1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề thành phố hà nội

95 191 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 754 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nên nguồn lực đất đai chưa được pháthuy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển làng nghề.Trong khi đó, Thành phố Hà Nội sau khi điều chỉnh địa giới hành chínhnăm 2008

Trang 1

PHẠM THÚY HÒA

NGUỒN LỰC ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÀNH

PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN

LỰC ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

1.1 Những vấn đề chung về nguồn lực đất đai cho phát triển

1.2 Thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực đất đai

cho phát triển làng nghề Thành phố Hà Nội 29

Chương 2 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC, SỬ

DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN LỰC ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÀNH PHỐ HÀ

2.1 Quan điểm khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực

đất đai cho phát triển làng nghề ở Hà Nội 482.2 Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai cho

phát triển làng nghề ở Thủ đô Hà Nội 59

Trang 4

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia, là tưliệu sản xuất đặc biệt, là nguồn lực quan trọng để sản xuất ra của cải vật chấtcho sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia nói chung và mỗi ngành kinh tếnói riêng Đất đai là cũng là tài nguyên có hạn về số lượng nên cần được quản

lý, khai thác và sử dụng một cách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả

Thủ đô Hà Nội sau khi điều chỉnh địa giới hành chính có diện tích3.344,6 km2, với điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng, có nền văn hoá lâuđời, đặc biệt là nơi hội tụ nhiều làng nghề thủ công truyền thống nhất cả nướcvới bề dày phát triển hàng trăm năm đã sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trịkinh tế, nghệ thuật, mỹ thuật cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.Với 1.350 làng nghề và làng có nghề, chiếm khoảng 67% số làng nghề hiện

có của cả nước, Hà Nội tự hào là Thành phố có nhiều nghề thủ công nhất thếgiới Trong những năm qua, ngành CN - TTCN của Thành phố Hà Nội ngàycàng đổi mới và đạt được những thành tựu nhất định Các cấp, các ngành, các

tổ chức chính trị - xã hội, các hội, hiệp hội ngành nghề đã quan tâm đến sựphát triển của nghề, làng nghề với sự năng động sáng tạo của nhân dân, nênnhiều nghề, làng nghề được khôi phục, củng cố và phát triển Quá trình hìnhthành và phát triển của nghề, làng nghề truyền thống gắn liền với quá trìnhphát triển CN - TTCN ở nông thôn đã góp phần tích cực vào sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hóa, nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Thành phố; đờisống của người lao động được nâng cao, giảm sự khác biệt giữa thành thị vànông thôn, giữ vững trật tự an ninh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo, góp phần pháttriển kinh tế - xã hội ở địa phương, hạn chế di dân tự do và bảo tồn các giá trịvăn hoá truyền thống của dân tộc

Trang 6

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng sự phát triển làngnghề Thành phố Hà Nội vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, lợi thế,chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Phát triển nghề, làng nghề vẫn mangtính tự phát và gặp phải không ít những khó khăn như: thiếu mặt bằng để sảnxuất tập trung, thiếu đội ngũ lao động có tay nghề cao, thiếu vốn để đầu tư đổimới công nghệ, thiết bị máy móc nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sảnphẩm, khả năng cạnh tranh thấp, nguồn nguyên liệu không ổn định, chưa tạonhiều thương hiệu hàng hoá, sức tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, một số sảnphẩm truyền thống bị mai một, suy giảm Cơ sở hạ tầng nhất là đường giaothông, thông tin liên lạc chưa đồng bộ, môi trường làng nghề bị ô nhiễmnghiêm trọng, chưa có biện pháp khắc phục triệt để Nói cách khác, sự pháttriển các làng nghề của thành phố Hà Nội chưa thực sự bền vững.

Nguyên nhân của tình trạng đó một phần do các nguồn lực, trong đó

có nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề chưa được khai thác và sửdụng có hiệu quả Thực tế tại các làng nghề cho thấy, công tác quản lý nhànước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất,định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính; sử dụngđất còn lãng phí, hiệu quả thấp, nên nguồn lực đất đai chưa được pháthuy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển làng nghề.Trong khi đó, Thành phố Hà Nội sau khi điều chỉnh địa giới hành chínhnăm 2008 có quỹ đất tự nhiên tăng lên rất lớn, đây là nguồn lực hết sức tolớn và quan trọng mà Thành phố Hà Nội phải tận dụng khai thác cho pháttriển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển các làng nghề của Thành phố nói

riêng Với lý do đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề ở Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế - chuyên

ngành kinh tế chính trị và sự nghiên cứu này có tính cấp thiết cả về lý luậnlẫn thực tiễn

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Khai thác, sử dụng hiệu quả đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội nóichung và cho phát triển làng nghề nói riêng là chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước ta, vì vậy đã có rất nhiều cơ quan nhà nước, các chuyên gia quantâm nghiên cứu dưới nhiều hình thức

Dưới dạng sách nghiên cứu, hội thảo, bài viết tham luận tại các hội thảo

chuyên đề có các công trình:

Công trình "Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng" của Giáo sư,

Tiến sĩ Nguyễn Đình Phan, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Minh Đạo, NXB Chínhtrị quốc gia, Hà Nội, năm 2002, đã phân tích làm rõ thực trạng quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, đề xuất hệ thống cơ chế chính sách về chuyển đổimục đích sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp sang phát triển côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng, trong đó có Thủ đô

Hà Nội

Công trình "Phát triển bền vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong

quá trình phát triển các khu công nghiệp: Thực trang và giải pháp" của Tiến

sỹ Đỗ Đức Quân, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2008, đã làm rõ những vấn

-đề cơ bản về phát triển nông nghiệp, nông thôn; -đề xuất giải pháp phát triểncác cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề bên cạnh việc phát triểncác khu công nghiệp tập trung

Tạp chí Tài chính, số 10 năm 2012 chuyên đề về khai thác, quản lý và

sử dụng nguồn lực đất đai đã tập hợp hơn 10 bài viết nghiên cứu chuyên đềcủa nhiều tác giả nổi tiếng như Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Hùng Võ, Giáo sư, Tiến

sỹ Vương Đình Huệ, tập trung phân tích, đánh giá hiện trạng và đề xuất

Trang 8

những giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm khai thác, sử dụng, quản lý cóhiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước

và một số địa phương điển hình, trong đó có Thủ đô Hà Nội

Dưới dạng luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học có một số công trình:

Luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Minh Yến, năm 2003 "Phát triển làng

nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" Luận án Tiến sỹ Kinh tế của Bạch Thị Lan Anh, năm 2011

"Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ".

Các đề tài luận án này đã tập trung nghiên cứu đánh giá hiện trạng phát triểnlàng nghề, đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển bền vững làng nghề, làngnghề truyền thống ở phạm vi cả nước và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,trong đó nguồn lực đất đai được xem xét như một yếu tố nguồn lực để pháttriển bền vững các làng nghề

Luận văn Thạc sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Thanh Tùng, năm 2010,

“Khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai để phát triển kinh tế - xã

hội ở Hà Nội” tập trung đánh giá kết quả khai thác và sử dụng nguồn lực tài

chính từ đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Đối tượngnghiên cứu là quan hệ tài chính về đất đai giữa một bên là chính quyền Thànhphố - đại diện chủ sở hữu về đất đai - với một bên là các đối tượng sử dụngđất bao gồm: Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài được Thành phốgiao đất, cho thuê đất; được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nướcthu hồi đất; các loại thuế liên quan đến đất; biểu hiện ra bên ngoài của mốiquan hệ này là việc Nhà nước được hưởng lợi bằng tiền, bằng sự ổn định,phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và Thủ đô

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về làng nghề về nguồn lực đấtđai đều đã tiếp cận về cơ sở lý luận và thực tiễn dưới nhiều góc độ khác nhau.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên phạm vi tương đối rộng ở cấp độ

Trang 9

vùng hoặc liên vùng, một số nghiên cứu phạm vi hẹp hơn, giới hạn trên địabàn Thành phố Hà Nội nhưng thời gian nghiên cứu trước khi Thành phố điềuchỉnh địa giới hành chính năm 2008 nên không còn nhiều tính cập nhật, thời

sự Những công trình này đối tượng nghiên cứu là phát triển làng nghề, nguồnlực đất đai chỉ được xem xét như một giải pháp để phát triển làng nghề Một

số công trình nghiên cứu về nguồn lực đất đai hầu hết chỉ tập trung nghiêncứu về nguồn tài chính từ đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội hoặc quản lýnhà nước về đất đai

Tóm lại, sau khi tìm kiếm và nghiên cứu các công trình của nhiều tácgiả liên quan đến phát triển làng nghề trên địa bàn từ sau khi có Nghị quyết

số 15NQ-QH/2008 ngày 29/5/2008 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hànhchính hành phố Hà Nội chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệthống về nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề Do vậy, học viên lựa

chọn đề tài: "Nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề thành phố Hà

