1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận thanh xuân, thành phố hà nội

89 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 869,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề lý luận mang tính thực tiễn như vậy, sự tác động của các chủ trương, chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước trong thời gian tới đối với việc đổi mới và hoàn thiện hệ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH TIẾN

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG

CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN THANH XUÂN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH TIẾN

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG

CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN THANH XUÂN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐINH NGỌC VƯỢNG

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Minh Tiến

Trang 4

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 11

1.1 Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở và các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 11 1.2 Đặc điểm, vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 16 1.3 Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 22

Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 35

2.1 Khái quát về quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 35 2.2 Thực trạng về tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội hiện nay 40 2.3 Thực trạng tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 42 2.4 Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội hiện nay 49

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở NƯỚC

TA HIỆN NAY 64

3.1 Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 64 3.2 Các giải pháp đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở 69

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

UBMTTQ : Ủy ban Mặt trận tổ quốc

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Ở nước ta, trong những năm gần đây yêu cầu về đổi mới hệ thống chính trị luôn là vấn đề được Đảng, nhà nước và xã hội quan tâm Đặc biệt tại Hội nghị trung ương VI, khóa XII vừa kết thúc [26] yêu cầu về đổi mới hệ thống chính trị một lần nữa lại thể hiện tính cấp thiết của nó Theo

đó, Bộ Chính trị đã nhận định: “đây là vấn đề rất lớn, rất quan trọng nhưng cũng rất khó, rất phức tạp và nhạy cảm, vì nó liên quan đến những vấn đề lý luận cơ bản về phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước

và quyền làm chủ của nhân dân; về đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế; về quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; liên quan đến quyền lợi, tâm tư, tình cảm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động”[57] Nhằm cụ thể hóa những nội dung trên Đảng ta cũng nêu rõ các nội dung đổi mới như:

- Coi đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là một nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu;

- Rà soát, quy định chặt chẽ hơn về biên chế, số lượng cán bộ, công chức, viên chức;

- Xây dựng cơ chế cạnh tranh, công khai, minh bạch trong tuyển dụng,

bổ nhiệm, đề bạt cán bộ để thu hút người thực sự có đức, có tài vào làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị

- Xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực bằng các quy định của pháp luật, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch và thường xuyên kiểm tra, giám sát, đề cao trách nhiệm giải trình;

Trang 7

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về chính quyền địa phương theo hướng phân định rõ hơn tổ chức chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”[58]

Đây là những nội dung hết sức quan trọng và sẽ có tác động rất lớn đến

hệ thống chính trị nước ta thời gian tới Đặc biệt đối với hệ thống chính trị cơ

sở vấn đề còn thể hiện sự cấp thiết hơn nữa Cụ thể hiện nay, “một đề án về

tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cấp cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang được Ban Tổ chức Trung ương xây dựng”[59] Ban Tổ chức Trung ương

cũng nhận định: “Đây sẽ là định hướng lớn nhằm giúp cho các địa phương

sắp xếp, tinh gọn lại bộ máy, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp cơ sở[60] Theo đó mục tiêu của Đề án cũng được xác định:

“cả nước có trên 11.000 xã, phường, thị trấn Số lượng người hưởng lương, phụ cấp do ngân sách chi trả ở khu vực này lên đến gần 1 triệu người, chiếm

tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi lương cho bộ máy, trong khi phần lớn các xã đều không tự chủ được ngân sách, mà đều cần sự hỗ trợ của ngân sách cấp trên Nếu sắp xếp lại khu vực này thành công, ngay lập tức sẽ giảm được ít nhất hàng chục nghìn biên chế, bởi chỉ làm một phép tính đơn giản: Nếu sắp xếp lại được một vị trí ở khu vực này thì bộ máy nhà nước sẽ giảm được ít nhất 11.000 biên chế một con số nhiều ý nghĩa trong bối cảnh bộ máy còn phình to và đang là gánh nặng cho ngân sách hiện nay”[61]

Từ những vấn đề lý luận mang tính thực tiễn như vậy, sự tác động của các chủ trương, chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước trong thời gian tới đối với việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng là hết sức cấp thiết Bởi vì,

hệ thống chính trị cơ sở, luôn được coi là nền móng bất cứ hệ thống chính trị nào Do đó, sự tác động đối với hệ thống chính trị cơ sở sẽ dẫn đến sự

Trang 8

tác động đối với toàn bộ hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở quận Thanh Xuân cũng không phải là trường hợp ngoại lệ

Cuối cùng với tư cách là người tham gia công tác thực tế tại địa phương, được trực tiếp tiếp xúc và xử lý nhiều vấn đề thực tiễn Từ góc nhìn của người làm thực tiễn tác giả thấy rằng nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đôi khi có những độ vênh nhất định Do đó, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở từ một địa bàn cụ thể để đưa ra những kiến nghị chung đối với các tổ chức chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay là hết sức cần thiết Từ những lý do như vậy, tác giả đã lựa chọn Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” là đề tài luận văn cao học của mình Nhằm mục đích bổ sung nhận thức lý luận về tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng,cung cấp tình hình thực tiễn, đánh giá các kết quả hoạt động thực tế của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Từ đó rút ra những bài học nhằm xây dựng hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nước ta ngày càng dân chủ, ổn định, gọn nhẹ và hiệu quả đáp ứng các yêu cầu của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà chúng ta đang hướng tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở nước ta, hệ thống chính trị có vị trí đặc biệt trong tổ chức và hoạt động của toàn bộ đất nước Do đó, một hệ thống chính trị với nòng cốt là chính quyền nhân dân cùng với sự tham gia của các đoàn thể nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được các nhà nghiên cứu và thực tiễn quan tâm từ rất sớm Các nghiên cứu này có những nghiên cứu tổng quát về hệ thống chính trị nhưng cũng có những nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ

Trang 9

những vấn đề về hệ thống chính trị cơ sở Do đó, trong phạm vi này tác giả sẽ tổng quan các nghiên cứu theo hai nội dung đó là những nghiên cứu gần với đề tài và những nghiên cứu chung về hệ thống chính trị

2.1 Các nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở (các nghiên cứu gần với đề tài)

Các công trình nghiên cứu có phạm vi nghiên cứu gần với đề tài có thể kể đến như:

- Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ngoại thành

Hà Nội (cấp cơ sở) trong giai đoạn hiện nay, TS Lưu Minh Trị, năm 1993

- Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông thôn (thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang), Đặng Thị Hiền, Luận văn thạc

sĩ khoa học chuyên ngành Triết học, 1993

- Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, PGS Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

- Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp, TS Võ Hoàng Công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002

- Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi mới,

TS Chu Văn Thành (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

- GS, TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay (sách tham khảo) Nxb CTQG, H, 2004

Về kết quả đạt được, các nghiên cứu này đã chỉ ra những khái niệm, phạm vi và những vấn đề lý luận cũng như một số đặc điểm tiêu biểu của hệ thống chính trị cơ sở nước ta Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra những

Trang 10

vấn đề thực trạng đạt được và những hạn chế cần khắc phục đối với hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống chính trị cơ sở trên một số địa bàn cụ thể nói riêng Từ đó đặt những nhu cầu hoàn thiện, đổi mới hệ thống chính trị

cơ sở

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra những cấu thành của hệ thống chính trị cơ sở, vị trí, vai trò của từng cấu thành và đánh giá các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế đưa ra các giải pháp đổi mới đối với từng cấu thành trong hệ thống chính trị cơ sở Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cá biệt còn chỉ ra được những khác biệt về các điều kiện địa phương, môi trường…

Từ đó đưa cho chúng ta những cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong các điều kiện xã hội nhất định

Đối với các kết quả nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở cũng giúp cho tác giả có được những nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở đối với hệ thống chính trị nói chung và đối với xã hội nói riêng Đây chính là những kết quả hết sức quan trọng để tác giả thấy được những phạm vi đã được các tác giả trước đây đã tiến hành nghiên cứu, những phạm vi tác giả cần được tiếp tục triển khai nghiên cứu

2.2 Các nghiên cứu chung về hệ thống chính trị

Các nghiên cứu chung này có phạm vi nghiên cứu rộng hơn nhưng là những cơ sở lý luận đáng tin cậy để tác giả có thể tiến hành củng cố các cơ sở

lý luận để nghiên cứu đề tài Các công trình này có thể kể đến như:

- Suy nghĩ về hệ thống chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay của TS Trần Thái Dương, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 2, 2006;

- Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, 2013;

Trang 11

- Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động, GS.TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Triết học, số

3 năm 1996;

- Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới của tập thể tác giả: GS Nguyễn Đức Bình, GS, TS Trần Ngọc Hiên,

GS Đoàn Trọng Tuyến, Nguyễn Văn Thảo: Nxb CTQG, H, 1999;

Các công trình khoa học trên đây đã nghiên cứu khá đầy đủ, toàn diện

về hệ thống chính trị nước ta Giá trị của các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả chủ yếu như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu này chỉ ra các cách tiếp cận khác nhau từ đó

đưa ra các khái niệm khác nhau về hệ thống chính trị Về nhận diện chung các nghiên cứu này là khá đầy đủ và toàn diện trong các lý thuyết về hệ thống chính trị

Thứ hai, thông qua việc phân tích cấu trúc, đặc điểm, các nhân tố của

hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Nam nói riêng Các tác giả đã tiếp thu có chọn lọc những giá trị hợp lý trong việc tổ chức và hoạt động của các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới đưa ra các kiến nghị về việc xây dựng, đổi mới hệ thống chính trị nước ta hoạt động có hiệu quả hơn nhưng vẫn giữ được những nét đặc thù Việt Nam

Thứ ba, từ việc tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị nước ta ở

phương diện khảo sát thực tiễn và nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học đã chỉ

ra những tích cực và những hạn chế, bất cập này cùng những nguyên nhân của

nó Nhiều công trình đã đi tìm những bức xúc nổi cộm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay Trên cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng đó, các công trình khoa học đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước

Trang 12

2.3 Những vấn đề mà đề tài cần phải tiến hành nghiên cứu

Như đã trình bày, những nghiên cứu lý luận trước đây về hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng mặc dù đã được các tác giả dày công nghiên cứu nhưng vẫn có những ý kiến khác nhau Có những các tiếp cận hệ thống chính trị từ phương diện thực tiễn, có các tiếp cận từ phương diện lý luận hoặc từ các mô hình Do đó, mỗi các tiếp cận khác nhau đều mang đến những điểm khác nhau Vì vậy muốn đề tài đạt được kết quả mong muốn tác giả hi vọng sẽ mang nhiều tiếng nói từ thực tiễn để có thể lý giải những vấn đề cần được làm rõ hiện nay

Thứ hai, trong các nghiên cứu đã đề cập trên, hầu hết các nghiên cứu đã giải quyết được những vấn đề mang tính lịch sử của nó đó là: Các nghiên cứu

đó đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn ở giai đoạn đó nhưng hiện nay khi

mà chúng ta đang có những nhiệm vụ chính trị của Đại hội XII thì mục tiêu cũng như các yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng là khác nhau Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc đổi mới hệ thống chính trị cần đáp ứng những điều kiện mới đó cũng là vấn đề mà đề tài phải quan tâm nghiên cứu

Thứ ba, sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay trong điều kiện một xã hội mở cửa, hội nhập, nhiều giá trị mới cũng như nhiều công nghệ mới được áp dụng, vận hành Do đó, cách thức tiếp cận của hệ thống chính trị cơ

sở đối với những vấn đề thực tiễn cũng cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn

Thứ tư, việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân là một nghiên cứu đặc thù Do đó, hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy, đây cũng là vấn đề để Luận văn tập trung khai thác và đưa ra những kiến nghị khoa học trong nghiên cứu của mình

Trang 13

Trên đây là những vấn đề mà đề tài cần tiếp tục nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả thấy rằng, tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những tư liệu quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc chúng trong quá trình nghiên cứu luận văn và nó có tính quyết định để tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình Do đó, việc trích dẫn tài liệu của các tác giả khác cũng mong được thông cảm để tác giả

có thể hoàn thành đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Lựa chọn cơ sở lý thuyết phù hợp về hệ thống chính trị cơ sở sẽ là căn

cứ quan trọng để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài Đồng thời đây là cơ sở quan trọng để luận giải sự phù hợp, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

Căn cứ vào những cơ sở lý luận tin cậy đã lựa chọn để tiến hành nghiên cứu đề tài, kết hợp với các kết quả trong hoạt động thực tiễn của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tác giả sẽ đánh giá mức độ phù hợp của các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và thực tế hiệu quả của nó đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở

Thông qua các đánh giá những thành tựu, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội,

đề tài sẽ kiến nghị các phương hướng, giải pháp về đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Tiếp cận các nghiên cứu lý luận những vấn đề về hệ thống chính trị nước ta nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nước ta nói riêng Từ đó chỉ ra chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị ở cơ sở ở nước ta

Trang 14

Nghiên cứu, đánh giá và phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của

hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội hiện nay, trên cơ sở đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế cần điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

Kiến nghị những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện

hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội nói riêng và hệ thống chính trị cơ sở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn có đối tượng

nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội nói riêng

- Phạm vi nghiên cứu: Do quy mô của luận văn và tính phức tạp của

vấn đề, để đạt hiệu quả trong nghiên cứu, luận văn chọn phạm vi nghiên cứu là thực tiễn tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội là phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về dân chủ

xã hội chủ nghĩa và về Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Luận văn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu phổ biến và hiện đại của khoa học pháp lý như: phân tích, tổng hợp, chứng minh, quy nạp, so sánh, xã hội học pháp luật, khảo sát…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 15

- Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung

về hệ thống chính trị nước ta nói chung và đặc biệt là tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói riêng căn cứ vào thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

- Về thực tiễn: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và các khảo sát thực

tiễn để xác định những vấn đề bất cập và tồn tại đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Từ đó, luận văn đưa những kiến nghị trong đổi mới về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn sẽ được thiết kế làm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ

thống chính trị cơ sở nước ta hiện nay

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị

cơ sở trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội hiện nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới về tổ chức và hoạt động

của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ

1.1 Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở và các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

Hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng là nội dung vốn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm không chỉ từ phương diện luật học mà còn từ phương diện chính trị học, nhà nước học… Đây là một trong những nội dung khá phức tạp và có thể tiếp cận theo nhiều phương diện khác nhau Vì vậy, để tiếp cận vấn đề này có tính logic, tác giả sẽ tiếp cận vấn

đề bằng việc giải mã các khái niệm liên quan như: khái niệm về chính trị, hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở

1.1.1 Khái niệm chính trị, hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở

Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống chính trị, có thể lấy một số quan điểm tiêu biểu như sau:

- Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó

Hệ thống này bao gồm nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị khác, trong đó nhà nước là yếu tố cơ bản, trung tâm

- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội

- Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó…

- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Hệ thống chính trị là một

Trang 17

cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị -

xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó

- Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm nhà nước, các đảng chính trị, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau nhằm tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể cầm quyền

Tựu chung lại, với khái niệm về hệ thống chính trị cũng có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, tùy theo quan điểm và mục đích của mỗi nhà nghiên cứu Những quan điểm coi phạm vi của chính trị rộng lớn thì có cách nhìn hệ thống chính trị rộng và những tư tưởng coi hoạt động chính trị hẹp hơn thì đưa ra khái niệm hẹp

- Ví dụ, có cách hiểu hệ thống chính trị theo nghĩa rộng khá rộng, đó là toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị, pháp luật…

- Còn cách hiểu hẹp hơn thì coi hệ thống chính trị, bao gồm hệ thống các tổ chức, các cơ quan thực hiện chức năng chính trị trong xã hội như các đảng chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị

Việc thiếu thống nhất và còn nhiều quan điểm tranh luận như vậy một phần xuất phát từ thực tiễn là: Tổ chức nào cũng muốn được hiện diện trong

hệ thống chính trị, là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nên đã thừa nhận khái niệm chính trị và khái niệm hệ thống chính trị theo nghĩa rộng, các đặc trưng chính trị bị lẫn lộn vào các lĩnh vực khác

Trang 18

Để giải quyết vấn đề trên quan điểm khoa học, phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp Từ đó mới có thể xác định rõ những tổ chức thiết chế cấu thành

hệ thống chính trị ở nước ta khi đã phân biệt thật rõ ràng những loại hình tổ chức trên

Tóm lại: hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức bao gồm các

đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội

Hệ thống chính trị cơ sở: Với cách hiểu về hệ thống chính trị khá phức

tạp như trên, cách hiểu về hệ thống chính trị cơ sở có những tranh luận khá phức tạp vì nhiều quan điểm cho rằng các tổ chức chính trị (tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam), các tổ chức chính trị - xã hội (các đoàn thể) của nước ta còn được duy trì ở cấp thấp hơn cả cấp xã, phường, thị trấn, đó là cấp thôn, xóm, bản… Ví dụ, các chi bộ, đảng bộ trực thuộc được xây dựng cả ở phạm

vi các thôn, xóm, bản… Do đó, nhiều ý kiến cho rằng cần phải hiểu hệ thống chính trị cơ sở là ở phạm vi cấp thấp này Tuy nhiên, Hội nghị Trung ương 5

khóa IX (2002), Đảng ta đã ra Nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng

Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn, gọi chung là cấp cơ sở[2] Với

cách định danh của Nghị quyết như vậy, đây là căn cứ thống nhất để hiểu nội hàm của hệ thống chính trị cơ sở Theo đó, hệ thống chính trị cơ sở bao gồm: đảng bộ, chính quyền cơ sở (cấp xã, phường, thị trấn), các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về hệ thống chính trị

cơ sở như sau: hệ thống chính trị cơ sở bao gồm tổ chức chính trị cơ sở, các

tổ chức chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở, liên kết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức chính

Trang 19

trị cơ sở Cụ thể tổ chức chính trị cơ sở, bao gồm tổ chức đảng bộ cơ sở (cấp

xã), chính quyền cấp cơ sở (HĐND, UBND), các tổ chức chính trị - xã hội cơ

sở liên kết với nhau trong một hệ thống thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng bộ cấp cơ sở nhằm tác động và vận hành quyền lực chính trị trong đời sống xã hội ở địa phương

1.1.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị cơ sở nước ta hiện nay

Qua các khái niệm về chính trị, hệ thống chính trị như đã trình bày trên, các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị nước ta gồm: tổ chức Đảng, các thiết chế nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội Với việc hệ thống chính quyền chúng ta được xây dựng thành bốn cấp từ trung ương đến địa phương, các tổ chức đảng cũng được xây dựng trên căn cứ này [14, Điều 10] thì hệ thống chính trị nước ta nếu phân theo chiều dọc cũng bao gồm 4 cấp

Đó là, hệ thống chính trị cấp trung ương, hệ thống chính trị cấp tỉnh, hệ thống chính trị cấp huyện và hệ thống chính trị cấp xã Tổng thể các cấp trong hệ thống chính trị như vậy hợp thành chỉnh thể của hệ thống chính trị nước ta

Hệ thống chính trị nước ta được vận hành trên cơ sở các quy định trong điều

lệ, nghị quyết của tổ chức đảng, pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế chính trị, các cơ quan nhà nước và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Một trong những vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay đó là vai trò của các tổ chức xã hội (không phải là tổ chức chính trị - xã hội) trong hệ thống chính trị nước ta có được coi là bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị hay không Nhìn từ phương diện pháp lý, các tổ chức xã hội vẫn được coi là cơ sở chính trị của nhà nước, được nhà nước tôn trọng và bảo vệ và cũng chưa có quy định pháp lý nào thể hiện sự phân biệt, đối xử giữa các tổ chức xã hội với các tổ chức chính trị - xã hội ngoại trừ việc không định danh cụ thể một tổ chức xã hội nào là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân như các tổ chức

Trang 20

chính trị - xã hội [39, Điều 9, khoản 2] Do đó, có theo một cách nhìn rộng hơn thì vẫn là một trong những yếu tố cấu thành của hệ thống chính trị

Tuy nhiên từ phương diện thực tiễn hiện nay, đối với các tổ chức được coi là các tổ chức xã hội dân sự hợp pháp (không phải là các tổ chức chính trị

- xã hội được định danh trong Hiến pháp), với việc ra đời của Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương [1, Điều 7.3.b], dường như cũng đã xác định một ranh giới giữa các tổ chức này với

hệ thống chính trị Trong đó Quy định đã yêu cầu các đảng viên không được thực hiện thể chế xã hội dân sự, cho thấy các tổ chức xã hội không thuộc thành phần các tổ chức chính trị - xã hội không được khuyến khích trở thành một cấu thành của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng

Do đó, với vai trò của một đảng viên cũng như với ý thức của một công dân, trong nghiên cứu này tác giả cũng xin tiếp cận quan điểm về hệ thống chính trị nước ta theo nghĩa hẹp Đó là, hệ thống chính trị chỉ bao gồm: các tổ chức chính trị các cấp, các tổ chức chính quyền các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp

Các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị cơ sở nước ta hiện nay

Xuất phát từ quan điểm về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ

sở nêu trên, hệ thống chính trị cơ sở nước ta được cấu thành bởi các thành tố như sau: các tổ chức chính trị cơ sở (xã, phường, thị trấn), các thiết chế chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn), các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở (xã, phường, thị trấn)

Cụ thể hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta bao gồm: các tổ chức cơ sở Đảng (Đảng bộ cấp xã, phường, thị trấn…); Chính quyền cơ sở và các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp cơ sở, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp cơ sở, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp cơ sở, Hội Nông dân Việt Nam cấp cơ sở, Hội Cựu chiến binh Việt

Trang 21

Nam cấp cơ sở và tổ chức Công đoàn cơ sở Ngoài ra còn có các tổ chức xã hội hợp pháp khác của nhân dân được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

1.2 Đặc điểm, vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

1.2.1 Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

Đánh giá về đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở nước ta, chúng cần thấy được những điểm đặc thù với hệ thống chính trị của các nước và đặc thù của hệ thống chính trị cơ sở với các cấp khác thuộc hệ thống chính trị (như:

hệ thống chính trị ở trung ương, cấp tỉnh, huyện)

Trước tiên, tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị nước ta nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nước ta nói riêng trong sự so sánh với hệ thống chính trị cơ sở của các nước Đặc điểm này xuất phát từ việc chúng ta thừa nhận một đảng chính trị duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam[39, Điều 4] do đó, hệ thống chính trị nước ta nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đối đa số các nước trên thế giới hệ thống chính trị của họ là đa nguyên thì hệ thống chính trị

cơ sở của họ luôn phải chịu sự chi phối bởi từ hai hay nhiều đảng chính trị trở lên vì hệ thống chính trị cơ sở chính là nền tảng cấu thành nên hệ thống chính trị của mỗi quốc gia

Tính thống nhất cao trong hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở xuất phát từ tính nhất nguyên của hệ thống chính trị nên hệ thống chính trị cơ

sở nước ta có tính thống nhất cao Thực tế này cũng xuất phát bởi đặc điểm là tất cả các tổ chức chính trị - xã hội nước ta đều do Đảng Cộng sản Việt Nam

tổ chức thành lập dẫn đến hệ thống chính trị nước ta nói chung và hệ thống

Trang 22

chính trị cơ sở nước ta nói riêng có tính thống nhất rất cao dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đặc điểm thứ ba, có sự phân định lớn về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội với các tổ chức xã hội khác (đề cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội) trong hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng[39, Điều 9] Trên thực tế nước ta, các tổ chức chính trị - xã hội là một

bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng điều này được hiện thực hóa bằng các quy định của Hiến pháp và pháp luật nhưng đối với các tổ chức xã hội khác lại không có được các vị trí quan trọng như vậy

Ngoài những khác biệt của hệ thống chính trị cơ sở nước ta với nhiều nước trên thế giới như trên, đối với cùng hệ thống chính trị nước ta, hệ thống chính trị cơ sở cũng có những đặc điểm riêng với các cấp khác trong hệ thống chính trị (trung ương, cấp tỉnh, huyện) điều đó thể hiện ở một số nội dung sau:

- Thứ nhất: Là cấp thực hiện các hoạt động chính trị và quản lý nhà

nước bằng thiết chế phi quan phương nhiều nhất và hiệu quả nhất so các cấp khác (trung ương, cấp tỉnh, huyện) trong hệ thống chính trị Cụ thể, với truyền thống văn hóa nước ta thiên về giải quyết các công việc bằng tình cảm (trăm cái lý không bằng tý cái tình) nên các công việc ở cơ sở thường được quan tâm giải quyết dựa trên quan hệ tình cảm hết sức hiệu quả Trong đó mỗi tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị với chức năng, vai trò của mình luôn

có những cách thức tiếp cận, giải quyết các công việc ở cộng đồng địa phương một cách hữu hiệu mà không cần sử dụng nhiều đến các thiết chế quan phương Đối với các vụ việc quá phức tạp mới phải sử dụng các thiết chế quan phương hoặc chuyển lên các cấp trên, chính vì vậy đây cũng là kênh quan trọng kết nối đoàn kết cộng đồng cũng như giảm tải các công việc quản

lý nhà nước đối với cấp trên Việc làm tốt vai trò này thúc đẩy đoàn kết cộng

Trang 23

đồng, giảm thiểu các xung đột xã hội cũng như góp phần quan trọng trong bảo đảm an ninh, trật tự xã hội

- Thứ hai: Là nơi trực tiếp triển khai và đánh giá tính hiệu quả của các

chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Do đây

là cấp thấp nhất nên các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước muốn được triển khai và thực thi đều phải triển khai ở cấp này Và thông qua hệ thống chính trị cơ sở Đảng, nhà nước có thể kịp thời điều chỉnh các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho phù hợp Đây

là cấp gần nhất với thực tiễn và trực tiếp nhất với cuộc sống của dân nên hiểu biết rõ nhất nhu cầu và những bức xúc mà cuộc sống của dân đang đặt ra, hiểu rõ những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Do đó, hệ thống chính trị

cơ sở vừa là cấp tổ chức triển khai, thực hiện, cũng đồng thời là nơi đánh giá

về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước có đi vào cuộc sống hay không để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với nguyện vọng của nhân dân

- Thứ ba: Hệ thống chính trị cơ sở là cấp có bộ máy đơn giản nhất, có

đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất Đặc điểm xuất phát từ thực tiễn, trong hệ thống chính trị cơ sở nhiều vị trí không được xem là là công chức nhà nước Các vị trí là công chức phần nhiều thuộc biên chế của chính quyền cơ sở, đối với các đoàn thể chính trị - xã hội đa số kiêm nhiệm hoặc chuyên trách Vì vậy ở đây không thu hút được người có trình độ chuyên môn cao, phần lớn cán bộ đều trưởng thành từ thực tiễn nên chưa được đào tạo bài bản, hơn nữa tâm lý ngại học tập do thu nhập không đáp ứng, công việc không ổn định

- Thứ tư: đây là đội ngũ có tính thực tiễn cao, sát dân vì hệ thống chính

trị cơ sở là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng, những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống Muốn tập hợp được nhân dân tham

Trang 24

gia vào các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phát triển kinh tế làm nhiều việc tốt ích nuớc, lợi nhà thì đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở phải là những người có tính thực tiễn cao và sát dân chứ không thể quan liêu và thiếu thực tiễn

- Thứ năm: là cấp mà cộng đồng dân cư bị chi phối mạnh nhất bởi

những yếu tố văn hóa bản địa như làng, xã, dòng tộc huyết thống, dòng họ, văn hóa địa phương (làng, xã, ấp, thôn) Do đó, hệ thống chính trị cơ sở, đặc biệt ở nông thôn nơi ít có sự giao lưu, du nhập các giá trị văn hóa của địa phương khác sẽ chịu nhiều tác động đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở Vì vậy, trong quan hệ với nhân dân, các chủ thể hoạt động trong hệ thống chính trị cơ sở dễ bị chi phối, ràng buộc bởi những yếu

tố mang tính cộng đồng lãnh thổ trên Các yếu tố này tác động, thậm chí là chi phối hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở Điều đó cho thấy rằng,

hệ thống chính trị cơ sở không chỉ được vận hành trong phạm vi các thiết chế chính thức như các quy định của pháp luật mà còn bị chi phối bởi những thiết chế phi chính thức (phi quan phương) nơi hệ thống chính trị cơ sở tồn tại như những quy định, hương uớc, truyền thống

1.2.2 Vị trí của hệ thống chính trị cơ sở nước ta

Theo quan điểm của các nhà khoa học hiện nay thì cơ sở vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của hệ thống chính trị, nhưng nó là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn

bộ hệ thống chính trị của nước ta Vì cơ sở là nơi trực tiếp nhất tiếp xúc với nhân dân, tiếp xúc với mọi hoạt động của nhân dân trong đời sống thường nhật và là nơi chính quyền gần dân nhất Vì vậy, đây là nơi trực tiếp tổ chức

và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Mọi đường lối, chủ trương có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, mà nhất là phụ thuộc

Trang 25

vào phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên trong các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở Chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước và hệ thống chính trị Những phản ứng bất bình của người dân, tình trạng khiếu kiện kéo dài, đông nguời vượt cấp trong thời gian gần đây ở một số địa phương gây nên những điểm nóng chính trị phức tạp và các điểm nóng này nếu không xử lý tốt sẽ có sức lan tỏa xấu làm mất ổn định chính trị và có thể dẫn đến mất chế độ

Ổn định chính trị và làm lành mạnh xã hội bắt đầu từ sự ổn định và lành mạnh ở cơ sở kèm theo đó phải là một hệ thống chính trị cơ sở được lòng dân Vì cơ sở là nền tảng của chế độ, nếu cơ sở suy yếu, rệu rã là khởi đầu cho những suy yếu rệu rã của toàn bộ hệ thống chính trị Việc chăm lo xây dựng

hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh tạo tiền đề, nền móng cho cả hệ thống chính trị Để làm được điều đó chúng ta phải quan tâm tới việc xây dựng hệ thống chính trị cơ sở thật sự là hệ thống chính trị của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Chúng ta cũng phải quán triệt, nếu có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả, chân lý này không mới và đã được minh chứng từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Thậm chí quan điểm này trong lịch sử nước ta này đã được đúc kết và phát triển cho đến ngày nay Cụ thể như quan điểm: “Khoan, thư sức dân”[13], đến tư tưởng: "Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân"[52], hay quan điểm: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong"[18] Khẳng định vị trí, vai trò của cơ sở cũng chính là khẳng định nguyên lý về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong hoạt động sáng tạo lịch sử

Trang 26

Với vị trí là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng nhìn theo cấp độ quản lý từ trên xuống hoặc từ dưới lên Cho nên, cơ sở lại là tầng sâu nhất trong sự vận hành của thể chế chính trị từ áp từ trên xuống như ở nước ta Hệ thống chính trị cơ sở là địa chỉ quan trọng nhất vì xét đến cùng là nơi quyết định mà mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải tìm đến, đó là dân, lòng dân, ý dân, trí tuệ, sáng tạo của dân Là sự đoàn kết, thống nhất của cán bộ, đảng viên và nhân dân, giữa người đại diện được nhân dân ủy quyền với toàn thể nhân dân Phải bằng mọi cách tổ chức, tuyên truyền, vận động cho nhân dân hiểu, dân tin và dân làm có như vậy thì cơ sở xã hội của Đảng, Nhà nước

và chế độ mới thực sự bền vững

1.2.3 Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở nước ta

Hệ thống chính trị cơ sở được hiểu là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay (bao gồm cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã) Hệ thống chính trị cơ sở có một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội

Từ cách tiếp cận như vậy, có thể thấy hệ thống chính trị là một trong những hệ thống phản ánh đặc trưng mối quan hệ của quyền lực chính trị; các

bộ phận, các nhân tố cấu thành và tham gia vào các quá trình, quy trình chính

trị và nó đóng một số vai trò như sau:

- Hệ thống chính trị cơ sở là nền móng cho hệ thống chính trị nói riêng và

xã hội nói chung Ở đây chúng ta thấy, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở đóng vai trò nền móng đối với toàn bộ hệ thống chính trị, đồng thời một xã hội ổn định cũng phải dựa trên một hệ thống chính trị ổn định Do đó, hệ thống chính trị

Trang 27

cơ sở vừa đóng vai trò là nền tảng trong việc ổn định hệ thống chính trị nhưng đồng thời đóng vai trò quyết định đối với ổn định xã hội

- Hệ thống chính trị cơ sở là nơi các cá nhân, tổ chức của giai cấp thống trị thông qua đó trực tiếp vận động, xây dựng uy tín, năng lực chính trị và thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Đây cũng là nơi trực tiếp nhất đánh giá uy tín, năng lực của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ

sở nói riêng Bởi vì những người tham gia hệ thống chính trị cơ sở luôn là những người trực tiếp nhất, gần gũi nhất đối với nhân dân nên họ là người trực tiếp được nhân dân đánh giá năng lực, uy tín và họ cũng là người trực tiếp khẳng định hình ảnh của cá nhân góp phần xây dựng hình ảnh của tổ chức và của hệ thống chính trị

- Hệ thống chính trị cơ sở là nơi tiếp nhận các đánh giá, phản biện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước từ phía nhân dân đối với sự phù hợp trong phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống chính trị cơ sở đồng thời cũng là nơi đưa ra các giải pháp nhanh chóng, kịp thời nhất đối với các

vụ việc xảy ra trên thực tế

1.3 Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

1.3.1 Tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng

Theo cách hiểu về hệ thống chính trị cơ sở như đã trình bày thì các bộ phân cấu thành hệ thống chính trị cơ sở tương đương với tổ chức chính trị, chính quyền và tổ chức đoàn thể cấp xã Do đó, tổ chức cơ sở Đảng nước ta hiện nay được hiểu là tổ chức Đảng cấp xã Theo thống kê: tính đến tháng 12/2017, cả nước ta có 11.120 xã, phường, thị trấn (9.048 xã, 1.450 phường,

622 thị trấn)[62], số lượng tổ chức cơ sở Đảng cấp xã chiếm khoảng 20% trong tổng số các tổ chức cơ sở Đảng, có số lượng lớn nhất so với các loại

Trang 28

hình tổ chức cơ sở Đảng trong cả nước Gần 50% tổng số đảng viên của toàn Đảng đang sinh hoạt và hoạt động trong các tổ chức cơ sở Đảng cấp xã Theo quy định hiện hành: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Ðảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”[14] Như vậy tổ chức cơ sở Đảng ở xã là hạt nhân chính trị cơ sở Đây là một nguyên lý được Đảng ta quán triệt và bắt nguồn từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về vai trò của giai cấp công nhân - lực lượng chủ yếu của cách mạng vô sản và là người lãnh đạo xã hội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là hạt nhân lãnh đạo chính trị, lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở Tổ chức cơ sở Đảng cơ sở có vai trò hạt nhân trong lãnh đạo chính trị, lãnh đạo hệ thống chính trị, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng được cụ thể hóa và được thực hiện thắng lợi ở cơ sở Tổ chức

cơ sở Đảng ở xã có vai trò lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động trong xã, lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể quần chúng

Xuất phát từ thực tiễn, hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị nhất nguyên, trong đó chỉ tồn tại một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng cộng sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nhưng Đảng là hạt nhân của hệ thống đó, là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và

xã hội Lịch sử cách mạng nước ta chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của hệ thống chính trị,

là hạt nhân đảm bảo sự thống nhất của hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam, là tổ chức chính trị duy nhất ở nước ta và có được vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội nước ta từ Trung ương tới cơ sở

Do Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị cơ sở nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở Cho nên trong hoạt động của tổ chức Đảng cơ sở thể hiện những nội dung chủ yếu sau:

Trang 29

- Giống như vai trò của các tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cấp thuộc hệ thống chính trị, tổ chức Đảng cơ sở cũng có các hoạt động như:

đề ra đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế -

xã hội ở địa phương; đồng thời tổ chức Đảng cơ sở là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng ở cơ sở

- Hoạt động của tổ chức Đảng cơ sở là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và chủ yếu thông qua các hoạt động của chính quyền cơ sở và các đoàn thể quần chúng cơ sở Các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng được chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị cơ sở tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng các hoạt động trên thực tiễn Vì vậy, tổ chức Đảng cơ sở phải luôn quan tâm đến việc xây dựng chính quyền cơ sở, bộ máy của chính quyền

cơ sở và các đoàn thể chính trị - xã hội đồng thời kiểm tra việc chính quyền

cơ sở thực hiện các Nghị quyết của tổ chức Đảng cơ sở, các tổ chức chính trị -

xã hội cơ sở thực hiện sự lãnh đạo của Đảng

- Tổ chức Đảng cơ sở (cấp xã) trực tiếp thực hiện hoạt động lãnh đạo

hệ thống chính trị cơ sở thông qua hệ thống tổ chức Đảng cấp thấp hơn (chi bộ) và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ở cấp thôn, xóm, bản Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của chính quyền cơ sở và các đoàn thể quần chúng cơ sở và các tổ chức chính trị -

xã hội cơ sở

- Ngoài ra hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng cơ sở còn thể hiện ở vai trò giáo dục, rèn luyện đảng viên và phát triển Đảng ở cơ sở Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục lý tưởng cách mạng, rèn luyện ý chí, trau dồi quan điểm, lập trường cách mạng cho đảng viên cơ sở, động viên đảng viên tham gia các phong trào giữ gìn an ninh, trật tự, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; là nơi vận động và bồi dưỡng những người ưu tú, xuất sắc trong phong trào quần

Trang 30

chúng, kết nạp họ vào Đảng nhằm xây dựng, phát triển, tăng cường số lượng

và sức chiến đấu của Đảng

- Hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng ở xã còn đóng vai trò là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng và là chỗ dựa đáng tin cậy của quần chúng nhân dân ở cơ sở Bằng việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng đưa vào cuộc sống ở xã, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; phát triển lực lượng đảng viên mới trong quần chúng, các tổ chức Đảng ở xã thực sự là “một đơn vị chiến đấu cơ bản” của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị và là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân ở cơ sở

- Hoạt động thực tiễn của cơ sở Đảng còn thể hiện bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở

1.3.2 Tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã)

Tổ chức của chính quyền cơ sở

Như đã trình bày, hiện nay theo quy định của hiến pháp 2013, hệ thống chính quyền nhà nước ta bao gồm bốn cấp từ trung ương đến cơ sở Trong đó, chính quyền cấp cơ sở (cấp xã) có vị trí rất quan trọng Cũng giống như các cấp chính quyền khác, tổ chức của chính quyền cơ sở, cũng bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, được bầu ra theo quy định của Hiến pháp

và pháp luật

- Hội đồng nhân dân cấp cơ sở: Theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì, Hội đồng nhân dân xã được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Thông qua Hội đồng nhân dân xã, nhân dân ở cơ sở thực hiện quyền làm chủ của mình Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cơ quan cấp trên và trước nhân dân địa phương

Trang 31

Về tổ chức, Hội đồng nhân dân xã có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các đại biểu Hội đồng nhân dân Theo Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm

2015, Hội đồng nhân dân xã có Thường trực Hội đồng nhân dân nhưng không có các ban chuyên môn như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân là 5 năm Số lượng đại biểu được quy định tối thiểu là 15 người (xã có 1000 người trở xuống) và tối đa không quá 25 người (xã có từ 3000 người trở lên) Cũng như Hội đồng nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân xã có hai chức năng cơ bản là quyết định và giám sát

- Ủy ban nhân dân của chính quyền cơ sở: Theo Quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn loại 2 và 3 có 1 Phó Chủ tịch Đối với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn loại 1 có 1 Chủ tịch và không quá 2 Phó Chủ tịch, 01 Uỷ viên phụ trách quân sự và 01 Uỷ viên phụ trách an ninh Trong đó Chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xã Các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên - môi trường và phụ trách khối văn hóa - xã hội

và các lĩnh vực xã hội khác Các ủy viên Uỷ ban nhân dân thì phụ trách công

an và phụ trách quân sự[44]

Hoạt động của chính quyền cơ sở

Theo các nhà lý luận hiện nay, chính quyền cơ sở được coi là trụ cột của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội ở cơ sở Muốn làm được điều này, chính quyền cơ sở phải thể hiện đầy đủ tính chất là chính quyền của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân mà hiến pháp đã ghi nhận Thực tiễn hiện nay pháp luật nước ta quy định trong quá trình hoạt động, chính quyền cơ sở ngoài việc phải tuân thủ các nghị quyết của hội đồng nhân dân đồng cấp, chấp hành sự lãnh đạo của chính quyền cấp trên, còn phải đặt dưới sự lãnh đạo Đảng bộ cơ

Trang 32

sở, thực hiện các nghị quyết, chủ trương, đường lối chính trị của Đảng bộ cơ sở Đảng bộ cơ sở lãnh đạo chính quyền cơ sở thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương

Xuất phát từ thực tiễn, quyền lực chính trị bao giờ cũng thể hiện tập trung nhất ở quyền lực nhà nước Do đó, quyền lực nhà nước chính là hình thức cơ bản, quan trọng nhất của quyền lực chính trị Trong hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói riêng, hiệu quả của hệ thống chính trị phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động chính quyền cơ sở Vì vậy, chính quyền cơ sở có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng và hệ thống chính trị nói chung

Trong hoạt động, mặc dù chỉ đóng vai trò là một bộ phận hợp thành của

hệ thống chính trị cơ sở nhưng chính quyền cơ sở luôn đứng có được vị trí trung tâm của hệ thống chính trị cơ sở Điều này xuất phát từ những điều kiện thực tiễn sau:

- Chính quyền cơ sở là nơi tập trung nhất quyền lực của nhân dân ở cơ

sở, vì vậy chính quyền cơ sở phải là chủ thể đại diện chính thức cho các giai cấp và tầng lớp nhân dân ở cơ sở Sự tập trung đó giúp cho chính quyền cơ sở

có các nguồn lực xã hội cần thiết để hoạt động và triển khai một cách nhanh chóng, hiệu quả những công việc, quyết định của mình, các nghị quyết của đảng bộ đồng cấp cũng như những yêu cầu của các cấp trên

- Do chính quyền cơ sở là chủ thể cơ bản và tập trung nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân ở cơ sở Cho nên trong hoạt động, chính quyền cơ sở có bộ máy đặc biệt để thực thi quyền lực nhân dân

- Chính quyền cơ sở có sức mạnh cưỡng chế có hiệu lực trên phạm vi

cơ sở, có thể duy trì và ổn định trật tự xã hội

- Trong hoạt động chính quyền cơ sở với phạm vi quyền hạn của mình

có thể ban hành và sử dụng pháp luật để thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước và xã hội ở cơ sở

Trang 33

- Chính quyền cơ sở có các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện vai trò của mình Vì hiện nay, nhà nước ta là chủ sở hữu tối cao đối với những

tư liệu sản xuất quan trọng nhất của xã hội Bằng việc nắm giữ các tư liệu sản xuất đó, chính quyền thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế ở địa phương, đảm bảo cho nó phát triển vì lợi ích của nhân dân địa phương Chính quyền cơ sở cũng là nơi nắm giữ nguồn tài chính và cơ sở vật chất to lớn ở địa phương, đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước và của, các tổ chức chính trị xã hội khác ở địa phương

Tất cả các điều kiện trên là ưu thế riêng có của chính quyền cơ sở so với các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị cơ sở như tổ chức chính trị cơ

sở, các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở khác, chúng qui định vị trí - vai trò trung tâm của chính quyền cơ sở trong hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta

Trong hoạt động của hội đồng nhân dân cấp xã - cơ quan quyền lực của nhân dân ở cơ sở, là cơ quan có quyền quyết định các biện pháp thực hiện phát triển kinh tế - xã hội hàng năm ở cơ sở nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, quyết định trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống, quyết định trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyết định đối với việc thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo, quyết định trong lĩnh vực thi hành pháp luật, quyết định trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính

Trong hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở xã; giám sát việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương

Trang 34

1.3.3 Tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở

Tổ chức của các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở

Trong khái niệm về các đoàn thể nhân dân, ở nước ta đây là một phạm trù rất rộng, bao gồm cả các tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận

Tổ quốc, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội, giới chức, lợi ích, từ thiện Tuy nhiên, như đã trình bày các đoàn thể nhân dân được coi là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng chỉ bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội Hiện nay theo quy định của hiến pháp 2013 các tổ chức chính trị - xã hội nước ta bao gồm 6 tổ chức sau: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Công đoàn

Các tổ chức chính trị - xã hội này có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị ở cơ sở Về mặt tổ chức có thể thấy, các đoàn thể này đại diện hầu hết cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam Do đó về mặt tổ chức, các thành viên của từng tổ chức có nghĩa vụ đoàn kết đối với các thành viên thuộc tổ chức, chăm lo lợi ích của thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, nhà nước và nhân dân Ở mức độ cao hơn các cá nhân và các đoàn thể này đều là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, do đó các tổ chức, cá nhân đó cũng có nghĩa vụ đoàn kết với nhau để xây dựng một hệ thống chính trị có vững mạnh

Với tư cách là các tổ chức chính trị - xã hội các đoàn thể này là lực lượng mềm trong việc đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống cũng như thay mặt nhà nước giải quyết những vấn đề

có tính phi quan phương Cụ thể các tổ chức chính trị - xã hội có thể đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng tham gia bảo vệ trật tự trị an, xây

Trang 35

dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, đứng ra làm trung gian hòa giải đối với những vấn đề phát sinh ở địa phương

Với cách thức tổ chức như trên, chúng ta thấy hệ thống chính trị nước

ta nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nước ta nói riêng có những cách thức

tổ chức hết sức hợp lý Đó là, có sự tuyệt đối về quyền lực chính trị đối với đảng cầm quyền, có sức mạnh cưỡng chế của trung tâm hệ thống chính trị - tổ chức chính quyền nhưng bên cạnh đó cũng có thiết chế tổ chức phi quan phương để giải quyết những vấn đề xã hội một cách mềm dẻo, linh hoạt Điều này khiến cho hoạt động quản lý nhà nước luôn linh hoạt, mềm dẻo mà không quá cứng nhắc, khiến cho xã hội được vận hành một cách linh hoạt và hiệu quả

Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở

Trong hoạt động, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân, của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo Mặt trận là tổ chức có nhiệm vụ củng cố khối đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội, động viên toàn dân xây đựng đất nước

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chỉ Minh cơ sở là tổ chức của tầng lớp thanh niên cấp xã, phường, thị trấn, là nơi giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ Đoàn là một lực lượng năng động, nhiệt tình, luôn đi xung kích trong mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là đội hậu bị, là cánh tay đắc lực của Đảng, là nguồn cung cấp cán

bộ trẻ cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội ở cơ sở

Tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ở cơ sở là tổ chức đoàn kết rộng rãi của tầng lớp phụ nữ của cấp xã, phường, thị trấn ở nước ta Hoạt động trên cơ sở tự nguyện nhằm nâng cao tinh thần phấn đấu vươn lên của phụ nữ trong mọi lĩnh vực công tác bảo vệ các quyền và lợi ích của các hội viên của mình ở cơ sở

Tổ chức Hội nông dân Việt Nam ở cơ sở là tổ chức đại diện cho giai cấp nông dân ở cơ sở Có nhiệm vụ giáo dục nâng cao ý thức và năng lực làm

Trang 36

chủ của giai cấp nông dân, động viên họ tích cực lao động sản xuất và tham gia vào các công việc của chính quyền cơ sở

Tổ chức Cựu chiến binh cơ sở là thành viên của đoàn thể chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn

và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu

Tổ chức Công đoàn, là tổ chức của những người lao động, có nhiệm vụ chủ yếu bảo vệ lợi ích của người lao động, tuy nhiên tổ chức Công đoàn cũng như các tổ chức khác luôn phải hoạt động trong phạm vi khuôn khổ của pháp luật và là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam thực hiện mối đại đoàn kết của dân tộc

Một điều đặc biệt cần lưu ý đó là, các tổ chức chính trị - xã hội này đều

do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập và rèn luyện nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị mà Đảng ta đã đề ra

Các hoạt động chủ yếu của các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở thể hiện

ở những lĩnh vực như sau:

- Tham gia thành lập các cơ quan nhà nước

- Tham gia xây dựng pháp luật

- Tham gia quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

Trang 37

- Tham gia tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục công dân ý

thức chấp hành pháp luật, đấu tranh bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân

- Tham gia bảo vệ quyền lợi cho các thành viên của tổ chức, bảo vệ quyền lợi nhân dân

Như vậy, có thể nhận thấy rõ rằng trong hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò vừa là trung tâm đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng quần chúng nhân dân (tính chất xã hội), đại diện

và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên vừa thực hiện vai trò nền tảng chính trị của chính quyền nhân dân, tổ chức động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước

So với các tổ chức xã hội khác, vai trò này của các tổ chức chính trị - xã hội

có tính trực tiếp hơn trong việc phục vụ sự nghiệp cách mạng theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước

Ngoài các tổ chức chính trị - xã hội chính thức được thừa nhận trên, hiện nay ở nước ta đang còn có sự phát triển của nhiều tổ chức xã hội khác như: Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Hội Nhà báo Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, hiệp hội kinh tế, hội nghề nghiệp, các hội quần chúng tập hợp theo sở thích, ý nguyện, các tổ chức hoạt động tương trợ xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận Đây là điểm có ý nghĩa rất quan trọng đồng thời cũng là một xu hướng phát triển của các thiết chế xã hội trong thời kỳ đổi mới Có thể nói rằng đó là xu hướng tất yếu trong quá trình xây dựng và củng cố nền dân chủ XHCN ở Việt Nam mà một trong những biểu hiện có tính đặc trưng là sự tác động tương hỗ dẫn đến sự hài hòa hóa giữa các yếu tố chính trị và kinh tế - xã hội

Như vậy, trong đời sống chính trị của đất nước ta, các tổ chức chính trị

- xã hội ở cơ sở có vai trò rất quan trọng, là một trong những hình thức thông qua đó để nhân dân ở cơ sở thực hiện quyền làm chủ của của mình

Trang 38

Kết luận Chương 1

Với vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta, hệ thống chính trị cơ sở nước ta đã khẳng định sự thành công trong việc xây dựng và bảo đảm sự ổn định của cả hệ thống chính trị nước ta Cụ thể, việc tổ chức hệ thống chính trị với các cấu thành phù hợp (Đảng chính trị, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội) cho thấy Đảng ta đã và đang xây dựng được một mô hình về hệ thống chính trị nói chung và mô hình hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta nói riêng hết sức phù hợp với điều kiện thực tiễn cũng như điều kiện văn hóa nước ta

Việc phân công các chức năng, nhiệm vụ một cách linh hoạt, mềm dẻo trong hệ thống chính trị cơ sở một mặt góp phần làm giảm các công việc của nhà nước Đồng thời tạo cơ hội lớn để nhân dân ở cơ sở có thể giải quyết các nhu cầu cá nhân thông qua các thiết chế phi quan phương nhằm giúp họ duy trì, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng Bởi xuất phát từ quan niệm văn hóa truyền thống văn hóa nước ta cho rằng "vô phúc mà đáo tụng đình" thì những công việc ở cơ sở cần có các thiết chế phi quan phương giải quyết sẽ

êm thấm hơn Bên cạnh đó, việc xây dựng các thiết chế phi quan phương trong hệ thống chính trị từ cơ sở cũng góp phần làm giảm các căng thẳng xã hội khi mà công dân chưa tới mức phải cầu viện quyền lực nhà nước

Đối với những công việc quan trọng mà vượt ra khỏi phạm vi tự quản,

tự thỏa thuận như các vi phạm pháp luật mà cần có sự hiện diện của quyền lực nhà nước thì hệ thống chính trị cơ sở nước ta cũng có những cơ chế và chủ thể

có thể đảm bảo giải quyết công việc ở cơ sở một cách hiệu quả Đây thực sự

là những thành công quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nước ta hiện nay Tuy nhiên, khi nghiên cứu một cách tổng quát cũng có thể thấy việc sử dụng một mô hình duy nhất để áp dụng cho mọi trường hợp có lẽ chưa hẳn đã mang được kết quả như mong muốn Ví dụ, đối

Trang 39

với các vùng đồng bào dân tộc hoặc miền núi vai trò của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị chưa hẳn thuyết phục bằng vai trò của một vài cá nhân, đó cũng là những vấn đề cần tiếp tục phải lưu ý khi chúng ta muốn xây dựng một

hệ thống chính trị cơ sở dân chủ, hiệu lực và hiệu quả

Trang 40

Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Khái quát về quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định 74/NĐ-CP/1996, ngày 22 tháng 11 năm 1996 của chính phủ và đi vào hoạt động từ 01/01/1997 với 11 đơn vị hành chính cấp phường, có diện tích tự nhiên 913,2ha [54, tr.1];

11 đơn vị hành chính cấp phường chính là 11 hệ thống chính trị cơ sở của quận, bao gồm: Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Nam, Thượng Đình, Kim Giang, Khương Trung, Khương Mai, Phương Liệt (là phường từ quận Đống Đa chuyển sang), Nhân Chính (từ xã Nhân Chính huyện Từ Liêm chuyển sang), Khương Đình và Hạ Đình (từ xã Khương Đình huyên Thanh Trì chuyển sang tách thành 2 phường thuộc quận Thanh Xuân) Dân số ban đầu là 268.461 người; nằm ở trung tâm phía Tây Nam thành phố

Hà Nội: Bắc giáp quận Đống Đa và Cầu Giấy, Đông giáp quận Hai Bà Trưng

và Hoàng Mai, Nam giáp huyện Thanh Trì, Tây giáp quận Nam Từ Liêm và

quận Hà Đông

Có các đường giao thông huyết mạch đi qua đó là Quốc lộ số 1 (đường

Giải phóng), Quốc lộ số 6 (đường Nguyễn Trãi), đường Lê Văn Lương và 2

tuyến đường vành đai của thành phố là đường Vành Đai 2, Vành đai 3 (có

đường cầu vượt trên cao), đường sắt đô thị trên cao đang triển khai thi công

sắp hoàn thành nên rất thuận tiện cho việc giao lưu mở rộng thị trường phát triển kinh doanh dịch vụ Quận thuộc khu vực phát triển đô thị của thành phố,

là trung tâm (địa lý) của thành phố Hà Nội; do đó có lợi thế để thúc đẩy nhanh

sự phát triển kinh tế - xã hội; địa hình của quận tương đối bằng phẳng thuận

Ngày đăng: 21/06/2018, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w