Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Luậ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THẠCH VANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG HOÀ GIẢI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_
NGUYỄN THẠCH VANG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG HOÀ GIẢI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Đặng Vũ Huân
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thạch Vang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀ GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 7 1.1 Khái quát về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải 7 1.2 Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã 17 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG HOÀ GIẢI CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TẠI HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24 2.1 Thực trạng quy định của luật đất đai năm 2013 về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã 24 2.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã tại huyện thanh oai, thành phố Hà Nội 33 Chương 3 MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG HOÀ GIẢI CỦA UBND CẤP XÃ 56 3.1 Một số yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã 56 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp đất đai là hiện tượng thường xảy ra trong đời sống xã hội với nhiều đặc điểm và xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Ở Việt Nam, khi kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường, đất đai được trả lại giá trị thực vốn
có của nó thì tình trạng tranh chấp đất đai phát sinh ngày càng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất, nó có thể gây nên hậu quả nặng nề, ảnh hưởng tới
sự phát triển kinh tế, sự ổn định chính trị, xã hội
Trong thời gian gần đây, tình trạng tranh chấp đất đai phát sinh diễn ra phổ biến hơn, ở hầu hết các địa phương, đặc biệt là các vùng ven đô thị, đáng chú ý có những tranh chấp phát sinh diễn ra gay gắt, kéo dài, nhiều xung đột đã trở thành “điểm nóng” gây mất ổn định an ninh, chính trị, xã hội Tính phức tạp của tranh chấp đất đai không chỉ xuất phát từ lợi ích kinh tế, từ nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ, mà có phần từ sự thiếu hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sự bất hợp lý và thiếu tính đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai Việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là vô cùng cần thiết, là công việc khó khăn, phức tạp nhưng lại là khâu yếu hơn trong công tác giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung
Hoà giải là một phương thức giải quyết cho một số trường hợp tranh chấp theo quy định của Luật Đất đai Hoà giải là quá trình tự nguyện khi các bên tranh chấp cùng thương lượng để đạt tới một giải pháp đồng thuận với sự gi p
đ của một người nhóm người trung gian và trung lập Hoà giải trở thành một
xu hướng được ưa chuộng trên thế giới như một cách giải quyết tranh chấp hiệu quả và thân thiện hơn so với khiếu kiện ở Tòa án
Các biện pháp hoà giải đã tồn tại từ rất lâu, có thể tìm được trong phong tục tập quán của nhiều cộng đồng trên thế giới Tuy hòa giải được coi là một giải pháp thay thế cho khiếu kiện ở Tòa án, các nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy
Trang 62
hòa giải tranh chấp đất đai ở Việt Nam có tỷ lệ thành công rất thấp Nguyên nhân
là do yếu k m trong hệ thống pháp luật, năng lực hòa giải của các chủ thể có trách nhiệm chưa cao, bản chất phức tạp của các vụ tranh chấp đất đai ở Việt Nam
Luật Đất đai năm 2013 có nhiều sửa đổi, bổ sung liên quan đến các quy định về biện pháp hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và đã đi vào cuộc sống, song việc áp dụng những quy định về hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai vẫn còn nhiều lúng túng nhất định Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã và kinh nghiệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng biện pháp hoà giải của chính quyền cấp xã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Với nhận
thức đó, nên tác giả đã lựa chọn vấn đề “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Luật Đất đai năm 2013 từ thực tiễn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, hiện nay tình trạng tranh chấp đất đai diễn ra khá gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trên cả nước và trở thành vấn đề được cả xã hội quan tâm Xuất phát từ nhu cầu thực tế về giải quyết tranh chấp đất đai, nhận thấy trong thời gian qua nhiều tác giả đã có công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai dưới các góc
độ khác nhau Cụ thể: Các công trình luận văn, bài viết chuyên đề như: “Thủ tục hòa giải ở cấp cơ sở đối với tranh chấp đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2003” của TS Nguyễn Minh Hằng, Tạp chí Kiểm sát, số 3 2008; Bài viết về “hòa giải tranh chấp đất đai” của tác giả Phạm Thái Quý đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11 2009; Bài viết “Vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” của tác giả Nguyễn Văn Hương đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, số 02 2012; Bài viết “Hòa giải tranh chấp đất đai theo Điều 135 Luật Đất đai và một số vấn đề đặt ra” của tác giả Mai Thị
T Oanh, Tạp chí Toà án nhân dân, số 21 2012 v.v
Trang 73
Đáng ch ý là có Báo cáo khảo sát nghiên cứu về “Hòa giải tranh chấp đất đai tại Việt Nam - Phân tích pháp luật hiện hành, các thực tiễn và khuyến nghị cho cải cách” của Viện Nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển
(PLD) vào năm 2012
Sau khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, đã có thêm một số công
trình nghiên cứu về vấn đề này như: Bài viết “Một số đi m mới về giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2013” của các tác giả PGS.TS
Nguyễn Quang Tuyến ThS Nguyễn Vĩnh Diện đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 9 2014; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Hảo về
“Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai” tại Khoa Luật Đại học Quốc gia năm 2014; Chuyên đề: Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai và hoà giải tranh chấp đất đai – PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến giảng tại Hội thảo tập huấn Hoà giải viên, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư tại Ph Yên và Sóc Trăng, năm 2015 (do Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp tổ chức); Hoà giải tranh chấp đất đai tại Việt Nam- Phân tích pháp luật hiện hành, các thực tiễn và khuyến nghị cho cải cách – do Quỹ Châu Á và Cơ quan phát triển quốc tế Australia (AusAID), Viện Nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển (PLD) phát hành, Hà Nội, tháng 10 năm 2013…
Ngoài ra, vấn đề này cũng được đề cập đến trong công trình nghiên cứu của nước ngoài như: Pryan A Garner (2004), Việc giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải, Black’s Law Dictionary, tái bản lần 8, NXB West, Thomson;
Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã giải quyết và tiếp cận ở nhiều khía cạnh và góc nhìn khác nhau về hoà giải nói chung và một số bài viết, công trình nghiên cứu đề cập một số khía cạnh về hoà giải tranh chấp đất đai
Từ kết quả của các công trình nghiên cứu trên sẽ là tư liệu tham khảo quý
giá để tác giả làm sâu sắc thêm đề tài “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Luật Đất đai năm 2013 từ thực tiễn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”, nhất là khi Luật Đất đai năm 2013 được ban
Trang 8Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm nghiên cứu để làm rõ các vấn
đề lý luận và thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Luật Đất đai năm 2013 ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, từ đó, đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về hoà giải tranh chấp đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp xã bao gồm:
+ Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải nói riêng
+ Các hình thức hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
+ Khái niệm, đặc điểm của giải quyết tranh chấp đấ đai bằng hoà giải của
Uỷ ban nhân dân cấp xã
+ Giá trị pháp lý của giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã
- Làm rõ thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp xã
Trang 95
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về giải tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Ủy ban nhân dân cấp
xã Các quy định của pháp luật đất đaà các quy định pháp luật có liên quan về hòa giải các tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành và qua thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này tại Ủy ban nhân dân cấp xã tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: Phương pháp tổng hợp, phân tích, khái quát hóa , trong đó, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các quy định của Luật hiện hành về phương thức giải quyết tranh chấp đất đai; phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2013; phương pháp lịch sử, trao đổi với chuyên gia cũng được tác giả sử dụng để làm sâu sắc hơn nội dung nghiên cứu của mình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, Luận văn là một tài liệu tổng hợp, phân tích các quy định
của pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của UBND cấp xã theo Luật Đất đai năm 2013, góp phần nhận diện và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai và bản chất cũng như tính ưu việt trong đời sống xã hội của biện pháp hoà giải trong việc giải quyết tranh chấp đất đai của chính quyền cấp xã
Trang 106
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về luật học cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai bằng
hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về giải quyết
tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Trang 117
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀ GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1 Khái quát về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai
1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là hiện tượng thường xảy ra trong đời sống xã hội ở các thời kỳ lịch sử khác nhau Tranh chấp đất đai phát sinh manh nha từ những bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác có quyền và nghĩa vụ hay lợi ích trong quá trình quản lý, sử dụng đất Trong bất kỳ xã hội nào, đất đai luôn có vai trò, vị trí quan trọng đối với đời sống con người, nó cũng góp phần vào sự phồn vinh của mỗi quốc gia Cùng với sự phát triển sản xuất và đời sống, nhu cầu sử dụng đất đai trở thành hiện tượng bình thường, phổ biến trong xã hội, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, khi mà đất đai được trả lại giá trị thực vốn có của nó Tranh chấp đất đai
là một thuật ngữ đã trở lên khá phổ biến trong đời sống xã hội Tuy nhiên, xét dưới góc độ học thuật thì tranh chấp đất đai là gì?
