Mục đích nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung và Trường Đại học Hà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận băn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Người cam đoan
LÊ THỊ BÍCH LIÊN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học 81.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học 121.3 Phương pháp quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 27
2.1 Khái quát về Trường Đại học Hà Nội và đội ngũ giảng viên Trường Đại học Hà Nội 272.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên Trường Đại học
Hà Nội 302.3 Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Hà Nội 55
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 63
3.1 Các định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học 633.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học 68
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê số lượng giảng viên 2014 – 2017 31
Bảng 2.2 Thống kê số lượng tuyển dụng giảng viên 39
Bảng 2.3 Thống kê số lượng cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng 44
Bảng 2.4 Thống kê số lượt cán bộ, giảng viên được cử đi học sau đại học ở
trong nước và nước ngoài được tiếp nhận khi về nước 44
Bảng 2.5 Đơn giá thanh toán vượt giờ 54
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển mới của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương 8 (khóa
XI) xác định “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý… Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm, trường đại học sư phạm Thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo Minh bạch hóa các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công; bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích lũy tái đầu tư”[6]
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng luôn được các quốc gia trên thế giới và Việt Nam quan tâm, chú trọng, coi đây là nguồn lực quyết định đến chất lượng giáo dục, đáp ứng những nhu cầu mới của đất nước Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các trường đại học nói chung và trường Đại học Hà Nội nói riêng đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Chính vì vậy,
Trang 72
chất lượng đội ngũ giảng viên không ngừng phát triển về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm, trình độ tin học, đạo đức nghề nghiệp Đội ngũ giảng viên có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số giảng viên của trường
Tuy nhiên, trước những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu học tập của người dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, đội ngũ giảng viên các trường đại học vẫn còn nhiều hạn chế Cơ cấu đội ngũ giảng viên không đồng đều giữa các ngành, các lĩnh vực; trình độ giảng viên không đồng đều, còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ… Trong khi đó, việc quản lý nhà nước, cơ chế, chính sách phát triển đội ngũ giảng viên chưa đầy đủ, đồng bộ, còn chồng chéo; việc quy hoạch tổng thể phát triển đội ngũ giảng viên đại học trong quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành và của cả nước còn thiếu Xuất phát từ những lý
do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học từ thực tiễn Trường Đại học Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự phát triển của xã hội cần phải có đội ngũ nhân lực nắm chắc nghiệp vụ, trình độ chuyên môn cao, sẵn sàng thích ứng với sự biến đổi cũng như ứng dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong công tác giảng dạy Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung và quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường đại học là một vấn đề rất quan trọng, vì vậy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này
Lê Thị Nga (2015), Quản lý nhà nước về phát triển đội ngũ giảng viên
đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Quản lý hành chính công Luận văn đã nghiên cứu các vấn đề
lý luận, pháp lý, thực trạng và đề xuất một số giải pháp liên quan tới phát triển
Trang 83
đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn hành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, luận văn chỉ dừng lại ở việc liệt kê, tổng hợp các quy định, các văn bản pháp lý liên quan tới đội ngũ giảng viên nói chung và phát triển đội ngũ giảng viên nói riêng, đồng thời chưa phân tích sâu các nguyên nhân,
sự cần thiết phải ban hành các quy định để điều chỉnh các nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên Hơn nữa, luận văn chỉ mới nghiên cứu chuyên sâu về một mảng đó là “quản lý nhà nước về phát triển đội ngũ giảng viên” mà chưa nghiên cứu tổng thể tất cả nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên theo các quy định của pháp luật
Nguyễn Thị Phương Nhung (2017), Phát triển đội ngũ giảng viên bậc
đại học trên địa bàn tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý
công, Học viện Hành chính Quốc gia
Bạch Tú Anh (2010), Tăng cường quản lý nhà nước đội ngũ giảng viên
các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính
Nguyễn Thị Lan Hương (2010), Quản lý nhà nước về giáo dục đại học
từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sỹ Hành chính công,
Học viện Hành chính
Nguyễn Thị Thu Hương (2012), Xây dựng đội ngũ giảng viên trong trường
đại học – Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Luật học 28
Công trình nghiên cứu đã phân tích thực trạng đội ngũ giảng viên các trường đại học hiện nay Công trình nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo
sự phát triển cần đối, hài hòa về cơ cấu, số lượng, trình độ chuyên môn và các kỹ năng cần có của đội ngũ giảng viên các trường đại học Các giải pháp được đề xuất trên nhiều phương diện từ phương diện thể chế, về tiêu chuẩn, chế độ chính sách
Trang 94
Nguyễn Thị Thu Trang (2012), Quản lý nhà nước về phát triển đội
ngũ giảng viên các trường cao đẳng công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội,
luận văn thạc sỹ Hành chính công, Học viện Hành chính
Lê Thị Huyền Trang (2014), Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng
viên các trường đại học công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh từ thực tiễn đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản
lý công Tác giả đã nghiên cứu các cơ sở lý luận, pháp lý liên quan tới quản lý nhà nước đối vối đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập Thực tế tổ chức, quản lý đối với đội ngũ giảng viên các trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời đề xuất các giải pháp gắn với đặc thù là một đại học vùng, có chức năng, vị trí quan trọng trong hệ thống các trường đại học trên toàn quốc nói chung và khu vực Miền Nam nói riêng
Vũ Quang Tuyên (2014), Quản lý nhà nước đối với giảng viên các
trường đại học trực thuộc Bộ y tế, luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hiến
pháp và luật hành chính, Học viện Khoa học xã hội Luận văn đã nghiên cứu
có hệ thống cơ sở lý luận về đội ngũ, đội ngũ giảng viên trực thuộc Bộ y tế và thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên các trường đại học trực thuộc
Bộ y tế, từ đó luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý đội ngũ giảng viên các trường trực thuộc Bộ y tế nói riêng
Nguyễn Thị Thanh Nga (2007), Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên
cứu khoa học của giảng viên trường đại học sự phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh
Triệu Thị Hải Anh (2017), Xây dựng đội ngũ giảng viên của Trường
Đại học Nội vụ Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Quản lý công Luận văn đã nghiên
cứu thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Nội vụ từ đó luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng viên của trường nói riêng Ngoài ra luận văn chưa đưa ra
Trang 10Hà Nội nói riêng đạt chuẩn về chất lượng Phân tích, đánh giá công tác quản
lý giảng viên (quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, chế độ chính sách, kiểm tra đánh giá) các trường đại học từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp tăng cường công tác quản lý đối với đội ngũ giảng viên Việc lựa chọn đề tài của luận văn là phù hợp và đảm bảo không có sự trùng lặp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung và Trường Đại học Hà Nội nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác
Trang 116
quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học
- Đánh giá thực trạng về hoạt động quản lý nhà nước đối với giảng viên Trường Đại học Hà Nội, phân tích, làm sáng tỏ những thành tựu và hạn chế
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn hoạt động quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học nói chung và Trường Đại học Hà Nội nói riêng
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nước đối với giảng viên Trường Đại học Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trường Đại học Hà Nội
Thời gian nghiên cứu về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, mô tả…
Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa
ra các khái niệm về giảng viên, giảng viên đại học, quản lý, quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học Đồng thời, khái quát nội dung của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học
Chương 2: Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên Trường Đại học Hà Nội
Trang 127
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp để rút
ra những giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học nói chung và Trường Đại học Hà Nội nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên nói chung và quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Hà Nội nói riêng
Về thực tiễn, đề tài có giá trị tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách trong quản lý nhà nước đối với giảng viên đại học Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu cung cấp cho việc nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước
về giáo dục nói chung và đội ngũ giảng viên đại học nói riêng trong thời gian tới Luận văn cũng sẽ là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cụ thể cho công tác quản lý đội ngũ giảng viên trực tiếp tại trường trong phạm vi nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên Trường Đại học Hà Nội
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học
Trang 138
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1.1 Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học
1.1.1 Khái niệm giảng viên, đội ngũ giảng viên đại học và quản lý nhà nước
Khái niệm giảng viên
Theo Điều 54 Luật Giáo dục đại học quy định: “Giảng viên trong cơ sở
giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục; Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư; Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định”[32]
Theo Điều 70, khoản 3 Luật Viên chức năm 2005 quy định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên Như vậy theo quy định này giảng viên là “nhà giáo” giảng dạy tại các trường đại học”[33]
Theo Luật Viên chức: Giảng viên đại học là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo, nghiên cứu khoa học ở bậc đại học, sau
đại học thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học (viên chức tuyển
dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật) “Giảng viên là một cán bộ khoa học, nắm vững
các phương pháp khoa học về giảng dạy và giáo dục, biết sử dụng thành thạo
Trang 149
các phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, thường xuyên rèn luyện để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy của mình, tham gia tích cực vào nghiên cứu khoa học và đời sống xã hội” [48, tr.173]
Như vậy, có thể hiểu giảng viên là người trực tiếp làm công tác giảng dạy ở bậc đại học, sau đại học và là người có nhân thân rõ ràng, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe; có năng lực, kỹ năng chuẩn về chuyên môn, nghiệp
vụ, đảm nhiệm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư; trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên
Khái niệm đội ngũ giảng viên đại học
Có nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ Đội ngũ là “Tập thể người trong một tổ chức có quy củ” [27] Theo đại từ điển Tiếng Việt, “đội ngũ là tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng; "Đội ngũ là tập hợp một số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp" [45]
Có thể hiểu một cách khái quát, đội ngũ là một tập hợp số đông người
có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề nghiệp, được tổ chức thành một lực lượng có cùng chung mục đích, chức năng Họ làm việc và gắn bó với nhau
về lợi ích vật chất hay tinh thần
Đội ngũ giảng viên là tập hợp các giảng viên thực hiện nhiệm vụ giảng
dạy và giáo dục sinh viên, học viên trong các cơ sở giáo dục đại học của hệ thống giáo dục quốc dân Những giảng viên này làm việc theo chương trình môn học và kế hoạch giáo dục của nhà trường, gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần, đồng thời quan hệ mật thiết với các thành viên khác của cơ sở giáo dục đại học để thực hiện hoạt động và chia sẻ lợi ích theo đúng pháp luật và thể chế xã hội Đội ngũ giảng viên phải có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng các yêu cầu đối với giảng viên được quy định trong Luật
Trang 1510
giáo dục đại học, Điều lệ trường đại học
Đội ngũ giảng viên đại học ở Việt Nam bao gồm những người đủ tiêu chuẩn giảng viên, không phân biệt quốc tịch, được ký hợp đồng dạy học từ bậc đại học trở lên, tổ chức thành một đội ngũ, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý… theo kế hoạch Họ làm việc, gắn bó với nhau thông qua môi trường giáo dục, được hưởng quyền lợi về vật chất, tinh thần trong khuôn khổ chính sách, pháp luật của Nhà nước
Quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân nhằm hướng tới đạt được các mục tiêu đề ra trong một thời gian nhất định với các chi phí tối thiểu về sức lao động và tài chính Quản lý bao gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý (cá nhân, tổ chức); khách thể quản lý (đối tượng tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý); mục tiêu quản lý (là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra)
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các nhà nước, quản lý nhà nước với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội Hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước để thi hành pháp luật trên cơ sở hoạt động chấp hành - điều hành thực hiện quá trình quản lý, tổ chức và vận hành các mặt của đời sống xã hội
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhà nước Quản lý nhà nước tiếp cận với nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các hoạt động: hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ thống hành pháp và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp
Hay, Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực
nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước
có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp
Trang 1611
(công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân”[48]
Theo sách “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”: “Quản lý nhà nước là
sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do hệ thống cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật để thực hiện luật pháp nhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [34]
Như vậy, từ một số khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, quản
lý nhà nước là sự tác động, điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và toàn bộ hành vi xã hội của các cơ quan, tổ chức nhà nước, các cá nhân được nhà nước
ủy quyền bằng hệ thống pháp luật để thực thi quyền lực nhà nước, nhằm đạt được mục tiêu nhất định của quản lý nhà nước và xã hội Mục tiêu của quản
lý nhà nước phải phù hợp với mục tiêu phát triển của xã hội Đây chính là ý nghĩa, giá trị của quản lý nhà nước
Chủ thể của quản lý nhà nước là các cơ quan Nhà nước, cán bộ và công chức có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao Những chủ thể này tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước về lập pháp và hành pháp theo luật định Đối tượng của quản lý nhà nước bao gồm các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội
Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học là sự tác động, điều chỉnh của các cơ quan quản lý nhà nước lên các hoạt động của đội ngũ giảng viên làm việc tại các trường đại học thông qua hệ thống pháp luật quy định về các quyền, nghĩa vụ, các chế độ chính sách liên quan nhằm
Trang 1712
đảm bảo sự phát triển ổn định của đội ngũ giảng viên nhằm phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
1.1.2 Vai trò quản lý nhà nước trong quản lý đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên là chủ thể, nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, dịch vụ và phát triển của trường đại học Vai trò của giảng viên được thể hiện ở việc góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo ra lớp trí thức tài năng thông qua việc truyền đạt những kiến thức tiên tiến của văn minh nhân loại; tạo ra nguồn nhân lực
có chất lượng cao để góp phần xây dựng đất nước, nâng cao nội lực của quốc gia tạo nên vị trí của đất nước trên trường quốc tế Chính vì vậy, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học nói riêng có vai trò hết sức quan trọng Đó là cơ sở để đảm bảo thực hiện đầy đủ,
có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật, chiến lược của Nhà nước về giáo dục, giáo dục đại học và đội ngũ những người làm công tác giáo dục Chính các cơ sở pháp lý, nội dung, phương thức, công cụ quản lý sẽ quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của quá trình quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học qua đó tạo sự thống nhất trong việc quản
lý.Chính các cơ sở pháp lý, nội dung, phương thức, công cụ quản lý sẽ quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của quá trình quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học Vì vậy, quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh phát triển mới của đất nước
Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học là sự tác động có
tổ chức và có sự điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động của đội ngũ giảng viên đại học do các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước trao quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục của đất nước Điều 69, Luật Giáo dục đại học đã quy định cụ thể về các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học:
“1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Trang 18Nhà nước thực hiện việc quản lý đối với đội ngũ giảng viên thông qua việc ban hành pháp luật và chính sách nhằm tạo ra các khuôn mẫu xử
sự chung và các biện pháp chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát triển và đào tạo đội ngũ giảng viên, có các chính sách hỗ trợ giảng viên trong hoạt động nghề nghiệp Quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện, môi trường làm việc tốt nhất và khuyến khích đội ngũ giảng viên đại học phát triển bền vững và hiệu quả
Với mục tiêu: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập” [38], việc quản lý nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo sự hài hòa, hợp lý về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên đại học, từ đó đảm
Trang 191.2.1 Quản lý công tác xây dựng kế hoạch, quy hoạch giảng viên
Xây dựng kế hoạch, quy hoạch giảng viên là nội dung quản lý quan trọng nhất nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên có số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu và có nguồn dự trữ dồi dào cho sự phát triển đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Ngày 22 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1216/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, mục tiêu cụ thể nêu rõ: “Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có trình độ cho đất nước”; “Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp khoảng 48 nghìn người, trong đó, khoảng 38,5% có trình độ thạc sỹ trở lên; số giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng khoảng 44,2 nghìn người, trong
đó tỷ lệ giáo viên, giảng viên có trình độ tiến sĩ khoảng 8,0%; số giáo viên, giảng viên bậc đại học khoảng 75,8 nghìn người, trong đó số giáo viên, giảng viên có trình độ tiến sĩ khoảng 30,0%”[43] Quyết định này cũng nêu rõ: “Các
bộ, ngành tổ chức triển khai xây dựng và thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực của mình phù hợp với Quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia và yêu cầu phát triển của ngành”[43] Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT ngày
29 tháng 12 năm 2011 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã khẳng định tầm quan trọng của quy hoạch, phát triển đội ngũ giảng viên, đó là: “việc quy hoạch nhân lực đội ngũ
Trang 2015
giáo viên và cán bộ quản lý trong ngành giáo dục là một nhiệm vụ cấp thiết, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2020 của đất nước”[5]
Quy hoạch cán bộ là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để đào tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý nhằm đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong thời gian nhất định Quy hoạch giảng viên là sự chuẩn bị nguồn giảng viên đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu tổ chức nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình xây dựng và phát triển của nhà trường trong từng giai đoạn Quy hoạch đội ngũ giảng viên được thể hiện cụ thể theo những tiêu chí sau:
Quy hoạch về số lượng, trên cơ sở dự báo về quy mô, lộ trình đào tạo của nhà nước để quy hoạch số lượng giảng viên, đảm bảo vệ lệ giảng viên/ sinh viên theo các tiêu chí đảm bảo chất lượng để giảng viên hoàn thành được nhiệm vụ giảng dạy và có điều kiện thời gian dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, tự học, tự nghiên cứu để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
Quy hoạch về cơ cấu, trên cơ sở những dự báo về nhu cầu của từng ngành nghề đào tạo, chính sách hưu trí, luân chuyển công tác để xây dựng quy hoạch, tạo ra sự đồng bộ và cân đối cơ cấu đội ngũ giảng viên trong nhà trường, tránh sự hụt hẫng về đội ngũ
Quy hoạch về chất lượng, căn cứ theo chuẩn năng lực và định hướng chiến lược phát triển của nhà trường để quy hoạch chất lượng đội ngũ giảng viên đảm bảo có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng được mục tiêu chiến lược của nhà trường
Việc quy hoạch đội ngũ giảng viên phải đảm bảo tính định hướng chiến lược, phù hợp với chiến lược phát triển của nhà trường; đảm bảo tính thống nhất trong công tác quy hoạch từ cấp bộ môn đến khoa và cấp trường; cách
Trang 2116
tiếp cận cá nhân thông qua việc quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển tạo điều kiện cho mỗi cá nhân giảng viên phát triển nghề nghiệp và có cơ hội được bổ nhiệm lên vị trí cao hơn, từ đó nâng cao năng lực thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của người giảng viên
1.2.2 Quản lý công tác tuyển dụng đội ngũ giảng viên
Việc tuyển dụng, bổ sung đội ngũ nhân sự là một việc hết sức quan trọng đối với bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào Đối với các trường đại học, công tác này càng quan trọng khi mà chất lượng đội ngũ viên chức, đặc biệt là đội ngũ giảng viên không chỉ quyết định đến uy tín, chất lượng đào tạo, sự phát triển của nhà trường mà còn quyết định đến chất lượng nguồn lực lao động cho toàn xã hội
Tuyển dụng giảng viên là quá trình xem xét, lựa chọn những ứng viên
có đủ các tiêu chuẩn làm giảng viên Các tiêu chuẩn để lựa chọn căn cứ theo các quy định Nhà nước được thể hiện cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Việc tuyển chọn giảng viên cần đảm bảo tính chiến lược, không chỉ nhằm giải quyết sự thiếu hụt giảng viên trong thời điểm hiện tại, mà phải hướng vào việc đáp ứng các yêu cầu thực hiện mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường trong tương lai; cách tiếp cận cá nhân dựa vào năng lực thực tế của ứng viên so với các tiêu chuẩn của vị trí cần tuyển dụng; quyền chủ động của các Khoa, Bộ môn được phát huy trong việc đánh giá, thẩm định tiêu chuẩn tuyển dụng đối với ứng viên Nhất là việc tuyển dụng giảng viên cần căn cứ vào vị trí việc làm của từng đơn vị trong nhà trường
Luật giáo dục đại học, Khoản 4, Điều 28 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường cao đẳng, trường đại học, học viện quy định: “Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức, người lao động”[34] Việc tuyển dụng viên chức cũng như đội ngũ giảng viên được quy định trong Luật Viên chức năm 2010, trong đó quy định
rõ về điều kiện đăng ký dự tuyển, phương thức tuyển dụng (thông qua hình
Trang 2217
thức thi tuyển hoặc xét tuyển), tổ chức thực hiện tuyển dụng Được quy định chi tiết trong Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Thông tư số 12/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức; Thông tư số 15/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 16/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạnh chức danh nghề nghiệp đối với viên chức
1.2.3 Quản lý công tác đào tạo và bồi dưỡng giảng viên
Đào tạo và bồi dưỡng giảng viên được hiểu là hoạt động bổ sung, hoàn thiện hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên đại học theo chuẩn quy định và đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của ngành trước mắt và lâu dài Trong đó đào tạo là quá trình truyền đạt lại các kiến thức mới để người học nắm được những tri thức một cách có hệ thống Còn bồi dưỡng là quá trình bổ sung thêm kiến thức mới, cập nhật những thông tin mới có liên quan đến việc đang thực hiện hoặc đang đảm nhiệm Việc học tập và bồi dưỡng nâng cao trình độ là một trong những nhiệm vụ của giảng viên đã được quy định tại khoản 3 Điều 55 Luật Giáo dục đại học 2012:
“Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy”[34] Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng giảng viên đại học, cao đẳng: bồi dưỡng các chuyên đề trong nước và ngoài nước cho đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng nhằm tiếp cận với tri thức và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại của thế giới Kết hợp chặt chẽ công tác bồi dưỡng giảng viên với công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất theo hướng đưa kết quả nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất thành một tiêu chí đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá giảng viên
Trang 2318
Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học, gắn với quy hoạch đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học, bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”[5]
Việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của giảng viên, được Đảng, Nhà nước và các Bộ, ngành hết sức quan tâm Theo
đó, nhiều chính sách đã được xây dựng và đưa vào thực hiện
Ngày 17 tháng 6 năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 911/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án đào tạo giảng viên có trình độ Tiến
sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020 (hay thường gọi là
đề án 911) Quyết định này hướng tới các mục tiêu chung: “Tăng cường công tác đào tạo tiến sĩ cả về quy mô và chất lượng, nhằm nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiên cứu, giảng dạy và quản lý đại học tiên tiến của đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng; tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trong các trường đại học, cao đẳng của cả nước, phấn đấu đến năm
2020, đào tạo bổ sung được ít nhất 20.000 tiến sĩ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam; nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo tiến sĩ trong nước, tranh thủ và phát huy mạnh mẽ sự hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong đào tạo tiến sĩ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, của giảng viên
và cán bộ nghiên cứu của Việt Nam; tạo cơ sở vững chắc để đổi mới cơ bản
và toàn diện hệ thống giáo dục đại học Việt Nam; từng bước đưa giáo dục đại học Việt Nam hội nhập với nền giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Và mục tiêu cụ thể: Tập trung đào tạo đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học các ngành mũi nhọn, trọng điểm, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa
Trang 2419
học, tăng số lượng các công trình khoa học công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế” [37]
Ngày 6 tháng 6 năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông
tư số 20/2013/TT-BGDĐT ban hành Quy định về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên các cơ sở giáo dục đại học
Trên cơ sở đánh giá, phân tích năng lực thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân và đội ngũ giảng viên so với chuẩn giảng viên và xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng Việc đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo định hướng chiến lược của nhà trường; cách tiếp cận cá nhân trong việc bổ sung và hoàn thiện năng lực của từng giảng viên; tính thống nhất vì mục tiêu phát triển của nhà trường; phát huy quyền chủ động của trưởng bộ môn và trưởng khoa trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của đơn vị Để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng các nhà quản lý cần xây dựng kế hoạch cụ thể đảm bảo đủ các điều kiện cơ bản như thời gian thực hiện, nguồn kinh phí, số lượng, những đối tượng giảng viên cần đào tạo, bồi dưỡng
1.2.4 Quản lý công tác sử dụng giảng viên
Sử dụng giảng viên chính là việc sắp xếp, bố trí, đề bạt giảng viên vào các vị trí, chức danh phù hợp nhất với của năng của từng cá nhân giảng viên, nhằm tạo cho họ động lực để phát huy tối đa niềm năng của mình trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người giảng viên Việc bố trí, sử dụng giảng viên các trường đại học đã được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật làm hành lang pháp lý giúp cho các chủ thể quản lý thực hiện nhiệm vụ điều hành, chỉ đạo luôn đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Nằm trong các giải pháp thực hiện Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 của Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các
Trang 2520
trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020) là chủ trương ban hành chính sách thu hút, sử dụng các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước tham gia giảng dạy ở các trường đại học Nhà nước
có chính sách điều động, biệt phái giảng viên làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khuyến khích giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học ở vùng thuận lợi đến công tác tại các
cơ sở giáo dục đại học ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện để giảng viên ở vùng này an tâm công tác Đối với những giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư công tác trong
cơ sở giáo dục đào tạo có thể kéo dài thời gian làm việc kể từ khi đủ tuổi nghỉ hưu để giảng dạy, nghiên cứu khoa học nếu đủ điều kiện sức khỏe, tự nguyện kéo dài thời gian làm việc
Để làm căn cứ cho thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học phân công, bố trí,
sử dụng, nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động đối với giảng viên, ngày
31 tháng 12 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông
tư số 47/2014/TT-BGDĐT quy định Chế độ làm việc đối với giảng viên Trong đó, quy định cụ thể về thời gian làm việc cũng như Quy định về giờ chuẩn giảng dạy và quy đổi ra giờ chuẩn
1.2.5 Quản lý công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên
Điều 2 Luật Thanh tra ngày 15 tháng 11 năm 2010 đã quy định “Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân
tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.Việc thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong thực hiện
Trang 2621
pháp luật về quản lý nhà nước đối với giảng viên trong các trường đại học nhằm hướng tới việc xem xét các quy định của pháp luật liên quan đến đội ngũ giảng viên được thực thi trên thực tế của đời sống Việc thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn ngừa các sai phạm, đồng thời có biện pháp xử lý kịp thời các vi phạm trong quá trình thực thi pháp luật
Hiện nay, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với viên chức nói chung và đội ngũ giảng viên đại học nói riêng được thực hiện trên các cơ sở pháp lý sau: Thông tư số 09/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức Thông tư này quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra gồm: chuẩn bị thanh tra, tiến hành thanh tra, kết thúc thanh tra và nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức; Nghị định
số 42/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Thanh tra giáo dục; Thông tư số 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thầm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
1.2.6 Quản lý công tác thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ đối với giảng viên
Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách đãi ngộ hợp lý, xây dựng
và thực hiện chính sách tiền lương mới phù hợp với giảng viên đại học như phụ cấp ưu đãi, phụ cấp theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác Việc quản lý công tác thực hiện chế độ đãi ngộ đối với giảng viên đảm bảo cho đời sống của giảng viên được ổn định, yên tâm công tác, cống hiến tri thức và công sức của mình vào sự nghiệp giáo dục từ đó chất lượng đào tạo được nâng lên Điều 56 Luật giáo dục đại học quy định chính sách đối với
Trang 272 Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học ở vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn được tạo điều kiện về chỗ ở, được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ
3 Nhà nước có chính sách điều động, biệt phái giảng viên làm việc tại
cơ sở giáo dục đại học ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khuyến khích giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học ở vùng thuận lợi đến công tác tại các cơ sở giáo dục đại học ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện để giảng viên ở vùng này an tâm công tác
4 Giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư công tác trong cơ sở giáo dục đại học có thể kéo dài thời gian làm việc kể từ khi đủ tuổi nghỉ hưu để giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nếu có đủ sức khỏe, tự nguyện kéo dài thời gian làm việc, đồng thời cơ sở giáo dục đại học có nhu cầu
5 Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể chính sách đối với giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học”[34]
Qua đây thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ giảng viên bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của giảng viên như việc điều chỉnh, quy định mức lương cơ bản cho các đối tượng là viên chức ở các ngạch, bậc khác nhau… Nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học đã được chủ thể quản lý đảm bảo thực hiện thông qua việc ban hành các quy định cụ thể về quản lý giảng viên và sử dụng quyền lực được nhà nước giao phó để chỉ đạo quản lý giảng viên theo đúng trình tự quy định
Trang 28Phương pháp quản lý hành chính nhà nước nói chung được hiểu là cách thức thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết Có nhiều cách tác động khác nhau của chủ thể quản lý, có thể tác động trực tiếp, hoặc gián tiếp, có thể tác động các đối tượng liên quan tự giác thực hiện yêu cầu, cũng có thể bắt buộc họ thực hiện hành vi nhất định Phương pháp quản lý thể hiện ý chí của nhà nước - chủ thể quản lý xã hội, chính vì thế phương pháp quản lý có hình
thức pháp lý nhất định Như vậy có thể hiểu “Phương pháp quản lý hành
chính nhà nước là cách thức tổ chức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết của đối tượng quản lý”[12, tr.124]
Theo đó các chủ thể của quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung sử dụng những phương pháp quản lý hành chính nhà nước được pháp luật quy định để tổ chức thực hiện nhằm hướng những hành vi xử sự của đội ngũ giảng viên theo một trật tự nhất định Những phương pháp được chủ thể quản lý sử dụng trong quản lý hành chính nhà nước đối với đội ngũ giảng viên gồm những phương pháp sau:
1.3.1 Thứ nhất là Phương pháp thuyết phục
Phương pháp thuyết phục là cách thức làm cho đối tượng quản lý hiểu
rõ việc cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định Chủ thể quản lý (Chính phủ, Bộ, cơ quan nganh Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) bằng những quyền hạn và nghĩa vụ
Trang 2924
được pháp luật quy định áp dụng các biện pháp phù hợp với nguyện vọng và đòi hỏi của đội ngũ giảng viên, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của đội ngũ giảng viên, đồng thời lợi ích của chủ thể quản lý cũng luôn được đảm bảo Phương pháp thuyết phục được thể hiện trong việc sử dụng các biện pháp như giải thích, nhắc nhở, giáo dục, tuyên truyền… Phương pháp thuyết phục
sử dụng trong quản lý đội ngũ giảng viên là rất phù hợp vì đội ngũ giảng viên đại học là ngững người có trình độ học vấn cao, có khả năng cập nhật các quy định của nhà nước và hiểu biết về các vấn đề xã hội một cách nhanh nhạy Mặt khác nhà giáo với tư cách là những người giảng dạy tri thức tạo nguồn lực chất lượng cao cho xã hội và luôn được xã hội tôn trọng Vì vậy việc áp dụng phương pháp thuyết phục trong quản lý hành chính nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học là biện pháp tối ưu nhất
1.3.2 Thứ hai là phương pháp cưỡng chế
“Phương pháp cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với những cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân” [12,
tr 30] Phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước được thể
hiện trong việc áp dụng những quy định bắt buộc đơn phương đối với đối tượng quản lý Những đối tượng quản lý không tự giác thực hiện các quy định của nhà nước thì chủ thể quản lý sẽ áp dụng phương pháp cưỡng chế buộc đối tượng quản lý thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của đối tượng quản lý Điều 19 Luật viên chức năm 2010 quy định cụ thể những việc viên chức không được làm, Điều
58 Luật giáo dục đại học quy định các hành vi giảng viên không được làm Bên cạnh đó Luật viên chức năm 2010 cũng có những quy định cụ thể về các
Trang 301.3.3 Thứ ba là phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng Phương pháp hành chính nhà nước là phương pháp thể hiện tính chất quyền lực của hoạt động quản lý Phương pháp hành chính được sử dụng phổ biến trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý đội ngũ giảng viên nói riêng, cụ thể đó là các chỉ thị, các quy định của chủ thể quản lý các cấp ban hành như Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Điều lệ trường đại học”; Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
về quy định chế độ làm việc đối với giảng viên Như vậy, phương pháp hành chính cũng là một trong những phương pháp cần thiết trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên qua đó đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành hiệu quả và đảm bảo kỷ luật của nhà nước
1.3.4 Thứ tư là phương pháp kinh tế
“Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người”[12 tr 36] Hoạt động quản lý nhà nước đối với giảng viên theo phương pháp kinh tế chủ yếu nhằm mục đích ghi nhận
Trang 31sở giáo dục công lập; Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 07 năm
2011 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, đó là những quy định nhằm giải quyết và nâng cao chế độ đối với đội ngũ giảng viên Ngoài ra Chính phủ còn có những chính sách ưu đãi riêng đối với những giảng viên làm việc tại cơ sở giáo dục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã họi khó khăn…Phương pháp kinh tế được sử dụng trong quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nói chung, khuyến khích, động viên đội ngũ giảng viên phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến hết mình cho sự nghiệp giáo dục
Kết luận chương 1
Quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học nói chung và giảng viên trường Đại học Hà Nội nói riêng là một trong những hoạt động của quản lý hành chính nhà nước Thông qua hệ thống pháp luật quy định về các quyền, nghĩa vụ, các chế độ chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước tác động, điều chỉnh các hoạt động của đội ngũ giảng viên làm việc tại các trường đại học nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ có đủ chất lượng và số lượng phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên gồm những nội dung cơ bản như: quy hoạch, tuyển dụng,
bố trí, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, kiểm tra đánh giá và chế đội đãi ngộ đối với giảng viên
Trang 3227
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Trường Đại học Hà Nội và đội ngũ giảng viên Trường Đại học Hà Nội
2.1.1 Khái quát về Trường Đại học Hà Nội
Trường Đại học Hà Nội (tiền thân là Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội) là trường đại học công lập được thành lập theo Quyết định số 376-BGD
do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn ký ngày 16 tháng 07 năm
1959 về việc thành lập Trường Ngoại ngữ; Quyết định số 126/CP của Hội đồng Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng
8 năm 1967 về việc thành lập Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội Đến năm
2006 Trường đã chính thức đổi tên thành Trường Đại học Hà Nội theo Quyết định số 190/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, Trường đã khẳng định được vị thế và uy tín là một cơ
sở đào tạo đại học và nghiên cứu ngoại ngữ hàng đầu ở Việt Nam
Trường Đại học Hà Nội có chức năng “đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học các chuyên ngành: Ngoại ngữ (ngôn ngữ - văn hóa tiếng nước ngoài), kinh tế, công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn;
là cơ sở nghiên cứu triển khai khoa học - công nghệ phục vụ giảng dạy, học tập và sự phát triển kinh tế xã hội”
Trường đào tạo chính quy tập trung ở bậc đại học với 11 ngành ngôn ngữ (Nga, Trung, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hàn, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia, tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam); đào tạo 6 chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh (Quản trị Kinh doanh, Quản trị Du lịch và Lữ hành, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng, Công nghệ thông tin, Quốc tế học) và đào tạo 01 chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Pháp (truyền thông doanh nghiệp)
Trang 3328
Bên cạnh đó Trường còn đào tạo chính quy tập trung ở bậc sau đại học
06 ngành (Thạc sĩ gồm 06 ngành: Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Nga, Ngôn ngữ Nhật, Ngôn ngữ Pháp, Ngôn ngữ Trung, Quản trị Kinh doanh); Tiến sĩ gồm
03 ngành: (Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Nga, Ngôn ngữ Pháp) Ngoài ra Trường còn nghiên cứu về giảng dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ theo nhu cầu xã hội và thực hiện các chương trình quốc gia, dự án đào tạo, nghiên cứu phát triển của quốc gia và quốc tế
Với sứ mạng là đào tạo nguồn nhân lực thành thạo ngoại ngữ, Trường Đại học Hà Nội đã triển khai nhiều chương trình đào tạo chuyên ngành bằng tiếng Anh, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam với
tư cách là nước thành viên ASEAN
Hiện nay Trường có 13 phòng ban chức năng, 17 khoa, 02 bộ môn trực thuộc trường, 12 trung tâm, 02 đơn vị phục vụ (Thư viện, Xưởng in), 04 văn phòng Đề án và chương trình liên kết, các tổ chức đảng và đoàn thể (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ) Nhà trường đang xây dựng đề án thành lập Hội đồng trường, đã thành lập Hội đồng Khoa học và đào tạo nhưng chưa thành lập các Hội đồng khoa theo quy định của Điều lệ trường đại học
Quy mô đào tạo của Trường trong một vài năm gần đây tăng, điều đó cho thấy uy tín, vị thế của nhà trường trong lĩnh vực đào tạo trong nước ngày càng được đánh giá cao Cụ thể năm học 2016-2017, hệ chính quy có 6.617 sinh viên, hệ vừa học vừa làm có 588 sinh viên, hệ từ xa có 230 học viên, bằng đại học thứ hai có 712 sinh viên, hệ sau đại học có 211 học viên cao học
và 13 nghiên cứu sinh
Chất lượng đào tạo chung của Trường được đảm bảo Kết quả xét tốt nghiệp sinh viên hệ chính quy qua các năm ngày càng được nâng lên Cụ thể, năm học 2013-2017 trong tổng số 1.458 sinh viên thuộc 17 ngành đào tạo tham gia xét tốt nghiệp, số sinh viên đạt loại xuất sắc là 0 sinh viên (chiếm
Trang 3429
0%), loại giỏi có 159 sinh viên (chiếm 10,9%), loại khá có 802 sinh viên (chiếm 55%) loại trung bình khá có 485 sinh viên (chiếm 33,3%), loại trung bình có 33 sinh viên (chiếm 0,9%)
2.1.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Hà Nội
Trường Đại học Hà Nội hiện nay 452 giảng viên, trong đó 327 giảng viên là thạc sĩ, 64 giảng viên là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ/tiến sĩ khoa học, phần lớn các giảng viên được đào tạo tại các trường sư phạm trong và ngoài nước, có khả năng và nắm vững nghiệp vụ sư phạm Tất cả các giảng viên đều
có hồ sơ và lý lịch khoa học, 100% giảng viên được bố trí giảng dạy theo chuyên môn được đào tạo và đào tạo lại Cơ cấu chuyên môn của các giảng viên phù hợp với nhiệm vụ đào tạo
Đội ngũ giảng viên của trường có trình độ cao, giàu kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học Trường có kế hoạch và triển khai kế hoạch tuyển dụng hàng năm nhằm bổ sung và kiện toàn đội ngũ, tạo mọi điều kiện
hỗ trợ để giảng viên các ngành đi học tập và bồi dưỡng chuyên môn trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao trình độ và đảm bảo tỉ lệ sinh viên/ giảng viên quy đổi giảm dần theo từng năm Tỉ lệ sinh viên/ giảng viên của Trường Đại học Hà Nội hiện nay đạt mức quy đổi 16,2 đáp ứng quy chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đội ngũ giảng viên của nhà trường được trẻ hóa Trong tổng số 452 giảng viên cơ hữu, độ tuổi dưới 30 tuổi: 72 người (chiếm 15,92%), từ 30-40 tuổi: 285 người (chiếm 63,05%), từ 41-50 tuổi: 72 người (chiếm 15,92%), trên 50 tuổi: 23 người (chiếm 5,09%) Độ tuổi trung bình của giảng viên cơ hữu của Trường là 36 tuổi
Phần lớn đội ngũ giảng viên có thâm niên giảng dạy trên 10 năm Trong
đó, có 235 người có thâm niên giảng dạy dưới 10 năm (chiếm 52%), cán bộ giảng viên có thâm niên từ 10-20 năm là 191 người (chiếm 42,25%), giảng viên có thâm niên trên 20 năm là 26 người (chiếm 5,75%) Số lượng giảng
Trang 3530
viên cơ hữu có thâm niên trên 20 năm chiếm tỉ lệ thấp, độ tuổi trung bình của giảng viên cơ hữu giảm dần trong 5 năm trở lại đây và đạt mức 36 tuổi như hiện nay Tuy nhiên, một số ngành ngoại ngữ hiếm như Ngôn ngữ Italia, Tây Ban Nha, Ngôn ngữ Thái hay chuyên ngành đào tạo mới như Truyền thông doanh nghiệp (đào tạo bằng tiếng Pháp) đội ngũ giảng viên còn trẻ, kinh nghiệm chuyên môn còn gặp nhiều hạn chế
Nhà trường có đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức, đủ năng lực công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong cơ chế tự chủ toàn diện, Nhà trường tập trung mọi nguồn lực để xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên trẻ hóa, khoa học, tinh gọn, đảm bảo phát huy tối đa nguồn nhân lực hiện có
2.2.1 Xây dựng kế hoạch, quy hoạch đội ngũ giảng viên
Xác định công tác xây dựng kế hoạch, quy hoạch đội ngũ giảng viên là một trong những nội dung hết sức quan trọng, Trường Đại học Hà Nội thực hiện công tác xây dựng và quy hoạch đội ngũ giảng viên của mình dựa trên các quy định chung của pháp luật như: Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”; Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm
Trang 3631
2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020; Quyết định số 37/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006-2020; Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020 Theo đó, đến năm 2020 đạt bình quân từ 17 đến 26 sinh viên đại học và cao đẳng/1 giảng viên; số giảng viên có trình độ tiến sỹ trong tổng số giảng viên đại học khoảng 21% và số giảng viên có trình
độ tiến sỹ trong tổng số giảng viên cao đẳng dự kiến đạt khoảng 4% (Quyết định số 37/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2013); tăng tỷ lệ giảng viên có trình
độ tiến sĩ trong các trường đại học, cao đẳng của cả nước, phấn đấu đến năm
2020, đào tạo bổ sung được ít nhất 20.000 tiến sĩ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam [40]
Ngoài ra, Trường cũng bám sát sứ mạng của Nhà trường và định hướng phát triển của Nhà nước thể hiện trong Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ Trường Đại học Ngoại ngữ lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020, theo đó: “Xây dựng Trường Đại học Hà Nội thành một trường đại học đa ngành theo định hướng ứng dụng, phát huy thế mạnh ngoại ngữ và giảng dạy chuyên ngành bằng ngoại ngữ góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”[26] Trong định hướng phát triển đội ngũ giảng viên, chuyên viên, Nhà trường xác định: “Là trường được giao tự chủ (100% kinh phí chi tiêu thường xuyên), Trường Đại học Hà Nội từng bước kiện toàn
bộ máy hoạt động trong đó, ưu tiên phát triển đội ngũ giảng viên, chuyên viên
và nhân viên với phương châm: gọn về bộ máy, đội ngũ cán bộ viên chức năng động, tinh thông nghiệp vụ và không tăng về số lượng; làm giỏi một việc nhưng biết nhiều việc” Công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên luôn bám sát các quan điểm chỉ đạo, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, quy trình,
Trang 3732
hướng dẫn của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục đào tạo, Đảng ủy Khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội và nghiên cứu vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn tình hình, nhiệm vụ xây dựng, phát triển các khoa, các ngành đào tạo
2.2.2 Tuyển dụng giảng viên
Trước đây, quy trình công tác tuyển dụng được quy định trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26/02/1998 và Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/03/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Sau khi Luật viên chức năm 2010 ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2012, công tác tuyển dụng được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức, Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội Vụ về ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; Quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức
Điều 20, Điều 23, Điều 24, Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
do người đứng đầu đơn vị của đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ thực hiện (hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý thực hiện theo phân cấp)”[33]
Sau khi có quyết định tuyển dụng, viên chức ký hợp đồng làm việc lần đầu nếu được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo thời hạn hợp
Trang 3833
đồng thì được bổ nhiệm chính thức vào chức danh nghề nghiệp tương ứng với
vị trí việc làm của viên chức theo quy định và phải thực hiện ký hợp đồng
So với Luật cán bộ công chức năm 2008, đây là một điểm khác, hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện chặt chẽ hơn và bắt buộc phải thông qua thi tuyển (trừ trường hợp được xét tuyển với điều kiện người đó có
đủ điều kiện về sức khỏe, văn bằng, độ tuổi, cam kết tình nguyện làm việc từ
5 năm trở lên ở miền núi, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn… có thể được tuyển dụng thông qua xét tuyển) Và sau khi có Quyết định tuyển dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công chức chỉ thực hiện việc tập sự theo nội dung Quyết định tuyển dụng nếu được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thì được xem xét bổ nhiệm chính thức vào một ngạch bậc của công chức theo quy định Công chức được phân chia theo “ngạch”, còn viên chức thì phân theo chức danh nghề nghiệp Chức danh nghề nghiệp thể hiện ở trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp Theo quy định mới của Luật viên chức 2010 thì giảng viên dược gọi
là chức danh nghề nghiệp Chức danh nghề nghiệp được bổ nhiệm cho viên chức theo nguyên tắc: làm việc ở vị trí việc làm nào thì bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm đó, người được bổ nhiệm phải
đủ tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức được thực hiện thông qua thi hoặc xét tuyển
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, “nghị định này quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của
Trang 3934
Luật Kế toán” Ngày 26 tháng 03 năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1329/QĐ-BGDĐT về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập đối với Trường Đại học
Hà Nội Theo đó Nhà trường được chủ động trong việc tổ chức tuyển dụng viên chức
Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, đối với đơn vị sự nghiệp công lập giao quyền tự chủ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 9 Luật Viên chức, “người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức thực hiện việc tuyển dụng viên chức; quyết định tuyển dụng viên chức qua thi tuyển hoặc xét tuyển”
Ngày 20 tháng 03 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 377/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Trường Đại học Hà Nội giai đoạn 2015-2017, theo đó nhà trường chủ động trong việc “quyết định số lượng, cơ cấu lao động, vị trí việc làm; tuyển dụng, quản lý, sử dụng, phát triển đội ngũ viên chức, nhân viên hợp đồng trên cơ sở quy chế và chủ trương được Hội đồng trường thông qua, phù hợp với yêu cầu phát triển của Trường; ký kết hợp đồng làm việc và hợp đồng lao động, quản lý, sử dụng và chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; Quyết định việc giao kết hợp đồng lao động với giảng viên, nhà khoa học, nhà quản lý trong nước và ngoài nước để thực hiện các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của Trường, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo”[42] Hàng năm, căn cứ nhu cầu phát triển nhân sự, Nhà trường xây dựng chỉ tiêu, kế hoạch, tiêu chí tuyển dụng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên và nhân viên Hội nghị giao ban đầu năm học, Nhà trường công khai đề nghị cán bộ chủ chốt các đơn vị đăng ký kế hoạch tuyển dụng và bồi dưỡng đội ngũ
Trang 4035
Quy trình và tiêu chí xét tuyển được thông báo rộng rãi, công khai trên trang điện tử nội bộ của nhà trường tacnghiep.hanu.vn và trên website: hanu.vn Trang thông tin này được sử dụng làm công cụ giúp Trường triển khai quy trình bổ nhiệm, tuyển dụng theo đúng thứ tự với chỉ tiêu, tiêu chí rõ ràng, minh bạch Nhà trường thực hiện công tác quy hoạch và bổ nhiệm cán
bộ tuân thủ đúng các quy định và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đáp ứng đúng mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của từng đơn vị Kế hoạch tuyển dụng và bồi dưỡng đội ngũ được phổ biến tại Hội nghị Cán bộ Viên chức để toàn thể người lao động được biết và giám sát
Ngoài ra, Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 về việc Quy định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập theo đó các đơn vị sự nghiệp công lập đều phải xây dựng đề án vị trí việc làm trong đơn vị mình “Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy nhân sự; quyết định số lượng người làm việc trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và quản lý viên chức theo thẩm quyền được giao; chấp hành quy định về quản lý vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong đơn vị mình; báo cáo cơ quan có thẩm quyền về vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong đơn vị mình”
Các văn bản nêu trên quy định cụ thể về thẩm quyền, quy định đối với việc tuyển dụng viên chức Đối với viên chức là giảng viên các trường đại học công lập còn có các căn cứ thực hiện đó là các quy định liên quan đến tiêu chuẩn giảng viên như: Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho giảng viên; có trình độ ngoại ngữ theo quy định của thông tư 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng tại Việt Nam; có trình độ tin học