo điện tử giúp cho sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, quốc gia thuận lợi, mở cánh cửa tri thức cho mọi đối tượng trong xã hội
Báo điện tử làm thay đổi lớn trong nghề báo Nhà báo thay đổi phương thức làm tin, mở rộng các nguồn thông tin: Phóng viên có thể thu thập thông tin ở khắp nơi một cách nhanh chóng và dễ dàng; thông tin mang chiều sâu bản chất hoặc thông tin mật từ các tổ chức hoặc chính phủ
Nhờ khả năng đa phương tiện và tính tương tác cao, báo điện tử đã giúp cho nhà báo thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với công chúng
Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng khác như: Báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả xã hội to lớn
1.2 Quá trình hình thành và phát triển các trang thông tin điện tử Phật giáo
1.2.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển của báo điện tử
1.2.1.1 Lịch sử
Sự ra đời và phát triển của mạng Internet trong những năm đầu của thập niên 90 là một bước tiến vượt bậc của khoa học kỹ thuật Cả thế giới được liên kết với nhau thông qua mạng máy tính Và một trong những thành
Trang 2822
tựu lớn nhất của Internet là tiền đề tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của một loại hình báo mới - Báo điện tử
Năm 1973, các nhà nghiên cứu đã hướng tới mô hình một tờ báo điện
tử Nhưng mãi đến năm 1980 tờ báo điện tử đầu tiên mới xuất hiện Sự ra đời của báo điện tử thời kỳ này gặp không ít những khó khăn: Số lượng người đọc báo ít, người dùng máy tính ít, các khâu trong kỹ thuật gặp trục trặc Những rào cản đó đã khiến cho báo điện tử chậm phát triển
Tuy nhiên, những khó khăn đó đã được khắc phục vào cuối những năm của thập niên 80 khi các xuất bản phẩm điện tử dưới dạng file ASCIT bắt đầu xuất hiện
Đầu thập niên 90, đã có những ứng dụng công nghệ mới hơn cho việc xuất bản và phân phối điện tử như: Nhóm tin Archie, Usernet, Gopher, Wais Gopher cho phép người sử dụng xem và tìm lại các số báo đã phát hành nhiều lần trước đó Wais cho phép các nhà xuất bản dễ dàng tìm kiếm thông tin trong cơ sở dữ liệu
Năm 1991, đánh dấu sự ra đời hàng loạt của tờ báo điện tử như Electronic Journal of Communication, Journal of International Academy of Hospitality Research Giai đoạn 1990-1991, có khoảng 30 tờ báo điện tử và
có ít nhất 60 trang thông tin điện tử trên mạng
Năm 1992, báo điện tử có một bước tiến quan trọng về hình thức khi tờ báo đầu tiên có đầy đủ cả văn bản lẫn hình ảnh sinh động xuất hiện, đó là Online Journal of Current Climical Triale; mạng tin tức đầu tiên trên thế giới Chicago Tribum xuất hiện tại Mỹ năm 1992
Năm 1994, phiên bản của điện tử của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên, tiếp đến là hàng loạt các cơ quan báo chí nổi tiếng
ở Mỹ lần lượt cho ra đời phiên bản điện tử như: Los Angeles Times, USA Today, New York Newsday…
Trang 2923
Năm 1995, nhiều tờ báo ở Châu Á cũng xuất hiện trên mạng Internet như: Chine Daily, Utusan (Malaysia), Kompas (Indonesia), Asahi Shimbun (Nhật Bản)…
Và cũng năm 1995, thị trường báo in ở Mỹ có nhiều biến động, số lượng báo in giảm đã thúc đẩy sự phát triển của báo điện tử Đến giữa năm
1996, Mỹ đã có khoảng 768 tờ báo điện tử, Châu Âu có 169 tờ báo, Châu Á