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp là những bất đồng, trái ngược nhau” [14, tr.808] Như vậy, theo ngôn ngữ học, tranh chấp được hiểu là những bất đồng trái ngược nhau giữa hai hoặc nhiều người trong quan hệ xã hội Trên thực tế, tranh chấp xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội với những loại hình rất phong ph , đa dạng (Ví dụ: Tranh chấp về lối đi, tranh chấp hợp đồng, tranh chấp tài sản thừa kế…)
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học thì: “Tranh chấp đất đai là những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai
về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai” [34, tr.74] Sổ
Trang 128
tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng cũng giải thích tương tự về thuật ngữ này, cụ thể: “Tranh chấp đất đai là những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai” [13.tr.383]
Theo Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai” [33.tr.455] Theo khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.”
Như vậy, x t về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu nước ta quan niệm tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác Ví dụ: Tranh chấp đất đai giữa ông A và ba anh chi em
là ông B bà C, ông D về thừa kế 500m2 đất thổ cư do cha mẹ mất để lại
1.1.1.2 Đặc đi m của tranh chấp đất đai
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự, nên tranh chấp đất đai có đặc trưng chung của tranh chấp dân sự Tuy nhiên, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm riêng khác với tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại… sự khác biệt đó thể hiện ở một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ th của quan hệ tranh chấp đất đai không phải là chủ sở
hữu đất đai Do tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta, đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất) sử dụng
ổn định, lâu dài hoặc công nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Vì vậy, người sử dụng đất chỉ có thể là chủ thể quản lý đất đai hoặc chủ thể sử dụng đất, chứ không phải là chủ sở hữu đất đai
Trang 139
Thứ hai, do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta
nên đối tượng của tranh chấp đất đai chỉ giới hạn trong phạm vi tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong quản lý, sử dụng đất đai Điều này có nghĩa là pháp luật
chỉ thừa nhận và giải quyết các tranh chấp về quản lý đất đai hoặc tranh chấp về
sử dụng đất Các tranh chấp về quyền sở hữu đất đai như tranh chấp về đòi lại đất trước đây đã hiến, tặng cho Nhà nước; tranh chấp về đòi lại đất mà Nhà nước
đã chia, cấp cho người nông dân trong cải cách ruộng đất; tranh chấp về đòi lại đất trước đây đã góp vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất để làm ăn tập thể hay hợp tác xã, tập đoàn sản xuất bị giải thể v.v sẽ không được thừa nhận và không xem
x t giải quyết
Thứ ba, theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, tranh chấp đất
đai bao gồm: (i) Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người sử dụng đất tuy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản
1, khoản 2 và khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 (gọi chung là giấy tờ hợp lệ về đất đai); (ii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người sử dụng đất không có giấy tờ hợp lệ về đất đai
X t về bản chất, tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người sử dụng đất tuy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ hợp lệ về đất đai thì đây là một dạng của tranh chấp dân sự Bởi lẽ, khoa học pháp lý nước ta quan niệm quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản (Quyền sử dụng đất
là một loại quyền dân sự vì: (i) Hộ gia đình, các cá nhân sử dụng đất là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự; (ii) Quan hệ đất đai là quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự; (iii) Người sử dụng đất có một số quyền năng mang tính định đoạt đối với quyền sử dụng đất như quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền cho thuê quyền sử dụng đất, quyền để thừa kế quyền
Trang 1410
sử dụng đất; quyền tặng cho quyền sử dụng đất Đây là một trong những loại quyền năng dân sự) Do đó, loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân
Đới với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người sử dụng đất không có giấy tờ hợp lệ về đất đai, thì đây là một dạng tranh chấp mang tính chất hành chính Bởi
lẽ, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một hoạt động quản lý nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Hơn nữa, việc xác định lý
do vì sao người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chưa có giấy tờ hợp lệ về đất đai thuộc thẩm quyền của các cơ quan quản lý đất đai Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện)
Thứ tư, trên thực tế, đất đai được sử dụng vào các mục đích khác nhau,
quan hệ đất đai liên quan đến lợi ích của nhiều đối tượng trong xã hội: Nhà
nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam Do đó, tranh chấp đất đai phát sinh không chỉ liên quan đến lợi ích của một bên mà còn liên quan đến lợi ích của nhiều bên Vì vậy, tranh chấp đất đai nếu không giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, kịp thời thì sẽ gia tăng phức tạp
Trong vài năm trở lại đây, xuất hiện ngày càng nhiều các vụ việc tranh chấp đông người, có tổ chức, k o dài và nếu bị kẻ xấu lợi dụng lôi k o, kích động, x i giục thì dễ trở thành “điểm nóng” tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Hơn nữa, do tính chất phức tạp của nguồn gốc sử dụng đất cũng như sự xáo trộn của quan hệ đất đai qua các thời kỳ nên tranh chấp đất đai là một trong những loại tranh chấp có tính chất gay gắt, phức tạp nhất Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp đất đai gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp; đặc biệt là tranh chấp đất tôn giáo, tranh chấp về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vv
Trang 1511
Thứ năm, quan hệ đất đai có liên quan đến những quan hệ xã hội khác
thuộc phạm vi điều chỉnh của một số đạo luật như: Bộ luật Dân sự, Luật Xây
dựng, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Kinh doanh bất động sản v.v Trên thực tế, tranh chấp đất đai xảy ra liên quan đến nhà ở, công trình xây dựng, cây cối và vật kiến tr c khác v.v… nên khi giải quyết tranh chấp đất đai cần phải
áp dụng các đạo luật khác có liên quan để xem x t, giải quyết
1.1.2 Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải
1.1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng thường xảy ra trong đời sống xã hội,
có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp do đó việc giải quyết tranh chấp đất đai vô cùng cần thiết Việc giải quyết các tranh chấp đất đai là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội Do vậy, việc đa dạng hoá các cơ chế pháp lý phù hợp nhằm giải quyết một cách mềm dẻo, có hiệu quả các trạnh chấp, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của Việt Nam là hết sức cần thiết, một trong những cơ chế đó là giải quyết tranh chấp đất đai thông qua phương thức hoà giải Để có thể làm sáng rõ về hoà giải tranh chấp đất đai thì cũng cần phải nghiên cứu để nhận diện được bản chất và nội hàm của khái niệm này