Nội" để nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị là hoàn toàn mới, không

trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

Phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận, thực tiễn về nguồn lựcđất đai để phát triển làng nghề Thành phố Hà Nội hiện nay Trên cơ sở đó đềxuất các quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đaicho phát triển làng nghề Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Trang 10

Đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đấtđai cho phát triển làng Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề Thànhphố Hà Nội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn Thủ đô và được tiếp cận dưới hai góc độ:

- Đất đai là tư liệu sản xuất, là yếu tố tạo dựng mặt bằng cho sản xuấttại các làng nghề;

- Đất đai là yếu tố vốn, là nguồn lực tài chính khai thác từ đất đai tạonguồn vốn cho phát triển làng nghề

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về không gian nghiên cứu chủ yếu là các làng nghề tại huyện ngoạithành của Thành phố Hà Nội

Về thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vàNhà nước có liên quan; đồng thời sử dụng những lý thuyết kinh tế chính trịhọc về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường; kế thừa có chọn lọcnhững công trình nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận văn

-* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp như: Phương pháp duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê so sánh, phương pháp logíc lịch

sử, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

Trang 11

6 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu để các

cơ quan quản lý nhà nước, các làng nghề tham khảo phục vụ cho công tác quyhoạch, xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển nghề và làng nghề Thànhphố Hà Nội

- Làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy kinh tế chính trị ở các trườngcao đẳng, đại học

7 Kết cấu của đề tài.

Ngoài mở đầu, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề chung về nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề

1.1.1 Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế

-xã hội ở Thủ đô Hà Nội

Để được công nhận làng nghề phải đạt được các tiêu chí: Có tối thiểu30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đềnghị công nhận; chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước

* Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền thống Làng

nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1 nghề truyền thốngtheo quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN Đối với những làng chưa đạttối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản xuất kinh doanh làng nghề ổn địnhnhưng có ít nhất 1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông

tư số 116/2006/TT-BNN thì cũng được công nhận làng nghề truyền thống

Để được công nhận làng nghề truyền thống, các làng nghề phải đạtđược những tiêu chuẩn: (1) Về thời gian: Là làng có nghề được hình thànhtrên 50 năm tính đến ngày làng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền

Trang 13

thống; (2) Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làngchiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng; (3) Về sửdụng lao động: Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngànhnghề nông thôn; (4) Bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo cácquy định hiện hành; (5) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Thành phố và địa phương; (6)Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hoá dân tộc, phải gắn với tên tuổi củalàng; (7) Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn của môi trườngtheo quy định tại điểm 4 vẫn được xem xét công nhận danh hiệu làng nghềtruyền thống khi đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánh giá tác động môitrường và đề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường.

* Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển

của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có nhữngđiều kiện nhất định để hình thành và phát triển

* Nghề truyền thống: Là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra sản

phẩm độc đáo có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nayhoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền

Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: (1)Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ 50 năm tính đến thời điểm côngnhận; (2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; (3)Nghề gắn với tên tuổi của 1 hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề

* Làng có nghề: Là làng được hình thành cùng với sự phát triển của

nền kinh tế chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điềukiện thuận lợi để phát triển Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên

Với tiêu chí như trên, đến nay Thành phố Hà Nội đã công nhận 277làng đạt tiêu chuẩn làng nghề chiếm 20,52% tổng số làng có nghề của Thành

Trang 14

phố, trong đó có 244 làng nghề truyền thống Huyện Thanh Oai có 51 làng,Thường Tín có 44 làng, Phú Xuyên 39 làng, Chương Mỹ 33 làng, Ứng Hoà 20làng, Ba Vì 14 làng, Quốc Oai 15 làng, Hoài Đức 12 làng, quận Hà Đông 6làng, Phúc Thọ 5 làng, Gia Lâm 5 làng, thị xã Sơn Tây 2 làng, Sóc Sơn 2 làng,

Từ Liêm 2 làng, Thanh Trì 2 làng, quận Long Biên 1 làng và Mê Linh 1 làng

Phân theo ngành nghề gồm: Ngành mây tre đan có 83 làng, chiếm tới30% số làng nghề; ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm 44 làng, chiếm15,88%; nghề thêu ren 28 làng; nghề dệt may 25 làng; nghề chế biến lâm sản

23 làng; nghề nón mũ lá 20 làng; nghề cơ kim khí 13 làng; nghề sơn mài khảm trai 11 làng; nghề da giầy, khâu bóng 8 làng; nghề chạm điêu khắc 6làng; nghề gốm sứ 3 làng; nghề đan tơ lưới 4 làng; nghề sinh vật cảnh 2 làng;nghề dát vàng bạc quý 1 làng và nghề khác 6 làng

-Nghề có nhiều làng nghề nhất là: ngành nghề mây tre giang đan có 83làng, trong đó huyện Chương Mỹ 29 làng, Phú Xuyên 11 làng, Quốc Oai 11làng, Ứng Hoà 11 làng, Thanh Oai 8 làng Ít nhất là ngành dát vàng, bạc quý(Gia Lâm) với 01 làng, rắn Lệ Mật (Long Biên) 01 làng [29, tr.2]

Quy mô làng nghề ngày càng phát triển, số hộ tham gia sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tăng, số hộ thuần nông giảm dần Cơ cấulao động ở nông thôn ngoại thành chuyển dịch nhanh sang làm công nghiệp vàdịch vụ Các huyện có nhiều hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là:Thanh Oai, Chương Mỹ, Hoài Đức, Thường Tín từ 13.000 hộ đến 22.000 hộ.Một số huyện có số hộ tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp thấp hơn như TừLiêm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Đông Anh, Mê Linh, thị xã Sơn Tây từ 500 - 700 hộ

* Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội

Thứ nhất, tạo việc làm cho người lao động.

Các cơ sở sản xuất làng nghề từ các hộ gia đình đến các thành phầnkinh tế trong làng nghề đã thu hút một số lượng lớn lao động trong sản xuất

Trang 15

phi nông nghiệp, hạn chế số lao động di dời nông thôn ra thành thị tìm việclàm Ngành nghề đã thu hút từ 30 đến 70% số hộ và từ 50 đến 90% số laođộng tham gia sản xuất nghề với trên 300.000 lao động thường xuyên Ngoài

ra còn thu hút hàng nghìn lao động nơi khác đến làm thuê như nghề gốm sứBát Tràng (Gia Lâm), làng dệt kim La Phù (Hoài Đức), đan cỏ tế xã Phú Túc,khảm trai xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên), Vân Hà, Liên Hà (Đông Anh), LiênTrung (Đan Phượng)

Sự phát triển làng nghề kéo theo dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu,chuyên chở, kinh doanh hàng hoá, phục vụ ăn uống cho các làng nghề tạo ranhiều việc làm cho người lao động Cơ cấu lao động trong công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp và dịch vụ đã chiếm từ 75 đến 85% trong tổng số lao động,lao động thuần nông chỉ còn từ 15 đến 25% Ngoài ra các làng nghề góp phầngiải quyết việc làm cho các lao động dôi dư trong quá trình đô thị hoá, từ đó

đã góp phần phân công lại lực lượng lao động ở nông thôn

Thứ hai, góp phần tăng thu nhập, hạn chế tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh

trật tự ở nông thôn

Nghề, làng nghề đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập vàkhả năng tích luỹ của các hộ khu vực ngoại thành Thành phố Qua khảo sát ởcác làng nghề cho thấy, thu nhập bình quân của các hộ sản xuất nghề là 24triệu đồng/người/năm, gấp 1,3 lần so với thu nhập bình quân của cả làng vàgấp 4 lần so với thu nhập của các hộ thuần nông Đời sống nhân dân được cảithiện, tỷ lệ hộ nghèo ở các làng nghề thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo củacác hộ thuần nông Số hộ nghèo có mức thu nhập dưới 320.000đồng/người/tháng đã giảm từ 46.272 hộ, năm 2006 xuống 42.164 hộ năm

2010 [37, tr 42]

Thứ ba, hạn chế di dân tự do từ ngoại thành vào trung tâm Thành phố.

Trang 16

Quá trình phát triển kinh tế ở Thủ đô nhất là việc đô thị hoá gây sức ép

về việc làm và thu nhập đã thúc đẩy người nông dân ngoại thành đi tìm việclàm ở trung tâm Thành phố Quá trình đó đã gây áp lực đối với các điều kiệndịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở Thành phố, gây khó khăn quản lý trật tự xã hội

Vì vậy, sự phát triển nghề, làng nghề hạn chế đáng kể hiện tượng di dân tự do

từ ngoại thành vào trung tâm Thành phố Với 1.350 làng có nghề ở ngoạithành, người nông dân có thu nhập ổn định gắn bó với làng quê, đồng thời thuhút lao động các địa phương khác đến làm việc, góp phần xoá đói giảm nghèo

Thứ ba, phát huy nội lực địa phương, phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống

Nghề, làng nghề phát triển tạo điều kiện khai thác thế mạnh của địaphương về nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, tiền vốn) để tập trung chosản xuất kinh doanh theo quy mô hộ gia đình, tổ sản xuất, hợp tác xã, công tyTNHH Trong quá trình phát triển sẽ tạo ra đội ngũ lao động có tay nghề cao,lớp nghệ nhân mới có trình độ để tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ về côngnghệ tiên tiến sản xuất ra những sản phẩm có giá trị cao, giá thành hạ, khả năngcạnh tranh thị trường lớn, đáp ứng dần với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Nghề, làng nghề phát triển kéo theo sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ởlàng nghề như: đường giao thông được cải tạo, nâng cấp; thiết chế văn hoá ở

cơ sở được quan tâm xây dựng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt về vật chất, tinhthần của nhân dân, đồng thời bảo tồn phát huy giá trị văn hoá ở các làng nghềcủa địa phương

Lịch sử phát triển các làng nghề truyền thống của Thành phố gắn vớilịch sử phát triển văn hoá của dân tộc Mỗi làng nghề sản xuất ra những sảnphẩm chứa đựng nét độc đáo của văn hoá dân tộc, là di sản quý giá của chaông tạo ra, truyền lại cho con cháu, làm vẻ vang cho Thủ đô và đất nước như:Lụa Vạn Phúc, gốm sứ Bát Tràng, sơn mài Duyên Thái, thêu Quất Động, đan

Trang 17

cỏ tế Phú Túc, mây tre đan Phú Vinh, đúc đồng Ngũ Xã Vì vậy, bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hoá truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy độingũ nghệ nhân và những bí quyết quý giá của nghề đã góp phần không nhỏvào việc duy trì bảo tồn di sản văn hoá Bảo tồn và phát triển ngành nghề thủcông là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, tăng giá trị văn hoá truyền thống củaViệt Nam đối với bạn bè thế giới.

Thứ tư, góp phần tăng khối lượng hàng hoá xuất khẩu và phát triển dịch

vụ du lịch

Nhu cầu tiêu dùng trong nước hàng thủ công mỹ nghệ ngày một tăng về khốilượng và chủng loại các sản phẩm hàng hoá để trang trí nội thất và nơi làm việc

Hàng thủ công mỹ nghệ của làng nghề được người nước ngoài ưa thích

đã góp phần làm phong phú thị trường xuất khẩu của Hà Nội Giá trị xuấtkhẩu hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng, từ 95 triệu USD năm 2006 lên

104 triệu USD năm 2010 Giá trị xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tăng bìnhquân hàng năm từ 1,6% đến 2,8%/năm [29, tr.5]

Hà Nội có tiềm năng về phát triển du lịch lớn lại có nhiều làng nghềtruyền thống Vì vậy, việc gắn kết các tour du lịch đến với các làng nghề đểkhách du lịch tham quan, với những mặt hàng lưu niệm phong phú sẽ tăngthêm chất lượng của tour du lịch, qua đó quảng bá các sản phẩm làng nghề,đồng thời góp phần thúc đẩy ngành dịch vụ, du lịch phát triển

Thứ năm, thúc đẩy phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo

hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Nghề, làng nghề đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của Thành phố pháttriển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố Đến năm 2010 tỷ trọng côngnghiệp và dịch vụ trong GDP của Thành phố đã chiếm tới 93,8%; nông, lâmnghiệp và thuỷ sản là 6,2% Cơ cấu kinh tế các làng nghề có tỷ trọng công

Trang 18

nghiệp và dịch vụ trong GDP cũng chiếm từ 75% đến 85% Sự phát triển cáclàng nghề đã mở rộng quy mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động đã làmchuyển dịch cơ cấu lao động sang làm công nghiệp và dịch vụ và giảm dầnlao động nông nghiệp Chính làng nghề phát triển đã hình thành các trung tâmbuôn bán, trao đổi hàng hoá, dần dần trở thành các trung tâm dân cư, các thịtrấn, thị tứ và từng bước đô thị hoá.

Với vai trò như trên nên việc khai thác nguồn lực đất đai cho phát triểncác làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xãhội và quốc phòng, an ninh

1.1.2 Vai trò của nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội

* Lý luận chung về địa tô.

Địa tô là phần sản phẩm thặng dư do những người sản xuất trong nông

nghiệp tạo ra và nộp cho người chủ sở hữu ruộng đất Địa tô gắn liền với sự rađời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất Đã từng tồn tại trong các chế độchiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì đầu của chủnghĩa xã hội Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, địa tô là do lao động của nô lệ vànhững người chiếm hữu ruộng đất nhỏ tự do tạo ra Trong chế độ phong kiến,địa tô là phần sản phẩm thặng dư do nông nô tạo ra và bị chúa phong kiếnchiếm đoạt, có khi còn bao gồm cả một phần sản phẩm tất yếu Trong chủnghĩa tư bản, do còn chế độ tư hữu về ruộng đất trong nông nghiệp nên vẫntồn tại địa tô Về thực chất, địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần giá trị thặng

dư thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân và do nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp trả cho địa chủ Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa vẫn là do laođộng thặng dư của công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra Địa tô tư bản chủnghĩa phản ánh quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ, tư bản kinh doanh nôngnghiệp và công nhân nông nghiệp làm thuê Trong chủ nghĩa tư bản, có cácloại địa tô: địa tô chênh lệch, địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền

Trang 19

Địa tô chênh lệch là sự chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung nôngphẩm đươc quyết định bởi điều kiện không thuận lợi nhất với giá cả sản xuất

cá biệt ở những nơi có điều kiện sản xuất thuận lợi, do đó năng suất lao độngđược nâng cao Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợinhuận bình quân, nhà tư bản thu được trên những thửa ruộng đất có điều kiệnthuận lợi và trả cho địa chủ Địa tô chênh lệch cũng như toàn bộ giá trị thặng

dư trong nông nghiệp không phải do ruộng đất đẻ ra Ruộng đất tốt hay xấuchỉ là điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến năng suất lao động của công nhânnông nghiệp, là cơ sở tự nhiên không thể thiếu do địa tô chênh lệch hìnhthành Nguồn gốc của địa tô chênh lệch và địa tô nói chung là do lao động củacông nhân nông nghiệp tạo gia

Xét về cơ sở hình thành lợi nhuận siêu ngạch và việc chuyển hoá lợinhuận siêu ngạch thành địa tô, địa tô chênh lệch được chia làm hai loại: địa tôchênh lệch I và địa tô chênh lệch II Đây là cách Mác chia và ông coi địa tôchênh lệch I gắn liền với độ mầu mỡ tự nhiên và vị trí địa lí thận lợi, còn địa

tô chênh lệch II gắn liền với thâm canh, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trêncùng một đơn vị diện tích

Địa tô tuyệt đối là toàn bộ số chênh lệch giữa giá trị và giá cả sản xuấthay chỉ bằng một phần (lớn hoặc nhỏ) của số chênh lệch Như vậy giá cảnông sản có thể cao hơn giá cả sản xuất của chúng Nhưng vẫn thấp hơn giátrị của chúng và không phải giá cả đắt lên là nguyên nhân sinh ra địa tô, màchính địa tô là nguyên nhân làm cho giá cả nông sản tăng lên sự thiệt hại đốivới xã hội là nguồn gốc làm giàu cho giai cấp địa chủ Khi độc quyền tư hữuruộng đất bị thủ tiêu thì địa tô tuyệt đối bị xoá bỏ Giá cả nông sản sẽ hạxuống có lợi cho xã hội

Trong chủ nghĩa tư bản, không phải chỉ đất đai sử dụng vào sản suấtnông nghiệp với phải nộp địa tô, mà tất cả các loại đất xây dựng, đất hầm mỏ

Trang 20

còn phải đem lại địa tô cho người sở hữu chúng Bất kì ở đâu có sức tự nhiên

bị độc chiếm và tạo ra một lợi nhuận siêu ngạch cho nhà tư bản sử dụngnhững sức tự nhiên Địa tô đất xây dựng về cơ bản được hình thành như địa tôđất nông nghiệp nhưng nó cũng có đặc trưng riêng Đó là, trong việc hìnhthành địa tô đất xây dựng, vị trí của đất đai là yếu tố quyết định, còn độ màu

mỡ và hình thái của đất đai không ảnh hưởng lớn; địa tô đất xây dựng tăng lênnhanh chóng do sự gia tăng dân số, do nhu cầu nhà ở tăng lên và do những tưbản cố định sát nhập vào ruộng đất ngày càng tăng lên

Địa tô luôn ngắn với độc quyền sở hữu ruộng đất, độc chiếm các điềukiện tự nhiên thuận lợi, cản trở sự cạnh tranh của tư bản, tạo nên giá cả độcquyền của nông sản tuy nhiên, có những loại đất có thể trồng những loại câycho sản phẩm quý hiếm có giá trị cao hay có những khoáng sản đặc biệt cógiá trị, thì địa tô ở những đất đó rất cao, có thể xem đó là địa tô độc quyền.Nguồn gốc của địa tô độc quyền này cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cảđộc quyền cao của sản phẩm thu được trên đất đai