và Trung Đông có 54 tờ, Nam Mỹ có 25 tờ, Australia có 20 tờ, Châu Phi có 6
tờ
Theo thống kê của Newslink, năm 1996 trên toàn thế giới có 1.335 tờ báo điện tử, đến 9/1998 là 4.925 tờ, đầu năm 2000 là 8.474 tờ Từ năm 2000 trở đi các hãng thông tấn đài truyền hình lớn như: CNN, NBC, AFP, các tờ báo New York Times, Washington Post… đều có tờ báo điện tử của mình và coi đó là phương tiện để thu hút công chúng
Sự phát triển của Internet kéo theo sự phát triển của báo điện tử một cách nhanh chóng và nó trở thành “Cơn sốt vàng”
Ngày nay, báo điện tử là một phương tiện truyền thông đa phương tiện không thể thiếu đối với cuộc sống của con người và nó là loại hình báo chí đang cạnh tranh gay gắt với các loại hình báo chí khác như báo in, truyền hình, phát thanh
Cùng với các loại hình báo chí đa phương tiện, báo điện tử góp phần tạo nên sự đa dạng cho nền báo chí đồng thời cũng là kênh thông tin mà con người tiếp cận nhiều nhất cho đến thời điểm này Tương lai của báo điện tử còn phát triển hơn nữa với tốc độ nhanh chóng của mạng Internet
1.2.1.2 So sánh báo điện tử với báo in và phát thanh - truyền hình
Báo in là loại hình truyền thông ra đời sớm nhất trong các loại hình truyền thông đại chúng Sau đó, cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, phát thanh và truyền hình ra đời Báo điện tử là một loại hình báo chí
Trang 30so với các loại hình báo chí khác
Về nội dung thông tin, thông tin ở báo điện tử chủ yếu cập nhật tin nóng, mới, giật gân, và được cập nhật từng giây, từng giờ (tính phi định kỳ)
Ở báo in thông tin sâu hơn, có nhiều bài bình luận sâu sắc về mọi mặt xã hội Phát thanh và truyền hình thời lượng phát sóng có hạn nên những chương trình thông tin ít sâu, chủ yếu là giải trí Tính thời sự của thông tin ở báo mạng điện tử, phát thanh và truyền hình cập nhật nhanh hơn báo in do báo in phụ thuộc vào thời gian phát hành Thông tin ở báo in đã được phóng viên, biên tập viên chọn lọc, cân nhắc kỹ vì thế công chúng chỉ có thể tiếp nhận những thông tin trong khuôn khổ tòa soạn báo Báo mạng thông tin có tính
mở, nhà báo đưa một loạt thông tin liên quan để cho người đọc tự do lựa chọn thông tin, tự do lý giải thông tin theo suy nghĩ của mình và phản hồi lại
Về chi phí, ở báo in công chúng chỉ phải trả tiền một lần và đọc nhiều lần, báo mạng điện tử, phát thanh, truyền hình thì công chúng phải chi trả tiền mạng Internet, truyền hình cáp hàng tháng Mất chi phí mua những thiết bị để xem truyền hình và nghe đài
Về mức độ hấp dẫn, báo in là loại hình truyền thông truyền thống, có nhiều hạn chế trong việc áp dụng những công nghệ đa phương tiện mới Báo mạng điện tử và phát thanh, truyền hình sử dụng hình ảnh, âm thanh, đồ họa, video sinh động, ngôn ngữ truyền cảm
Về sự chủ động của công chúng, đối với báo in, công chúng tiếp nhận thông tin hoàn toàn chủ động, báo mạng điện tử cũng vậy, với phát thanh và
Trang 3125
truyền hình thì công chúng có thể nghe, xem trong mọi tư thế, nhưng lại không chủ động về thời gian theo dõi do các chương trình phát sóng theo thời gian cố định và thường chỉ phát có một lần, do đó có thể khiến người nghe, xem không hiểu hoặc hiểu sai về sự thật, thông tin
Về sự tương tác với công chúng, đối với báo in sự phản hồi của người đọc gặp nhiều khó khăn, ở báo mạng điện tử sự phản hồi thông tin của người đọc tới tòa soạn, từ người đọc với người đọc nhanh chóng, thuận tiện Báo phát thanh và truyền hình có những chương trình trò chuyện trực tiếp với khán giả Diễn đàn trao đổi trên báo in chỉ cho phép một hoặc một số người tham gia, ở phát thanh và truyền hình có những chương trình trao đổi theo từng chủ đề, báo mạng điện tử có phương tiện kỹ thuật hiện đại cho phép diễn đàn trao đổi diễn ra sôi nổi, đăng tải được ý kiến của nhiều người dễ dàng, thuận tiện
Báo mạng điện tử có các ưu thế vượt trội so với các loại hình báo chí khác như: Khả năng tích hợp âm thanh, khả năng tích hợp hình ảnh động, khả năng tích hợp những chương trình tương tác Báo mạng điện tử có khả năng tìm kiếm thông tin nhanh, người đọc có thể chủ động tìm đọc các thông tin khác nhau theo nhu cầu của mỗi cá nhân người đọc, và quan trọng hơn cả là khả năng lưu trữ thông tin
1.2.2 Khái quát sự hình thành Ban Thông tin Truyền thông của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các trang thông tin điện tử được khảo sát
1.2.2.1 Cơ sở hình thành các trang thông tin điện tử Phật giáo
Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, số người sử dụng Internet hiện nay trên toàn thế giới đã lên đến trên 800 triệu người Riêng tại Việt Nam hiện nay có gần 50 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ trên 53% dân số (số liệu của Cục An toàn thông tin - Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2017)
Từ những con số thống kê trên có thể thấy, việc sử dụng Internet trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang ngày càng phổ biến và Internet
Trang 32Theo cuộc khảo sát gần đây nhất, hiện trên toàn thế giới có khoảng gần
515 website Phật giáo bằng tiếng Việt của các tự viện và cư sĩ được thống kê [89] Trong đó có những trang thông tin điện tử nổi tiếng như Thư viện Hoa Sen, Niệm Phật, Trang nhà Quảng Đức, Báo Giác Ngộ…
Thông qua những trang thông tin điện tử trên, mỗi ngày có rất nhiều thông tin giảng pháp, tin tức Phật sự, sách, bài viết được liên tục chuyển tải đến tín đồ Phật giáo khắp nơi trên toàn thế giới, đồng thời giúp giới thiệu đạo Phật đến độc giả quan tâm tìm hiểu về đạo Phật
Trong thời đại thông tin bùng nổ nhanh chóng như hiện nay, hệ thống các trang trang thông tin điện tử này đã góp phần quan trọng giúp cho đạo Phật bắt kịp với những tiến bộ mới của thời đại, đáp ứng được yêu cầu đưa những thông tin đến với cộng đồng
Một điều đặc biệt trong lịch sử hoằng dương Phật pháp phải kể đến, đó là
từ trước đến nay Phật giáo chưa bao giờ sử dụng đến bạo lực, quyền uy, sức mạnh kinh tế… để truyền đạo Vì vậy, truyền thông (theo nghĩa chung nhất) là một trong những phương tiện hoằng pháp thiện xảo của Phật giáo
Phật giáo với ưu thế về tư tưởng thậm thâm, vi diệu; về giá trị nhân sinh lợi lạc sở dĩ được mở rộng, phổ biến, trở thành tôn giáo thế giới là nhờ sử dụng những pháp phương tiện truyền bá đến với tất cả mọi người, trong đó,
truyền thông là một “phương tiện mềm”
Trang 3327
“Phương tiện mềm”, đó là hoạt động diễn giảng, dịch kinh, viết sách, xuất bản, báo chí… như trước đây chúng ta đã làm và giờ đây gia tăng thêm các hình thức mới như phát thanh truyền hình, trang thông tin điện tử
Hiện nay, với sự phát triển nhanh, mạnh như vũ bão của khoa học và công nghệ, nếu không kịp thời hiện đại hóa và đắc dụng “phương tiện mềm”, Phật giáo sẽ gặp khó khăn trong việc hoằng dương tán pháp cũng như sẽ bị lạc hậu trong sự phát triển chung của nhân loại
Hơn nữa, “Phật pháp bất ly thế gian giác”, nếu hoằng pháp viên không nhanh nhạy áp dụng công nghệ thông tin vào công cuộc hoằng pháp thì sẽ tự lùi lại trên bước đường hội nhập và hoằng hóa độ sinh
Nhận thức được điều này, từ những năm 2000, đã có nhiều trang thông tin điện tử về Phật giáo xuất hiện như giacngo.vn (2008), daophatngaynay.com (2000), phattuvietnam.net (2006), hoalinhthoai.com (2008)… Song những trang này chưa được chỉ đạo tập trung, thống nhất và đầu tư chuyên sâu nên không phát
huy được hết thế mạnh nội tại
Vì những lý do trên, Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc kỳ VII, ngày 24/11/2012 đã quyết định thành lập Ban Thông tin Truyền thông Sau khi hình thành Ban Thông tin Truyền thông (24/11/2012), trang thông tin điện
tử http://phatgiao.org.vn đã ra mắt độc giả vào ngày 04/04/2014
Theo đó, các chùa, các tự viện, các cư sĩ cũng cố gắng thành lập các trang thông tin điện tử, ấn tống kinh sách, băng đĩa… để truyền bá Phật pháp cho tăng ni và tín đồ Phật giáo
1.2.2.2.Khái quát chung về năm trang báo/thông tin điện tử Phật giáo
* Giác Ngộ (giacngo.vn)
Báo Giác Ngộ là cơ quan ngôn luận của Ban Trị sự GHPGVN TP.Hồ Chí Minh bao gồm tờ tuần báo, nguyệt san và Giác Ngộ Online Báo được thành lập vào ngày 1-1-1976 Riêng phiên bản báo điện tử ra mắt độc giả tại
Trang 34Sự ra đời của Giác Ngộ Online là bước phát triển mới của báo Giác Ngộ, hoạt động song song bên cạnh tờ tuần báo và nguyệt san Giác Ngộ
Giác Ngộ Online cập nhật nhanh các thông tin về chủ trương hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, phản ánh tinh thần Phật giáo qua các bài giáo lý, văn hóa, lịch sử Phật giáo Việt Nam trong hành trình dân tộc gắn với đạo Phật Đồng thời, Giác Ngộ online cũng giới thiệu các sinh hoạt của đời sống xã hội, góp phần với báo chí Việt Nam kết nối thông tin, xây dựng đời sống xã hội hiện đại lành mạnh
Giác Ngộ online với các mục như thời sự, xã hội, Phật học, văn hóa, triết học, văn học, lịch sử, sức khỏe là kênh thông tin, trao đổi, chia sẻ suy nghĩ và tình cảm của tăng, ni, tín đồ Phật giáo trong và ngoài nước về sự phát triển mọi mặt của Phật giáo Việt Nam
* Đạo Phật ngày nay (daophatngaynay.com)
Trang thông tin điện tử daophatngaynay.com của Chùa Giác Ngộ TP
Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 2000 Người chịu trách nhiệm nội dung
là Thượng tọa Thích Nhật Từ; quản trị trang thông tin điện tử là Đại đức Thích Ngộ Dũng Quan niệm của người chủ trương trang thông tin điện tử này xem trang thông tin điện tử chỉ là một “văn phòng”; còn lại giao tiếp với tín đồ Phật giáo bằng 12 tài khoản Facebook Ngoài ra, các vị ở chùa này còn thiết kế app (ứng dụng điện thoại có thể cài đặt trên smartphone) để cho mọi người có thể theo dõi tin tức Phật sự, thiện sự và những lời dạy của Đức Phật
Trang 3529
Tuy chỉ coi như một “văn phòng” nhưng trang thông tin điện tử Đạo Phật Ngày Nay cũng đăng tải rất nhiều nội dung và nằm trong top 10 các trang Phật giáo tiếng Việt trên thế giới
* Ban Thông tin Truyền thông Giáo hội Phật giáo Việt Nam
(phatgiao.org.vn)
Phatgiao.org.vn là trang tin điện tử chính thức của Ban Thông tin Truyền thông Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được Bộ Thông tin - Truyền thông cấp Giấy phép số 09/GP-TTĐT ngày 04/04/2014
Sau khi hình thành, Ban Thông tin Truyền thông Phật giáo Trung ương (24/11/2012), trang thông tin điện tử phatgiao.org.vn đã ra mắt độc giả vào ngày 04/04/2014 Trang thông tin điện tử do Hòa thượng Thích Gia Quang, Trưởng Ban Thông tin Truyền thông Giáo hội Phật giáo Việt Nam chịu trách nhiệm nội dung
Trang thông tin điện tử này đơn giản, ít mục và ít thông tin hơn so với trang thông tin điện tử của báo Giác Ngộ và Đạo Phật ngày nay Số lượng bài báo cũng rất khiêm tốn
* Phật tử Việt Nam (phattuvietnam.net)
Thành lập năm 2006 do Đại đức Thích Minh Thuận đã cùng với Tăng
Ni du học và một nhóm tín đồ Phật giáo Hà Nội thành lập và tổ chức biên tập trang thông tin điện tử này
Đây là trang thông tin điện tử có lượng bài đồ sộ với các mục rất thiết thực đối với tín đồ Phật giáo
Hiện trang thông tin điện tử vẫn do Đại đức Thích Minh Thuận làm Thường trực Ban biên tập, cư sĩ Nguyên Lạc Phùng Văn Nam làm Phó Thường trực Ban Biên tập phụ trách phía Nam
Đây là một trang thông tin điện tử do tu sĩ và cư sĩ điều hành nên có những nội dung rất hấp dẫn và đặt thẳng vấn đề chấn hưng Phật giáo Điểm mạnh nhất của trang thông tin điện tử là Diễn đàn với 1.181 bài nêu lên những
Trang 3630
mặt tốt và chưa tốt, từ việc hiểu sai giáo lý đạo Phật, tệ mê tín dị đoan, cúng bái đến việc cần phải Việt hóa kinh Phật, xử lý khủng hoảng truyền thông Phật giáo
* Hoa Linh Thoại (hoalinhthoai.com)
Trang thông tin điện tử Hoa Linh Thoại (http://www.hoalinhthoai.com) được hình thành từ năm 2008 nhân Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc được tổ chức tại Việt Nam Trang thông tin điện tử do nhóm sinh viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh và các cư sĩ Phật giáo thành lập và thực hiện
Trang thông tin điện tử hoạt động trên tinh thần hoà hợp, chia sẻ, trao đổi, học hỏi, giúp đỡ với nhau và thực hành những lời dạy của Đức Phật Hiện nay trang thông tin điện tử do Đại đức Thích Quảng Lợi phụ trách
Trang thông tin điện tử không thường xuyên cập nhật mới Ví dụ bài mới cập nhật gần đây nhất được đăng tải là bài “BTS GHPGVN huyện Xuân Lộc tổ chức đại hội Phật giáo khóa VI, nhiệm kỳ 2016 - 2021” được đăng vào ngày 02-07-2016 Từ đó đến nay,trang này không đăng thêm bài nào mới
1.3 Khủng hoảng truyền thông Phật giáo
Trong các câu chuyện về khủng hoảng truyền thông hiện nay, có lẽ khó tránh được phương diện mà Phật giáo bị đề cập một cách tiêu cực ở cách này hay cách khác Điều quan trọng vẫn là cách tiếp nhận và xử lý trước những sự việc trên để kịp thời có những phản hồi cho phù hợp Đây chính là nhiệm vụ của lực lượng làm truyền thông Phật giáo và hệ thống Giáo hội