Theo đó, các kết quả nghiên cứu lý luận cho thấy, tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại khá phổ biến và xảy ra ở bất kỳ hình thái kinh tế -
xã hội nào Theo nghĩa rộng, tranh chấp đất đai là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền pháp lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc quản lý và sử dụng đất đai Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý
và sử dụng đất đai
Về bản chất của hoà giải, theo Từ điển tiếng Việt: “Hoà giải là việc người thứ ba đứng ra làm trung gian để thuyết phục các bên cùng đồng ý chấm dứt
Trang 1612
xung đột hoặc xích mích một cách ổn thoả” [tr.430] Khái niệm này đề cập đến hành động và mục đích của hoà giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như bản chất, nội dung và chủ thể hoà giải
Trong Từ điển Luật học của Black: “Hoà giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hoà giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa
họ Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hoà giải (bên trung lập)” [tr.139]
Từ điển Luật học của Pháp định nghĩa: “Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự gi p đ của người trung gian thứ ba (hoà giải viên) để
gi p đưa ra các đề nghị giải quyết một cách thân thiện” [tr.165]
Trong phạm vi của luận văn này, hoà giải tranh chấp đất đai được hiểu theo nghĩa hoà giải các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất Tuy nhiên,
từ việc nêu và phân tích những khái niệm trên về hoà giải, ta có thể khái quát được hoà giải về cơ bản có ba yếu tố:
(i) Phải có tranh chấp giữa hai bên;
(ii) Có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc nhượng bộ của mỗi bên;
(iii) Trong quá trình hoà giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập cho ý kiến tư vấn, đồng thời công nhận thủ tục hoà giải thành giữa các bên trong tranh chấp Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không được gọi là hoà giải mà là thương lượng giữa các bên
Như vậy, hoà giải các tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó, bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian trong việc gi p các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến quyền sử dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình
Trang 1713
1.1.2.2 Đặc đi m giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải
Bên cạnh các đặc điểm chung của hoà giải, hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai còn có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
Th nhất, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa
trên quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, mà còn
áp dụng phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, quy ước, luật tục của địa phương để vận động, thuyết phục các bên tranh chấp hoá giải bất đồng, mâu thuẫn về đất đai
Th hai, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai phải tiến hành
vận động, tuyên truyền, thuyết phục các bên một cách kiên trì, bền bỉ, liên tục và tốn nhiều thời gian, công sức của người hoà giải mới mong đạt được sự thành công Hơn nữa, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai muốn đạt hiệu quả thì không chỉ trông chờ vào các cơ quan công quyền mà phải khuyến khích, huy động sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của cộng đồng, các tổ chức quần ch ng ở cơ sở và các thiết chế tự quản của người dân ở cơ sở
Th ba, thực tế giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy, do tính chất phức
tạp, gay gắt của loại tranh chấp này, nên nếu tranh chấp đất đai không được giải quyết mau lẹ, nhanh chóng, dứt điểm ngay từ khi phát sinh bất đồng, mâu thuẫn thì việc giải quyết ngày càng khó khăn, phức tạp Vì vậy, việc hoà giải tranh chấp đất đai cần được thực hiện kịp thời và nhanh chóng Điều này đòi hỏi tổ chức, cá nhân thực hiện vai trò hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai phải luôn luôn chủ động sẵn sàng vào cuộc ngay từ khi nảy sinh các bất đồng, mâu thuẫn về đất đai trong nội bộ nhân dân
Th tư, do đất đai có tầm quan trọng đặc biệt đối với con người nên tranh
chấp đất đai tiềm ẩn nhiều hậu quả tiêu cực về chính trị, kinh tế và xã hội Vì vậy, việc hoà giải tranh chấp đất đai không chỉ là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội và của mỗi người sử dụng đất
Trang 1814
Th năm, người tiến hành hòa giải phải khách quan, công minh, đảm bảo
giải quyết tranh chấp một cách công bằng, không thiên vị, không áp đặt các bên đương sự trong việc hoà giải tranh chấp đất đai Các bên tự nguyện đưa ra các
cơ sở, dẫn chứng thực tiễn để chứng minh cho quyền và nghĩa vụ của mình, tự
do thảo luận, đề xuất giải pháp, thỏa thuận và chấp nhận ý kiến tư vấn giải quyết của bên thứ ba Người thứ ba - trung gian hoà giải chỉ đưa ra những lời giải thích, phân tích “điều hơn, lẽ thiệt” hoặc phân tích sự hợp lý, đưa ra lời tư vấn
để các bên đương sự suy nghĩ tự quyết định việc hoá giải những bất đồng, mâu thuẫn Người thứ ba - trung gian hoà giải không chỉ gi p các bên tranh chấp hóa giải mâu thuẫn mà còn góp phần nâng cao nhận thức tuân thủ pháp luật của người dân Người thứ ba - trung gian hoà giải tuyệt đối không đưa ra nhận định chủ quan hoặc đưa ra phán quyết “đ ng - sai” để áp đặt với các bên đương sự trong quá trình hoà giải
Th sáu, Người thứ ba - trung gian hoà giải nên giữ bí mật thông tin đời
tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Mọi hoạt động hoà giải đều nhằm xây dựng niềm tin, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau giúp cho các bên biết kiềm chế, nhường nhịn nhau nhằm đạt được thỏa thuận, đi đến hòa giải thành công
Th bảy, hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai cần xoá tan tâm lý
“thắng - thua” của các bên đương sự và thay vào đó là khuyến khích tinh thần
“đôi bên cùng có lợi” Trên thực tế do sự thiếu kiềm chế hoặc chỉ nhận thấy lợi ích trước mắt mà nảy sinh bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên và khi phát sinh do tâm lý sĩ diện, hiếu thắng mà các bên tranh chấp có thái độ căng thẳng, cố chấp Người hoà giải phải nắm bắt được tâm lý này của các bên đương sự để đưa ra những liệu pháp tâm lý nhằm gi p làm dịu sự căng thẳng, tính sĩ diện, ích kỷ hoặc tâm lý “thắng - thua”
Trang 1915
1.1.2.3 Các hình th c hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Hoà giải chỉ đặt ra đối với những bất đồng, tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật được hành thành trên sự bình đẳng, tự do, tự nguyện, cam kết, thoả thuận của các bên Do đó, chỉ có những quan hệ dân sự (chứ không phải quan hệ hình sự) mới là đối tượng được áp dụng phương thức hoà giải Theo quy định của pháp luật hiện hành, trên thực tế tồn tại hai hình thức hoà giải tranh chấp đất đai là hoà giải trong tố tụng tư pháp và hoà giải ngoài tố tụng tư pháp
Cụ thể:
- Hoà giải ngoài tố tụng tư pháp là hoà giải trung gian được các bên tiến
