1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

YẾU tố mật TRONG NGHI lễ PHẬT GIÁO ở NAM bộ HIỆN NAY

98 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy nghiên cứu về yếu tố mật trong Phật giáo Việt tại Nam Bộ - một đặc trưng quan trọng góp phần hình thành các nghi thức và cung cách ứng xử văn hóa lối sống Phật giáo miền Nam chính

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-o0o -

TĂNG MINH HOÀNG

YẾU TỐ MẬT TRONG NGHI LỄ

PHẬT GIÁO

Ở NAM BỘ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-o0o -

TĂNG MINH HOÀNG

YẾU TỐ MẬT TRONG NGHI LỄ

PHẬT GIÁO NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ

Ngành: TÔN GIÁO HỌC

Mã số: 8.22.90.09

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THÀNH NAM

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Tăng Minh Hoàng, người thực hiện luận văn này

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các luận điểm và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công

bố trong bất cứ công trình nào khác Những trích dẫn cần thiết trong luận văn và nguồn gốc trích dẫn cũng được tôi chú thích rõ ràng và trung thực

Tác giả luận văn

Tăng Minh Hoàng

Trang 4

LỜI TRI ÂN

Luận văn này được thực hiện trên nền tảng kiến thức học tập, nghiên cứu của học viên tại Khoa Tôn giáo học - Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện Khoa học xã hội, nhà trường đã tạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập và nghiên cứu tại đây

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo, những người phụ trách khoa Tôn giáo học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thành Nam, thầy hướng dẫn và tiền bối nhiều năm gắn bó với tôi Cũng như quý Thầy Cô liên ngành khoa học đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm

có giá trị, giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những thiện hữu tri thức, những người

đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Kính tri ơn!

Học viên

Tăng Minh Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Khái quát lịch sử hình thành Mật Tông 12

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ MẬT TRONG

PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ 33 2.1 Yếu tố Mật trong kinh sách Phật giáo 34 2.2 Yếu tố Mật trong kiến trúc Phật giáo 42 2.3 Yếu tố Mật trong nghi lễ Phật giáo 44 2.4 Yếu tố Mật trong trang phục, pháp khí, tượng thờ, tranh Thangka 48

Chương 3: YẾU TỐ MẬT TRONG ĐỜI SỐNG TĂNG NI, PHẬT

3.1 Yếu tố Mật trong đời sống tinh thần của tăng ni, Phật tử 52 3.2 Thực trạng của yếu tố Mật trong Phật giáo người Việt ở

3.3 Yếu tố Mật và sự truyền bá trong cộng đồng Việt ở Nam bộ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập và giao lưu văn hóa hiện nay, tôn giáo cũng theo đó mà có những pha trộn và đào thải riêng của nó Tính thiêng liêng - niềm tin thuần khiết - cộng đồng thực hiện là yếu tố cần và đủ để cấu thành một chỉnh thể tôn giáo Qua đó, từ góc nhìn tôn giáo học để nghiên cứu một đối tượng chính là quán chiếu xuyên qua các lăng kính trên, từ đó phản ánh chân thật về các giá trị của đối tượng càng là việc làm cần thiết

Các nghi thức và niềm tin của tôn giáo không chỉ hướng đến cái thiêng

mà còn là sự thiết thực cũng như vai trò của tôn giáo trong cộng đồng xã hội Đây thật sự là một nhu cầu tất yếu và cần thiết trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Tuy nhiên, ở khía cạnh khác, niềm tin cố chấp, tiêu cực

(mê tín), tin vào các yếu tố thiêng mà lại không được soi sáng bằng tuệ quán,

con người sẽ dễ dàng đánh đồng tôn giáo nói chung và hình thức cũng như nội dung của nó cũng sẽ dần xa rời với đời sống thực tế

So với các tôn giáo ngoại sinh khác ở Nam Bộ, Phật giáo được xem là tôn giáo có mặt lâu đời nhất, theo chân của các cư dân đi khai khẩn từ những ngày đầu lập làng, và cùng gắn bó qua thời gian, dần trở thành tôn giáo bản địa, ảnh hưởng tác động qua lại với các đặc điểm của nền văn hóa cư dân tại chỗ Mật thừa hay Kim Cang thừa, vốn tiềm tàng trong Phật giáo qua nhiều thế kỷ như là một thành tố làm cho Phật giáo nói chung , Phât giáo Việt Nam nói riêng thêm phần phong phú trong việc đưa tín đồ Phật tử tiếp cận tôn giáo mình, dễ đi vào trong lòng quần chúng hơn Ngày nay, Nam Bộ được xem là vùng đất sùng mộ Phật giáo nhất so với cả nước Đạo Phật tại đây có nhiều chi phái, hệ phái khác nhau cùng tồn tại, phát triển Tuy đa dạng nhưng chúng vẫn có sự thống nhất về cơ bản Sự thống nhất đó chính là nhờ tính dung hợp của đặc trưng nhiều tộc người Việt, và của Phật giáo nói riêng, tạo nên bản sắc văn hóa tôn giáo người Việt, đặc biệt là Nam bộ Không những

Trang 7

dung hợp trong nội bộ các giáo phái, mà Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo người Việt tại đây còn có sự dung hợp với nhiều tôn giáo khác và cả tín ngưỡng dân gian Nhờ đó, Phật giáo người Việt ở Nam Bộ đang phát triển cũng cộng hưởng cùng sự phát triển của đất nước và có mối quan hệ gắn bó, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động văn hóa xã hội Nam Bộ

Từ đó cho thấy việc nghiên cứu từng thừa phái Phật giáo, đặc biệt là nghiên cứu yếu tố Mật nói riêng trong Phật giáo Nam Bộ sẽ cho thấy tính nổi bật của yếu tố mật, bao trùm và chi phối các yếu tố khác trong Phật giáo người Việt tại đây Sự pha tạp có tính lịch sử này rất cần cho sự nhận thức, nghiên cứu chuyên sâu hơn vào bức tranh chung của Phật giáo Nam bộ

Mặt khác, người viết vốn xuất thân từ bên trong tăng đoàn của Phật giáo, được học tập và sinh hoạt trong cộng đồng Phật giáo Nam Bộ Vì vậy nghiên cứu về yếu tố mật trong Phật giáo Việt tại Nam Bộ - một đặc trưng quan trọng góp phần hình thành các nghi thức và cung cách ứng xử văn hóa lối sống Phật giáo miền Nam chính là trách nhiệm, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để người viết tìm hiểu sâu sắc hơn, cũng như nhìn nhận lại các giá trị tôn giáo của mình nhằm hun đúc nên đời sống tâm linh tốt đẹp và thiết thực hơn trong tương quan đời sống chính trị xã hội hiện nay Với những lý

do đó, người viết chọn đề tài Yếu tố Mật trong nghi lễ Phật giáo ở Nam Bộ

hiện nay làm đề tài cho luận văn của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những biểu hiện của Mật thừa trong các thành tố của văn hóa Phật giáo Nam bộ, nhất là trong nghi lễ Phật giáo Nam Bộ của người Việt, đồng thời chỉ ra vai trò của yếu tố mật trong đời sống tăng ni, phật tử người

Việt ở Nam Bộ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát về Phật giáo Nam bộ trong tộc người Việt

Trang 8

- Tiếp cận nghiên cứu vấn đề dung hợp yếu tố Mật theo chiều kích tôn giáo học, thông qua nghiên cứu trường hợp là Phật giáo Bắc tông

- Phân tích để tìm ra tính chất dung hợp văn hóa trong đó có yếu tố Mật của người Việt theo Phật giáo vùng Nam Bộ trong lịch sử

- Phân tích những yếu tố Mật được biểu hiện thông qua kinh, sách, các bài chú nguyện ; qua kiến trúc chùa, qua tượng thờ, tranh thờ, trang phục, nghi lễ, pháp khí trong Phật giáo của người Việt ở Nam bộ

- Chỉ ra vai trò của yếu tố mật trong đời sống của tăng ni, Phật tử người Việt tại Nam Bộ

3 Lịch sử tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào đề cập trực tiếp đến đề tài luận văn, đa số chỉ dừng lại ở một số bài viết mang tính gợi mở và một số tác phẩm liên quan đến Phật giáo, đến Phật giáo Mật tông nói riêng Trên cơ sở những tài liệu tiếp cận được, chúng tôi chia thành 2 nhóm chính:

Nghiên cứu về Mật giáo

Trong sự hạn chế của kiến thức người viết về sự bao la của Mật điển, người viết tìm hiểu yếu tố Mật thể hiện qua các bản kinh đang lưu hành và một số tài liệu tham khảo ở các công trình nghiên cứu của các học giả dưới đây Nói đến Mật tông, không thể bỏ qua các kinh sách thuộc tư tưởng kinh

hệ Mật tông Tây Tạng, bởi lẽ họ là những chuyên gia về lĩnh vực Mật tông

Có thể nhận thấy rất nhiều bộ sách nghiên cứu và dẫn giải về vấn đề này như :

Yoga Tây Tạng 2007, Quỳnh Ngọc Hương dịch ; Alexander Simpkins &

Annellen Simpkins (2007) Ánh sáng Mật tông [16]; Nguyễn Tuệ Chân năm

2008 biên dịch Toàn tập giải thích các thủ ấn Phật giáo [8 ] Sách giới thiệu,

giải thích toàn bộ các thủ ấn trong Phật giáo, có bản vẽ minh họa và sắp xếp theo thủ ấn của các vị Phật, Bồ tát; Do Khyentse Hungkar Dorje năm 2009

Trang 9

Tranh tượng Phật giáo Tây Tạng (các Tangka tại golog) [17]; Bardo Bí Mật Nghệ Thuật Sanh Tử của Pháp vương Gyalwang Drukpa, xuất bản 2012 ; Thần Bản Tôn 2012, Thích Minh Tuệ ; Tạng thư sống chết, Thích Nguyên

Tạng dịch (https://thuvienhoasen.org/a8224/tang-thu-song-chet);Mật thừa Tây

Tạng 2009, Tantrain Tibet Tenzin Gyaso, Thích Nhuận Châu soạn dịch

Các tác phẩm này trình bày những khái niệm rõ nhất về thế giới và nhân sinh quan Mật tông hay Kim Cang thừa

Riêng về Mật điển tại Việt Nam, từ lâu đã manh nha tìm hiểu và phiên dịch Mật pháp của nhiều danh Tăng, có thể thấy tiêu biểu nhất là cố Tỳ Kheo Thích Viên Đức, một trong những bậc thầy đầu tiên trong Phật giáo cận đại biên dịch các bộ sách nghi quỷ đặc thù đậm chất Mật tông Các tác phẩm tiêu

biểu như : Hiển mật viên thông, 1971, Thích Viên Đức dịch ; Mật Thừa Việt

Nam, Thích Viên Đức, (tái bản có bổ sung thành 3 bộ) 2005[20 ] ; Chuẩn Đề

Phật Mẫu Đà la Ni kinh, Huyền Thanh dịch; Du già Diệm Khẩu thí thực khoa

nghi 2007, HT.Thích Huyền Tôn dịch ; Thai Tạng giới Mạn Đà La ni 2010,

Huyền Thanh dịch Tuy nhiên các nghi quỷ này chỉ dừng lại ở các diễn giải chú trọng hình thức nội dung hành trì dành cho hành giả, mà không có sự biện minh trong hình thức thực hành

Ngoài ra, một số tác phẩm công bố để bổ sung cho những hình thức rất

nguyên tắc của Mật tông, như Nhị Khóa Hiệp Giải, Dịch giả HT.Thích Khánh

Anh, 2001[1]; Du già Sư Địa Luận, Thích Giác Thiện-Trương Văn Minh dịch ; đây là các đầu tư liệu mà chúng tôi cố gắng lấy làm hướng chủ đạo

khảo cứu, tìm yếu tố dung hợp yếu tố Mật trong nghi lễ, cũng như đời sống thực thể của tăng sĩ Phật tử Từ đó khẳng định tôn chỉ nhận thức thực tế hơn

về các thực hành tôn giáo Mật pháp trong Phật giáo người Việt tại Nam bộ

Bên cạnh đó, Giáo trình Phật học 2008, Lê Kim San dịch ; Đại Thủ Ấn

2007, Viên Huê dịch, Du già hành tông 2005, Thích Nhuận Châu soạn dịch

Trang 10

[10], HT Huyền Vi 2009 Kim Cang Và Chánh Pháp Chưa Từng Có ; Chánh Trí Mai Thọ Truyền 2012, Khảo cứu về Mật tông[66] ; hướng người viết từ

cách tiếp cận Phật giáo, từ vô thần đến hữu thần, từ phiến đến toàn diện hơn

trong vấn đề nghiên cứu Những tác phẩm này cung cấp cho người viết có cái

nhìn tổng quan hơn về Mật tông và phương pháp của các tông chỉ giáo pháp Mật trong quan niệm nhận thức về pháp, từ đó, nội suy yếu tố Mật trong Phật giáo Việt ở Nam bộ Trong tương quan đó, nhằm khẳng định yếu tố Mật đóng vai trò rất lớn trong hệ thống nghi lễ đời sống tôn giáo tại vùng đất này Chẳng

những thế, Hành trình vô trụ xứ 2012[66], Ban dịch thuật thiện tri thức, cũng là một tác phẩm cho người nghiên cứu tiến hành xem xét vấn đề từ hạ tầng niềm

tin thuần túy tôn giáo, đến thượng tầng thực hành rốt ráo thông qua giáo lý Đại thừa Phật giáo Mật pháp đề xuất Phải chăng chính sự khắt khe và trình độ để nhận thức Mật pháp đòi hỏi rất cao, để nhận thức và lý giải trong hoằng truyền Phật pháp thông qua yếu tố Mật là điều rất khó và thiếu cơ sở lý luận trên nền tảng Phật lý? Từ đó, người viết đưa ra ưu và nhược của yếu tố Mật trong cộng đồng tín đồ, đồng thời lý giải được phần nào nguyên nhân Mật pháp vốn cắm

rễ rất sâu trong mảnh đất Phật giáo Nam bộ, nhưng đại đa số Tăng sĩ, Phật tử vẫn chú trọng nghiêng xu hướng về Tịnh độ và Thiền pháp làm căn bản truyền dạy, mà không phải hoặc ít khi là Mật pháp Đó chính là thái độ của Phật giáo người Việt ở Nam bộ trong cách tiếp nhận của họ

Năm 2010, Nguyễn Minh Ngọc viết Mật tông trong đời sống văn hóa

tinh thần của người Việt [36] cung cấp cho chúng ta một bức tranh sinh động

về sự đa dạng, phong phú trong công đồng Phật giáo người Việt Đây là tài liệu tham khảo quý cho chúng tôi khi thực hiện chương 3 của luận văn

Trong quá trình khảo cứu, người viết được tiếp cận Nguyên nhân thăng

trầm, thịnh suy của Phật giáo Ấn Độ của Trần Quang Thuận [81], xuất bản

năm 2013 như một góc nhìn trực quan sinh động, lý giải vì sao Phật giáo và

Trang 11

Phật giáo Mật tông lại chết trên chính mảnh đất nó sinh ra Sự suy tàn hay hưng thịnh của nó có một lý do chính đáng khách quan dưới tác động xã hội, con người Như vậy, nhân tố con người, thể chế của cộng đồng dân cư, dân tộc nơi đó, vẫn là nhân tố quan trọng nhất trong việc quyết định sự tồn tại tôn giáo như thế nào Khác với quan kiến xưa nay mọi người vẫn cho cố gắng đi tìm tôn giáo hay Mật giáo muốn mình trở thành thế nào Mối tương quan nhân duyên là một chân lý trong đời sống Phật giáo

Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Nam Bộ

Một trong những tác phẩm nghiên cứu sâu văn hóa và tôn giáo có nhiều

nhận định sâu sắc là Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, của Nguyễn Duy Hinh 1999[31]; không những có sự trình bày chi tiết về bối cảnh lịch sử văn

hóa tôn giáo Việt Nam ở Nam Bộ, tác phẩm còn hướng đến sự quy chiếu so sánh cũng như sự ảnh hưởng lẫn nhau của tư tưởng tôn giáo khác nhau trong cộng đồng

Bên cạnh đó, còn có Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang

1999 [44]; Việt Nam Phật giáo sử lược 2004 Mật Thể[63]; Lịch sử Phật

giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát 2006[60] , ngoài các yếu tố lịch sử du

nhập và phát triển, các công trình nghiên cứu còn đề cập đến yếu tố Mật thừa tồn tại và phát triển song song cùng các thừa phái khác cùng cộng sinh trong đời sống tâm linh cộng đồng Phật giáo người Việt ở Nam Bộ vốn dĩ rất chuộng tôn giáo

Đây là công trình Phật giáo sử quan trọng có nhận xét và bình luận sự kiện

Trần Hồng Liên, với Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ -

Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975 xuất bản năm 1995 [42] Tác giả trình bày

bao quát những đặc điểm của đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ trong khoảng thời gian trên Công trình đã khắc họa nên bức tranh cụ thể của Phật giáo người Việt tại đây, về các chi phái, hệ phái, các phong trào, cơ cấu

Trang 12

tổ chức, cũng như những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa -xã hội, Đây là công trình được phát triển lên từ luận án Phó Tiến sĩ Dân tộc học, nên rất có giá trị trong nghiên cứu, là nguồn tham khảo quan trọng cho những ai nghiên cứu về Phật giáo Nam Bộ

Nguyễn Hiền Đức năm 1995 công bố Lịch sử Phật giáo Đàng Trong

Đây là công trình đề cập chi tiết đến lịch sử các ngôi chùa, hành trạng các vị

tổ, và các dòng phái Phật giáo có mặt ở Đàng Trong

Năm 1995, Trần Hồng Liên có bài viết Về 3 yếu tố Thiền, Tịnh, Mật trong

đồ tùy táng của xác ướp Xóm Cải ( Tp.HCM),[75] đã nêu lên yếu tố Mật trong

đồ tùy táng, đó là bài chú Om Mani Padme Hum của Quan Thế Âm

Trần Hồng Liên với Phật giáo Nam bộ xuất bản năm 1996 [44 ] đi

chuyên sâu vào việc tìm hiểu các tổ chức Phật giáo ở Nam bộ

Tác phẩm Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ, xuất bản năm 2004 là

tuyển tập những bài viết, tham luận tại các hội thảo khoa học về những đặc trưng của văn hóa Phật giáo ở Nam Bộ trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển của mình, như các sự kiện lịch sử, văn hóa-nghệ thuật, kiến trúc Phật giáo,… ở Nam Bộ Sách cung cấp cho người đọc những đặc trưng của văn hóa Phật giáo Nam Bộ Trong tập sách này, tác giả đã có viết riêng một bài giới thiệu về chùa Tây Tạng, với cách bày trí và tượng thờ có yếu tố Mật tông Phật giáo

Năm 1998, Huỳnh Ngọc Trảng viết Đặc trưng kiến trúc truyền thống của

chùa Nam bộ [ 80 ], qua đó tác giả nêu lên một số những nét riêng tiêu biểu của

ngôi chùa ở Nam bộ có so sánh với Bắc bộ Bài viết có nêu yếu tố Mật trong ngôi chùa Nam bộ, thể hiện qua cách bày trí tượng thờ tại chính điện

Thích Thiện Ẩn, qua tập sách giới thiệu Mandala kiến trúc đặc trưng

chùa Tây Tạng [2] đã trình bày chuyên sâu vào những yếu tố Mật được thể

hiện qua ngôi chùa Tây Tạng ở tỉnh Bình Dương Do đây là tư liệu lưu hành nội bộ, nên không ghi năm xuất bản

Trang 13

Năm 2017, Đặng Văn Thắng có bài viết Kiến trúc và tượng trong tháp,

chùa Việt Nam (Tiếp cận Khảo cổ học Phật giáo)[81] Đây là một bài viết

quan trọng, đi sâu phân tích yếu tố Mật trong ngôi chùa Phật giáo ở Việt Nam, thể hiện đồ hình Mandala Đề cập cấu trúc mặt bằng chính điện chùa Giác Lâm, tác giả cho rằng đó là đồ hình Mandala và cách bày trí tượng thờ tại chính điện cũng là một đồ hình Mandala Quan điểm này tác giả đồng ý với nhận xét của Huỳnh Ngọc Trảng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những yếu tố Mật được biểu hiện thông qua kinh sách, các bài chú nguyện, qua kiến trúc chùa, nghi lễ, trang phục, pháp khí, lễ hội trong Phật giáo của người Việt ở Nam bộ Chủ thể mang đặc tính Mật này chính là góp phần làm nên nền văn hóa Phật giáo người Việt ở Nam Bộ Người tạo thành nền văn hóa này là những tu sĩ và tín đồ Phật giáo người Việt, trong đó tu sĩ là người lãnh đạo tinh thần, nên đóng vai trò quan trọng nhất

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Vùng đất Nam Bộ, từ khi Phật giáo du nhập vào đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở kiến thức nền tảng chuyên ngành Tôn giáo học và kiến thức liên ngành, để nghiên cứu đề tài này người viết sử dụng các phương pháp sau :

Phương pháp hệ thống loại hình : được vận dụng trong việc dựa vào

các đặc trưng loại hình của văn hóa Phật giáo Nam Bộ để mô tả, lý giải cho đối tượng nghiên cứu, ở đây là yếu tố Mật thừa trong Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Nam Bộ

Phương pháp so sánh: là cách thức để tìm ra sự khác biệt mang tính

chất đặc trưng Đề tài có so sánh yếu tố Mật thừa (giữa Phật giáo miền Bắc và miền Nam) để tìm ra những nét khác biệt mang tính đặc trưng văn hóa vùng, hình thành yếu tố mật thừa như một tính chất nổi trội của Phật giáo người

Trang 14

Việt tại Nam Bộ ; và so sánh xuyên văn hóa (giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo ở Đông Nam Á, Trung Hoa, Tây Tạng và Ấn Độ)

Phương pháp quan sát tham dự và điều tra thực địa: là phương pháp

giúp cho những nghiên cứu của đề tài được kiểm chứng trong thực tế để mang tính trung thực, thuyết phục hơn

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng thao tác quy nạp, dựa trên các thành tố thuộc về niềm tin và thực hành Phật giáo của người Việt tại Nam Bộ để tìm ra những yếu tố mang tính Mật thừa.Vì đây là đề tài liên quan đến nhiều khía cạnh thuộc các chuyên ngành khác như: Văn hóa, Sử học, Văn học, Xã hội học, Tôn giáo học,… nên người viết còn sử dụng hướng tiếp cận liên ngành như một phương pháp nghiên cứu trong luận văn, để có cái nhìn về đối tượng sâu sắc và toàn diện hơn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ thêm những biểu hiện yếu tố mật pháp tồn tại song song các yếu tố Thiền-Tịnh trong Phật giáo Việt Nam ở Nam bộ thông qua các nghi lễ và đời sống Phật giáo ở vùng đất này

Trang 15

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập giảng dạy về Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam Bộ nói riêng, nhất là các nghiên cứu về ảnh hưởng ở Mật thừa trong Phật giáo Nam Bộ

7 Cấu Trúc luận văn

Chương 1 đề cập đến Những vấn đề lý luận và thực tiễn Đây là

chương trình bày các vấn đề thuộc về cơ sở để làm tiền đề nghiên cứu cho các chương sau Cụ thể sẽ làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài; giới thiệu

về Phật giáo Nam Bộ ; khái quát về sự du nhập và phát triển của Mật tông để

từ đó xác định quan điểm tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn Tôn giáo học

Chương 2 nghiên cứu Những biểu hiện của yếu tố Mật trong Phật giáo người Việt ở Nam Bộ Về niềm tin, sẽ trình bày một số kinh sách, các

bài chú nguyện có yếu tố Mật, luận giải về Mật tông và sự giao thoa trong niềm tin của tư tưởng Mật có trong các pháp môn Thiền và Tịnh Về thực hành tôn giáo, chúng tôi sẽ trình bày yếu tố Mật được thể hiện thông qua các nghi lễ và lễ hội Phật giáo trong cộng đồng tộc người Việt tại Nam Bộ

Chương 3 trình bày Những ảnh hưởng của yếu tố Mật trong đời sống phật tử người Việt ở Nam Bộ, chương này nêu lên những đóng góp

của yếu tố Mật vào sự phát triển của Phật giáo Nam bộ ; ảnh hưởng của việc thực hành nghi lễ và niềm tin Phật giáo khi có sự hiện diện của yếu tố Mật đối với phật tử ; đồng thời ghi nhận về tính hiện thực của yếu tố này trong đời sống của cộng đồng người Việt tại đây Ngoài ra, thực trạng thực hành Mật pháp đã và đang là vấn đề cần được nhìn nhận và quan tâm một cách nghiêm túc trên địa bàn Nam bộ, đặc biệt là tại TP.Hồ Chí Minh, qua đó chúng tôi sẽ

đề xuất một số nhận xét cho vấn đề này

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Mật tông hay yếu tố Mật trong Phật giáo ngày nay đã dần được biết đến và nghiên cứu rộng rãi như một nét đẹp tinh túy của văn hóa Phật giáo, góp vào kho tàng tri thức của nhân loại Hẵn nhiên, đây là phạm trù khá tế nhị và mang yếu tố đặc thù, do vậy vẫn còn khá nhiều ý kiến khác biệt Chính thế, tìm hiểu và giới thiệu các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu trước khi tiếp cận vấn đề là điều hết sức cần thiết để có cái nhìn tổng quan trong cấu trúc thực thể tôn giáo vốn có của nó Đặc biệt, Phật giáo vốn là dòng chảy tinh thần của nhân loại qua nhiều thế kỷ, nhưng nếu hiểu sai lệch về các khái niệm và thuật ngữ sẽ là những trở lực không nhỏ khi tiếp cận và nghiên cứu về tư tưởng và giá trị hiện sinh của Phật giáo Bắc tông (Đại thừa Phật giáo), đặc biệt là Mật tông Giới thiệu một số khái niệm có liên quan đến đề tài giúp khẳng định tên gọi chính xác của các nghi thức, lễ cúng Phật giáo, có sự hiện diện của yếu tố Mật, đưa đến sự nhìn nhận chuẩn xác và thực tế đối với đối tượng cần nghiên cứu Trên thực tế, sự dung hợp của tôn giáo và văn hóa vô cùng linh hoạt, thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo, song, do lệch lạc trong nhận thức, đã tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến các giá trị tinh thần, trong

đó có yếu tố Mật trong Phật giáo

Chương này, chúng tôi trình bày có hệ thống về lịch sử Mật tông, từ đó làm sáng tỏ tính hợp lý của yếu tố Mật trong Phật giáo và Phật giáo Nam bộ nói riêng Bên cạnh đó, dưới góc nhìn Tôn giáo học, người viết sẽ giới thiệu khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội Nam bộ, nơi du nhập và phát triển nghi

lễ mang yếu tố Mật, để làm tiền đề cho việc tìm hiểu những biểu hiện của yếu

tố Mật ở Nam bộ trong chương sau

Trang 17

1.1 Khái quát lịch sử hình thành Mật Tông

1.1.1 Lịch sử hình thành

Từ lâu, Mật thừa đã trở thành một tông phái của Phật giáo (Thiền - Tịnh - Mật) trong ý thức hệ người đạo Phật lẫn trong chính sử Từ lúc hình thành và phát triển, thậm chí trở thành quốc giáo tại một số quốc gia và có sự ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng Phật giáo thế giới Điều này minh chứng rằng sự hình thành và phát triển của Mật thừa không đơn thuần là những truyền thuyết thuần túy tôn giáo mà còn là cả một dòng chảy văn hóa qua nhiều ý thức hệ

Hiện tại, Mật tông được xem như một giá trị văn hóa và triết học đặc sắc của Đại thừa Phật giáo, giai đoạn cuối thời đại huy hoàng của Phật giáo

Ấn độ Trên phương diện lịch sử, Phật giáo Ấn độ đã trải qua bốn chặng đường lịch sử, tức là Nguyên thủy Phật giáo, Bộ phái Phật giáo, Đại thừa Phật giáo và Mật tông Phật giáo

Nguyên thủy Phật giáo là Phật giáo thời kỳ đầu, được tính từ khi đức Phật thành đạo cho đến một trăm năm sau Phật nhập Niết bàn, tức là giai đoạn đầu truyền bá Phật giáo vào xã hội Ấn độ cổ đại

Thời kỳ Bộ phái Phật giáo là khoảng từ năm 370 (BC)1 đến năm

150 sau công nguyên (AC)2, giai đoạn này do các yếu tố khách quan và chủ quan của thời đại, dẫn đến thời kỳ Phật giáo phát triển và hình thành nên bộ phái

Đại thừa Phật giáo là khoảng từ giữa thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII (AC), trong quá trình phát triển của Đại thừa Phật giáo lại phân chia thành ba giai đoạn khác nhau, tức là giai đoạn đầu từ thế kỷ I đến V (AC), giai đoạn giữa thế kỷ V đến VI (AC) và giai đoạn cuối thế kỷ VI đến VII (AC )

1 Viết tắt của từ “Trước Công Nguyên”

2 Viết tắt của từ “Sau Công Nguyên”

Trang 18

Ấn độ giáo trong giai đoạn này đã bắt đầu quá trình tái khẳng định vị thế của mình bằng cách tiếp biến các hệ thống học thuyết và tư tưởng đương đại, trong đó có giáo lý đạo Phật, từ đó tạo ra sự cạnh tranh rất mãnh liệt đối với Phật giáo đương thời Lúc bấy giờ Phật giáo Đại thừa không chỉ bị giới hạn trong phạm vi thực tập trong đời sống cá nhân nữa, mà còn bắt buộc phải

có xu hướng lý luận nhằm giữ vững các học thuyết và nền tảng của Phật giáo,

am tường các phạm trù triết học, ngõ hầu tương luận trước sự tấn công của các học thuyết khác Do vậy, vô hình chung đã tự tách mình ra khỏi quảng đại quần chúng Vì thế, để thích ứng với tình thế mới, Phật giáo Bắc tông đã khéo léo dung hợp những giá trị cộng đồng (tục đế) để truyền tải tinh thần của

tư tưởng giải thoát (chân đế)

Ban đầu khi tiếp xúc, phía Phật giáo có những phản ứng khá kịch liệt, cật lực phê phán những quan niệm nghi chấp về tế tự cầu phước trừ họa

và mật chú, tuy nhiên vẫn xúc tiến việc hợp lý hóa hoặc Phật giáo hóa theo tinh thần tùy duyên, cuối cùng Phật giáo đã hình thành nên một hệ thống Mật tông tương đối độc lập Do đó, ở một vài phương diện nghiên cứu chúng ta có thể xem Mật tông là sản phẩm phát sinh của sự kết hợp giữa Phật giáo và Ấn độ giáo

Phật giáo Đại thừa phát sinh thêm tông phái Mật tông là một sự kiện khá bất ngờ và không kém phần lý thú, cũng có thể nói là do bối cảnh lịch sử mang tính tất yếu lâu dài của nó Sự bất ngờ là bởi thời đức Thích Ca còn tại thế, Phật giáo cực lực phản đối thần quyền, bài xích những quan niệm thần bí, phủ định các chú thuật v.v có thể thấy được đức Phật không bao giờ đề xướng những phương thuật mật chú vốn đã

bị bám rễ sâu trong quan niệm tín ngưỡng nhân gian người Ấn Chính thế mà theo Trần Quang Thuận “dần dần Phât giáo đến gần với Ấn độ giáo và chẳng bao lâu hai tôn giáo mất đi đặc tính riêng biệt của mình Vì lý do đó, nên hàng

Trang 19

cư sĩ không thấy sự khác biệt trong việc thờ cúng Phật, Vishnu, Shiva, Quán Thế Âm Bồ Tát, Tàra và Parvati” [Trần Quang Thuận 2013, tr.1014] Mật tông ra đời trong bối cảnh lịch sử nhất định mang tính khách quan xã hội Nó không những mang lại yếu tố mới để Phật giáo thích nghi trong điều kiện xa hội, nó còn được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Mật tông ra đời cũng chính

là yếu tố làm Đạo Phật tại Ấn độ suy thoái, mất vị trí lớn của mình mà bị hòa tan vào trong tín ngưỡng của Ấn giáo

Đây cũng chính là trở ngại rất lớn với người nghiên cứu, khi tiếp cận sự

đa diện về triết học và tông chỉ của Phật giáo Có không ít nhà nghiên cứu cho rằng nguyên thủy Đức Phật không chủ trương và sử dụng các câu thần chú trong tôn giáo mình Tuy nhiên, khi tìm hiểu vào các tạng kinh văn Phật giáo, chúng ta thấy sự manh nha hay ảnh hưởng từ tư tưởng Bà La Môn giáo của

Ấn độ cổ đại Như vậy chúng ta thấy rằng, ở khía cạnh khác của vấn đề, có thể xem tư tưởng Phật giáo Mật tông được manh nha là từ rất sớm biểu hiện qua kinh A Hàm Bằng việc xướng tụng những kinh văn đơn giản bằng văn Pali trong Luật Tạng và trong Kinh A Hàm, nương vào công đức đó thì mọi

sự được an lành, với hình thức Mật chú này được gọi là thời kỳ Tạp Mật Ngoài ra, còn lấy thể cách văn tự và ngữ cú để làm đặc trưng riêng, và

có hàm nghĩa vô cùng sâu sắc với việc nhiếp tâm điều tức, mục tiêu đạt đến Đà-la-ni thống nhất tinh thần tức là Nhất Tâm, đây là giai đoạn tối sơ của Tạp Mật

Vì thế Kinh Diệu Túy Bồ Tát sở vấn chép rằng:“các nhà tu niệm nếu

muốn cái phép trì tụng cho đặng mau thành tựu kết quả, linh nghiệm, thì với những nghi thức lễ pháp gì, chẳng đặng làm thiếu hay phạm môt mãy mún nào,

vì hễ thiếu sót và trái phạm là, khiến cho các điều Ma chướng nó thừa dịp đặng tiền bề phá hại! Thế nên hành giả phải chăm lòng trì tụng, hằng giờ không xen hở” [ HT.Khánh Anh (dịch), tr5] Sự khắt khe trong nghi thức và yêu cầu sự

Trang 20

miên mật trong đời sống được xem là yếu tố làm cho Mật tông khó có sự truyền

bá rộng rãi vào cộng đồng phổ quát Nhưng mặt khác chính sự thâm u của Mật tông lại làm cho tầng lớp tín đồ vô cùng hấp dẫn và sùng bái tín tâm mạnh mẽ, vì thế phương diện khác, mật tông như mạch nước ngầm trong lòng của Đạo Phật tiếp thu và truyền bá cũng cũng có những giai đoạn cực thịnh

Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ XI,XII, cuối vương triều Pala và thời đại vương triều Sina, quân đội của Hồi giáo ngày càng lấn chiếm, Phật giáo phải dồn về cứ điểm cuối cùng ở Đông Ấn, rốt cùng cũng bị quân Hồi giáo đánh chiếm Thế là các vị đại sư Mật tông mỗi người phân tán về mỗi ngã, rất nhiều vị đã thông qua đường Kashmir mà chạy vào tỵ nạn ở Tây Tạng, một số khác lại chạy vào dãy Nepal Đương thời, trường Nālandā cũng chỉ còn lại khoảng 70 vị, không lâu sau đó thì hàng vương thất lại tin theo Hồi giáo, tín đồ Phật giáo chưa biết phải chọn đường nào, nên đành phải cải đạo thành tín ngưỡng Hồi giáo, hoặc tín ngưỡng Ấn độ giáo Đầu thế kỷ XIII, quân đội của Hồi giáo thiêu cháy chùa Siêu Loại, ngôi chùa cuối cùng của Ấn

độ, lấy đó làm tiêu chí, Phật giáo nói chung và Mật tông nói riêng trên đất Ấn

độ đã gần như hoàn toàn mất dấu

Điểm bất đồng lớn nhất giữa hai tông phái hiển và mật tông là sự truyền thừa và tu trì Với hiển tông giáo lý cố nhiên phải được sự truyền trao nhưng về mặt tu trì thì không nhất định phải có thầy truyền và nghi quỹ nghiêm khắc Trái lại, nghi lễ của Mật tông thì rất phiền phức, các tôn giáo trên thế giới không có tôn giáo nào sánh kịp Từ lúc mới quy y thụ quán đỉnh đến bậc kim cang thượng sư phải có một trình tự nhất định không thể vượt qua được Khác xa với phương tiện giản dị, gần gũi của Hiển giáo Nói về giáo nghĩa Hiển tông cho rằng ứng thân Phật thuyết pháp, mật tông cho rằng pháp thân Phật thuyết pháp Hiển tông cho rằng

Trang 21

người tu hành phải trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp3

tu lục độ4 vạn hạnh mới chứng được quả Phật Còn Mật tông trái lại tu diệu hạnh tam mật cũng có thể thành Phật ngay trong thân này

Yếu tố Mật là một trong những yếu tố quan trọng, tạo nên sự đa dạng trong thống nhất của Phật giáo Bắc tông Biểu hiện rõ nét được thể hiện qua các nghi quỹ5, nghi lễ, nhằm truyền tải tư tưởng và thành tựu những giá trị tương ưng Sự khác biệt của yếu tố Mật không chỉ làm nên sự phong phú tư tưởng của Phật giáo phát triển mà còn là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa tông phái Phật giáo

1.2 Phật giáo Mật của người Việt (ở Nam Bộ)

Phật giáo là tôn giáo bắt đầu từ bài pháp đầu tiên do chính Tất-đạt-đa (Siddhartha), sau khi giác ngộ thành Phật, nói cho năm anh em tôn giả A-nhã Kiều-trần-như (Ajnata Kundinya), tại vườn Nai (Mrgadava) ở ngoại thành Ba-la-nại (Varamasi) Sau khi nghe pháp, cả năm người này đều xin theo Phật tu học, tăng đoàn được hình thành từ đó

Sau khi đức Phật nhập niết bàn, các đệ tử của ngài truyền bá giáo lý đạo Phật khắp Ấn Độ và rộng ra trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam

Theo lời phát biểu của Pháp sư Đàm Thiên trong Tục Cao tăng truyện, từ

những năm đầu Công Nguyên, khi Phật giáo chưa truyền đến Trung Hoa thì ở Giao Châu, nhờ có đường thông qua Thiên Trúc, nên đã sớm hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu với hơn 20 ngôi chùa được dựng, độ hơn 500 người xuất gia, dịch kinh 15 quyển, với những tăng sĩ nổi tiếng như Khâu Đà

La, Ma La Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác,… [Lê

Trang 22

Mạnh Thát 1999: tr203-204] Đây được xem là cột mốc đánh dấu sự có mặt của nền Phật giáo tương đối hoàn chỉnh ở nước ta

Trải qua trên dưới hai mươi thế kỷ tồn tại và phát triển, Phật giáo luôn đồng hành, hòa hợp với dân tộc, với nền văn hóa Việt Nam Nhờ vào sự tiếp thu linh hoạt có chọn lọc, người Việt Nam đã biến Phật giáo từ một tôn giáo ngoại nhập thành tôn giáo bản địa Nhiều thành tựu văn hóa dân tộc được khởi nguồn từ văn hóa Phật giáo, đặc biệt trong thời Lý, Trần Sau một thời gian thâm nhập và chiếm địa vị độc tôn trong triều đình phong kiến, đến cuối thời Trần trở về sau, Phật giáo bắt đầu lan tỏa trong đời sống cộng đồng, nhất

là tầng lớp bình dân Khi sự phân tranh của Trịnh - Nguyễn chia cắt đất nước thành 02 chiến tuyến, thì ở Đàng Trong, Phật giáo được sự ủng hộ nhiệt thành của các chúa Nguyễn, lại bắt đầu thời kỳ hưng thịnh của nó

Dựa vào lịch sử hình thành các ngôi chùa ở Nam Bộ, ta có thể nhận ra con đường mà Phật giáo du nhập vào vùng đất này Theo Trần Hồng Liên

trong công trình Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt Nam,

thì quá trình du nhập của Phật giáo vào Nam Bộ được chia thành 4 hướng chủ yếu như sau:

(1) Hướng thứ nhất, những nhà sư người Việt và Hoa có mặt trong các đoàn người di dân từ miền đất Thuận - Quảng vào khai phá vùng đất mới và đặt nền móng đầu tiên cho Phật giáo ở Nam Bộ theo đường bộ

(2) Hướng thứ hai theo đường thủy, từ Trung Quốc, đạo Phật được các nhà sư theo chân dòng người di dân đến thẳng vùng Đồng Nai, Gia Định và

Mỹ Tho truyền đạo, rồi từ đó lan tỏa ra các vùng lân cận

(3) Hướng thứ ba vào đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu người Quảng Đông,

từ Chân Lạp sang vùng đất Mang Khảm, sau đặt tên là Hà Tiên, và cho xây dựng chùa Tam Bảo Đây là một trong những hướng du nhập của Phật giáo Trung Hoa vào Nam Bộ theo hướng ngược lại của cuộc di dân

Trang 23

(4) Hướng thứ tư vào năm 1938, Phật giáo Nam Tông người Việt được ngài Hộ Tông mang từ Campuchia vào Nam Bộ, làm phong phú thêm tổ chức Phật giáo tại đây [Trần Hồng Liên 1995: 10-11]

Dựa vào những phát hiện khảo cổ được ghi nhận trong tác phẩm của [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải] như: tháp, tượng Phật, thần ở Long An, Kiên Giang và vùng Đồng Tháp Mười,… có niên đại 530, 400, 300 năm trước công nguyên [sđd, 1995, tr.81-86] Dĩ nhiên, Phật giáo lúc bấy giờ

có lẽ là Phật giáo Nam tông - một hệ phái Phật giáo phổ biến trong cộng đồng người Khmer Tây Nam Bộ hiện nay Chính vì vậy, khi Phật giáo từ miền Thuận - Quảng truyền vào, một số ngôi chùa được dựng lên trên nền chùa cũ của người Khmer, như chùa Gò (Phụng Sơn tự -TP.HCM) ở Gia Định xưa Ở một số nơi khác, người ta đào được tượng Phật, chuông đồng, đồ dùng trong nhà chùa, những phù điêu có nội dung Phật giáo, điển hình là Pháp thân kệ khắc trên lá vàng mỏng được tìm thấy ở gò Xoài, Long An Yếu tố bản địa từ Phật giáo Chân Lạp còn sót lại trên vùng đất phương Nam đã duy trì niềm tin

về đức Phật cho cư dân nơi đây, sau này trở thành một trong những nhân tố quan trọng, thúc đẩy sự tiếp nhận và phát triển của Phật giáo người Việt khi được truyền đến

Với bốn hướng truyền bá, cộng thêm yếu tố bản xứ, đã làm cho Phật giáo người Việt ở Nam Bộ, ngay từ những ngày đầu du nhập, mang nhiều sắc thái khác nhau Tuy vậy, ở chừng mực nhất định, bên cạnh những đặc thù hình thành trên nền tảng tiếp biến Phật giáo từ nhiều vùng miền khác nhau, Phật giáo Nam Bộ vẫn mang các tính chất chung của Phật giáo cả nước Điều này được biểu hiện qua nhiều phương diện khác nhau trong đời sống văn hóa Phật giáo Nam Bộ, mà chúng ta sẽ đề cập tới ở phần tiếp theo

Trang 24

1.2.1 Đặc trưng Phật giáo người Việt ở Nam Bộ

Đề cập tới đặc trưng Phật giáo Nam Bộ là nói đến các giá trị đã được định hình trong quá trình Phật giáo hình thành, phát triển ở Nam Bộ Các giá trị này được biểu hiện qua nhiều phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt Phật giáo Ở đây, có thể nhận diện một số nét đặc trưng cơ bản như: Phật giáo người Việt Nam Bộ là nơi tập trung nhiều bậc anh tài Phật giáo, thể hiện tính dung hợp cao, tính năng động và tinh thần nhập thế mạnh mẽ

a Nơi tập trung nhiều bậc anh tài

Phật giáo người Việt ở Nam Bộ là nơi tập trung nhiều bậc anh tài nhất

so với các vùng miền khác trong nước thời cận và hiện đại (6) Đặc trưng này manh nha từ khi Phật giáo theo chân các vị Thiền sư bước đầu tới vùng đất mới Nam Bộ, và biểu hiện ngày càng rõ hơn bởi sự xuất hiện tiếp tục của các thiền sư nổi tiếng với đạo phong và sức ảnh hưởng sâu rộng của họ đối với cộng đồng Phật giáo Trong đó, nổi bật nhất là thiền sư Nguyên Thiều và các

đệ tử của ông như thiền sư Minh Giác - Kỳ Phương (1682 - 1744), thiền sư Thành Nhạc - Ẩn Sơn (? - 1776), thiền sư Minh Vật - Nhất Tri (? - 1786) [Nguyễn Hiền Đức 1995, tr 187]

Năm 1734, để tăng cường dân số cho vùng đất mới, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã phát động phong trào di dân từ miền Trung vào Đồng Nai - Sài Gòn

- Gia Định Cùng với quá trình đó là sự xuất hiện của các vị thiền sư để phục

vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng Các thiền sư này cho xây dựng thêm nhiều ngôi chùa mới ở đất Nam Bộ Chẳng hạn như thiền sư Thiền

sư Linh Nhạc - Phật Ý (1725 - 1821) khai sơn chùa Từ Ân (1744), thiền sư Pháp Nhân - Thiên Trường, khai sơn chùa Thiên Trường (1755) ở Cầu Kho, thiền sư Đạt Bổn lập chùa Kim Chương (1756), thiền sư Toàn Chánh - Tánh

6

Xem thêm bài viết Phan Thu Hiền 2011: “Một số đặc điểm văn hóa Phật giáo của người miền Tây Nam Bộ

qua cuộc đời các vị danh Tăng” - Nguyệt San Giác Ngộ số 179, trang 54 – 65

Trang 25

Đắc khai sơn chùa Tập Phước ở xã Bình Hòa, sau lên trụ trì chùa Hội Khánh

ở Thủ Dầu Một Ngoài việc xây dựng chùa chiền, đáp ứng nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của người dân Nam Bộ, các thiền sư còn đặc biệt chú trọng đến việc giúp đỡ cộng đồng, thông qua các hoạt động trừ tà, bốc thuốc chữa bệnh, như thiền Sư Hải Hội - Chánh Nghiệp, thiền sư Tánh Thông - Giác Ngộ, thiền

sư Kiểu Giáp - Định Tông, thiền sư Bảo Chơn Ngoài ra, dù hành đạo ở vùng đất Nam Bộ, nhưng với tài năng và đức hạnh của mình, nhiều thiền sư hành đạo ở Nam Bộ còn được triều đình Huế mời về kinh thuyết pháp và phong chức Tăng cang, trụ trì chùa Thiên Mụ - một ngôi chùa thuộc triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ, như thiền sư Tổ Ấn - Mật Hoằng (1735 - 1835), thiền sư

Tế Bổn - Viên Trường (1769 - 1848) thiền sư Thiệt Thành - Liễu Đạt (? - 1823), thiền sư Tế Giác - Quảng Châu (1788 - 1875)

Từ thế kỷ XX trở đi, đặc trưng này càng được thể hiện rõ nét ở Phật

giáo Nam Bộ Theo công trình Tiểu sử danh Tăng Việt Nam do Thích Đồng

Bổn chủ biên, thì trong số 200 nhà sư ở thế kỷ XX, có đến 88 vị sinh quán và trưởng thành ở Nam Bộ, chiếm 41% danh tăng cả nước Trong một công trình

khác là Danh nhân văn hóa Phật giáo Việt Nam đương đại - chân dung và đối

thoại ,do Minh Mẫn chủ biên năm 2006, tỉ lệ này cao hơn: 9/10 nhà sư, chiếm

90% số lượng các nhà sư nổi tiếng trong cả nước

Hiện nay, số lượng tự viện và Tăng Ni ở TP Hồ Chí Minh là đông nhất nước Nhờ điều kiện kinh tế - xã hội thuận tiện, nơi đây được xem là trung tâm đào tạo nhân tài Phật giáo trong nước, với các hệ thống giáo dục từ sơ, trung cấp, cao đẵng, đại học và bước đầu thí điểm hệ Thạc sĩ và Tiến sĩ Những lớp học chuyên ngành như Luật học, giảng sư, phiên dịch kinh điển,… được tổ chức ngày càng có hệ thống và chuyên môn hóa Những điều kiện thuận lợi đó đã góp phần hun đúc, hình thành và sản sinh ra nhiều nhân tài cho Phật giáo vùng và cả nước

Trang 26

Ngoài hai đặc trưng trên, Phật giáo người Việt ở Nam Bộ còn thể hiện tính năng động và tinh thần nhập thế mạnh mẽ Đạo Phật chủ trương giải thoát, nhưng Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là ở Nam Bộ đã thể hiện tinh thần

“Phật pháp bất ly thế gian pháp” (7) rất cao độ Ngay từ những ngày đầu du nhập, Phật giáo người Việt tại Nam Bộ đã lấy phương châm “phục vụ chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật” làm kim chỉ nam trong sự dấn thân của mình Chính vì vậy, trong nhiều hoạt động, giới Phật giáo luôn hướng tới lợi ích của quần chúng Ngoài những hoạt động mang tính chất tôn giáo, Phật giáo Nam Bộ còn có những phong trào thiết thực đáp ứng nhu cầu cấp bách của quốc gia, dân tộc Chẳng hạn như trong các cuộc chiến giữa triều đình nhà Nguyễn với Tây Sơn, Phật giáo đã dành nhiều ngôi chùa làm nơi lánh nạn tạm

7 Phật pháp không lìa ngoài các việc trong thế gian

Trang 27

thời của triều đình và hoàng gia, như chùa Khải Tường và chùa Từ Ân (Sài Gòn), chùa Đại Giác (Đồng Nai) Do đó sau khi xưng vương, các chúa Nguyễn rất chăm lo cho Phật giáo và những ngôi chùa này

Đầu những năm 20 của thế kỉ XX, khi đất nước có loạn, nhiều ngôi chùa, nhiều vị danh tăng tham gia hoạt động yêu nước, chống ngoại xâm trong các hội kín như Thiên địa hội, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Các cuộc khởi nghĩa của dân tộc, như khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, Cách Mạng tháng Tám 1945, đều có sự tham gia, ủng hộ của tăng ni và Phật tử

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đấu tranh chống Mỹ, Phật giáo Nam Bộ lại có những người con xếp cà sa để khoác chiến bào lên đường cứu nước, tham gia các hoạt động đấu tranh đòi thực thi Hiệp định Genève, thống nhất đất nước, đấu tranh chống chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm Và đỉnh cao của phong trào chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm là ngọn lửa “vị pháp thiêu thân” của một vị Hòa thượng, mà sau này được tôn xưng là Bồ Tát Thích Quảng Đức, bừng cháy giữa lòng thành phố Sài Gòn vào ngày 11/6/1963, đã góp phần to lớn làm tan rã bộ máy chính quyền Mỹ - Diệm, đưa cuộc đấu tranh của dân tộc sang trang mới

Sau năm 1975, tính năng động và tinh thần nhập thế này càng thể hiện

rõ nét qua các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, các hoạt động từ thiện - xã hội của Phật giáo Nam bộ Trong bản tin Hội nghị kỳ IV khóa V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết, năm 2005 Ban Từ thiện- xã hội Phật giáo ở Nam

Bộ đóng góp đến 79% tổng kinh phí từ thiện- xã hội của Trung ương Giáo hội [Trần Hồng Liên 2008: 61] Đó là chưa kể những cô nhi viện và viện dưỡng lão (chùa Pháp Võ, chùa Long Hoa, chùa Diệu Giác, chùa Lâm Quang - TP HCM, chùa Cẩm Phong (Tây Ninh), chùa Bồ Đề Đạo Tràng (Bình Dương), chùa Long Phước Thọ, chùa Diệu Pháp (Đồng Nai), chùa Long Thạnh (Long An), chùa Phật Minh (Bến Tre) , phòng thuốc từ thiện (phòng thuốc từ thiện

Trang 28

Tịnh xá Linh Quang, chùa Từ Khánh, chùa Pháp Hoa - TP HCM, thiền viện Linh Chiếu, chùa Pháp Hoa, chùa Đức Quang (Đồng Nai); cơ sở dạy nghề miễn phí ở các chùa như Chùa Phật Quang - Kiên Giang, chùa Bửu Sơn - An giang, chùa Kỳ Quang TP.HCM lớp học ngoại ngữ, vi tính (chùa Long Phước - Long An, chùa Bửu Thiền- Đồng Nai, chùa Huyền Trang - TP.HCM)… và gần đây là bếp ăn từ thiện mọc lên khắp nơi tại các chùa người Việt ở Nam Bộ Ở các thành phố lớn, như Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh, các hoạt động hỗ trợ chỗ ở và cung cấp xuất cơm miễn phí cho các thí sinh tham gia các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng diễn ra ở nhiều chùa Một số chùa còn dành không gian riêng cho các thí sinh đi thi và sinh viên trọ học trong suốt thời gian học đại học, như chùa Tam Bảo, chùa Tân Hòa (quận 9); chùa Phật Bửu, chùa Phước Hòa (quận 3) Đó là chưa kể những chuyến từ thiện ủy lạo đồng bào khó khăn, trong các dịp lễ tết hay những chuyến cứu trợ

lũ lụt các miền trong nước, trao quà khuyến học, xây dựng cầu đường,… được các tổ chức, chùa viện ở Nam Bộ rất quan tâm

Tóm lại, Phật giáo người Việt ở Nam Bộ tuy hình thành muộn, nhưng phát triển rất nhanh và mạnh, lan tỏa rộng khắp các vùng đất Nam Bộ, với ít nhất ba đặc trưng chủ yếu: nơi tập trung nhiều bậc anh tài Phật giáo, thể hiện tính dung hợp cao, tính năng động và tinh thần nhập thế mạnh mẽ

Nhìn vào hệ thống Phật giáo người Việt tại Nam Bộ hiện nay, có thể nói những gì có trong Phật giáo Việt Nam thì đều có mặt tại đây, từ truyền thống đến hiện đại Không những thế, ngoài những điểm chung ấy, Phật giáo Nam Bộ còn mang những nét đặc trưng riêng, hoặc ít ra cũng biểu hiện những nét văn hóa chung ấy ở mức độ cao và sâu sắc hơn

Ngày nay, do có nhiều cơ hội giao lưu học hỏi với các nước trên thế giới, Phật giáo người Việt tại Nam Bộ không ngừng phát triển, làm mới tự

Trang 29

thân để trở thành một tổng thể văn hóa Phật giáo thống nhất trong đa dạng, hết sức phong phú và đặc sắc

Phật giáo Việt Nam là sự dung hợp của nhiều hệ tư tưởng (Nam-Bắc-bản địa) trong một nền tôn giáo Thực tế, cũng chưa có một tài liệu nào khẳng định

tư tưởng Mật giáo truyền vào Việt Nam từ thời đoạn nào Tuy nhiên, biểu hiện

rõ nét nhất vẫn là qua các yếu tố văn hóa -xã hội Một số nhà nghiên cứu cho rằng, do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam, hoặc quy định hay ảnh hưởng nhất định, dẫn đến Phật giáo Việt Nam không có sự tư tưởng rõ ràng trong tông phái Đơn giản chỉ là sự tiếp nhận có chọn lọc, mà không theo một tông phái nào, thậm chí

là có sự kết hợp trong cách chọn lọc Chính vì vậy, để có một sự nghiêm túc trong nghiên cứu yếu tố Mật trong Phật giáo, chúng ta không còn cách nào khác

là thông qua các nghi cúng, tế lễ, đời sống tâm linh tôn giáo và cả ứng xử của cộng đồng Phật giáo Nam bộ, mà xác định yếu tố trong rất nhiều yếu tố cấu thành diện mạo đặc trưng của Phật giáo Việt Nam (khu vực Nam bộ)

1.2.2 Góc nhìn tôn giáo học

Tôn giáo đóng vai trò đồng hành cùng xã hội con người từ thuở bình minh của nhân loại Trong cảm quan tôn giáo người Việt “đúng ra là tôn giáo thờ quỷ thần” [Léopold Cadière 2010, tr.24] chính vì thế nó cũng không có lịch sử và rõ ràng Đạo Phật lại là một tôn giáo luôn “uốn” mình thích nghi với mọi quốc gia khi nó truyền tới, chính sự uyển chuyển trong quá trình du nhập này, hoặc Phật giáo trở thành quốc giáo (Mianmar, Srilanka…) hoặc hòa vào dòng văn hóa tín ngưỡng của bản địa để trở thành một Phật giáo có nét văn hóa tín ngưỡng cận theo dân tộc đó Chính cái „phàm‟ và cái „thiêng‟ trộn lẫn trong một cộng đồng tôn giáo làm cho chúng ta rất khó nhận định đâu là yếu tố thuần chất của Phật giáo, đâu là tính chất tín ngưỡng dân gian, hay là yếu tố các tôn giáo, tư tưởng Đạo giáo, Nho giáo ảnh hưởng vào Phật giáo Việt Nam

Trang 30

Người Việt lễ Phật như thể một phần thứ yếu trong cùng một niềm tin kính thờ các thần thánh mà họ đã có và mang theo từ lâu đời trong đời sống cộng đồng Trong tâm thức sâu xa của người Việt, họ luôn có hai đức tin Một

là, tôn thờ thần thánh, có đối tượng siêu nhiên hay nhân cách hóa các linh hồn anh hùng, cô hồn, ông bà tổ tiên.Thứ hai, chính là đạo Phật Yếu tố Mật của Phật giáo cũng ảnh hưởng hay chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian này mà có sự khác biệt với tông chỉ và cách thực hành của Mật tông nguyên thủy, cũng như trong từng vùng miền

Nếu ở phạm trù quan kiến văn hóa học, chẩn tế được hiểu như là một sự tiếp thu văn hóa đạo đức, hàm nghĩa như một sự trợ giúp cuộc sống trong cộng đồng, thì ở nhiều phương diện chuyên ngành khác cũng sẽ có cách nhìn khác nhau về cùng vấn đề này Tuy nhiên, dưới góc độ Tôn giáo học, các nghi lễ (đặc biệt là nghi thức chẩn tế) có nhiều yếu tố hành vi tôn giáo nhất, thể hiện rõ nét ở các quan điểm niềm tin, thực hành, trong cộng đồng người Việt (khu vực Nam bộ) Tuy nhiên, sự khác biệt về không gian văn hóa (vùng miền), sự giao lưu văn hóa với tín ngưỡng bản địa đã có ảnh hưởng nhất định, tác động đến việc vận dụng yếu tố Mật khi thực hành nghi lễ Phật giáo Yếu tố Mật luôn là xương sống trong các nghi lễ, hay nói cách khác, yếu tố Mật là biểu hiên rõ nét mối quan hệ tâm linh tôn giáo trong tương quan tinh thần và vật chất; ngược lai hình thức nghi lễ chẩn tế chính là cách biểu hiện đời sống vật chất và tinh thần của con người văn hóa nơi đó, mà trong chương sau chúng ta sẽ phân tích sâu hơn

Mặt khác, xã hội tiếp nhận tôn giáo có thể xem như một quy luật, hiện tượng xã hội, chứ không hẳn như một thực tại siêu kinh nghiệm, cũng không phải là một “ảo ảnh” Xu hướng “trần tục” hóa và “thế tục hóa” bắt nguồn từ những thập niên 1960 [Oliver Bobineau Sebastien Tank-Storper, 2012, tr.7] Nói cách khác, tôn giáo là một thực thể xã hội bao trùm lên nó không ngoài

ba yếu tố chính: Niềm tin tôn giáo; thực hành tôn giáo; và cộng đồng tôn giáo

Trang 31

Chính ba yếu tố cơ bản cấu thành này mà tôn giáo được xem như một thực thể của xã hội mà ngành tôn giáo học cần nghiêm túc nghiên cứu, cũng như định hướng văn hóa- xã hội Bởi vì, có một số quan điểm hiện nay vẫn có quan

kiến tôn giáo là một thứ “thuốc phiện” ru ngủ con người, làm cho con người

trở nên nhu nhược về tinh thần và hạn chế sự phát triển thể chất, tinh thần của con người trong xã hội Vì thế, làm rõ được yếu tố Mật trong Phật giáo Nam

bộ cũng chính là phân tích vai trò ổn định xã hội và văn hóa tín ngưỡng trong đời sống thiết thực của cộng đồng Nghiên cứu yếu tố Mật trong Phật giáo Nam Bộ chính là khẳng định Phật giáo là một thực thể tôn giáo mang tính xã hội, các yếu tố mang trong mình nó cũng chính là đem lại sự cân bằng trong đời sống tinh thần của cộng đồng phật tử hành trì theo yếu tố Mật trong tổng thể giá trị của Phật giáo Nam bộ Bên cạnh các tư tưởng thần thánh như một tôn giáo -tín ngưỡng nhân gian pha lẫn các yếu tố thần quyền, thậm chí là ma thuật, yếu tố Mật của Phật giáo đôi khi bị đánh đồng trong khái niệm ma thuật, vô tình hoặc cố ý bỏ qua yếu tố tinh hoa đầy tính triết học làm nòng cốt cho giáo lý Mật tông Bởi lẽ, các lễ nghi tế cúng của người Việt chủ yếu là từ đáy lòng van xin trước các đấng siêu nhiên (thần cây, thần núi, thần biển, thần rừng ), tán hô ca ngợi, hạ mình khiêm cung tin tưởng với sự hiến cúng chắc chắn được chấp nhận và ban cho họ được sự mãn nguyện Cắm rễ sâu trong tư tưởng người Việt qua bao thăng trầm, vì thế khi yếu tố Mật tông du nhập, vô hình chung cộng đồng tín đồ quần chúng sẽ thấy nét tương đồng trong tín ngưỡng và không có sự thấu đáo trong giáo lý mật tông hành trì Hệ quả, yếu tố Mật phải lồng ghép vào các nghi lễ khác, tông chỉ khác và hình thức khác để tồn tại Sự nhầm lẫn và thiếu thận trọng khi nhìn nhận về mật pháp trong cộng đồng là điều dễ hiểu, bởi các nghi thức khá cầu kỳ khác lạ của mật pháp đến cách trang trí thờ tự so với những giáo lý đơn giản mang tính phổ quát mà hằng ngày họ được tiếp cận Từ đó, quần chúng cộng đồng tín đồ hoặc tò mò tìm hiểu sâu sắc hơn và thậm chí thực hành trong đời sống

Trang 32

đạo, hoặc sẽ dẫn đến việc xa lánh, tránh tiếp xúc với mật pháp Quan trọng nhất là dẫn đến hệ quả mật pháp được sử dụng như công cụ thần quyền đầy quỷ mỵ để mê hoặc, hay trở thành „cái áo‟ che dấu những mưu cầu thấp hèn,

“sự trả thù không dám nói ra, những thực hành rất kỳ quặc” [Léopold Cadière 2015, tr.35] hay sự truyền bá những hành vi tôn giáo lệch lạc, tiêu cực, xa rời tinh thần tích cực vốn có của yếu tố Mật trong Phật giáo

Thật thiếu sót nếu như chúng ta không có một sự liên hệ liên ngành, đó chính là sự thờ cúng hay nói nghi lễ tôn giáo một cách hợp lý và rõ ràng về mặt văn hóa tôn giáo, đây là yếu tố sẽ góp phần củng cố vững chắc nền tảng xã hội Trên phương diện tôn giáo học, chúng ta sẽ thật chủ quan khi nói kinh tế, chính trị mới quyết định văn minh và tính ổn định cho một dân tộc, trừ khi có một nền tôn giáo, tín ngưỡng thờ cúng có chức năng liên thế hệ (đạo Lương, Đạo thờ ông bà, ) làm hạ tầng cơ sở xã hội Bởi nó có chức năng liên kết trao truyền và “niềm tin trong suốt dọc các thế hệ” [Oliver Bobineau Sebastien Tank-Storper 2012, tr.20]

Do đó, xã hội được củng cố vững chắc qua các con đường xuyên qua tôn giáo, thực hành tín ngưỡng như một cách tôn thờ mục đích chung của xã hội

1.3 Một số khái niệm

Mật tông theo Phật Quang Đại Từ Điển định nghĩa, “gọi là Chân

Ngôn tông, Du già tông, Kim cang đảnh tông, Tỳ Lô Giá Na tông, Khai nguyên Tông, Bí mật thừa.” tức “ Tông phái đại thừa nương vào pháp môn chân ngôn đà la ni, tu diệu hạnh ngũ tướng, tam mật, để mong cầu thành Phật ngay nơi thân này, là một trong 13 tông phái Trung Quốc và một trong 8 tông của Phật giáo Nhật Bản tông này chủ yếu lấy Kinh Kim Cang Đảnh làm kinh tạng, kinh Tô bà hô làm Luật Tạng và luận Thích Ma Diễn làm luận tạng, các kinh điển của Mật giáo được gọi là Mật kinh Tông này được gọi là Mật giáo (đối lại với hiển giáo) là vì hiển bày giáo lý của mình rất sâu xa bí mật” (…) Tông phái này “cho rằng giáo pháp của hai bộ Kim Cang giới và Thai tạng giới do pháp thân Phật Đại Nhật Như Lai

Trang 33

tuyên thuyết mới là cảnh giới tự nội chứng của Phật” [Sa Môn Thích

Quảng Độ 2014, tr.3504]

Dưới đây là một số khái niệm cần được hiểu trước khi đi sâu vào những biểu hiện của yếu tố Mật trong Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Nam bộ

- Mandala : là biểu tượng của cảnh giới thanh tịnh của Chư Phật

Theo tiếng Hán có nghĩa là luân viên cụ túc., là vòng tròn đầy đủ.Đây

là biểu tượng của vũ trụ và năng lực trong vũ trụ được trình bày bằng các hình

vẽ Mandala, về mặt triết lý, là cơ sở hợp nhất thế giới hiện tượng và thế giới bản thể, là đối tượng của thiền quán Trong ý nghĩa thực tiễn, thì Mandala là đàn tràng bằng đất để hành giả bày biện các lễ vật hay pháp khí phục vụ cho nghi thức hành lễ, cầu nguyện, tu luyện [36, tr.26]

Mandala thường có 3 lớp, biểu tượng cho 3 thân Phật: Pháp thân, Báo Thân và Hóa Thân

Thai Tạng giới Mandala (Garbhadhàtu mandala) là yếu tố thụ động tâm linh, cũng có nghĩa chỉ cho vũ trụ về mặt tĩnh, mặt lý tính Kim Cang giới mandala (Vajradhatu mandala) là yếu tố tác động, biểu hiện cho trí tuệ viên mãn, còn gọi là trí thủy giác Kim cang giới là trí tuệ nội chứng của Phật Bí Tạng ký nói “Thai Tạng là lý, Kim cang là trí” Như vậy, Thai tạng giới biểu hiện cho bản thể Phật tính của mọi chúng sinh và Kim cang giới biểu tượng cho trí tuệ viên mãn Từ Thai Tạng giới mà xuất sinh Kim cang giới theo tiến trình nhân quả Sự hợp nhất Kim cang giới và Thai Tạng giới là sự chưng ngộ tối thượng [36, tr.26-27]

Mandala có nhiều lọai, tựu trung có 4 loại : Đại Mandala; Tam muội gia Mandala; Pháp mandala; Yết ma mandala

- Nghi lễ là hình thức thực hành các lễ theo một quy định chung để tạo

sự đồng bộ Các hình thức tế lễ theo Phật giáo được gọi chung là nghi lễ, tùy theo vùng miền mà có sự khác biệt

Trang 34

- Tế lễ: là một hình thức diễn xướng mang tính chuẩn hóa và thống

nhất, ít nhất là trong âm thanh và cung cách theo quan niệm của tôn giáo tín ngưỡng đó Tế lễ thường vào các ngày chính hội với nghi thức rất trang trọng, kéo dài, phân thành các tuần tế khác nhau, như tuần dâng hương, tuần dâng hoa, tuần dâng rượu Tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh thần linh với ngôn ngữ, ăn mặc và điệu bộ mô phỏng phong cách cung đình Huế ở thế kỷ thứ XVII-XIX.[ Ngô Đức Thịnh, 2009, tr51.]

-Nghi lễ Phật giáo: Nghi lễ chẩn tế là hình thức mang đậm yếu tố Mật

trong Phật giáo nhất Chính thế, để tìm hiểu yếu tố Mật trong Phật giáo không thể bỏ qua nghi lễ Chẩn tế (zh 振 濟), vốn xuất phát gốc từ chữ Trung Hoa,

về phương diện từ nguyên được diễn giải như sau:

Chẩn tế là dùng tiền hoặc y phục, thực phẩm…để cứu giúp (dân gặp

hoạn nạn); cứu tế cho dân nghèo đói bi tai họa[Hoàng Phê, Tự Điển Trung Quốc, 2006, tr142 ]…Ngoài ra các từ điển khác như Từ Điển Hán Ngữ quy phạm hiện đại do Lý Hành Kiên chủ biên (2005; NXB Nghiên cứu và dạy học Ngoại ngữ phối hợp ấn hành ; Từ Hải do Hạ Chính Y chủ biên (1986), nxb Thượng Hải Từ Thư ấn hành… đều có sự giải thích hành vi “chẩn tế” là những người đang có hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ Từ “cúng” có nguồn gốc chữ Hán Việt nghĩa là cung cấp, cung ứng [Trương Văn Giới, Lê Khắc Kiều lục, 2000, tr228] Khi Việt hóa đọc chệch là “cúng” hàm nghĩa “dâng hiến” lễ dâng, cách thức thờ phụng tổ tiên hoặc thần thánh [Nguyễn Quang Hồng, 2006, tr.218] hoặc dâng lên thần thánh, linh hồn người chết… Từ nghĩa gốc ban đầu chỉ còn nội hàm là cho đi một vật gì đó, chuyển qua từ Nôm thì gần gũi hơn, mang nghĩa linh thiêng có âm hưởng tôn giáo tín ngưỡng của cả cái thiêng và cái tục Dù vậy trong tâm thức con người trong cộng đồng, chẩn

tế là nói đến hành vi cúng tế, hành vi thực hành tôn giáo bản địa nhằm tôn vinh hay tưởng nhớ đến người đã chết để cầu âm siêu dương thịnh vậy

Trang 35

Cổ đại Hán ngữ đại từ điển, xuất bản năm 1999, nhóm tác giả, do Nxb

Thượng Hải Từ Thư ấn hành…8

đều định nghĩa « Chẩn tế là dùng tiền hoặc y

phục, thực phẩm… để cứu tế » Thế thì đối tượng cho hành vi “chẩn tế” là

những người đang có hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ Tuy nhiên, trong thực tế khi các cá nhân hay tập thể làm công tác từ thiện này - phát quà trợ giúp cho đồng bào nghèo, hoặc bị tai họa, thì không dùng từ “chẩn tế” mà lại dùng từ “phát chẩn” hoặc “cứu tế”, hoặc “cứu trợ” Trong khi đó, tài liệu chuyên đề trong chuyến hồi hương và tổ chức trai đàn bình đẳng chẩn tế tại ba miền Bắc - Trung - Nam của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh vào năm 2007 vừa qua có định nghĩa như sau: “Chẩn” là phân phát, cứu giúp, “tế” cũng là cứu

giúp, tế độ, đưa kẻ kia ra khỏi hoàn cảnh ngặt nghèo [Dẫn theo phần “Giải

thích từ ngữ” trong tài liệu “ Đại trai đàn bình đẳng chẩn tế xuân Đinh Hợi

2007 tại Việt Nam” : 19]

- Tức Tâm Tức Phật / Tức Thân Tức Phật

Rằng, tức thân tức Phật chính là tịnh hóa thân và tâm đạt đến cảnh giới ngay thân này mà thành Phật thông qua quán niệm và hành trì mật chú hay còn gọi là Đại thủ ấn

- Tam Mật Tương Ưng

Tam mật tức phương pháp bao hàm các hành vi thực hành tôn giáo thống nhất ba yếu tố: miệng trì niệm Chân ngôn, tham gia các nghi thức như tâm quán Mandala, tay kiết ấn và thực hiện nghi thức Du già

- Du Già (Yoga Mantra)

Một thuật ngữ gắn liền mật thiết với Mật tông là Du già (Yogā)9, vốn xuất phát từ trong kinh Vệ đà (rigveda), sau đó dùng trong Áo nghĩa

8 Đều là từ điển Trung Quốc

9 Đươc mang áo nghĩa thư là sự hài hòa

Trang 36

thư (Upanisad), từ ngữ hàm ý các pháp quán hành điều tức, quán phạm ngã hợp nhất, đại ngã và tiểu ngã đồng nhất thể, đến khi Phật giáo ra đời

Tóm lại, Mật tông rất xem trọng tu hành thực tiễn, nghi chấp phức tạp, rườm rà, việc thiết đàn, cúng dường, tụng chú, quán đảnh đều theo một

mô thức đã quy định rất nghiêm khắc, còn do vị A-xà-lê bí mật truyền pháp

Họ cho rằng, chúng sanh nếu quả thực tu hành như pháp „Tam mật gia trì‟ (10), tức là tay quyết ấn, miệng tụng chú, tâm quán tưởng đức Phật, khiến cho ba nghiệp (thân, miệng và ý) luôn thanh tịnh, tương ưng với ba nghiệp của đức Phật, liền ngay đó tức thân thành Phật Cho nên, đối với quảng đại tín đồ, dù hành trì vô cùng khó khăn nhưng Mật tông có một sức hấp dẫn rất mãnh liệt

10 Thực hành nghiêm túc nhằm sự kiểm soát tuyệt đối của thân-miệng-ý thành một chỗ đạt định tâm

Trang 37

Tiểu kết Chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã phân tích và trưng giải một số khái niệm có liên quan đến phạm vi đề tài, dựa trên tổng thể phân tích của các học giả tiền nhân, để làm công cụ phục vụ nghiên cứu Đồng thời với việc giới thiệu là việc nhận định mới theo kiến quan cá nhân, nhằm góp phần làm sáng

tỏ vấn đề đang đề cập trong đề tài

Ngoài các thuật ngữ cơ bản có liên quan đến Mật tông như Mandala, nghi lễ, nghi lễ chẩn tế, tế lễ, Tức Tâm Tức Phật, Tam Mật tương ưng, chúng

tôi cũng đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của Mật tông, giáo lý cơ

bản của Phật giáo Mật tông, đồng thời cũng cung cấp cái nhìn khái quát về Phật giáo Nam Bộ, dựa trên hướng tiếp cận Tôn giáo học

Bên cạnh đó, trong chương này còn thể hiện phạm vi và chức năng của tôn giáo ở các chức năng đặc trưng của nó thông qua nghi lễ và đời sống đạo của tôn giáo này mà chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ hơn nữa trong những chương sau Chẳng những yếu tố Mật thể hiện trong nghi lễ cầu an cầu siêu

mà còn trong cả điều chỉnh hành vi lối sống thường nhật của một hành giả Phật giáo Nên sẽ thật sai lầm khi đánh đồng yếu tố Mật tông trong nghi lễ Phật giáo là một yếu tố thần thánh hóa, không có giá trị hiện thực xã hội hóa

Thêm vào đó, trên nền kiến thức liên ngành, chúng tôi cũng liên hệ các điều kiện tự nhiên, lịch sử đặc thù vùng đất Nam Bộ, nó được xem là hoàn cảnh có tính chất quyết định lên sự tiếp nhận và định hướng đời sống tôn giáo của cộng đồng Phật giáo, nhằm đưa đến sự mở đầu cho quá trình du nhập và phát triển yếu tố Mật cũng như các hành vi tín ngưỡng vào cộng đồng trong vùng đất Nam Bộ này

Trang 38

Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ MẬT TRONG

PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ

Trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù và có nhiều tộc người sống cộng cư như Hoa, Chăm, Khmer, Nam bộ như điểm đến của các hệ tư tưởng lớn Trong đó

từ rất sớm Phật giáo đã có mặt bằng nhiều con đường du nhập Với tinh thần nhập thế và dung hợp, Phật giáo trở thành một tôn giáo lớn của người Việt bên cạnh những hệ tư tưởng khác Sự hào sảng Nam bộ phần nào thể hiện trong cách tiếp nhận các tư tưởng tôn giáo này khi nó được truyền đến

Tuy vậy, thuật ngữ “tôn giáo” vẫn chưa được thống nhất, để được chấp nhận là một tôn giáo thì phải hội đủ các tiêu chí cơ bản như: phải có vị giáo chủ hay người sáng lập, hệ thống tín điều hay giáo lý, hệ thống tổ chức hay giáo hội; có hình thức thờ phụng và thực hành nghi lễ riêng Phật giáo, với tư cách là một trong những tôn giáo lớn và cổ xưa của thế giới, đã đáp ứng được những yêu cầu đó Khi truyền đến Việt Nam và Nam Bộ, người Việt ở đây đã biết cách tiếp biến và dung hợp các yếu tố đó với văn hóa bản địa, tạo nên bản sắc riêng để phục vụ cho đời sống tinh thần cộng đồng

Chương này trình bày những biểu hiện của yếu tố Mật trong Phật giáo, được tiếp cận dưới góc độ: Niềm tin tôn giáo; thực hành tôn giáo; còn đối với cộng đồng tôn giáo, sẽ được trình bày trong chương 3, tìm hiểu những ảnh hưởng của yếu tố Mật đối với tăng ni, tín đồ, tức cộng đồng theo Phật giáo

Khảo sát dưới góc độ niềm tin tôn giáo, yếu tố Mật sẽ được xét trong phạm trù kinh sách Phật giáo, đặc biệt là những sách chuyên sâu về Mật tông, đang được lưu hành trong các ngôi chùa ở Nam bộ; các bài chú nguyện Ngoài ra, yếu tố Mật cũng còn được thể hiện thông qua kiến trúc ngôi chùa, đặc biệt là tại chùa Tây Tạng (tỉnh Bình Dương) ; qua bày trí tượng thờ, tranh Thangka

Trang 39

Về thực hành tôn giáo, chúng tôi sẽ khảo sát việc thể hiện yếu tố Mật thông qua các nghi lễ, lễ hội Phật giáo Trong các nghi lễ này, chúng tôi cũng kết hợp khảo sát trang phục và pháp khí được sử dụng khi hành lễ có liên quan đến Mật tông, tức trong khoa nghi chẩn tế

2.1 Yếu tố Mật trong kinh sách Phật giáo

Nói đến kinh sách là đề cập đến hệ thống giáo lý của một tôn giáo, là việc trình bày một cách chuẩn xác nhất quan niệm, học thuyết, tư tưởng, đức tin của tôn giáo ấy

Khi tìm hiểu vào các tạng kinh văn Phật giáo, chúng ta thấy sự manh nha hay ảnh hưởng từ tư tưởng Bà La Môn giáo của Ấn độ cổ đại Kinh Phạm

Động số 21 thuộc Trường A Hàm, quyển 14, Phật dạy: “như các Sa môn

Bà-la-môn tuy ăn của tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy, như kêu gọi quỷ thần, hoặc lại đuổi đi, các thứ ếm đảo, vô

số phương đạo, làm người khiếp sợ; có thể tụ, có thể tán; có thể làm cho khổ,

có thể làm cho vui; có thể an thai, trục thai; hoặc phù chú người ta hóa làm lừa, ngựa; có thể khiến người điếc, đui, câm, ngọng; hiện các kỹ thuật; hoặc chắp tay hướng về mặt trời, mặt trăng; hành các khổ hạnh để cầu lợi dưỡng… ” hay có thể tìm thấy “… hoặc vì người mà chú đảo bệnh tật, đọc ác thuật, tụng thiện chú; làm thuốc thang, châm chích, trị liệu bệnh tật… ” thậm chí có chỗ còn thấy rõ nét hơn như “… hoặc chú nước lửa, hoặc chú quỷ thần, hoặc chú Sát-lỵ, hoặc chú voi, hoặc chú chân tay, hoặc bùa chú an nhà cửa; hoặc giải chú lửa cháy, chuột gặm; hoặc đọc sách đoán việc sống chết; hoặc đọc sách giải mộng; hoặc xem tướng tay, tướng mặt; hoặc đọc sách thiên văn; hoặc đọc sách hết thảy âm… Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.”[ Thích Minh Châu Dịch, tr.47]

Kinh Đa Giới thuộc Trung A Hàm quyển 47: “… hoặc có Sa

môn Phạm chí, hoặc trì một câu chú, hai câu chú, ba câu chú, bốn câu chú,

Trang 40

nhiều câu chú, trăm ngìn câu chú để mong cho tôi thoát khỏi khổ đau, như thế

là đi tìm sự khổ, huân tập sự khổ, dẫn đến sự khổ mà cho là hết khổ, trường hợp này không thể xảy ra.”[7, tr.127]

Thậm chí, rải rác trong kho tàng kinh văn, Luật tạng, Phật giáo như Tứ Phần Luật quyển 27 và Thập Tụng Luật quyển 46 và một số luật khác của Bộ Phái Phật giáo có nêu việc đức Phật ngài chỉ chọn dùng một số bài chú thích hợp khi gặp trường hợp ăn không tiêu, bị rắn độc cắn, đau răng hoặc đau bụng v.v…Kinh Đại Hội thứ 19 thuộc Trường A Hàm đức Phật vì hàng phục chư thiên mà dùng một số bài chú; Kinh Ưu-Ba-Tiên-Na số 252 thuộc Tạp A Hàm, Đức Phật khi nghe trình bày Tôn giả Ưu-Ba-Tiên-Na bị rắn độc cắn, Ngài liền dạy cho Tôn giả Xá Lợi Phất bài chú phòng hộ thân, không để rắn độc cắn.11

Từ đó có thể thấy được rằng, Mật chú và cách sử dụng mật chú đã xuất hiện từ rất sớm trong kinh điển thuộc hệ Phật giáo Nguyên thủy, chứ không như một số nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng Đức Phật sinh thời không hề

sử dụng mật chú Tuy nhiên, nguồn gốc xuất phát của Mật chú có lẽ là từ la-môn giáo, đến thời đức Thích Tôn đã ngăn cấm không để xuất hiện nhiều trong giáo lý Phật giáo Thêm vào đó, ngày càng có nhiều ngoại đạo xuất gia theo Phật, họ quen sử dụng những câu chú khi bệnh tật như một nét văn hóa gần như ăn sâu trong ý thức hệ người Ấn Đến thời Phật giáo Bộ Phái như Pháp Tạng bộ tôn sùng ngài Mục Kiền Liên (Mahāmoggallāna), hay nói về chuyện quỷ thần, đây cũng là một yếu tố manh nha từ rất sớm để chú pháp dần thịnh hành trong văn hóa Phật giáo

Bà-Như vậy, có thể xem tư tưởng Phật giáo Mật tông được manh nha từ rất sớm, biểu hiện qua kinh A Hàm Bằng việc xướng tụng những kinh văn đơn giản bằng văn Pali trong Luật Tạng và trong Kinh A Hàm, nương

11 Bài chú đức Phật dạy cho ngài Xá Lợi Phất để trị rắn độc cắn: “Ô-đam-bà-lệ, đam-bà-lệ, đam-lục, đam-lục, nại-tí, túc-nại-tí, chỉ-bạt-tí, văn-na-di, tam-ma-di, đàn-đế, ni-la-chỉ-thí, bà-la-câu-bế-ô-lệ, ô-ngu-lệ, tất-bà-ha”

Ngày đăng: 21/06/2018, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w