Thông thường, trước các nội dung tiêu cực về Phật giáo được phản ánh trên phương tiện truyền thông, thì phương pháp “dĩ hòa vi quý” của nhà Phật vẫn
là im lặng cho qua với suy nghĩ “thanh giả tự thanh” Hoặc giả nếu có phản ứng thì cũng chậm chạp và thiếu đồng bộ, không chính thống và có phần lúng túng
Những phản ứng kiểu này, các chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông cho rằng không nên và có thể làm vấn đề tiếp tục bị thổi phồng và bị lái đi những
Trang 3731
hướng khác khó tiên liệu Đã có nhiều bài học trong thời gian qua minh chứng cho điều đó và những người làm công tác Phật sự đã phải trả giá quá đắt khi uy tín và hình ảnh của người xuất gia cũng như sinh hoạt Phật giáo giảm đi nhiều trong xã hội
Để giải quyết vấn đề trên cần có phương pháp hữu hiệu, dù Giáo hội đã có quy chế phát ngôn, có bộ phận tham mưu giúp việc về truyền thông, cần phải hình thành một đội ngũ phát ngôn chuẩn mực, có tầm hiểu biết, có trình độ và được đào tạo bài bản để có thể ứng biến trong những trường hợp nhất định
Song song đó, cần có những buổi gặp gỡ báo chí để chia sẻ thông tin cụ thể các vấn đề xảy ra một cách nhanh chóng, kịp thời và chính xác, đồng thời khẳng định những lộ trình điều chỉnh nếu có những biểu hiện thiếu chuẩn mực từ tăng, ni, tín đồ Phật giáo
Ngoài ra, các cấp Giáo hội cần xây dựng hệ thống thông tin truyền thông dưới nhiều hình thức khác nhau để đưa ra những cái tốt, cái hay điển hình của Phật giáo để xã hội thấy các biểu hiện xấu, chỉ là những cá thể ngoại lệ
Một trường hợp xử lý khủng hoảng kịp thời của Ban Thường trực Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP.HCM là một minh chứng cho những luận điểm trên Ngày 5-10-2016, tại chùa Bửu Quang - quận Thủ Đức (TP.HCM) đã xảy ra án mạng gây chấn động dư luận trong và ngoài nước
Nghi can là một thanh niên 21 tuổi có biểu hiện bệnh lý tâm thần đã từng được nhận vào chùa Bửu Quang, do một vị sư đồng hương tại chùa bảo
hộ Điều đáng nói là người thanh niên này mới vào “tu gieo duyên” chừng hơn 4 tháng, nhưng vì vụ việc xảy ra trong chùa, nên giới truyền thông và dư luận cho rằng đó là nhà sư, tu sĩ
Phản ứng nhằm định hướng dư luận, tránh những suy diễn cảm tính và chủ quan trong vụ việc nghiêm trọng đó, Ban Thường trực Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP.HCM đã có thông báo rất kịp thời sau 24 giờ kể từ lúc vụ việc
Trang 38“tín đồ bình thường”, “người mới tập tu - tu gieo duyên” không phải là tu sĩ, nhà sư chính thức
Qua đó thấy rằng, phát ngôn của Giáo hội trước, trong và sau mỗi vụ việc, sự kiện Phật giáo cũng như các vấn đề liên quan mang tính cấp thiết khác là vô cùng quan trọng và ý nghĩa, nó tác động và quyết định độ ảnh hưởng đến số đông
Nếu Giáo hội có những phát ngôn kịp thời, thẳng thắn và rõ ràng thì sẽ hướng dẫn được dư luận, giải quyết các cuộc khủng hoảng truyền thông, mà sự ảnh hưởng tiêu cực, xấu, lâu dài đến hình ảnh của Phật giáo là không thể tránh khỏi Đó là kinh nghiệm để xử lý khủng hoảng truyền thông Phật giáo hiện nay
1.4 Một số khái niệm
1.4.1 Truyền thông
Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng)
Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn
Trang 3933
trong thời gian và không gian
Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi
1.4.2 Truyền thông Phật giáo
Cách đây trên 2.600 năm, lúc thành đạo khoảng hơn một năm, khi giáo đoàn Tỳ-kheo đã có 60 vị A-la-hán, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, hãy đi
đi, đi khắp nơi, vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, vì lòng từ bi đối với đời,
vì hạnh phúc của trời và người; chớ đi hai người chung một đường với nhau Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng giáo pháp cao thượng” (Kinh Tương Ưng, Thiên I, trang 111) [37]
Từ đó, đạo Phật được lan truyền khắp nước Ấn Độ, các vua Ấn Độ thời Đức Phật và sau Ngài cũng góp công lớn trong việc phát triển đạo Phật, như Tần-bà-sa-la, A-xà-thế, A-dục, Ca-nị-sắc-ca… Đạo Phật được truyền ra nước ngoài, đến các vùng xa xôi, trở thành một trong những tôn giáo lớn trên thế giới [50]
Nếu dựa trên bản chất của truyền thông là “quá trình trao đổi thông tin” thì truyền thông Phật giáo đã xuất hiện ngay từ thời đức Phật và đoạn kinh trên cho chúng ta thấy chính đức Phật đã làm nhiệm vụ này rất xuất sắc
Như vậy, truyền thông Phật giáo là một kênh hoằng truyền giáo lý và giá trị của Phật giáo; chuyển tải các hoạt động Phật sự vào đời sống xã hội nhằm nêu cao giá trị từ bi, trí tuệ của Đạo Phật cũng như hình ảnh tốt đẹp của Tăng Ni, tín đồ Phật giáo, của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam
1.4.3 Khái niệm về mạng Internet
Mạng Internet là hệ thống thông tin toàn cầu phổ biến nhất hiện nay, mạng này có thể được truy nhập công cộng với nhiều mạng máy tính được liên kết với nhau Tuy đã có nhiều sự cải tiến, nhưng bản chất Internet vẫn sử dụng
Trang 4034
kiểu truyền thông tin theo dạng chuyển mạch gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP)
1.4.4 Khủng hoảng truyền thông
Khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào mang mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín của một tổ chức, cơ quan, đơn vị và /hoặc niềm tin của các bên liên quan Sự kiện có thể là một hành động vi phạm lòng tin, cáo buộc bởi các nhân viên hoặc những người khác, sai sót trong hoạt động, hoặc bất kỳ tác động tiêu cực nào khác hay nói một cách đơn giản,
Khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện nào có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị đối với công chúng của nó
1.4.5 Xử lý khủng hoảng truyền thông
Xử lý khủng hoảng truyền thông, theo một nghĩa là đó giống như dập một đám cháy và dùng cách thức nhất định để giúp giảm thiểu thiệt hại Vì vậy, phải có phương án phòng cháy và chữa cháy trước khi có vụ cháy và những người tham gia chữa cháy phải diễn tập nhiều lần để có được sự thuần thục Xử lý khủng hoảng truyền thông cũng cần phải như vậy
Khủng hoảng truyền thông là một khái niệm không rõ ràng, và chỉ những người có kinh nghiệm mới có thể phát hiện ra nguy cơ của khủng hoảng truyền thông lan rộng
Ngày nay, tốc độ của Internet chính là tác nhân dẫn đến sự lan rộng của khủng hoảng truyền thông Các báo chí online chạy tin và cập nhật tin từng giờ, từng phút để đưa thông tin “nóng hổi” đến độc giả Mạng xã hội là nơi mà thông tin lan tỏa cực nhanh và không kiểm soát được cường độ và hướng lan tỏa