Các địa tô như địa tô về đất xây dựng, địa tô hầm mỏ và địa tô bãi cá,đất rừng thiên nhiên, tuy là địa tô thu được trên những diện tích đất phinông nghiệp nhưng đều dựa trên cơ sở địa tô đất nông nghiệp theo đúng nghĩacủa từ này Chúng bao gồm cả hai loại địa tô: địa tô tuyệt đối và địa tô chênhlệch Mác nói "Bất kỳ ở đâu có những sức tự cho nhà công nghiệp lợi dụngnhững sức tự nhiên ấy, chẳng kể là thác nước, là hầm mỏ giàu khoáng sản, lànhững nơi nhiều cá hay là đất để xây dựng có vị trí tốt, thì số lợi nhuận siêungạch đó của nhà tư bản hoạt động cũng đều bị kẻ có cái giấy chứng nhận vềquyền sở hữu những của cải tự nhiên ấy chiếm đoạt dưới hình thái địa tô"

Trong chủ nghĩa xã hội, khi ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, khôngcòn là tư hữu của địa chủ hay nhà tư bản, thì những cơ sở kinh tế để hìnhthành địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền cũng bị xoá bỏ, nhưng vẫn tồn lại

Trang 21

địa tô chênh lệch, song nó thuộc sở hữu của nhà nước và khác về bản chất vớiđịa tô chênh lệch dưới chủ nghĩa tư bản

Ở Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặcbiệt của nông nghiệp, lâm nghiệp, không gì thay thế được, và là tài nguyênquý giá của quốc gia Nhà nước chuyển quyền sử dụng ruộng đất lâu dài chonông dân, và người sử dụng đất phải nộp thuế sử dụng đất; cho người nướcngoài thuê đất để lập doanh nghiệp hay để xây dựng trụ sở cơ quan ngoạigiao; cho phép các tổ chức, cá nhân người Việt Nam tham gia xí nghiệp liêndoanh với người nước ngoài được góp vốn pháp định bằng giá trị đất sử dụng.Tuy hình thức địa tô tuyệt đối không còn, nhưng ruộng đất vẫn là một tư liệusản xuất có giá trị và người sử dụng vẫn phải trả giá như là một loại địa tô

* Khái niệm về nguồn lực đất đai.

Nguồn lực là hệ thống những yếu tố tự nhiên, xã hội có ích đối với sựphát triển của xã hội loài người, thông qua việc khai thác, sử dụng chúng màcon người có thể tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình Tùytheo trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xãhội, các nguồn lực được khai thác nhằm phục vụ cho nhu cầu rất khác nhaucủa con người Do đó, vị trí, vai trò của các nguồn lực là rất khác nhau Thậmchí, đối với các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, các nguồn lực cũngphát huy tác dụng không giống nhau

Nguồn lực phát triển kinh tế có thể phân loại theo ngành, theo lĩnh vực.Theo nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm: nguồn lực conngười, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học - côngnghệ, hay cách hiểu tương tự là vốn, lao động, đất đai, tri thức

Trong hệ thống các nguồn lực cho sự phát triển của xã hội loài người kểtrên, nguồn lực đất đai luôn có vị trí rất quan trọng Vai trò đó còn ngày càngquan trọng hơn đối với một quốc gia có trình độ phát triển thấp, đặc biệt đối

Trang 22

với nền kinh tế còn mang nặng đặc trưng nông nghiệp Đất đai là một tư liệusản xuất đặc biệt không chỉ đơn thuần là yếu tố tạo dựng mặt bằng cho hoạtđộng sản xuất mà trong những năm gần đây, cùng với sự chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất đai còn được coi là yếu tốvốn, là nguồn lực tài chính khai thác từ đất đai tạo nguồn vốn cho sản xuất.

Theo đó, có thể hiểu: Nguồn lực đất đai cho phát triển các làng nghề là

yếu tố tự nhiên có ích với vai trò là tư liệu sản xuất, nguồn lực tài chính - vốn không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh đã, đang và sẽ được huy động, sử dụng cho phát triển các làng nghề phù hợp với quy định của pháp luật và giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể có liên quan.

Như vậy, nội dung nguồn lực đất đai cho phát triển các làng nghề đượchiểu với tư cách là tư liệu sản xuất như dùng để xây dựng nhà xưởng, tạo mặtbằng cho sản xuất, nhà kho, sân phơi ; đồng thời, đó còn là nguồn lực tàichính, nguồn vốn nếu đất đai được chuyển đổi theo cơ chế thị trường và phùhợp với quy định của pháp luật hiện hành

* Vai trò của nguồn lực đất đai trong phát triển làng nghề

Thứ nhất, nguồn lực đất đai với vai trò là tư liệu sản xuất.

Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiệntồn tại và phát triển của con người và các loài sinh vật khác trên trái đất CácMác đã viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần đểsinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơbản của sản xuất vật chất” [20, tr.7]

Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai ngàycàng gắn liền chặt chẽ với nhau Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận củacon người, con người dựa vào đó để tạo nên của cải vật chất nuôi sống mình.Đất đai luôn là thành phần quan trọng của môi trường sống Không có đất đai

Trang 23

thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, không một quá trình lao độngnào diễn ra và cũng không thể có sự tồn tại của xã hội loài người.

Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất vàđời sống con người, đất đai chiếm vị trí đặc biệt, là điều kiện đầu tiên và nềntảng tự nhiên của bất kỳ quá trình sản xuất nào

Các Mác cho rằng, đất đai là phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cungcấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể.Khi nói về vai trò và ý nghĩa của đất đai đối với nền sản xuất xã hội, Mác đãkhẳng định "Lao động không phải nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất vàgiá trị tiêu thụ - như William Petty đã nói - Lao động chỉ là cha của của cải vậtchất, còn đất là mẹ" Chúng ta đều biết rằng không có đất đai thì không thể cósản xuất, cũng như không tồn tại con người Đất đai là sản phẩm tự nhiên,xuất hiện trước con người Đất đai tồn tại như một vật thể lịch sử - tự nhiênkhông phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội [22, tr.164]

Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất vàhoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện laođộng, tuy nhiên đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, nó khác với các tư liệusản xuất khác ở những đặc điểm sau:

- Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện ngoài ý chí và nhận thức củacon người; là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiêncủa lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tácđộng của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Trong khi đó các tưliệu sản xuất khác là kết quả của lao động có trước của con người

- Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất

bị giới hạn bởi ranh giới đất liền Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về sốlượng, chế tạo lại tùy theo nhu cầu của xã hội

Trang 24

- Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, giá trị

và mục đích sử dụng Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chấtlượng, quy cách, tiêu chuẩn

- Tính không thay thế: Thay thế đất đai bằng từ liệu sản xuất khác làkhông thể thực hiện được Các tư liệu sản xuất tùy thuộc vào mức độ pháttriển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất kháchoàn thiện hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn

- Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong quá trình sửdụng, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác Các tư liệu sản xuấtkhác được sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cáchkhác nhau tùy theo sự cần thiết

- Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu, nếu biết sử dụnghợp lý thì có thể làm tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất.Khả năng tăng tính sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng làtính chất có giá trị đặc biệt, không tư liệu sản xuất nào có được Các tư liệusản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng là bịloại khỏi quá trình sản xuất

Như vậy có thể nói "đất đai là một tư liệu sản xuất cực kỳ quan trọng.Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một

tư liệu sản xuất đặc biệt" [20, tr.12]

Muốn xây dựng nhà máy, trước hết phải có địa điểm, một diện tích đấtđai nhất định, trên đó sẽ là nơi xây dựng nhà xưởng để máy móc, thiết bị, khotàng, bến bãi, nhà làm việc, đường sá đi lại trong nội bộ, tất cả những cái đó

là điều cần thiết trước tiên để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh

Quỹ đất là toàn bộ diện tích đất đai các loại của một quốc gia, một vùnghay địa phương của một loại đất theo mục đích sử dụng Quỹ đất có thể đượctính cho toàn bộ hay cho một đầu người Có thể xem xét cơ cấu quỹ đất các

Trang 25

loại đang sử dụng theo mục đích Quỹ đất của một quốc gia hay địa phươngthường là cố định và việc tăng thêm thường rất hạn chế Quỹ đất theo đầungười thường có xu hướng giảm bớt, vì đất đai không được sản sinh ra thêmtrong khi dân số lại tăng lên Quỹ đất đai của quốc gia là một nguồn lực tựnhiên cần được bảo vệ, sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả Quỹ đấtđai được hình thành một cách tự nhiên gắn liền với quá trình hình thành đấtvới một lịch sử lâu đời trong quá trình sử dụng đất của con người Quỹ đấtcũng được phân bố một cách tự nhiên gắn liền với phân bố các vùng lãnhthổ Mặt khác, trong quá trình sử dụng đất do những nhu cầu sử dụng đấtkhác nhau, quỹ đất cũng được hình thành bởi con người nhằm điều hòa và

bố trí lại đất đai theo mục đích sử dụng Khi những nhu cầu về xây dựng cơ

sở hạ tầng, về phát triển các khu công nghiệp, đô thị tăng lên, con người cóthể điều chỉnh, giảm bớt diện tích của các quỹ đất khác như quỹ đất nôngnghiệp để tăng quỹ đất cho các loại nhu cầu trên Sự thay đổi cơ cấu quỹđất trong tổng thể quỹ đất tự nhiên có ý nghĩa rất quan trọng, nói lên xu thếphát triển của đất nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thờicũng thể hiện trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và ứng dụng chúngvào sản xuất

Thứ hai, nguồn lực đất đai với vai trò là nguồn lực tài chính.