hành trước khi đưa vụ việc tranh chấp ra cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Trong lĩnh vực tranh chấp đất đai, loại hoà giải này bao gồm:
+ Hoà giải của Ủy ban nhân dân xã, phường,thị trấn: Đây là việc hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số
43 2014 NĐ-CP ngày 15 5 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai Đây là hình thức hoà giải mà luận văn tập trung nghiên cứu bởi hình thức hoà giải này được pháp luật hiện hành quy định là bắt buộc khi có tranh chấp đất đai xảy ra Tranh chấp mà không được tổ chức hoà giải tại
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và không được thể hiện bằng một biên bản không thành thì cơ quan hành chính nhà nước cấp trên hoặc cơ quan tố tụng tư pháp cũng sẽ từ chối việc tiếp nhận đơn hoặc thụ lý vụ việc để giải quyết
Bên cạnh đó, trên thực tế còn có các hình thức hoà giải khác tại cơ sở như: + Nhà nước khuyến khích các bên tự tổ chức hoà giải tại cơ sở: Là việc hoà giải được tổ chức ở xóm, thôn, ấp, tổ dân phố Đây là loại hình hoà giải tự nguyện theo Luật Hoà giải ở cơ sở để giải quyết tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn nhỏ, đơn giản trong nội bộ nhân dân về lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai Theo đó, hoà giải viên là người hướng dẫn, gi p đ các bên tranh chấp
Trang 2016
đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp theo quy định Cần phải nhận thức rằng, hoà giải cơ sở này đối với tranh chấp đất đai chỉ mang tính khuyến khích mà không yêu cầu bắt buộc Theo đó, các bên có thể tự tổ chức hoặc không tổ chức việc hoà giải này Quá trình hoà giải
cơ sở với sự tham gia của các hoà giải viên không cần thiết phải tuân thủ quy trình, thủ tục và thời hạn luật định Kết quả hoà giải không nhất thiết phải thể hiện bằng văn bản, có dấu xác nhận, các bên có thể ngầm công nhận kết quả hoà giải cơ sở để tự mỗi bên thực hiện hoặc hành xử đối với vụ việc của mình với những gì các bên đã lĩnh hội của hoà giải viên và của chính mình thể hiện tại buổi hoà giải cơ sở đó
+ Tự tổ chức hoà giải: Đây là hình thức hoà giải do các bên tự thương lượng tiến hành Do vậy, các bên có toàn quyền lựa chọn người đứng ra hoà giải, cách thức tiến hành, thời gian… theo sự thoả thuận của các bên Đây không phải là hình thức bắt buộc mà là sự tự nguyện của các bên cảm thấy cần thiết phải cùng nhau ngồi lại suy nghĩ, bàn bạc để đưa ra thỏa thuận cuối cùng Hoặc các bên có thể tự thoả thuận mời một chủ thể khác đứng ra làm trung gian chứng kiến, nêu lên các quan điểm cá nhân về vụ việc để các bên mở rộng sự hiểu biết, phân tích tốt hơn bản chất của sự việc để có những quyết định đ ng đắn nhất về
vụ việc của mình
- Hoà giải trong tố tụng tư pháp là hoà giải tiến hành tại Toà án nhân dân
khi cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên Theo đó, Toà án nhân dân trong quá trình tiến hành tố tụng phải thực hiện nguyên tắc hoà giải
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự: “Toà án có trách nhiện tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” (Điều 10)
Trên thực tế, dù không được quy định cụ thể trong Luật Đất đai hay trong Luật Hoà giải cơ sở Song theo quan sát của cá nhân, tác giả nhận thấy, hoà giải
Trang 2117
còn được thực hiện tại cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; đó là Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp tranh chấp đất đai mà người sử dụng đất không có bất kỳ giấy tờ gì
về đất, đã tổ chức hoà giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn không thành và đương sự chọn hệ thống Ủy ban nhân dân để giải quyết tranh chấp mà không phải là lựa chọn Toà án
Tranh chấp đất đai là loại hình tranh chấp đa dạng về tính chất và mục đích, phong ph về loại hình và có xu hướng ngày càng phức tạp Nếu việc giải quyết tranh chấp không được giải quyết triệt để, dứt điểm, công bằng và khách quan, ch ng có tác động và ảnh hưởng lớn không chỉ đối với các bên tranh chấp
mà còn ảnh hưởng tới kinh tế, chính trị, xã hội, tới Nhà nước với vị thế là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai
Nhận thấy sự tác động và ảnh hưởng đó, pháp luật đất đai coi đây là phương thức giải quyết có ý nghĩa lớn về kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội Do vậy, pháp luật đất đai và pháp luật tố tụng dân sự hiện hành đều ghi nhận hoà giải là phương thức và là yêu cầu bắt buộc đối với cả trong tố tụng và ngoài tố tụng và coi đây là phương thức được ưu tiên đầu tiên trong tiến hành giải quyết tranh chấp đất đai
1.2 Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt và hiệu quả nhằm gi p các bên tranh chấp tìm ra một giải pháp thích hợp để tháo g mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ pháp luật đất đai trên cơ sở tự nguyện, tự thoả thuận Hiện tại, pháp luật đất đai có quy định hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai cơ bản là: (i) Hòa giải và (ii) Giải quyết tranh chấp đất đai thông qua việc nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân
Trang 2218
cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Tuy nhiên, có thể thấy vai trò của việc hòa giải nếu thực hiện thành công có ý nghĩa vô cùng lớn đối với vụ việc tranh chấp, việc hòa giải thành công gi p các bên tiết kiệm thời gian cũng như chi phí thay
vì phải tiếp tục hình thức thứ hai khi mà hòa giải không thành Bên cạnh đó, quá trình hòa giài còn thể hiện được sự thiện chí, bảo đảm tình cảm, mối quan hệ giữa các bên vẫn còn gắn bó, thân thiết như trước khi có tranh chấp xảy ra
Theo quy định pháp luật hiện hành thì hòa giải trong tranh chấp đất đai phải được thực hiện theo các nguyên tắc:
- Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải
quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở Mặc dù trong Luật Đất đai năm 2013 quy định cụm từ “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai hòa giải” Tuy nhiên, về nguyên tắc hòa giải được xem là cơ sở tiền để để tiếp tục thực hiện bước thứ hai là giải quyết tranh chấp đất đai thông qua việc nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
- Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải
- Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai
- Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất tranh chấp
- Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến
Trang 2319
Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác
Như vậy, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân xã sẽ phải tiến hành hòa giải tranh chấp nếu như hòa giải không thành, Ủy ban nhân dân xã sẽ hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết
Mặc dù hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân cấp xã được Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Điều 135 và Điều 202, nhưng chưa đưa ra giải thích cụ thể về khái niệm này Tuy nhiên, trên cơ sở khái niệm chung về hoà giải tranh chấp đất đai, cũng như các nguyên tắc, thủ tục của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, ch ng ta có thể đưa ra cách hiểu khái niệm hoà giải tranh chấp đất đai tại Uỷ ban nhân dân cấp xã như sau:
“Hoà giải tranh chất đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã là một phương
th c giải quyết tranh chấp đất đai được pháp luật thừa nhận và quy định, theo
đó, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đóng vai trò là bên th ba trung lập đ giúp đỡ các bên tranh chấp tự nguyện cùng thoả thuận giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ tranh chấp đất đai phù hợp với quy định của pháp luật và truyền thống đạo đ c xã hội”
1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Hoà giải tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân cấp xã bên cạnh các đặc điểm chung của hoà giải, nó còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau:
Th nhất, việc hoà giải trong giải quyết tranh chất đất đai do Ủy ban nhân
dân cấp xã thực hiện trên cơ sở phối kết hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức thành viên của Mặt trận và một số cá nhân khác ở cơ sở để thực hiện một cách hiệu quả
Trang 2420
Th hai, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai do Uỷ ban nhân
dân cấp xã thực hiện dựa trên việc kết hợp giữa các quy định của pháp luật đất đai với truyền thống đạo đức xã hội, phong tục tập quán của địa phương để vận động, thuyết phục các bên tranh chấp tự nguyện thoả thuận giải quyết tranh chấp
Th ba, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai do Uỷ ban nhân dân
cấp xã, phường, thị trấn thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước Hơn nữa, đây
là một phương thức giải quyết tranh chấp do cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở
cơ sở thực hiện nên dường như việc hoà giải tranh chấp đất đai có chất lượng và tính thuyết phục cao hơn so với việc các bên tranh chấp tự hoà giải
Th tư, hoà giải tranh chấp đất đai do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn thực hiện là phương thức hoà giải ngoài tố tụng Nó được thực hiện trước khi các bên đương sự khởi kiện ra Toà án nhân dân để giải quyết vụ việc tranh chấp Trường hợp hoà giải trong giải quyết tranh chấp đất đai do Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện hoà giải thành, nó không chỉ gi p giảm áp lực, thời gian, công sức, tiền bạc cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc… cho các bên tranh chấp trong việc theo đuổi khiếu kiện về giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.3 Giá trị pháp lý của giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã
Khi các bên có tranh chấp về đất đai, nhiều trường hợp các mâu thuẫn đất đai đã được giải quyết nhờ việc hòa giải tại địa phương Bằng cách thức để các bên có mâu thuẫn gặp g và nhận được sự gi p đ của thành viên Hội đồng hoà giải, là những người có hiểu biết pháp luật hay có các thông tin liên quan đến các phần đất có tranh chấp, các bên trong vụ tranh chấp có thể sẽ hiểu hơn về quyền lợi của mình và sẽ cùng dàn xếp hay thương lượng để giải quyết vụ việc Qua thời gian điều luật được triển khai áp dụng vào thực tiễn, không ai có thể phủ nhận ý nghĩa xã hội của việc hòa giải này bởi nó có tác động lớn đến quá trình giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ở cấp cơ sở, góp phần làm
Trang 2521
giảm gánh nặng cho tòa án cũng như Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Tuy nhiên, tranh chấp đất đai được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp phường, xã, thị trấn trong trường hợp hòa giải thành vấn đề hiệu lực pháp lý của biên bản hòa giải thành tranh chấp đất đai tại cơ sở cũng là một vấn đề còn bỏ ngỏ trong luật
Từ thực tiễn thực hiện hoạt động hoà giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nhiều năm qua cho thấy, do chưa có văn bản hướng dẫn, vì vậy dẫn đến nhiều cách giải quyết khác nhau đối với các trường hợp hòa giải thành tại cấp cơ sở Cụ thể là:
Có quan điểm cho rằng: “các thỏa thuận các bên đạt được trong quá trình hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của các bên trong tranh chấp có giá trị bắt buộc các bên phải tuân thủ” Khi Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tiến hành hòa giải thành thì các thỏa thuận đó sẽ phát sinh hiệu lực và có giá trị ràng buộc các bên phải thực hiện Điều này đồng nghĩa với việc các bên không được quyền khởi kiện ra tòa nữa Trường hợp các bên đạt được hòa giải thành song chưa thi hành thỏa thuận hay thực hiện 1 phần thỏa thuận thì Tòa án thụ lý giải quyết song khi giải quyết phải lưu ý, cân nhắc đến kết quả đã thỏa thuận
Tuy nhiên, có ý kiến khác lại cho rằng, mặc dù các bên đã thỏa thuận và được Ủy ban nhân dẫn xã, phường, thị trấn ghi nhận thì các bên sau đó vẫn có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận
về ranh giới đất tranh chấp, biên bản về sự thỏa thuận do cấp xã, phường, thị trấn được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền lấy làm cơ sở ra quyết định cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các bên không có quyền khởi kiện ra Tòa
án, nếu các bên nộp đơn thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
Từ thực tiễn cho thấy, quy định Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 chỉ đưa
ra vấn đề hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã với tính chất là một thủ tục tiền tố tụng nhằm tạo điều kiện cho các bên đạt được thỏa thuận mà không coi thỏa thuận này là thủ tục cuối cùng Mặc khác, cũng không có quy định nào của pháp luật xác định giá trị pháp lý ràng buộc về hiệu lực pháp lý của biên bản hòa giải thành tại cấp cơ sở Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có thể thực hiện việc hòa giải
Trang 2622
như một thủ tục tiền tố tụng mà không thể thay thế việc giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án Cần thiết phải hiểu thống nhất rằng, khi các bên đương sự đã thực hiện thủ tục hòa giải tại cấp chính quyền cơ sở, trong mọi trường hợp khi không đạt được thỏa thuận, thì các bên đều có thể được quyền khởi kiện tại Tòa
án để yêu cầu giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
Do vậy, việc các bên có thỏa thuận tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không thể làm mất quyền khởi kiện ra tòa án của các bên Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự phụ thuộc vào việc xem x t và đánh giá các chứng cứ do các bên xuất trình và các chứng cứ khác được thu thập theo trình tự do luật định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai và công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự theo một trình tự, thủ tục, do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định để đảm bảo sự thỏa thuận đó có hiệu lực thi hành
Như vậy, biên bản hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp đất đai do Ủy ban nhân dân xã thực hiện chỉ là một trong những văn bản tiền tố tụng để giải quyết bước đầu các tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp, các bên vẫn có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện khởi kiện ra Tòa án nếu
một trong các bên có yêu cầu
Kết luận Chương 1
Giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải được xem là một trong những phương pháp hữu hiệu để giảm thiểu và ngăn chặn các tranh chấp đất đai phức tạp, k p dài phát sinh Vì vậy, trên cơ sở quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải, trong những năm qua, phương thức hoà giải tranh chấp đất đai đã đạt được những kết quả đáng khích lệ và ngày càng được
ch trọng
Thông qua việc nghiên cứu có hệ thống các khái niệm về tranh chấp đất đai và pháp luật về hoà giải tranh chấp đất đai, luận văn đã xây dựng một cách
Trang 27Với những kết quả nghiên cứu về nội dung này gi p cho tác giả luận văn
có góc nhìn xuyên suốt và sâu sắc hơn vấn đề nghiên cứu Nội dung này sẽ là tiền đề cần thiết để tìm hiểu, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện Thanh Oai (ở Chương 2), đồng thời là cơ sở quan trọng để luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã (ở Chương 3)
Trang 2824
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG HOÀ GIẢI CỦA UỶ BAN
NHÂN DÂN CẤP XÃ TẠI HUYỆN THANH OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng quy định của luật đất đai năm 2013 về giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã
2.1.1 Nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải
Như phần trên đã đề cập, tranh chấp đất đai thường mang tính gay gắt, phức tạp, do đó việc giải quyết tranh chấp đất đai không hề đơn giản Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng các phương pháp nói chung và bằng phương pháp hoà giải nói riêng cần tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản định hướng xuyên suốt trong quá trình giải quyết đảm bảo cho công tác này thực hiện công bằng, khách quan và đ ng pháp luật Những nguyên tắc này bao gồm:
Một là, giải quyết tranh chấp đất đai cần quán triệt nguyên tắc đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân có nghĩa là đất đai không thuộc sở hữu của riêng một tổ chức, cá nhân nào Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân chỉ là chủ thể của quyền sử dụng đất Quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai là quyền sở hữu duy nhất, tuyệt đối Việc sử dụng đất của các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình
và cá nhân phải đảm bảo đ ng quy hoạch, kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi trường Đây là nguyên tắc pháp lý xuyên suốt trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, phản ánh đặc trưng của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai Do đó khi giải quyết tranh chấp đất đai, các cơ quan có thẩm quyền phải nghiêm chỉnh chấp hành nguyên tắc này và coi đó là cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai
Trang 2925
Hai là, đảm bảo sự độc lập của người tiến hành hoà giải Một trong
những yếu tố bảo đảm sự thành công hiệu quả của việc hoà giải tranh chấp đất đai là sự công bằng của người tiến hành hoà giải Tính độc lập của người tiến hành hoà giải cho ph p họ nhìn tranh chấp dưới con mắt khách quan để đưa ra những lời khuyên, giải pháp đ ng đắn cho các bên tranh chấp Để việc thực hiện các quy định về hoà giải tranh chấp đất đai có được tầm ảnh hưởng trên thực tế, nguyên tắc bảo đảm sự độc lập của người tiến hành hoà giải phải được đảm bảo
và được ghi nhận như một nguyên tắc cơ bản khi tiến hành hoà giải Sự độc lập của người tiến hành hoà giải là điều kiện cần thiết để các bên trong tranh chấp tiến gần nhau hơn, hoá giải mâu thuẫn và phát huy tính hiệu quả và ý nghĩa của hoà giải Điều này cũng gi p tăng niềm tin đối với các quy định về hoà giải từ
đó khiến các quy định này được áp dụng trên thực tế Đây có thể nói là một trong những yếu tố cơ bản nhất làm tăng ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong xã hội, là cơ sở cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả
Ba là, khách quan, công minh, có lý, có tình, giữ bí mật thông tin đời tư
của các bên tranh chấp, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Nguyên tắc này đòi
hỏi khi tiến hành hoà giải phải khách quan, công minh, vô tư, đảm bảo giải quyết một cách công bằng, bình đẳng, quan tâm đến lợi ích của các bên tranh chấp, không thiên vị lợi ích bên này, bỏ qua lợi ích bên kia, nhằm xây dựng niềm tin, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, gi p cho các bên kiềm chế, nhường nhịn
nhau nhằm đạt được thoả thuận, đi đến hoà giải thành
Bốn là, việc hòa giải phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, đạo đ c xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; tôn trọng sự tự nguyện của các bên; khách quan, công minh, có lý, có
tình; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng
Trang 3026
Năm là, đề cao vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ ch c thành
viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác tham gia giải
quyết tranh chấp đất đai
Sáu là, tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các
bên đương sự trong việc hoà giải tranh chấp đất đai Tự do thể hiện ý chí là điều kiện tiên quyết hình thành nên phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải Xoá tan tâm lý “thắng- thua” của các bên đương sự Có như vậy mới mong các bất đồng, mâu thuẫn được giải quyết
2.1.2 Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong thực hiện giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải
Ủy ban nhân dân xã thực hiện giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải khi mà trường hợp tranh chấp đã tiến hành hoà giải ở cơ sở mà không đạt được
sự thống nhất thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã nơi có đất tranh chấp để đề nghị hoà giải
Phương thức hoà giải tranh chấp đất đai này được quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 Theo đó, tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp đất đai để hoà giải Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hoà giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác
Thủ tục hoà giải tranh chấp đất đai tại Uỷ ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai Việc hoà giải phải được lập thành biên bản có chức ký của các bên và có xác nhận hoà giải thành hoặc hoà giải không thành của Uỷ ban nhân dân cấp xã Biên bản hoà giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp Đối với trường hợp hoà giải thành
mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân
Trang 3127
cấp xã gửi biên bản hoà giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, công đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai được quy định cụ thể hơn trong Điều 88 Nghị định số
43 2014 NĐ-CP, theo đó, khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
(i) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;
(ii) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng
tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn
Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ
nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
(iii) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 3228
Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi
là việc hòa giải không thành
2.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của