Nguồn lực tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ trong quátrình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế xãhội trong quan hệ phân phối nhằm đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng củacác chủ thể trong xã hội Như vậy, nguồn lực tài chính là phạm trù của quan

hệ phân phối, đó là sự phân phối bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật vàthông qua hiện vật [33, tr.21]

Nguồn lực tài chính được biểu hiện rất khác nhau, tùy theo nguồn gốchình thành mà chủ thể có thể thực hiện để có được các quỹ tiền tệ tập trung

Trang 26

Thông qua các nguồn lực tài chính mà những chủ thể trong xã hội có được hệthống các quỹ tiền tệ tập trung vận động độc lập với các chức năng cất trữ hayphương tiện thanh toán Nguồn lực tài chính là sự vận động của tiền tệ

Với cách hiểu như vậy, để hình thành nguồn lực tài chính hay các quỹtiền tệ vận động tập trung, các chủ thể trong xã hội có thể khai thác từ nhiềunguồn lực khác nhau trong đó có nguồn lực từ đất đai

Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành từnguồn lực đất đai thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong một xã hộinhất định và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu của xã hội đó

Tài chính và nguồn lực tài chính phản ánh mặt quan hệ giữa các chủ thểtrong xã hội cụ thể là biểu hiện của quan hệ phân phối, song vì đó là sự phânphối giá trị cho nên quan hệ đó chỉ được thực hiện trong nền kinh tế hàng hóa.Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất của mặt phân phối và thực hiện giá trị từ cácnguồn lực là trong nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao hay kinh tếthị trường Vì kinh tế thị trường mới có khả năng biến mọi nguồn lực trởthành hàng hóa và biến các hàng hóa đó trở thành những biểu hiện của giá trị,mặc dù có thể chúng không phải do lao động làm ra

Với ý nghĩa như vậy, nguồn lực tài chính từ đất đai chỉ có thể đượchình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường, khi mà các quan hệ đấtđai được thị trường hóa Tức là chúng có thể được mua bán và trao đổi trênthị trường

Về mặt nguyên lý, những gì không phải là sản phẩm của sự hao phí laođộng trừu tượng của con người tạo ra thì chúng không có giá trị Tuy nhiên,chúng lại có thể là phương tiện để thực hiện lợi ích của các chủ thể sở hữuchúng Với tư cách là phương tiện để thực hiện lợi ích thì chúng có vai tròtrong việc hình thành các quỹ tiền tệ tập trung và vì thế chúng góp phần hình

Trang 27

thành các nguồn lực tài chính Đất đai là một trong những yếu tố có đặc trưngnhư vậy.

Bản thân đất đai không là sản phẩm của lao động, vì thế theo cách hiểuthông thường chúng không có giá trị Tuy nhiên, đất đai lại là nguồn lực mang

tư cách là điều kiện quan trọng tham gia vào các quá trình tạo ra của cải cho

xã hội Đất đai không phải là nguồn gốc tạo ra giá trị nhưng đất đai là điềukiện tạo ra của cải Khi khoác áo là điều kiện cho quá trình tạo ra của cải thìngười ta có thể thực hiện được lợi ích từ chúng Miễn là phải làm thế nào để

sở hữu chúng mà thôi Từ việc sở hữu đất đai, các chủ thể có thể đem đất đai

ra để trao đổi như những yếu tố sản xuất khác Thông qua sự trao đổi đó, chủthể thực hiện được lợi ích của họ Hay nói một cách khác, đất đai là điều kiện

để các chủ thể sở hữu thực hiện được nguồn thu nhập dưới dạng hình tháitiền, các nguồn tiền tệ để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, đó là nhữngnguồn lực tài chính từ đất đai

Về bản chất, nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh quan hệ phân phốigiá trị để hình thành các quỹ tiền tệ thông qua đất đai

Với tư cách là một loại nguồn lực tài chính, nguồn lực tài chính từ đấtđai có tính chất đặc thù Tính đặc thù đó thể hiện ở chỗ, nó phản ánh quan hệphân phối và sử dụng nguồn tài chính song quá trình phân phối và sử dụngnguồn tài chính đó lại gắn liền với quyền sở hữu đất

Đó là quan hệ phát sinh được hình thành trên cơ sở thực hiện lợi ích từquyền sở hữu đất Mà việc thực hiện lợi ích từ quyền sở hữu đất như C.Mác

đã phân tích là thông qua các hình thức địa tô Nhưng với tư cách là hình tháibiểu hiện của quan hệ tài chính thì địa tô đó phải là địa tô dưới hình thái tiền,không phải là tô hiện vật hay tô lao dịch

Vì phản ánh quan hệ phân phối nên nguồn lực tài chính mang tính lịch

sử Nghĩa là xét về mặt hình thức, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế từ quan hệđất đai sẽ do quan hệ sở hữu của chế độ xã hội đó quyết định Trong mỗi chế

Trang 28

độ xã hội với kiến trúc thượng tầng khác nhau sẽ quy định chế độ sở hữu đặctrưng của xã hội đó

Nếu đất đai thuộc quyền sở hữu của nhân dân và nhà nước của dân, dodân đứng ra làm đại diện chủ sở hữu thì nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ hìnhthành và thực hiện trên cơ sở chế độ sở hữu tương ứng Từ đó, quy định cáchthức sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung hình thành từ nguồn lực đất đai Tráilại, nếu đất đai thuộc về sở hữu tư nhân thì mục đích sử dụng nguồn lực tàichính từ đất đai chắc chắn không phải phục vụ cho số đông mà là chỉ là một

bộ phận trong xã hội

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nguồn lực tàichính từ đất đai phản ánh tính chất quá độ của quan hệ sản xuất của nước ta.Quan hệ đất đai tập trung nhất trong quan hệ sở hữu và các quyền năng phátsinh từ quyền sở hữu đó

Tuỳ thuộc vào từng nước, đất đai có thể thuộc sở hữu riêng của từngthành viên hoặc từng nhóm thành viên và có thể là sở hữu chung của tất cảcác thành viên trong cộng đồng quốc gia hoặc hỗn hợp cả hai hình thức sởhữu trên Ở hầu hết các nước tư bản, đất đai thuộc sở hữu tư nhân và sở hữuNhà nước Ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân

Về mặt hình thức biểu hiện trên thực tế, nguồn lực tài chính từ đất đaiđược hình thành thông qua các khoản thu tài chính liên quan đến đất của chủ

sở hữu đất đai với các chủ thể sử dụng đất Có nhiều hình thức thu và huyđộng nguồn lực tài chính từ đất đai, về cơ bản gồm các nguồn thu như: Thu

từ giao quyền sử dụng đất, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thu

từ các khoản thuế liên quan đến đất, có thể có hình thức đổi quyền sử dụng đấtlấy cơ sở hạ tầng

Không giống với các nguồn lực tài chính khác, nguồn lực tài chính từđất đai có những đặc điểm riêng

Trang 29

Một là, nguồn lực tài chính từ đất đai luôn gắn với quan hệ sở hữu đất đai.

Như trên đã chỉ ra, muốn đất đai đem lại lợi ích dưới hình thái tiền tệthì trước hết các chủ thể phải nắm quyền sở hữu đất đai Việc sở hữu đó sẽ làtiền đề phái sinh ra các quyền năng khác, giúp cho chủ thể sở hữu thực hiệnđược lợi ích của mình Quyền sở hữu là điều kiện cần để thực hiện được lợiích hay khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai

Khi quan hệ sở hữu được xác lập đối với đối tượng là đất đai, các chủthể sở hữu mới có cơ sở để thực hiện lợi ích của mình Tất nhiên, quan hệ sởhữu đó phải được thể chế hóa thành chế độ sở hữu về đất đai

Phương tiện thực hiện các nguồn lực tài chính từ đất đai là các hình tháiđịa tô Trong chủ nghĩa tư bản, địa tô phản ánh chế độ sở hữu tư nhân về đấtđai của phương thức sản xuất đó

Hai là, nguồn lực tài chính từ đất đai chỉ hình thành và được thực hiện

trong cơ chế kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế tự cung, tự cấp, ở đó trình độ lực lượng sản xuất cònthấp, nên phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa chưa sâu sắc, do đócác quan hệ giá trị chưa trở thành phổ biến Việc trao đổi giữa các thành viêntrong xã hội chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu giá trị sử dụng Hình thức thực hiệnlợi ích từ quyền sở hữu đất đai của các chủ thể thường gắn với hiện vật hơn làgiá trị Trong khi nguồn lực tài chính từ đất đai lại biểu hiện dưới hình tháicủa giá trị, hay dưới dạng tiền tệ Hơn thế, nguồn lực đó phải không ngừngvận động độc lập tương đối với các chức năng cất trữ và phương tiện thanhtoán của tiền tệ Để có thể thực hiện được điều đó, cần một cơ chế kinh tế màtrong đó mọi yếu tố đều có thể chuyển hóa thành hàng hóa bất luận chúng cóphải do hao phí lao động làm ra hay không Cơ chế kinh tế thị trường đáp ứngđược yêu cầu đó

Để có thể khai thác tốt nguồn lực tài chính từ đất đai, ngoài những nỗ lực

Trang 30

chủ quan của Thành phố còn có ảnh hưởng rất quan trọng của các nhân tốkhách quan Những nhân tố khách quan đó là:

- Quy mô đất đai;

- Đặc điểm và cấu tạo tự nhiên, thổ nhưỡng, môi trường đất đai;

- Vị trí không gian địa lý của từng khu vực trên địa bàn Thành phố;

- Trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung

Ngoài những nhân tố khách quan nói trên, việc khai thác và sử dụngnguồn lực tài chính từ đất đai trên địa bàn Thành phố Hà Nội còn chịu tácđộng của nhân tố chính trị, xã hội Trước hết, phải kể tới chủ trương, chínhsách của Thành phố về vấn đề này Thứ nữa là nhân tố con người tham gia bộmáy thực hiện huy động và sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai cho pháttriển kinh tế - xã hội

Về mặt chủ trương, chính sách, tác động của nhân tố này đến việckhai thác và sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai thể hiện ở khả năng tạođiều kiện hay kìm chế tính hiệu quả của việc khai thác cũng như sử dụngnguồn lực tài chính từ đất đai để phục vụ sự phát triển của Thủ đô Khi chínhsách phù hợp với tình hình thực tế, tức là các chính sách thể hiện được sự vậnđộng của cuộc sống, thuận theo quy luật vận động của nền kinh tế thì đóchính là cơ chế tốt cho việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai Hơn nữa,các chính sách thể hiện sự vận dụng một cách sáng tạo chính sách về đất đaicủa Nhà nước nói chung thì cũng là nhân tố tích cực giúp cho khả năng khaithác nguồn lực tài chính từ đất đai hiệu quả hơn

Chủ trương, chính sách sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai cũng cótác động quan trọng đến việc sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai cho sựphát triển của Hà Nội Các chính sách sử dụng nguồn lực tài chính đảm bảotính chặt chẽ và minh bạch là nền tảng cho việc thực hiện chính sách trong

Trang 31

thực tế được hiệu quả Khi các chính sách sử dụng nguồn lực tài chính thuđược thông qua đất đai không linh hoạt, kém chặt chẽ, thiếu minh bạch tất sẽtạo ra nhiều kẽ hở để gây ra tình trạng thất thoát lãng phí Nghĩa là, việc sửdụng nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ không hiệu quả

Nếu như chính sách là cơ sở pháp lý để thực hiện việc khai thác và sửdụng nguồn lực tài chính từ đất đai thì tính hiệu quả của chính sách lại đòi hỏiphải được thực hiện thông qua bộ máy hoạt động của các cơ quan chức năngliên quan Nghĩa là liên quan đến đội ngũ nhân sự thực hiện huy động và sửdụng nguồn lực tài chính từ đất đai trên địa bàn Thành phố Với ý nghĩa đó,con người tham gia vào quá trình này có ý nghĩa quyết định đến việc huyđộng và sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai trên địa bàn Hà Nội có đạthiệu quả cao hay không Chính vì vậy, nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến việckhai thác và sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai trên địa bàn Thủ đô phảitính tới không chỉ chủ trương, chính sách của Thành phố mà còn phải quantâm đến nhân tố con người

1.2 Thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề Thành phố Hà Nội

1.2.1 Một số đặc điểm tác động đến khả năng khai thác, sử dụng nguồn lực đất đai cho phát triển làng nghề Thành phố Hà Nội

* Đặc điểm tự nhiên

Thứ nhất, vị trí địa lý và tự nhiên đẹp là điều kiện thuận lợi để Hà Nội

huy động và sử dụng nguồn lực đất đai cho phát triển các làng nghề

Thành phố Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, giới hạn trongkhoảng từ 20o34' đến 21o23' vĩ độ Bắc; 105o17' đến 106o02' kinh độ Đông.Diện tích tự nhiên 3.300 km2 Tiếp giáp với 8 tỉnh: Phía Bắc giáp tỉnh TháiNguyên; phía Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh

Trang 32

và Hưng Yên; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam; phía Tây Nam giáp tỉnh HòaBình; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc.

Hiện nay Hà Nội được tổ chức thành 10 quận, 18 huyện và 1 thị xã:

- 10 quận gồm: Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ,Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai và Hà Đông

- 1 thị xã: Sơn Tây

- 18 huyện gồm: Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm,

Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ,Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa và Mê Linh

Dân tộc: (Kinh) chiếm 99,1%; các dân tộc khác: Chiếm 0,9%.

Thành phố Hà Nội là Thủ đô của nước ta có vị trí địa lý, kinh tế, chínhtrị quan trọng và có ưu thế đặc biệt so với các địa phương khác Hà Nội nằm ởphía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộtrù phú và nổi tiếng từ lâu đời Vị trí địa lý quan trọng và địa thế tự nhiên đẹp

đã tạo thuận lợi cho Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,khoa học và là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước

Thứ hai, các làng nghề về cơ bản gắn liền với nông thôn, nông nghiệp,

quỹ đất sau khi Hà Tây được sát nhập vào Thành phố có sự cải thiện đáng kể

là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn lực này cho phát triển làng nghề

Theo số liệu của Cục Thống kê Hà Nội, tổng diện tích đất tự nhiên của

Hà Nội là 334.852,5 ha, trong đó: Đất nông, lâm nghiệp, thủy sản là192.720,7 ha, chiếm 57,6%; đất phi nông nghiệp là 131.300,5 ha, chiếm39,2%; đất chưa sử dụng là 10.831,3 ha, chiếm 3,2%

Thứ ba, quỹ đất tuy có được cải thiện nhưng Hà Nội vẫn là địa phương

đất chật, người đông cùng với quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh đang gâykhó khăn lớn cho khai thác, sử dụng quỹ đất để phát triển các làng nghề

Trang 33

Với dân số đến hết năm 2012 là gần 7 triệu người, Thành phố Hà Nội làđịa phương có mật độ dân số cao, bình quân 2.013 người/km2, cao gấp 1,7 lầnbình quân khu vực đồng bằng sông Hồng (1.300 người/km2) và gấp 8 lần bìnhquân chung của cả nước (259 người/km2) Với tình trạng đất chật, người đôngnhư vậy cùng với xu hướng đô thị hóa và tình trạng di dân tự do từ các vùngnông thôn ra đô thị vẫn đang tiếp diễn mạnh mẽ sẽ là khó khăn rất lớn choviệc khai thác, sử dụng quĩ đất cho phát triển làng nghề của Thành phố HàNội hiện nay và những năm tiếp theo.

* Đặc điểm kinh tế - xã hội

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh tạo

điều kiện thuận lợi cho đầu tư, nâng cao giá trị sử dụng đất cho phát triển kinh

tế - xã hội nói chung và các làng nghề nói riêng

Năm 2010, GDP Hà Nội là 73.478 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tếgiai đoạn 2006 - 2010 của Hà Nội là 10,73%/năm Nếu xét theo thứ tự về quy

mô GDP theo tỉnh, thành cả nước, Thủ đô Hà Nội đứng vị trí thứ hai sauThành phố Hồ Chí Minh Năm 2005, theo giá hiện hành, GDP bình quân đầungười của Hà Nội đạt 15,6 triệu đồng; đến năm 2010, GDP bình quân đầungười của Hà Nội đạt khoảng 37,3 triệu đồng [37, tr.52]

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố khá nhanh theo hướng dịch vụ công nghiệp, xây dựng - nông, lâm, thủy sản Năm 2005, tỷ trọng cơ cấu kinh tếcủa Thành phố đạt tương ứng như sau: 51,5% - 39,4% và 9,1% Năm 2010, sựchuyển dịch tương ứng như sau: 50,6% - 43,1% và 6,2% [37, tr.54] Hà Nội làmột trong số ít địa phương có tỷ trọng dịch vụ cao hơn ngành công nghiệp

-Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, Hà Nội có tiềm năng lớn trong việcđầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao giá trị sử dụng đất, khả năng khai thác quỹ đấtcho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho phát triển làng nghề nói riêng

Trang 34

Thành phố Hà Nội có kết cấu hạ tầng kỹ thuật được quy hoạch, đầu tưxây dựng khá đồng bộ bao gồm hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thủy vàđường không, thuận lợi cho phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp, giá trị sử dụng đất được nâng cao.

Tốc độ đô thị hoá của thành phố Hà Nội đạt khá cao trong giai đoạn

2001 - 2005 là 5,6%/năm và giảm xuống còn 2,96%/năm giai đoạn 2006-2009,đưa tỷ lệ đô thị hóa của Hà Nội từ 33,2% năm 2000 lên 39,6% năm 2005 và đạt40,8% năm 2009 [37, tr.55] Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng khaithác quỹ đất cho phát triển làng nghề, đòi hỏi việc sử dụng quỹ đất phải hết sứctiết kiệm và hiệu quả

Thứ hai, Hà Nội có địa kinh tế, chính trị đặc biệt quan trọng vừa là thuận lợi

vừa là khó khăn cho việc huy động, sử dụng quỹ đất để phát triển các làng nghề

Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước nên có sức hút di dân

cơ học đến rất cao, do vậy giá đất của thành phố Hà Nội rất cao so với các địaphương lân cận Đây là nhân tố có tác động hai mặt đến khả năng khai thác,quản lý và sử dụng đất đai Mặt tích cực là làm tăng nguồn tài chính trên mộtđơn vị diện tích đất đai đưa vào khai thác; mặt khác gây khó khăn cho côngtác bồi thường, giải phóng mặt bằng, khó khăn trong công tác quản lý nhànước về đất đai, tình trạng mất ổn định xã hội do tranh chấp, khiếu nại tố cáoliên quan đến đất đai

Thứ ba, Hà Nội là đất trăm nghề với tốc độ phát triển nhanh vừa là điều

kiện thuận lợi vừa là áp lực lớn đáp ứng nhu cầu đất cho phát triển làng nghề

Với 1.350 làng có nghề ở ngoại thành, các ngành nghề đã thu hút từ30% đến 70% số hộ và từ 50 % đến 90% số lao động tham gia sản xuất nghềvới trên 300.000 lao động thường xuyên, chưa kể số lao động thu hút từ cácđịa phương khác Cơ cấu kinh tế các làng nghề có tỷ trọng công nghiệp vàdịch vụ trong GDP cũng chiếm từ 75% đến 85% Theo đó, cơ cấu lao động ở

Trang 35

nông thôn ngoại thành chuyển dịch nhanh sang làm công nghiệp và dịch vụ Quy

mô làng nghề ngày càng phát triển, số hộ tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ tăng, số hộ thuần nông giảm dần Các huyện có nhiều hộsản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như Thanh Oai, Chương Mỹ, HoàiĐức, Thường Tín từ 13.000 hộ đến 22.000 hộ Giá trị xuất khẩu hàng thủ công

mỹ nghệ của các làng nghề ngày càng tăng, từ 95 triệu USD năm 2006 lên

104 triệu USD năm 2010; tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 1,6% đến2,8%/năm Tình hình trên vừa là điều kiện thuận lợi vừa gây áp lực lớn về bảođảm quỹ đất cho phát triển các làng nghề

1.2.2 Ưu điểm huy động và sử dụng nguồn lực đất đai cho phát triển các làng nghề

* Ưu điểm trong khai thác quỹ đất với vai trò là tư liệu sản xuất để tạo dựng mặt bằng sản xuất, xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho phát triển làng nghề

Thứ nhất, diện tích đất ở được khai thác và sử dụng khá triệt để cho xây

dựng mặt bằng sản xuất, nhà kho… phục vụ phát triển làng nghề

Do đặc trưng sản xuất tại các làng nghề theo hộ gia đình và quỹ đất ởcác làng nghề còn hạn chế nên diện tích đất ở của gia đình kết hợp sử dụnglàm nơi sản xuất đã được khai thác sử dụng tối đa Nhu cầu mặt bằng cho sảnxuất ngày càng lớn, nên các hộ đã thu hẹp không gian sống để dành mặt bằngcho sản xuất như: tại các làng nghề dệt may Tân Triều (Thanh Trì), Cổ Nhuế(Từ Liêm), dệt kim La Phù (Hoài Đức), dệt lụa Vạn Phúc (Hà Đông) nhiềunhà ống cao tầng vừa là cơ sở sản xuất, vừa là nhà kho, hầu như không cókhoảng trống nào trong gia đình mà không được tận dụng để sản xuất Vớicách khai thác, sử dụng triệt để diện tích đất ở làm mặt bằng sản xuất đã gópphần làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, tăng cường khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm do các làng nghề Hà Nội sản xuất Đó vừa là ưu điểm vừa làđặc điểm nổi bật tạo nên nét văn hóa riêng và cũng là cơ sở để phát triển loạihình du lịch làng nghề Hà Nội

Trang 36

Thứ hai, Hà Nội đã tích cực, chủ động xây dựng quy hoạch dành quỹ

đất cho xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề

Với mục tiêu nhằm tạo dựng quỹ đất có đủ điều kiện cơ bản về hạ tầng

kỹ thuật, mở rộng mặt bằng sản xuất ở các làng nghề góp phần phát triểnnông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ năm 2001, Thànhphố Hà Nội đã tiến hành quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề trên địabàn và triển khai thực hiện

Theo quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp làng nghề trên địa bànThành phố Hà Nội đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, Thành phố quyhoạch phát triển 176 cụm công nghiệp làng nghề với tổng diện tích 1.295 ha,bình quân 7,4 ha/cụm công nghiệp [37, tr.91]

Các cụm công nghiệp làng nghề phân bố tại hầu hết các làng nghề, làng cónghề trên địa bàn Thành phố Số lượng, diện tích quy hoạch các cụm công nghiệplàng nghề cơ bản đáp ứng nhu cầu về mặt bằng sản xuất cho các làng nghề

Như vậy Hà Nội đã chủ động, tích cực quy hoạch trước cả khi Chính phủban hành Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 về Quy chế quản lýcụm công nghiệp, loại hình cụm công nghiệp làng nghề là giải pháp vận dụng môhình các khu công nghiệp nhỏ trong việc tạo dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, quỹđất để phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề, làng

có nghề phù hợp với tình hình phát triển thực tiễn tại từng địa phương

Sau khi Chính phủ ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp, Thành phố

Hà Nội đã ban hành Quyết định số 44/2010/QĐ-UBND ngày 10/9/2010 để thốngnhất quy chế quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố thay thế các quyđịnh trước đây Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đầu tư phát triển các cụmcông nghiệp làng nghề, tạo dựng quỹ đất để mở rộng sản xuất cho các hộ sản xuấttại làng nghề; di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gây ô

Trang 37

nhiễm môi trường ra khỏi các khu dân cư; từng bước xây dựng, phát triển làngnghề theo hướng công nghiệp, hiện đại.

Thứ ba, tích cực, chủ động ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư vào

phát triển các cụm công nghiệp làng nghề là điều kiện để sử dụng có hiệu đất đai

Bên cạnh các chính sách về xây dựng, quản lý hoạt động các cụm côngnghiệp làng nghề, Thành phố đã ban hành một số chính sách khuyến khích đầu tưphát triển các cụm công nghiệp làng nghề như chính sách đấu thầu thực hiện dự

án, chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào, kinh phí giải phóngmặt bằng các cụm công nghiệp; chính sách giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thuhồi đất, ưu tiên sử dụng lao động địa phương, Các chính sách trên có tác độngthúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển các cụm công nghiệp làng nghề cũng nhưphát triển kinh tế - xã hội chung của các làng nghề

Đến nay đã có 41 cụm công nghiệp làng nghề đã và đang xây dựng vớitổng diện tích 443 ha Trong đó, huyện Thạch Thất 6 cụm với diện tích 66 ha;Hoài Đức 7 cụm, diện tích 74 ha; Chương Mỹ 3 cụm, diện tích 21 ha Số dự

án của các doanh nghiệp, hộ sản xuất được cấp giấy phép tại các cụm côngnghiệp làng nghề là 5.870 dự án, bình quân 800m2/dự án Số dự án của cácdoanh nghiệp đã đi vào hoạt động 2000 dự án [29, tr.10]

Thứ tư, sử dụng quỹ đất cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật làng nghề có sự

chuyển biến tích cực.

Do làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân và giải phóng mặtbằng nên hệ thống quỹ đất dành cho giao thông nông thôn nói chung và giaothông để phục vụ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội làng nghềphát triển nhanh Đường giao thông nông thôn từ Thành phố đến trung tâmcác xã và các làng nghề truyền thống đã được nâng cấp cải tạo Theo số liệucủa Sở Giao thông vận tải Hà Nội, tổng chiều dài đường giao thông nông thônngoại thành là 9.845,16 km, trong đó có 6.101,71 km đường liên thôn, liên xãđược rải nhựa, bê tông hoá chiếm 62%; một số huyện đường giao thông nông

Trang 38

thôn được bê tông hoá cao chiếm 90% là Đan Phượng, Sóc Sơn, Thường Tín,

Từ Liêm Giao thông nông thôn phát triển đã tạo thuận lợi cho việc vậnchuyển nguyên vật liệu, lưu thông hàng hoá, phục vụ ngày càng tốt hơn chosản xuất kinh doanh và khách du lịch đến tham quan các làng nghề

100% các thôn và 100% số hộ đã có điện từ điện lưới quốc gia 70% 75% dân số đã được dùng nước sạch trong sinh hoạt với 18 nhà máy nước vàhàng chục nghìn giếng khoan, đó cũng là kết quả của việc tích cực trong khaithác, sử dụng quỹ đất cho phát triển làng nghề

-* Ưu điểm trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai cho phát triển làng nghề Hà Nội

Xuất phát từ thực tế của Hà Nội và những hình thức khai thác nguồnlực tài chính từ đất đai có thể vận dụng trên địa bàn Thủ đô, những năm gầnđây, đặc biệt là kể từ khi có Luật sửa đổi Luật Đất đai được ban hành, Thànhphố Hà Nội đã huy động những nguồn lực tài chính đáng kể từ đất đai nhằmgóp phần vào nguồn ngân sách, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội các làngnghề của Thành phố

Thứ nhất, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài chính từ đất đai thông

qua hình thức thu tiền sử dụng đất

Từ những quy định hiện hành của Nhà nước cũng như của Thành phố

Hà Nội về khai thác nguồn tài chính từ đất đai thông qua thu tiền sử dụng đất,thực tiễn vận hành những quy định đó tại các làng nghề đã đem lại nguồn thuđáng kể cho ngân sách Tạo lập cơ sở cho cân đối ngân sách phục vụ sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội của các làng nghề

Kết quả tiền sử dụng đất thu được tăng dần qua các năm Nếu như năm

2005 mới chỉ đạt 762 tỷ, năm 2008 tăng lên 2.236 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt5.243 tỷ đồng; năm 2013 kế hoạch thu 10.670 tỷ đồng, kết quả thu 8 thángđầu năm đạt 5.553 tỷ, bằng 53% kế hoạch năm

Trang 39

Mức tăng trên có nguyên nhân phần lớn là do sự điều chỉnh địa giớihành chính Thành phố Hà Nội năm 2008 làm cho quỹ đất khai thác, sử dụngvới tư cách là nguồn lực tài chính được dồi dào hơn nhưng cũng thể hiện sựkhai thác hiệu quả nguồn lực này cho phát triển của các làng nghề Kết quảnguồn thu tăng là do Thành phố đã vận dụng một cách sáng tạo những quyđịnh chung của Nhà nước về thu tiền sử dụng đất trên địa bàn Hà Nội Cácchính sách đã được tổ chức thực hiện hiệu quả với sự tham gia phối hợp củacác cơ quan chức năng theo ngành dọc và liên ngành Từ đó, làm cho hiệu quảthu tiền sử dụng đất tốt hơn, tăng lượng tiền đóng góp vào ngân sách; là cơ sở cóvai trò rất quan trọng cho việc huy động nguồn lực tài chính này cho phát triển các làngnghề của Thành phố.

Như trên đã phân tích, số thu tiền sử dụng đất tăng nhanh trong các năm từ 2005đến 2010 còn do từ sự gia tăng nguồn thu từ bán đấu giá quyền sử dụng đất và do sự điềuchỉnh địa giới hành chính làm tăng diện tích đất tư nhiên của Thành phố lên nhiều lần.Mục đích đấu giá quyền sử dụng đất là nhằm sử dụng hợp lý hơn nguồn tài nguyên đất đaitại các làng nghề của Thành phố Hiện nay, quỹ đất chưa sử dụng hoặc không sử dụngđúng mục đích còn nhiều song vẫn chưa khai thác triệt để nguồn thu, vì vậy việc đấu giáquyền sử dụng đất là nhằm giúp cho các làng nghề khai thác được nguồn thu hiệu quảhơn Với quy định này, trải qua quá trình thực hiện trong thực tiễn đấu giá quyền sử dụngđất đã mang lại nguồn thu không nhỏ cho các làng nghề, là một kênh quan trọng vàhữu hiệu để tăng thu tiền sử dụng đất

Thứ hai, Hà Nội đã đạt được kết quả tích cực trong khai thác nguồn lực tài

chính từ đất đai thông qua hình thức thuế

Dưới hình thức thuế, những năm gần đây, Thành phố Hà Nội đã đạtđược những kết quả tích cực trong việc khai thác nguồn thu từ đất đai Quy

mô con số tuyệt đối nguồn thu thuế từ đất đai (trừ thuế sử dụng đất nôngnghiệp được miễn từ năm 2004) gia tăng hàng năm, bình quân giai đoạn

Trang 40

2000-2010 tăng bình quân hơn 16%/năm [38, tr.44] Các hình thức thuế như:thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất được khai thác tốt, từ đó làmtăng quy mô cho ngân sách Thành phố nói chung và các làng nghề nói riêng.

Từ năm 2012, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu lực sẽ tạo điềukiện cho Thành phố tăng thêm đáng kể nguồn thu từ thuế sử dụng đất Việctăng quy mô ngân sách thông qua gia tăng lượng thuế thu được một mặt, làmcho khả năng chi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thành phố cải thiện; mặtkhác cũng làm chuyển động trong ý thức của các chủ thể sử dụng đất mộtcách hiệu quả hơn

Thứ ba, đã phát huy tác động tích cực trong sử dụng nguồn lực tài

Thông qua những nguồn đầu tư cho các mục đích và chương trình cụthể, nguồn lực tài chính từ đất đai phát huy tác dụng tích cực, trực tiếp trongnâng cao hiệu quả của chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi cho phát triển hạ tầnglàng nghề và những mục tiêu đầu tư khác như đã được chứng minh ở vai tròcủa các làng nghề với sự phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội

1.2.3 Hạn chế trong huy động và sử dụng nguồn lực đất đai cho phát triển các làng nghề Hà Nội

* Khai thác quỹ đất với vai trò là tư liệu sản xuất để tạo dựng mặt bằng sản xuất, xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho phát triển làng nghề còn nhiều hạn chế

Ngày đăng: 21/06/2018, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Thị Lan Anh, 2010, Phát triển bền vững làng nghề truyền thống Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Luận án Tiến sĩ kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ kinh tế chính trị
4. Bộ Công thương, 2005, Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành tiểu thủcông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010, Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin,Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia"
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), 2003, Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ côngtheo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam
7. Bộ Tài chính (2012), Đề án khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản Nhà nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tàisản Nhà nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
8. Bộ Tài chính, 2001, Thông tư số 79/2001/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính để thực hiện các dự án đường giao thông nông thôn; cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 79/2001/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tàichính để thực hiện các dự án đường giao thông nông thôn; cơ sở hạtầng nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn
9. Chính phủ, 2009, Quyết định số 1956/QĐ - TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1956/QĐ - TTg ngày 27/11/2009 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thônđến năm 2020”
10. Chính phủ, 2011, Quyết định số 1259/QĐ - TTg ngày 26 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung xây dựng quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1259/QĐ - TTg ngày 26 tháng 7 năm2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung xây dựngquy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm2050
11. Chính phủ (2010), Tờ trình về quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020, (Báo cáo Quốc hội phiên họp ngày 20/10/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình về quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
12. Đặng Kim Chi, 2005, Làng nghề Việt Nam và môi trường, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Nhà XB: NXB Khoa họckỹ thuật
14. Phạm Văn Dũng, 2002, Làng nghề Hà Nội với giải quyết việc làm, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn - số 4 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạpchí Nông nghiệp và phát triển nông thôn - số 4
15. Ngô Thái Hà, 2009, Phát triển làng nghề và vấn đề bảo vệ môi trường, trước hết là nước sạch, Tạp chí Cộng sản số 32 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản số 32
16. Đinh Văn Hải (2012), Chính sách tài chính về đất đai: kết quả đạt được và một số kiến nghị, Tạp chí Tài chính số 10 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính số 10
Tác giả: Đinh Văn Hải
Năm: 2012
17. Mai Thế Hởn, 2000, "Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ven Thủ đô Hà Nội", Luận án tiến sỹ kinh tế - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trìnhCNH, HĐH ở vùng ven Thủ đô Hà Nội
18. Phương Hiếu (2012), Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai hiện nay, Tạp chí Tài chính số 10 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạpchí Tài chính số 10
Tác giả: Phương Hiếu
Năm: 2012
19. Vương Đình Huệ (2012), Đổi mới chính sách pháp luật tài chính đất đai phục vụ phát triển kinh tế, Tạp chí Tài chính số 10 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính số 10
Tác giả: Vương Đình Huệ
Năm: 2012
20. Đỗ Thị Lan, 2007, Giáo trình kinh tế tài nguyên đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế tài nguyên đất
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
21. Nguyễn Thăng Long, 2008, Vấn đề phát triển cụm - điểm công nghiệp và cụm công nghiệp làng nghề, Báo cáo tại Hội thảo phát triển làng nghề Miền Trung và Tây Nguyên - Bình Định 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội thảo phát triển làng nghềMiền Trung và Tây Nguyên
23. Hoàng Ngân, 2006, Phát triển bền vững làng nghề đồng bằng sông Hồng:Thực trạng và giải pháp, http://www.saga.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững làng nghề đồng bằng sông Hồng:"Thực trạng và giải pháp
24. Khắc Nguyên, 2007, Qui hoạch sử dụng đất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 2 năm 1007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 2

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w