Uỷ ban nhân dân cấp xã
Bước 1: Người đề nghị nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại
Ủy ban nhân dân cấp xã
Theo khoản 2 Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà
các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải
Như vậy, trước khi tiến hành thụ lý đơn để hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã, có bắt buộc phải thông qua hòa giải ở tổ hòa giải không (thôn, tổ dân phố) Câu trả lời là không, bởi vì, Luật Đất đai không bắt buộc, mặt khác, tại Điều 17 của Luật hòa giải ở cơ sở, các bên có quyền đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải Thẩm quyền hòa giải là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp Ví dụ: Vợ chồng ông A ở xã Kim An huyện Thanh Oai tranh chấp đất với vợ chồng ông B ở xã Dân Hòa huyện Thanh Oai Đất tranh chấp lại ở xã Thanh Văn- huyện Thanh Oai, thì thẩm quyền hòa giải là xã Thanh Văn- Huyện Thanh Oai…
Về nội dung đơn yêu cầu phải xác định đầy đủ tư cách nguyên đơn, bị đơn
và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ví dụ: ông A cho rằng ông B đã chiếm đất của mình, nếu ông A muốn yêu cầu UBND xã hòa giải thì ông A và
vợ ông A là đồng nguyên đơn, ông B và vợ ông B là đồng bị đơn
Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi
là việc hòa giải không thành
Như vậy, trong trường hợp một trong các bên cố tình vắng mặt, UBND cấp xã phải lưu lại biên nhận hoặc giấy tờ thể hiện đã tống đạt giấy mời hòa
Trang 3329
giải 2 lần, kèm theo là 2 lần lập biên bản về việc không tổ chức hòa giải được (hay hòa giải không thành), có chữ ký của nguyên đơn với lý do bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng
Hiện nay, kết quả hòa giải thành không có chế tài bắt buộc thực hiện nên
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, khoản 4 Điều 88 Nghị định
số 43 ngày 15/5/2014 quy định: Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo
Bước 2: Thụ lý đơn và thu thập thông tin
- Cán bộ thụ lý hồ sơ hòa giải phải xem x t nội dung đơn và trong thời hạn quy định kể từ ngày nhận được đơn tranh chấp, phải thông báo cho các bên tranh chấp biết; đồng thời xác định ngày, giờ mời các bên tranh chấp đến để tiến hành hòa giải
- Trong quá trình chuẩn bị hòa giải, cán bộ thụ lý hồ sơ hòa giải phải thực hiện thu thập thông tin, tiếp x c với các bên tranh chấp để tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp (ghi biên bản lấy lời khai), thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất; đồng thời thẩm tra, xác minh nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất
Bước 3: Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai đ thực hiện hòa giải
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp không ban hành quyết định giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, nhưng có trách nhiệm tổ chức hòa giải
Về thành phần tham gia hòa giải, theo quy định của Nghị định số 43
NĐ-CP ngày 15/5/2014, Hội đồng hoà giải cấp xã, bao gồm:
- Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Hội đồng;
Trang 3430
- Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn;
- Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; Trưởng thôn, ấp… đối với khu vực nông thôn;
- Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết
rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó;
- Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn
Tùy từng đối tượng tranh chấp và nội dung tranh chấp, có thể mời thêm các thành phần như: Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bí thư Đoàn Thanh niên…
- Về nguyên đơn, bị đơn:
+ Nếu đất xác định là cấp cho cá nhân (ông, bà) tạm xác định là của chung
vợ chồng thì phải mời hết các hai vợ chồng tham dự
+ Nếu đất xác định là cấp cho hộ gia đình (đối với trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì phải mời hết tất cả thành viên của hộ gia đình sử dụng đất (từ đủ 15 tuổi trở lên) tham dự
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc là người khi hòa giải vụ tranh chấp có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Ví dụ: Ông A đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở Ông A không trực tiếp làm ruộng mà giao cho con làm, trong gia đình còn có các thành viên khác nữa Khi phát sinh vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông A và ông B hàng xóm thì xác định con ông A – người trực tiếp đang sử dụng đất là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các thành viên (đã trưởng thành) trong gia đình ông A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khi tổ chức hòa giải phải mời
cả những người này
- Trường hợp ủy quyền hòa giải:
Trong trường hợp không tham dự được, thì sau khi đã gửi đơn yêu cầu hòa giải, những người không có điều kiện trực tiếp tham dự hòa giải có thể ủy quyền
Trang 3531
cho người khác (vợ hoặc chồng hoặc con, anh chị em) tham dự hòa giải Việc ủy quyền này phải bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực theo quy định
Bước 4: Thực hiện hòa giải
- Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành
- Khuyến khích các bên tranh chấp tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng hòa giải nhằm hạn chế khiếu nại phát sinh từ cơ sở
- Việc hòa giải phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; tôn trọng sự tự nguyện của các bên; khách quan, công minh, có lý, có tình; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng; kịp thời chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra
Bước 5: Lập biên bản hòa giải
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung:
+ Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải;
+ Thành phần tham dự hòa giải;
+ Tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu);
+ Ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai;
+ Những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận Lưu ý phần này ghi cụ thể hoặc tương đối về diện tích đất tranh chấp, thửa đất tranh chấp, vị trí thửa đất tranh chấp, địa chỉ thửa đất tranh chấp;
Trang 3632
Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem x t giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành
Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã (Lưu ý biên bản gồm từ 2 tờ trở lên phải đóng giáp lai)
Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp
+ Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình
Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất
và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Về thời hạn hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã: Được thực hiện trong
thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai
- Những trường hợp cần chú ý trong quá trình tổ ch c hòa giải tranh chấp đất đai:
Trang 3733
Trong thời gian qua, rất nhiều vụ việc hòa giải k o dài, hòa giải có sai sót
do vi phạm các quy định mà Tòa án phải trả về để Ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải lại nên đã gây rất nhiều phiền phức cho đối tượng, đó là:
- Thành phần tham dự không đầy đủ như: Vắng mặt đại diện Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan tham dự không đầy đủ, như: Chỉ có chồng dự mà không có vợ dự, trong khi đó lại không có giấy ủy quyền; tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
mà các thành viên trong hàng thừa kế tham gia không đầy đủ;
- Thành phần tham dự không đ ng như: Đất do cha mẹ đứng tên, con đi thay;
- Hòa giải sai đối tượng tranh chấp: Tranh chấp thửa đất này, trong biên bản thể hiện hòa giải thửa đất khác;
- Cha mẹ là đối tượng tham gia hòa giải không biết ký tên, con ký thay; Tóm lại, để hạn chế được những sai sót người thực hiện hòa giải phải ch
ý về: Thành phần hòa giải, thời gian hòa giải, đối tượng hòa giải, thể thức biên bản hòa giải (mẫu biên bản; hình thức, nội dung biên bản; ký tên hoặc điểm chỉ; đóng dấu…)
2.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai bằng hoà giải của uỷ ban nhân dân cấp xã tại huyện thanh oai, thành phố Hà Nội
2.2.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thanh Oai
2.2.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thanh Oai là huyện đồng bằng thuần nông, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thành phố Hà Nội Phía Bắc và phía Tây huyện giáp quận Hà Đông; phía Tây giáp huyện Chương Mỹ; phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa; phía Đông Nam giáp huyện Ph Xuyên; phía Đông giáp huyện Thường Tín; phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Trì; gồm 21 đơn vị hành chính là thị trấn Kim Bài và 20 xã, với diện tích tự nhiên là 123,85 km2, dân số là 190.076 người theo thống kê năm
2015 Huyện có tuyến giao thông huyết mạch là quốc lộ 21B, k o dài từ Hà Đông đi chùa Hương sang tỉnh Hà Nam Quốc lộ 6 qua rìa phía Tây Bắc huyện;
Trang 38xã hội nhất là chương trình dồn điền đổi thửa, xây dựng nông thôn mới song có chênh lệch thu chi ngân sách lớn
Xây dựng cơ bản giai đoạn 2011 – 2015 bằng các nguồn vốn huy động, đã thực hiện 407 dự án đầu tư ở các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, công t nh ph c lợi công cộng và xây dựng nông thôn mới với tổng số vốn đầu tư 1.502,954 tỷ đồng trong đó thành phố đầu tư 27 dự án với 276,34 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp đầu tư gần 200 tỷ đồng Huyện đã đưa vào sử dụng 350 công trình, 100% đường liên xã, đường trục xã và hơn 80% đường thôn xóm được bê tông hóa; 75% cac trường mầm non , tiểu học, trung học cơ sở được xây dựng kiên cố và đạt chuẩn theo tiêu chí Trường chuẩn Quốc gia; trạm y tế, nhà văn hóa các xã, thị trấn, sân vận động, bể bơi của huyện đã được xây dựng khang trang và đưa vào sử dụng Huyện đã xây dựng quy hoạch các xã, thị trấn giai đoạn 2012 – 2015, quy hoạch phát triển hệ thống giao thông nông thôn, quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đến năm 2015 đã có 5 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới
Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010 – 2015 đạt 9.714 tỷ đồng năm Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và phát triển nông nghiệp chất lượng, hiệu
Trang 3935
quả, bền vững: năm 2015, công nghiệp và xây dựng 53,05% (chỉ tiêu 46%); thương mại và dịch vụ 29,6% (chỉ tiêu 35%); nông nghiệp – thủy sản 17,35% (chỉ tiêu 19%) Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 26 triệu đồng người năm, vượt chỉ tiêu Đại hội XXI đề ra (25 triệu đồng người năm)
Cư tr trên một địa bàn có bề dầy truyền thống văn hóa ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, ngoài những kiến tạo đình, chùa, miếu ở hầu hết các làng xã thì nơi đây còn là vùng đất giàu truyền thống hiếu học, là nơi sinh của nhiều nhân tài của đất nước Cuốn “Người Hà Tây trong làng khoa bảng” có ghi toàn tỉnh có 335 vị đỗ Tiến sỹ thì Thanh Oai có 50 vị; toàn tỉnh có 5 vị trạng nguyên thì Thanh Oai có đến 3 vị Thời Hậu Lê có Nguyễn Trực (1417-1474) người làng Bối Khê (xã Tam Hưng) đỗ trạng nguyên khi mới 25 tuổi.Năm 1457, ông được vua Lê Nhân Tông cử đi sứ Trung Quốc.Ở đây có kỳ thi đình, ông đăng ký
dự thi và đỗ Trạng nguyên Nguyễn Trực được vua Minh phong “Lư ng quốc Trạng nguyên” Ở làng Canh Hoạch (còn gọi là làng Vác – xã Dân Hòa) có một gia đình họ Nguyễn có cha, con, cháu đều đỗ Tiến sỹ hoặc Trạng nguyên
2.2.1.3 Về quản lý tài nguyên đất đai
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể cùng với việc thực hiện Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, công tác quản lý tài nguyên nói chung, quản lý đất đai trên địa bàn Huyện nói riêng đã dần đi vào nền nếp; hoàn thiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính; cơ bản hoàn thành việc tổ chức cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với các loại đất; công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện theo
đ ng quy định, từ đó xác định diện tích các loại đất để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Huyện, tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai đã giảm đi đáng kể
Phát huy những kết quả đã đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Thanh Oai đang ra sức thi đua phấn đấu quyết tâm thực hiện thắng lợi
Trang 4036
Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XXII Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân huyện Thanh Oai đoàn kết một lòng thực hiện thắng lợi chương trình Nông thôn mới, thực hiện thành cộng nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đưa huyện Thanh Oai trở thành huyện: Năng động về kinh tế, phát triển văn hoá xã hội, ổn định an ninh, chính trị, vững mạnh về quốc phòng, góp phần cùng với Thủ đô Hà Nội và cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Bên cạnh những thành quả, thuận lợi có được từ những yếu tố trên thì hiện nay Huyện Thanh Oai cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế Cụ thể: Do tác động của mặt trái của cơ chế thị trường, mật độ dân cư tăng nhanh và tốc độ đô thị hoá phát triển mạnh mẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, bất ổn về an ninh trật tự- xã hội gia tăng và có tính phức tạp nên Trong những năm qua trên địa bàn huyện còn phát sinh nhiều vấn
đề tiềm ẩn nguy cơ bất ổn về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội Đặc biệt là
kể đến các mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp đất đai thường xuyên xảy ra và có xu hướng gia tăng nhanh song song với sự gia tăng về giá trị quyền sử dụng đất trên địa bàn Huyện Thực trạng này phần nào phản ảnh sự yếu k m về trình độ chuyên môn cũng như sự thiếu hiểu biết pháp luật của cán bộ cơ sở, của nhân dân trên địa bàn huyện chưa đồng đều
Do vậy, để giải quyết triệt để các vấn đề trên chính quyền huyện Thanh Oai đã triển khai đồng bộ và có hiệu quả nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực công tác Trong đó công tác tư pháp cũng được ch trọng và có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp nói riêng và cải cách hành chính của huyện nói ch ng Đặc biệt công tác tổ chức và hoạt động hoà giải, chất lượng hoà giải tại Uỷ ban nhân dân cấp xã được coi trọng và có hiệu quả đã góp phần làm giảm đáng kể mâu thuẫn nội bộ nhân dân góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa